- Majjhima Nikāya 34
Cūḷagopālakasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Cūḷagopālakasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở giữa các bộ lạc Vajjī (Bạt-kỳ) tại Ukkacela, trên bờ sông Hằng. Tại đây Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo
—Này các Tỷ-kheo.
SC 2—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 3Những Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn thuyết giảng như sau
SC 4—Ngày xưa, này các Tỷ-kheo, tại Magadha có người chăn bò vô trí, vào cuối tháng mùa mưa, trong mùa gặt hái, không quan sát bờ bên này sông Hằng, không quan sát bờ bên kia sông Hằng, đuổi đàn bò qua bờ bên kia tại Suvideha, tại chỗ không có thể lội qua được. Này các Tỷ-kheo, những con bò xô nhau tụ lại giữa dòng sông Hằng và gặp tai nạn tại nơi đây. Vì cớ sao? Này các Tỷ-kheo, vì người chăn bò ở Magadha là vô trí, vào cuối tháng mùa mưa, trong mùa gặt hái, không quán sát bờ bên này sông Hằng, không quán sát bờ bên kia sông Hằng, đuổi đàn bò qua bờ bên kia tại Suvideha, tại chỗ không thể lội qua được.
SC 5Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có những Sa-môn hay Bà-la-môn không khéo biết đời này, không khéo biết đời sau, không khéo biết ma giới, không khéo biết phi ma giới, không khéo biết tử thần giới, không khéo biết phi tử thần giới, những ai nghĩ rằng cần phải nghe, cần phải tin những vị này, thì họ sẽ gặp bất hạnh đau khổ lâu dài.
SC 6Ngày xưa, này các Tỷ-kheo, tại Magadha có người chăn bò có trí, vào cuối tháng mùa mưa, trong mùa gặt hái, sau khi quán sát bờ bên này sông Hằng, sau khi quán sát bờ bên kia sông Hằng, đuổi đàn bò qua bờ bên kia tại Suvideha, tại chỗ có thể lội qua được. Người đó đuổi đi đầu những con bò đực già, những con đầu đàn. Những con này sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng, qua bờ bên kia một cách an toàn. Rồi người đó đưa qua những con bò đực lớn mạnh, những con bò đực có được huấn luyện. Những con này sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng, qua bờ bên kia một cách an toàn. Rồi người đó đuổi qua những con bò đực con, lớn, những con bò cái con, lớn. Những con này sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng, qua bờ bên kia một cách an toàn. Rồi người đó đuổi qua những con bò con nhỏ, những con bò con còn bú. Những con này sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng, qua bờ bên kia một cách an toàn. Này các Tỷ-kheo thời xưa ấy có con bò còn nhỏ mới sanh, con bò này nhờ chạy theo con bò mẹ, vừa chạy, vừa kêu, sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng, cũng qua bờ bên kia một cách an toàn. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì người chăn bò ở Magadha là người có trí, vào cuối tháng mùa mưa, trong mùa gặt hái, sau khi quán sát bờ bên này sông Hằng, sau khi quán sát bờ bên kia sông Hằng, đuổi đàn bò qua bờ bên kia tại Suvideha, tại chỗ có thể lội qua được.
SC 7Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có những Sa-môn hay Bà-la-môn khéo biết đối với đời này, khéo biết đối với đời sau, khéo biết ma giới, khéo biết phi ma giới, khéo biết tử thần giới, khéo biết phi tử thần giới. Những ai nghĩ rằng, cần phải nghe, cần phải tin những vị này, thì họ sẽ được hạnh phúc, an lạc lâu dài.
SC 8Này các Tỷ-kheo, ví như những con bò đực già, đầu đàn, chúng đã lội cắt ngang dòng sông Hằng và qua bờ bên kia một cách an toàn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo là những bậc A-la-hán, đã đoạn trừ các lậu hoặc, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích, các hữu kiết sử đã hoàn toàn bị đoạn diệt, đã được giải thoát nhờ chánh trí. Những vị này, sau khi lội cắt ngang dòng sông của Ma vương, đã qua bờ bên kia một cách an toàn.
SC 9Này các Tỷ-kheo, ví như những con bò đực lớn mạnh, những con bò đực có huấn luyện, sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng, qua bờ bên kia một cách an toàn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo sau khi đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, ở tại đấy nhập Niết-bàn, không còn phải trở lại thế giới này nữa. Những vị ấy, sau khi lội cắt ngang dòng sông Ma vương sẽ qua bờ bên kia một cách an toàn.
SC 10Ví như, này các Tỷ-kheo, những con bò đực con, lớn, những con bò cái con, lớn, những con này sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng, đã qua bờ bên kia một cách an toàn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo đã diệt trừ ba kiết sử, làm giảm thiểu tham, sân, si, chứng quả Nhất lai, sau khi trở lại đời này một lần nữa, sẽ diệt tận khổ đau. Những vị ấy, sau khi lội cắt ngang dòng sông Ma vương sẽ qua bờ bên kia một cách an toàn.
SC 11Ví như, này các Tỷ-kheo, những con bò con, nhỏ, những con bò con còn bú, những con này sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng, đã qua bờ bên kia một cách an toàn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo diệt trừ ba kiết sử, chứng quả Dự lưu, nhất định không còn đọa vào ác đạo, đạt đến chánh giác. Những vị này lội cắt ngang dòng sông Ma vương và sẽ qua bờ bên kia một cách an toàn.
SC 12Ví như, này các Tỷ-kheo, con bò con còn nhỏ, mới sanh, con bò này nhờ chạy theo con bò mẹ, vừa chạy, vừa kêu, sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng, đã qua bờ bên kia một cách an toàn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo tùy pháp hành, tùy tín hành, những vị này sau khi lội cắt ngang dòng sông của Ma vương sẽ qua bờ bên kia một cách an toàn.
SC 13Này các Tỷ-kheo, nay Ta khéo biết đối với đời này, khéo biết đối với đời sau, khéo biết đối với ma giới, khéo biết đối với phi ma giới, khéo biết đối với tử thần giới, khéo biết đối với phi tử thần giới. Những ai nghĩ rằng, cần phải nghe, cần phải tin nơi Ta, thì họ sẽ được hạnh phúc, an lạc lâu dài.
SC 14Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Sau khi Thiện Thệ nói vậy, bậc Ðạo Sư lại nói thêm bài kệ như sau:
SC 15Ðời này và đời sau,
Bậc Trí khéo trình bày,
Cảnh giới Ma đạt được,
Cảnh Tử Thần không đạt.
SC 16Bậc Chánh Giác, Trí Giả,
Biết rõ mọi thế giới,
Cửa bất tử rộng mở,
Ðạt an ổn Niết-bàn.
SC 17Dòng Ma bị chặt ngang,
Nát tan và hư hoại,
Hãy sống sung mãn hỷ,
Ðạt an ổn Niết-bàn,
(Này các Tỷ-kheo).
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hie6.u đính: 11–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
4. Kinh Người Chăn Bò Nhỏ
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
350. Tôi nghe như vầy. Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Vajjī, tại Ukkacelā, bên bờ sông Gaṅgā. Tại đó, Thế Tôn gọi các Tỳ khưu: “Này các Tỳ khưu.” “Bạch Thế Tôn,” các Tỳ khưu ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
“Bhūtapubbaṁ, bhikkhave, māgadhako gopālako duppaññajātiko, vassānaṁ pacchime māse saradasamaye, asamavekkhitvā gaṅgāya nadiyā orimaṁ tīraṁ, asamavekkhitvā pārimaṁ tīraṁ, atittheneva gāvo patāresi uttaraṁ tīraṁ suvidehānaṁ.
Atha kho, bhikkhave, gāvo majjhegaṅgāya nadiyā sote āmaṇḍaliyaṁ karitvā tattheva anayabyasanaṁ āpajjiṁsu. Taṁ kissa hetu? Tathā hi so, bhikkhave, māgadhako gopālako duppaññajātiko, vassānaṁ pacchime māse saradasamaye, asamavekkhitvā gaṅgāya nadiyā orimaṁ tīraṁ, asamavekkhitvā pārimaṁ tīraṁ, atittheneva gāvo patāresi uttaraṁ tīraṁ suvidehānaṁ.
“Once upon a time, mendicants, there was an unintelligent Magadhan cowherd. In the last month of the rainy season, in autumn, without inspecting the near shore or the far shore, he drove his cattle across a place with no ford on the Ganges River to the northern shore among the Suvidehans.
But the cattle bunched up in mid-stream and came to ruin right there. Why is that? Because the unintelligent cowherd failed to inspect the shores before driving the cattle across at a place with no ford.
“Này các Tỳ khưu, thuở xưa, có một người chăn bò xứ Māgadha, thuộc loại người ngu si, vào tháng cuối mùa mưa, vào mùa thu, không xem xét bờ bên này của sông Gaṅgā, không xem xét bờ bên kia, đã lùa đàn bò qua bờ phía bắc đến xứ Suvideha ở một nơi không phải bến nước. Bấy giờ, này các Tỳ khưu, đàn bò bị xoáy tròn giữa dòng sông Gaṅgā và gặp phải tai họa, bất hạnh ngay tại đó. Vì sao vậy? Này các Tỳ khưu, vì người chăn bò xứ Māgadha ấy, thuộc loại người ngu si, vào tháng cuối mùa mưa, vào mùa thu, không xem xét bờ bên này của sông Gaṅgā, không xem xét bờ bên kia, đã lùa đàn bò qua bờ phía bắc đến xứ Suvideha ở một nơi không phải bến nước. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không thiện xảo về đời này, không thiện xảo về đời sau, không thiện xảo về cảnh giới của Ma vương, không thiện xảo về nơi không phải cảnh giới của Ma vương, không thiện xảo về cảnh giới của Thần chết, không thiện xảo về nơi không phải cảnh giới của Thần chết, những ai nghĩ rằng lời của họ đáng nghe, đáng tin, thì điều đó sẽ đem lại bất hạnh, đau khổ lâu dài cho họ.
Bhūtapubbaṁ, bhikkhave, māgadhako gopālako sappaññajātiko, vassānaṁ pacchime māse saradasamaye, samavekkhitvā gaṅgāya nadiyā orimaṁ tīraṁ, samavekkhitvā pārimaṁ tīraṁ, tittheneva gāvo patāresi uttaraṁ tīraṁ suvidehānaṁ.
So paṭhamaṁ patāresi ye te usabhā gopitaro gopariṇāyakā. Te tiriyaṁ gaṅgāya sotaṁ chetvā sotthinā pāraṁ agamaṁsu. Athāpare patāresi balavagāvo dammagāvo. Tepi tiriyaṁ gaṅgāya sotaṁ chetvā sotthinā pāraṁ agamaṁsu. Athāpare patāresi vacchatare vacchatariyo. Tepi tiriyaṁ gaṅgāya sotaṁ chetvā sotthinā pāraṁ agamaṁsu. Athāpare patāresi vacchake kisābalake. Tepi tiriyaṁ gaṅgāya sotaṁ chetvā sotthinā pāraṁ agamaṁsu. Bhūtapubbaṁ, bhikkhave, vacchako taruṇako tāvadeva jātako mātugoravakena vuyhamāno, sopi tiriyaṁ gaṅgāya sotaṁ chetvā sotthinā pāraṁ agamāsi. Taṁ kissa hetu? Tathā hi so, bhikkhave, māgadhako gopālako sappaññajātiko, vassānaṁ pacchime māse saradasamaye, samavekkhitvā gaṅgāya nadiyā orimaṁ tīraṁ, samavekkhitvā pārimaṁ tīraṁ, tittheneva gāvo patāresi uttaraṁ tīraṁ suvidehānaṁ.
Evameva kho, bhikkhave, ye hi keci samaṇā vā brāhmaṇā vā kusalā imassa lokassa kusalā parassa lokassa, kusalā māradheyyassa kusalā amāradheyyassa, kusalā maccudheyyassa kusalā amaccudheyyassa, tesaṁ ye sotabbaṁ saddahātabbaṁ maññissanti, tesaṁ taṁ bhavissati dīgharattaṁ hitāya sukhāya.
Once upon a time, mendicants, there was an intelligent Magadhan cowherd. In the last month of the rainy season, in autumn, after inspecting the near shore and the far shore, he drove his cattle across a ford on the Ganges River to the northern shore among the Suvidehans.
First he drove across the bulls, the fathers and captains of the herd. They breasted the stream of the Ganges and safely reached the far shore. Then he drove across the strong and tractable cattle. They too breasted the stream of the Ganges and safely reached the far shore. Then he drove across the bullocks and heifers. They too breasted the stream of the Ganges and safely reached the far shore. Then he drove across the calves and weak cattle. They too breasted the stream of the Ganges and safely reached the far shore. Once it happened that a baby calf had just been born. Urged on by its mother’s lowing, even it managed to breast the stream of the Ganges and safely reach the far shore. Why is that? Because the intelligent cowherd inspected both shores before driving the cattle across at a ford.
In the same way, there are ascetics and brahmins who are skilled in this world and the other world, skilled in Māra’s dominion and its opposite, and skilled in Death’s dominion and its opposite. If anyone thinks they are worth listening to and trusting, it will be for their lasting welfare and happiness.
351. “Này các Tỳ khưu, chuyện đã xảy ra trong quá khứ, có người chăn bò xứ Ma-kiệt-đà, bản tánh thông minh, vào tháng cuối mùa mưa, tiết mùa thu, sau khi quan sát kỹ bờ bên này của sông Hằng, sau khi quan sát kỹ bờ bên kia, đã lùa đàn bò qua bến nước an toàn đến bờ phía bắc, xứ Videha. Người ấy trước tiên lùa qua những con bò đực đầu đàn, là cha của đàn bò, là kẻ dẫn dắt đàn bò. Chúng bơi ngang qua dòng sông Hằng, an toàn đến bờ bên kia. Kế đó, người ấy lùa qua những con bò khỏe mạnh, những con bò đã được thuần hóa. Chúng cũng bơi ngang qua dòng sông Hằng, an toàn đến bờ bên kia. Kế đó, người ấy lùa qua những con bò tơ đực, bò tơ cái. Chúng cũng bơi ngang qua dòng sông Hằng, an toàn đến bờ bên kia. Kế đó, người ấy lùa qua những con bê con gầy yếu. Chúng cũng bơi ngang qua dòng sông Hằng, an toàn đến bờ bên kia. Này các Tỳ khưu, chuyện đã xảy ra trong quá khứ, có con bê non mới sinh, được lùa qua nhờ tiếng gọi của bò mẹ, nó cũng bơi ngang qua dòng sông Hằng, an toàn đến bờ bên kia. Vì sao vậy? Này các Tỳ khưu, là vì người chăn bò xứ Ma-kiệt-đà, bản tánh thông minh ấy, vào tháng cuối mùa mưa, tiết mùa thu, sau khi quan sát kỹ bờ bên này của sông Hằng, sau khi quan sát kỹ bờ bên kia, đã lùa đàn bò qua bến nước an toàn đến bờ phía bắc, xứ Videha. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, bất cứ Sa-môn hay Bà-la-môn nào thiện xảo về đời này, thiện xảo về đời sau, thiện xảo về cảnh giới của Ma vương, thiện xảo về nơi không phải cảnh giới của Ma vương, thiện xảo về cảnh giới của Thần chết, thiện xảo về nơi không phải cảnh giới của Thần chết, những ai sẽ nghĩ rằng lời của các vị ấy đáng được nghe, đáng được tin tưởng, thì đối với họ, điều ấy sẽ đem lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài.”
Seyyathāpi, bhikkhave, ye te usabhā gopitaro gopariṇāyakā te tiriyaṁ gaṅgāya sotaṁ chetvā sotthinā pāraṁ agamaṁsu; evameva kho, bhikkhave, ye te bhikkhū arahanto khīṇāsavā vusitavanto katakaraṇīyā ohitabhārā anuppattasadatthā parikkhīṇabhavasaṁyojanā sammadaññāvimuttā, te tiriyaṁ mārassa sotaṁ chetvā sotthinā pāraṅgatā.
Just like the bulls, fathers and captains of the herd, who crossed the Ganges to safety are the mendicants who are perfected, who have ended the defilements, completed the spiritual journey, done what had to be done, laid down the burden, achieved their heart’s goal, utterly ended the fetter of continued existence, and are rightly freed through enlightenment. Having breasted Māra’s stream, they have safely crossed over to the far shore.
352. “Này các Tỳ khưu, ví như những con bò đực đầu đàn, là cha của đàn bò, là kẻ dẫn dắt đàn bò ấy, đã bơi ngang qua dòng sông Hằng, an toàn đến bờ bên kia; cũng vậy, này các Tỳ khưu, những vị Tỳ khưu là bậc A-la-hán, đã tận trừ các lậu hoặc, đã sống đời phạm hạnh, việc cần làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích tối hậu, đã đoạn tận hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí, các vị ấy đã cắt ngang dòng chảy của Ma vương, an toàn đến bờ bên kia.”
Seyyathāpi te, bhikkhave, balavagāvo dammagāvo tiriyaṁ gaṅgāya sotaṁ chetvā sotthinā pāraṁ agamaṁsu; evameva kho, bhikkhave, ye te bhikkhū pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātikā tattha parinibbāyino anāvattidhammā tasmā lokā, tepi tiriyaṁ mārassa sotaṁ chetvā sotthinā pāraṁ gamissanti.
Just like the strong and tractable cattle who crossed the Ganges to safety are the mendicants who, with the ending of the five lower fetters, are reborn spontaneously. They’re extinguished there, and are not liable to return from that world. They too, having breasted Māra’s stream, will safely cross over to the far shore.
“Này các Tỳ khưu, ví như những con bò khỏe mạnh, những con bò đã được thuần hóa ấy đã bơi ngang qua dòng sông Hằng, an toàn đến bờ bên kia; cũng vậy, này các Tỳ khưu, những vị Tỳ khưu nào do đoạn tận năm hạ phần kiết sử, là bậc hóa sanh, sẽ nhập Niết-bàn tại nơi ấy, có pháp không trở lại từ thế giới ấy, các vị ấy cũng sẽ cắt ngang dòng chảy của Ma vương, an toàn đến bờ bên kia.”
Seyyathāpi te, bhikkhave, vacchatarā vacchatariyo tiriyaṁ gaṅgāya sotaṁ chetvā sotthinā pāraṁ agamaṁsu; evameva kho, bhikkhave, ye te bhikkhū tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā rāgadosamohānaṁ tanuttā sakadāgāmino sakideva imaṁ lokaṁ āgantvā dukkhassantaṁ karissanti, tepi tiriyaṁ mārassa sotaṁ chetvā sotthinā pāraṁ gamissanti.
Just like the bullocks and heifers who crossed the Ganges to safety are the mendicants who, with the ending of three fetters, and the weakening of greed, hate, and delusion, are once-returners. They come back to this world once only, then make an end of suffering. They too, having breasted Māra’s stream, will safely cross over to the far shore.
“Này các Tỳ khưu, ví như những con bò tơ đực, bò tơ cái ấy đã bơi ngang qua dòng sông Hằng, an toàn đến bờ bên kia; cũng vậy, này các Tỳ khưu, những vị Tỳ khưu nào do đoạn tận ba kiết sử, do làm muội lược tham, sân, si, là bậc Nhất Lai, chỉ trở lại thế giới này một lần nữa rồi chấm dứt khổ đau, các vị ấy cũng sẽ cắt ngang dòng chảy của Ma vương, an toàn đến bờ bên kia.”
Seyyathāpi te, bhikkhave, vacchakā kisābalakā tiriyaṁ gaṅgāya sotaṁ chetvā sotthinā pāraṁ agamaṁsu; evameva kho, bhikkhave, ye te bhikkhū tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā sotāpannā avinipātadhammā niyatā sambodhiparāyanā, tepi tiriyaṁ mārassa sotaṁ chetvā sotthinā pāraṁ gamissanti.
Just like the calves and weak cattle who crossed the Ganges to safety are the mendicants who, with the ending of three fetters are stream-enterers, not liable to be reborn in the underworld, assured, destined for awakening. They too, having breasted Māra’s stream, will safely cross over to the far shore.
“Này các Tỳ khưu, ví như những con bê con gầy yếu ấy đã bơi ngang qua dòng sông Hằng, an toàn đến bờ bên kia; cũng vậy, này các Tỳ khưu, những vị Tỳ khưu nào do đoạn tận ba kiết sử, là bậc Dự Lưu, có pháp không rơi vào đọa xứ, chắc chắn, hướng đến chánh giác, các vị ấy cũng sẽ cắt ngang dòng chảy của Ma vương, an toàn đến bờ bên kia.”
Seyyathāpi so, bhikkhave, vacchako taruṇako tāvadeva jātako mātugoravakena vuyhamāno tiriyaṁ gaṅgāya sotaṁ chetvā sotthinā pāraṁ agamāsi; evameva kho, bhikkhave, ye te bhikkhū dhammānusārino saddhānusārino, tepi tiriyaṁ mārassa sotaṁ chetvā sotthinā pāraṁ gamissanti.
Just like the baby calf who had just been born, but, urged on by its mother’s lowing, still managed to cross the Ganges to safety are the mendicants who are followers of teachings, followers by faith. They too, having breasted Māra’s stream, will safely cross over to the far shore.
“Này các Tỳ khưu, ví như con bê non mới sinh ấy, được lùa qua nhờ tiếng gọi của bò mẹ, đã bơi ngang qua dòng sông Hằng, an toàn đến bờ bên kia; cũng vậy, này các Tỳ khưu, những vị Tỳ khưu nào là bậc Tùy Pháp hành, Tùy Tín hành, các vị ấy cũng sẽ cắt ngang dòng chảy của Ma vương, an toàn đến bờ bên kia.”
Ahaṁ kho pana, bhikkhave, kusalo imassa lokassa kusalo parassa lokassa, kusalo māradheyyassa kusalo amāradheyyassa, kusalo maccudheyyassa kusalo amaccudheyyassa. Tassa mayhaṁ, bhikkhave, ye sotabbaṁ saddahātabbaṁ maññissanti, tesaṁ taṁ bhavissati dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti.
Mendicants, I am skilled in this world and the other world, skilled in Māra’s dominion and its opposite, and skilled in Death’s dominion and its opposite. If anyone thinks I am worth listening to and trusting, it will be for their lasting welfare and happiness.”
“Này các Tỳ khưu, còn Ta, Ta thiện xảo về đời này, thiện xảo về đời sau, thiện xảo về cảnh giới của Ma vương, thiện xảo về nơi không phải cảnh giới của Ma vương, thiện xảo về cảnh giới của Thần chết, thiện xảo về nơi không phải cảnh giới của Thần chết. Này các Tỳ khưu, những ai sẽ nghĩ rằng lời của Ta đáng được nghe, đáng được tin tưởng, thì đối với họ, điều ấy sẽ đem lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài.”
Idamavoca bhagavā. Idaṁ vatvā sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
That is what the Buddha said. Then the Holy One, the Teacher, went on to say:
Đức Thế Tôn đã nói điều này. Sau khi nói điều này, bậc Thiện Thệ, bậc Đạo Sư lại nói thêm như sau:
“Ayaṁ loko paro loko, jānatā suppakāsito; Yañca mārena sampattaṁ, appattaṁ yañca maccunā.
“This world and the other world have been clearly explained by one who knows; as well as Māra’s reach, and what’s out of Death’s reach.
“Đời này và đời sau, đã được bậc Toàn Tri tuyên thuyết rõ ràng; và pháp nào đã bị Ma vương đạt đến, và pháp nào Thần chết không đạt đến.”
Sabbaṁ lokaṁ abhiññāya, sambuddhena pajānatā; Vivaṭaṁ amatadvāraṁ, khemaṁ nibbānapattiyā.
Directly knowing the whole world, the Buddha who understands has opened the door to freedom from death, for finding the sanctuary, extinguishment.
“Sau khi thắng tri tất cả thế gian, bậc Chánh Đẳng Giác, bậc Toàn Tri, đã mở ra cánh cửa bất tử, để đạt đến Niết-bàn an ổn.”
Chinnaṁ pāpimato sotaṁ, Viddhastaṁ vinaḷīkataṁ; Pāmojjabahulā hotha, Khemaṁ pattattha bhikkhavo”ti.
The Wicked One’s stream has been cut, it’s blown away and mown down. Be full of joy, mendicants, set your heart on sanctuary!”
“Dòng chảy của Ác ma đã bị cắt đứt, đã bị phá tan, đã bị làm cho không còn ngã mạn. Này các Tỳ khưu, các ngươi hãy có nhiều hân hoan, hãy mong cầu sự an ổn.”
Cūḷagopālakasuttaṁ niṭṭhitaṁ catutthaṁ.
Kinh Tiểu Mục Ngưu, phẩm thứ tư, kết thúc.