- Majjhima Nikāya 33
Mahāgopālakasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Mahāgopālakasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở tại Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc). Ở tại đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo
—Này các Tỷ-kheo.
SC 2—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 3Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn thuyết giảng như sau
SC 4—Này các Tỷ-kheo, nếu không đầy đủ mười một đức tánh này, một người chăn bò không thể chăn giữ đàn bò, không thể khiến đàn bò được hưng thịnh. Thế nào là mười một? Ở đây, này các Tỷ-kheo, một người chăn bò không biết rõ sắc, không khéo (phân biệt) các tướng, không từ bỏ trứng con bò chét, không băng bó vết thương, không có xông khói, không biết chỗ nước có thể lội qua, không biết chỗ nước uống, không biết con đường, không khéo léo đối với các chỗ đàn bò có thể ăn cỏ, là người vắt sữa cho đến khô kiệt, là người không chú ý, không săn sóc đặc biệt những con bò đực già và đầu đàn. Này các Tỷ-kheo, người chăn bò nào không đầy đủ mười một đức tánh như vậy, không thể chăn giữ đàn bò, không thể khiến đàn bò được hưng thịnh.
SC 5Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào không đầy đủ mười một pháp, không thể lớn mạnh, tăng thịnh, thành mãn trong Pháp và Luật này. Thế nào là mười một? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không biết sắc, không khéo (phân biệt) các tướng, không từ bỏ trứng con bò chét, không băng bó vết thương, không có xông khói, không biết chỗ nước có thể lội qua, không biết chỗ nước uống, không biết con đường, không khéo léo đối với các chỗ đàn bò có thể ăn cỏ, là người vắt sữa cho đến khô kiệt, đối với những Thượng Tọa trưởng lão, xuất gia đã lâu ngày, bậc tôn túc trong Tăng giới, bậc lãnh đạo trong Tăng giới, không có sự tôn kính, tôn trọng đặc biệt.
SC 6Chư Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo không biết rõ các sắc? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đối với sắc pháp không như thật biết tất cả loại sắc thuộc bốn đại và sắc do bốn đại hợp thành. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không biết rõ các sắc.
SC 7Chư Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo không khéo (phân biệt) các tướng? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không như thật biết kẻ ngu và nghiệp tướng của người đó, kẻ trí và nghiệp tướng của người đó. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không khéo (phân biệt) các tướng.
SC 8Chư Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo không trừ bỏ trứng con bò chét? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thọ dụng dục tầm khởi lên, không từ bỏ, không tránh né, không chấm dứt, không làm cho không tồn tại,. Tỷ kheo thọ dụng sân tầm khởi lên … thọ dụng hại tầm khởi lên … thọ dụng các ác, bất thiện pháp khởi lên, không từ bỏ, không tránh né, không chấm dứt, không làm cho không tồn tại. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo không trừ bỏ trứng con bò chét.
SC 9Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo không băng bó vết thương? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo, khi mắt thấy sắc, nắm giữ tướng chung, nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì làm con mắt không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên; Tỷ-kheo không tự chế ngự nguyên nhân ấy, không hộ trì con mắt, không thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng … mũi ngửi hương … lưỡi nếm vị … thân cảm xúc … ý nhận thức các pháp, vị ấy nắm giữ tướng chung, nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên; Tỷ-kheo không chế ngự nguyên nhân ấy, không hộ trì ý căn, không thực hành sự hộ trì ý căn. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo không băng bó vết thương.
SC 10Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo không xông khói? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không có thuyết giảng rộng rãi cho các người khác biết Chánh pháp mình được nghe, được thọ trì. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo không xông khói.
SC 11Và này, các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo không biết chỗ nước có thể lội qua? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thỉnh thoảng có đến gặp những Tỷ-kheo đa văn được trao cho truyền thống giáo điển, những bậc trì Pháp, trì Luật, trì matika (các bản tóm tắt) nhưng không hỏi, không trả lời các vị ấy: “Thưa Tôn giả, điểm này là thế nào? Ý nghĩa này là gì?” Những bậc Tôn giả ấy không làm cho hiển lộ những điều chưa hiển lộ, không làm cho rõ ràng những điều chưa được rõ ràng, và đối với những nghi vấn về Chánh pháp, các vị ấy không đoạn trừ nghi hoặc. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo không biết chỗ nước có thể lội qua.
SC 12Và chư Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo không biết rõ chỗ nước uống? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo, trong khi Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết được giảng dạy, không chứng đạt nghĩa tín thọ, pháp tín thọ, không chứng đạt sự hân hoan liên hệ đến Pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo không biết chỗ nước uống.
SC 13Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo không biết về con đường? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không như thật biết con đường Thánh đạo Tám ngành. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo không biết đến con đường.
SC 14Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo không khéo léo với các chỗ đàn bò có thể ăn cỏ? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không như thật biết về Bốn Niệm xứ. Như vậy này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo không khéo léo với các chỗ đàn bò có thể ăn cỏ.
SC 15Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo vắt sữa cho đến khô kiệt? Ở đây, này các Tỷ-kheo, khi các vị tại gia vì lòng tin cúng dường các vật dụng, như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, Tỷ-kheo không biết nhận lãnh cho được vừa đủ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo vắt sữa cho đến khô kiệt.
SC 16Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo, đối với những Thượng tọa trưởng lão, xuất gia đã lâu ngày, bậc tôn túc trong Tăng giới, bậc lãnh đạo trong Tăng giới, không có sự tôn kính, sự tôn trọng đặc biệt? Ở đây, này các Tỷ-kheo, đối với Thượng tọa, trưởng lão, xuất gia đã lâu ngày, bậc tôn túc trong Tăng giới, bậc lãnh đạo trong Tăng giới, không có thân nghiệp đầy lòng từ đối với các vị ấy, trước mặt và sau lưng, không có khẩu nghiệp đầy lòng từ đối với các vị ấy, trước mặt và sau lưng, không có ý nghiệp đầy lòng từ đối với các vị ấy, trước mặt và sau lưng. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo đối với những Thượng tọa, trưởng lão, xuất gia đã lâu ngày, bậc tôn túc trong Tăng giới, bậc lãnh đạo trong Tăng giới, không có sự tôn kính, sự tôn trọng đặc biệt.
SC 17Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào không đầy đủ mười một pháp này, thì không thể lớn mạnh, tăng thịnh, thành mãn trong Pháp và Luật này.
SC 18Này các Tỷ-kheo, người chăn bò đầy đủ mười một đức tánh này có thể chăn giữ đàn bò, khiến đàn bò trở thành hưng thịnh. Thế nào là mười một? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người chăn bò biết rõ sắc, khéo (phân biệt) các tướng, trừ bỏ trứng con bò chét, băng bó vết thương, có xông khói, biết chỗ nước có thể lội qua, biết chỗ nước uống, biết con đường, khéo léo đối với các chỗ đàn bò có thể ăn cỏ, không vắt sữa cho đến khô kiệt, là người chú ý săn sóc đặc biệt, những con bò đực già và đầu đàn. Này các Tỷ-kheo, người chăn bò đầy đủ mười một đức tánh này có thể chăn giữ đàn bò và làm cho đàn bò trở thành hưng thịnh.
SC 19Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đầy đủ mười một pháp này có thể lớn mạnh, tăng thịnh, thành mãn trong Pháp và Luật này. Thế nào là mười một? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo, biết rõ sắc, khéo (phân biệt) các tướng, trừ bỏ trứng con bò chét, băng bó vết thương, có xông khói, biết chỗ nước có thể lội qua, biết chỗ nước uống, biết con đường khéo léo đối với các chỗ đàn bò có thể ăn cỏ, không phải là người vắt sữa cho đến khô kiệt, đối với những Thượng tọa, trưởng lão, xuất gia đã lâu ngày, bậc tôn túc trong Tăng giới, bậc lãnh đạo trong Tăng giới, có sự tôn kính, tôn trọng đặc biệt.
SC 20Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo biết rõ các sắc? Ở đây, này các Tỷ-kheo, đối với sắc pháp như thật biết tất cả loại sắc thuộc bốn đại và sắc do bốn đại hợp thành. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết rõ các sắc.
SC 21Chư Tỷ-kheo thế nào là Tỷ-kheo khéo (phân biệt) các tướng? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thật biết kẻ ngu và nghiệp tướng kẻ ngu, kẻ trí và nghiệp tướng kẻ trí. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khéo (phân biệt) các tướng.
SC 22Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo trừ bỏ trứng con bò chét? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không thọ dụng dục tầm khởi lên, từ bỏ, tránh né, chấm dứt, làm cho không tồn tại. Tỷ kheo không thọ dụng sân tầm khởi lên … không thọ dụng hại tầm khởi lên … không thọ dụng các ác, bất thiện pháp khởi lên, từ bỏ, tránh né, chấm dứt, làm cho không tồn tại. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo trừ bỏ trứng con bò chét.
SC 23Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo băng bó vết thương? Ở đây, này các Tỷ-kheo, khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến con mắt không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên; Tỷ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng … mũi ngửi hương … lưỡi nếm vị … thân cảm xúc … ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên; Tỷ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo băng bó vết thương.
SC 24Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo có xông khói? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có thuyết giảng rộng rãi cho các người khác biết Chánh pháp mình được nghe, được thọ trì. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo có xông khói.
SC 25Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo biết chỗ nước có thể lội qua? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thỉnh thoảng có đến gặp những Tỷ-kheo đa văn, được trao cho truyền thống giáo điển, những bậc trì Pháp, trì Luật, trì matika (các bản tóm tắt) có hỏi, có trả lời các vị ấy: “Thưa Tôn giả, điểm này là thế nào? Ý nghĩa này là gì? Những bậc Tôn giả ấy làm cho hiển lộ những điều chưa được hiển lộ, làm cho rõ ràng những điều chưa được rõ ràng, và đối với những nghi vấn về Chánh pháp, các vị đoạn trừ nghi hoặc. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo biết rõ chỗ nước có thể lội qua.
SC 26Và chư Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo biết rõ chỗ nước uống? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, giảng dạy, chứng đạt nghĩa tín thọ, chứng đạt pháp tín thọ, chứng đạt sự hân hoan liên hệ đến Pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo biết chỗ nước uống.
SC 27Và các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo biết rõ về con đường? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thật biết con đường Thánh đạo Tám ngành. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo biết rõ con đường.
SC 28Và này, các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo khéo léo đối với các chỗ đàn bò có thể ăn cỏ? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thật biết về Bốn Niệm xứ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo khéo léo đối với các chỗ đàn bò có thể ăn cỏ.
SC 29Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo không vắt sữa cho đến khô kiệt? Ở đây, này các Tỷ-kheo, khi các vị tại gia vì lòng tin cúng dường các vật dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, Tỷ-kheo biết nhận lãnh cho được vừa đủ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo không vắt sữa cho đến khô kiệt.
SC 30Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo, đối với những Thượng tọa trưởng lão, xuất gia đã lâu ngày, bậc tôn túc trong Tăng giới, bậc lãnh đạo trong Tăng giới, có sự tôn kính, sự tôn trọng đặc biệt? Ở đây, này các Tỷ-kheo, đối với các Thượng tọa trưởng lão, xuất gia đã lâu ngày, bậc tôn túc trong Tăng giới, bậc lãnh đạo trong Tăng giới, có thân nghiệp đầy lòng từ đối với các vị ấy, trước mặt và sau lưng, có khẩu nghiệp, đầy lòng từ đối với các vị ấy, trước mặt và sau lưng, có ý nghiệp đầy lòng từ đối với các vị ấy, trước mặt và sau lưng. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo đối với những Thượng tọa trưởng lão, xuất gia đã lâu ngày, bậc tôn túc trong Tăng giới, bậc lãnh đạo trong Tăng giới, có sự tôn kính, có sự tôn trọng đặc biệt.
SC 31Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào đầy đủ mười một pháp này, thì có thể lớn mạnh, tăng thịnh, thành mãn trong Pháp và Luật này.
SC 32Thế Tôn thuyết giảng như vậy, các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 11–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
3. Kinh Đại Gopālaka (Người Chăn Bò Lớn)
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
346. Tôi nghe như vầy: Một thời, đức Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của Anāthapiṇḍika. Ở đó, đức Thế Tôn gọi các tỳ khưu: ‘Này các tỳ khưu.’ – ‘Bạch Thế Tôn,’ các tỳ khưu ấy vâng đáp đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn đã nói điều này:
“Ekādasahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgato gopālako abhabbo gogaṇaṁ pariharituṁ phātiṁ kātuṁ. Katamehi ekādasahi? Idha, bhikkhave, gopālako na rūpaññū hoti, na lakkhaṇakusalo hoti, na āsāṭikaṁ hāretā hoti, na vaṇaṁ paṭicchādetā hoti, na dhūmaṁ kattā hoti, na titthaṁ jānāti, na pītaṁ jānāti, na vīthiṁ jānāti, na gocarakusalo hoti anavasesadohī ca hoti. Ye te usabhā gopitaro gopariṇāyakā te na atirekapūjāya pūjetā hoti. Imehi kho, bhikkhave, ekādasahi aṅgehi samannāgato gopālako abhabbo gogaṇaṁ pariharituṁ phātiṁ kātuṁ.
Evameva kho, bhikkhave, ekādasahi dhammehi samannāgato bhikkhu abhabbo imasmiṁ dhammavinaye vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjituṁ. Katamehi ekādasahi? Idha, bhikkhave, bhikkhu na rūpaññū hoti, na lakkhaṇakusalo hoti, na āsāṭikaṁ hāretā hoti, na vaṇaṁ paṭicchādetā hoti, na dhūmaṁ kattā hoti, na titthaṁ jānāti, na pītaṁ jānāti, na vīthiṁ jānāti, na gocarakusalo hoti, anavasesadohī ca hoti. Ye te bhikkhū therā rattaññū cirapabbajitā saṅghapitaro saṅghapariṇāyakā te na atirekapūjāya pūjetā hoti.
“Mendicants, a cowherd with eleven factors can’t maintain and expand a herd of cattle. What eleven? It’s when a cowherd doesn’t know form, is unskilled in characteristics, doesn’t pick out flies’ eggs, doesn’t dress wounds, doesn’t spread smoke, doesn’t know the ford, doesn’t know satisfaction, doesn’t know the trail, is not skilled in ranges, milks dry, and doesn’t show extra respect to the bulls who are fathers and captains of the herd. A cowherd with these eleven factors can’t maintain and expand a herd of cattle.
In the same way, a mendicant with eleven qualities can’t achieve growth, improvement, or maturity in this teaching and training. What eleven? It’s when a mendicant doesn’t know form, is unskilled in characteristics, doesn’t pick out flies’ eggs, doesn’t dress wounds, doesn’t spread smoke, doesn’t know the ford, doesn’t know satisfaction, doesn’t know the trail, is not skilled in ranges, milks dry, and doesn’t show extra respect to senior mendicants of long standing, long gone forth, fathers and leaders of the Saṅgha.
Này các Tỳ khưu, người chăn bò có mười một chi phần thì không có khả năng chăm sóc đàn bò, làm cho nó phát triển. Mười một chi phần ấy là gì? Này các Tỳ khưu, ở đây, người chăn bò không biết rõ hình sắc, không khéo léo về tướng mạo, không loại bỏ trứng ruồi, không che đậy vết thương, không tạo ra khói, không biết bến nước, không biết (con nào) đã uống nước, không biết con đường, không khéo léo về bãi ăn, và vắt sữa không chừa lại. Những con bò đực đầu đàn, cha của đàn bò, dẫn dắt đàn bò, vị ấy không tôn kính bằng sự tôn kính đặc biệt. Này các Tỳ khưu, chính do có mười một chi phần này mà người chăn bò không có khả năng chăm sóc đàn bò, làm cho nó phát triển. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, Tỳ khưu có mười một pháp thì không có khả năng đạt đến sự tăng trưởng, phát triển, lớn mạnh trong Pháp và Luật này. Mười một pháp ấy là gì? Này các Tỳ khưu, ở đây, Tỳ khưu không biết rõ sắc, không khéo léo về tướng, không loại bỏ trứng ruồi, không che đậy vết thương, không tạo ra khói, không biết bến nước, không biết (cái) đã uống, không biết con đường, không khéo léo về bãi ăn, và vắt sữa không chừa lại. Những vị Tỳ khưu là trưởng lão, có kinh nghiệm lâu năm, xuất gia đã lâu, là cha của Tăng chúng, là người dẫn dắt Tăng chúng, vị ấy không tôn kính bằng sự tôn kính đặc biệt.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu na rūpaññū hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhu yaṁ kiñci rūpaṁ sabbaṁ rūpaṁ ‘cattāri mahābhūtāni, catunnañca mahābhūtānaṁ upādāyarūpan’ti yathābhūtaṁ nappajānāti. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu na rūpaññū hoti.
And how does a mendicant not know form? It’s when a mendicant doesn’t truly understand that all form is the four principal states, or form derived from the four principal states. That’s how a mendicant doesn’t know form.
347. Này các Tỳ khưu, thế nào là Tỳ khưu không biết rõ sắc? Này các Tỳ khưu, ở đây, Tỳ khưu không tuệ tri như thật về bất cứ sắc nào, tất cả sắc rằng: ‘(Đó là) bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành’. Này các Tỳ khưu, như vậy là Tỳ khưu không biết rõ sắc.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu na lakkhaṇakusalo hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhu ‘kammalakkhaṇo bālo, kammalakkhaṇo paṇḍito’ti yathābhūtaṁ nappajānāti. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu na lakkhaṇakusalo hoti.
And how is a mendicant not skilled in characteristics? It’s when a mendicant doesn’t understand that a fool is characterized by their deeds, and an astute person is characterized by their deeds. That’s how a mendicant isn’t skilled in characteristics.
Này các Tỳ khưu, thế nào là Tỳ khưu không khéo léo về tướng? Này các Tỳ khưu, ở đây, Tỳ khưu không tuệ tri như thật rằng: ‘Kẻ ngu có nghiệp là tướng trạng, bậc trí có nghiệp là tướng trạng’. Này các Tỳ khưu, như vậy là Tỳ khưu không khéo léo về tướng.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu na āsāṭikaṁ hāretā hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhu uppannaṁ kāmavitakkaṁ adhivāseti, nappajahati na vinodeti na byantī karoti na anabhāvaṁ gameti. Uppannaṁ byāpādavitakkaṁ …pe… uppannaṁ vihiṁsāvitakkaṁ …pe… uppannuppanne pāpake akusale dhamme adhivāseti, nappajahati na vinodeti na byantī karoti na anabhāvaṁ gameti. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu na āsāṭikaṁ hāretā hoti.
And how does a mendicant not pick out flies’ eggs? It’s when a mendicant tolerates a sensual, malicious, or cruel thought that has arisen. They tolerate any bad, unskillful qualities that have arisen. They don’t give them up, dispel them, eliminate them, and obliterate them. That’s how a mendicant doesn’t pick out flies’ eggs.
Này các Tỳ khưu, thế nào là Tỳ khưu không loại bỏ trứng ruồi? Này các Tỳ khưu, ở đây, Tỳ khưu dung chứa dục tầm đã khởi lên, không từ bỏ, không loại trừ, không chấm dứt, không làm cho nó biến mất. Sân tầm đã khởi lên... hại tầm đã khởi lên... Vị ấy dung chứa các pháp ác, bất thiện đã khởi lên và tái khởi lên, không từ bỏ, không loại trừ, không chấm dứt, không làm cho chúng biến mất. Này các Tỳ khưu, như vậy là Tỳ khưu không loại bỏ trứng ruồi.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu na vaṇaṁ paṭicchādetā hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā nimittaggāhī hoti anubyañjanaggāhī. Yatvādhikaraṇamenaṁ cakkhundriyaṁ asaṁvutaṁ viharantaṁ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṁ, tassa saṁvarāya na paṭipajjati, na rakkhati cakkhundriyaṁ, cakkhundriye na saṁvaraṁ āpajjati. Sotena saddaṁ sutvā …pe… ghānena gandhaṁ ghāyitvā …pe… jivhāya rasaṁ sāyitvā …pe… kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā …pe… manasā dhammaṁ viññāya nimittaggāhī hoti anubyañjanaggāhī. Yatvādhikaraṇamenaṁ manindriyaṁ asaṁvutaṁ viharantaṁ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṁ, tassa saṁvarāya na paṭipajjati, na rakkhati manindriyaṁ, manindriye na saṁvaraṁ āpajjati. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu na vaṇaṁ paṭicchādetā hoti.
And how does a mendicant not dress wounds? When a mendicant sees a sight with their eyes, they get caught up in the features and details. Since the faculty of sight is left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure become overwhelming. They don’t practice restraint, they don’t protect the faculty of sight, and they don’t achieve its restraint. When they hear a sound with their ears … smell an odor with their nose … taste a flavor with their tongue … feel a touch with their body … know an idea with their mind, they get caught up in the features and details. Since the faculty of the mind is left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure become overwhelming. They don’t practice restraint, they don’t protect the faculty of the mind, and they don’t achieve its restraint. That’s how a mendicant doesn’t dress wounds.
Này các Tỳ khưu, thế nào là Tỳ khưu không che đậy vết thương? Này các Tỳ khưu, ở đây, Tỳ khưu sau khi thấy sắc bằng mắt, liền nắm giữ tướng chung, nắm giữ tướng riêng. Do nguyên nhân nào mà vị ấy trú không phòng hộ nhãn căn, các pháp ác, bất thiện là tham và ưu sẽ xâm nhập, vị ấy không thực hành sự phòng hộ căn ấy, không hộ trì nhãn căn, không đạt đến sự phòng hộ trong nhãn căn. Sau khi nghe tiếng bằng tai... sau khi ngửi hương bằng mũi... sau khi nếm vị bằng lưỡi... sau khi cảm nhận xúc bằng thân... sau khi biết pháp bằng ý, liền nắm giữ tướng chung, nắm giữ tướng riêng. Do nguyên nhân nào mà vị ấy trú không phòng hộ ý căn, các pháp ác, bất thiện là tham và ưu sẽ xâm nhập, vị ấy không thực hành sự phòng hộ căn ấy, không hộ trì ý căn, không đạt đến sự phòng hộ trong ý căn. Này các Tỳ khưu, như vậy là Tỳ khưu không che đậy vết thương.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu na dhūmaṁ kattā hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhu yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ na vitthārena paresaṁ desetā hoti. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu na dhūmaṁ kattā hoti.
And how does a mendicant not spread smoke? It’s when a mendicant doesn’t teach others the Dhamma in detail as they learned and memorized it. That’s how a mendicant doesn’t spread smoke.
Này các Tỳ khưu, thế nào là Tỳ khưu không tạo ra khói? Này các Tỳ khưu, ở đây, Tỳ khưu không thuyết giảng một cách rộng rãi cho người khác về Pháp mà mình đã nghe, đã học. Này các Tỳ khưu, như vậy là Tỳ khưu không tạo ra khói.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu na titthaṁ jānāti? Idha, bhikkhave, bhikkhu ye te bhikkhū bahussutā āgatāgamā dhammadharā vinayadharā mātikādharā, te kālena kālaṁ upasaṅkamitvā na paripucchati, na paripañhati: ‘idaṁ, bhante, kathaṁ? Imassa ko attho’ti? Tassa te āyasmanto avivaṭañceva na vivaranti, anuttānīkatañca na uttānīkaronti, anekavihitesu ca kaṅkhāṭhānīyesu dhammesu kaṅkhaṁ na paṭivinodenti. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu na titthaṁ jānāti.
And how does a mendicant not know the ford? It’s when a mendicant doesn’t from time to time go up to those mendicants who are very learned—inheritors of the heritage, who have memorized the teachings, the monastic law, and the outlines—and ask them questions: ‘Why, sir, does it say this? What does that mean?’ Those venerables don’t reveal what is hidden, clarify what is unclear, and dispel doubt regarding the many doubtful matters. That’s how a mendicant doesn’t know the ford.
Này các Tỳ khưu, thế nào là Tỳ khưu không biết bến nước? Này các Tỳ khưu, ở đây, có những vị Tỳ khưu đa văn, thông suốt truyền thống, trì Pháp, trì Luật, trì các Mẫu đề, vị ấy không thỉnh thoảng đến gần để hỏi, để thưa rằng: ‘Thưa Tôn giả, điều này là thế nào? Ý nghĩa của điều này là gì?’ Đối với vị ấy, các Tôn giả kia không mở ra điều chưa được mở, không làm cho sáng tỏ điều chưa được làm sáng tỏ, và không xua tan sự nghi ngờ trong nhiều pháp là cơ sở của sự nghi ngờ. Này các Tỳ khưu, như vậy là Tỳ khưu không biết bến nước.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu na pītaṁ jānāti? Idha, bhikkhave, bhikkhu tathāgatappavedite dhammavinaye desiyamāne na labhati atthavedaṁ, na labhati dhammavedaṁ, na labhati dhammūpasaṁhitaṁ pāmojjaṁ. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu na pītaṁ jānāti.
And how does a mendicant not know satisfaction? It’s when a mendicant, when the teaching and training proclaimed by the Realized One are being taught, finds no inspiration in the meaning and the teaching, and finds no joy connected with the teaching. That’s how a mendicant doesn’t know satisfaction.
Này các Tỳ khưu, thế nào là Tỳ khưu không biết (cái) đã uống? Này các Tỳ khưu, ở đây, khi Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết đang được giảng dạy, Tỳ khưu không đạt được sự hiểu biết về ý nghĩa, không đạt được sự hiểu biết về Pháp, không đạt được sự hân hoan liên quan đến Pháp. Này các Tỳ khưu, như vậy là Tỳ khưu không biết (cái) đã uống.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu na vīthiṁ jānāti? Idha, bhikkhave, bhikkhu ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ yathābhūtaṁ nappajānāti. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu na vīthiṁ jānāti.
And how does a mendicant not know the trail? It’s when a mendicant doesn’t truly understand the noble eightfold path. That’s how a mendicant doesn’t know the trail.
Này các Tỳ khưu, thế nào là Tỳ khưu không biết con đường? Này các Tỳ khưu, ở đây, Tỳ khưu không tuệ tri như thật về Thánh đạo Tám ngành. Này các Tỳ khưu, như vậy là Tỳ khưu không biết con đường.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu na gocarakusalo hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhu cattāro satipaṭṭhāne yathābhūtaṁ nappajānāti. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu na gocarakusalo hoti.
And how is a mendicant not skilled in ranges? It’s when a mendicant doesn’t truly understand the four kinds of mindfulness meditation. That’s how a mendicant is not skilled in ranges.
Này các Tỳ khưu, thế nào là Tỳ khưu không khéo léo về bãi ăn? Này các Tỳ khưu, ở đây, Tỳ khưu không tuệ tri như thật về bốn Niệm xứ. Này các Tỳ khưu, như vậy là Tỳ khưu không khéo léo về bãi ăn.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu anavasesadohī hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhuṁ saddhā gahapatikā abhihaṭṭhuṁ pavārenti cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārehi, tatra bhikkhu mattaṁ na jānāti paṭiggahaṇāya. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu anavasesadohī hoti.
And how does a mendicant milk dry? It’s when a mendicant is invited by a householder to accept robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick, and that mendicant doesn’t know moderation in accepting. That’s how a mendicant milks dry.
“Này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu vắt sữa không chừa lại? Này các Tỳ khưu, ở đây, các gia chủ có đức tin mời thỉnh vị Tỳ khưu dâng cúng y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh và các vật dụng cần thiết, trong trường hợp ấy, vị Tỳ khưu không biết chừng mực trong việc nhận lãnh. Này các Tỳ khưu, như vậy là vị Tỳ khưu vắt sữa không chừa lại.”
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu ye te bhikkhū therā rattaññū cirapabbajitā saṅghapitaro saṅghapariṇāyakā te na atirekapūjāya pūjetā hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhu ye te bhikkhū therā rattaññū cirapabbajitā saṅghapitaro saṅghapariṇāyakā, tesu na mettaṁ kāyakammaṁ paccupaṭṭhāpeti āvi ceva raho ca; na mettaṁ vacīkammaṁ paccupaṭṭhāpeti āvi ceva raho ca; na mettaṁ manokammaṁ paccupaṭṭhāpeti āvi ceva raho ca. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu ye te bhikkhū therā rattaññū cirapabbajitā saṅghapitaro saṅghapariṇāyakā te na atirekapūjāya pūjetā hoti.
And how does a mendicant not show extra respect to senior mendicants of long standing, long gone forth, fathers and leaders of the Saṅgha? It’s when a mendicant doesn’t consistently treat senior mendicants of long standing, long gone forth, fathers and leaders of the Saṅgha with kindness by way of body, speech, and mind, both in public and in private. That’s how a mendicant doesn’t show extra respect to senior mendicants of long standing, long gone forth, fathers and leaders of the Saṅgha.
“Này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu không tôn kính một cách đặc biệt đối với các vị Tỳ khưu là trưởng lão, có kinh nghiệm, xuất gia đã lâu, là những bậc cha của Tăng chúng, là những vị lãnh đạo Tăng chúng? Này các Tỳ khưu, ở đây, đối với các vị Tỳ khưu là trưởng lão, có kinh nghiệm, xuất gia đã lâu, là những bậc cha của Tăng chúng, là những vị lãnh đạo Tăng chúng, vị Tỳ khưu ấy không thể hiện thân nghiệp từ ái một cách công khai lẫn kín đáo; không thể hiện khẩu nghiệp từ ái một cách công khai lẫn kín đáo; không thể hiện ý nghiệp từ ái một cách công khai lẫn kín đáo. Này các Tỳ khưu, như vậy là vị Tỳ khưu không tôn kính một cách đặc biệt đối với các vị Tỳ khưu là trưởng lão, có kinh nghiệm, xuất gia đã lâu, là những bậc cha của Tăng chúng, là những vị lãnh đạo Tăng chúng.”
Imehi kho, bhikkhave, ekādasahi dhammehi samannāgato bhikkhu abhabbo imasmiṁ dhammavinaye vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjituṁ.
A mendicant with these eleven qualities can’t achieve growth, improvement, or maturity in this teaching and training.
“Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu nào hội đủ mười một pháp này thì không có khả năng đạt đến sự tăng trưởng, phát triển, lớn mạnh trong Pháp và Luật này.”
Ekādasahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgato gopālako bhabbo gogaṇaṁ pariharituṁ phātiṁ kātuṁ. Katamehi ekādasahi? Idha, bhikkhave, gopālako rūpaññū hoti, lakkhaṇakusalo hoti, āsāṭikaṁ hāretā hoti, vaṇaṁ paṭicchādetā hoti, dhūmaṁ kattā hoti, titthaṁ jānāti, pītaṁ jānāti, vīthiṁ jānāti, gocarakusalo hoti, sāvasesadohī ca hoti. Ye te usabhā gopitaro gopariṇāyakā te atirekapūjāya pūjetā hoti. Imehi kho, bhikkhave, ekādasahi aṅgehi samannāgato gopālako bhabbo gogaṇaṁ pariharituṁ phātiṁ kātuṁ.
Evameva kho, bhikkhave, ekādasahi dhammehi samannāgato bhikkhu bhabbo imasmiṁ dhammavinaye vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjituṁ. Katamehi ekādasahi? Idha, bhikkhave, bhikkhu rūpaññū hoti, lakkhaṇakusalo hoti, āsāṭikaṁ hāretā hoti, vaṇaṁ paṭicchādetā hoti, dhūmaṁ kattā hoti, titthaṁ jānāti, pītaṁ jānāti, vīthiṁ jānāti, gocarakusalo hoti, sāvasesadohī ca hoti. Ye te bhikkhū therā rattaññū cirapabbajitā saṅghapitaro saṅghapariṇāyakā te atirekapūjāya pūjetā hoti.
A cowherd with eleven factors can maintain and expand a herd of cattle. What eleven? It’s when a cowherd knows form, is skilled in characteristics, picks out flies’ eggs, dresses wounds, spreads smoke, knows the ford, knows satisfaction, knows the trail, is skilled in ranges, doesn’t milk dry, and shows extra respect to the bulls who are fathers and captains of the herd. A cowherd with these eleven factors can maintain and expand a herd of cattle.
In the same way, a mendicant with eleven qualities can achieve growth, improvement, and maturity in this teaching and training. What eleven? It’s when a mendicant knows form, is skilled in characteristics, picks out flies’ eggs, dresses wounds, spreads smoke, knows the ford, knows satisfaction, knows the trail, is skilled in ranges, doesn’t milk dry, and shows extra respect to senior mendicants of long standing, long gone forth, fathers and leaders of the Saṅgha.
348. “Này các Tỳ khưu, người chăn bò hội đủ mười một yếu tố thì có khả năng chăm sóc và làm cho đàn bò phát triển. Thế nào là mười một? Này các Tỳ khưu, ở đây, người chăn bò biết rõ về hình sắc, khéo léo về các đặc điểm, biết loại bỏ trứng ruồi, biết băng bó vết thương, biết tạo khói, biết bến nước, biết (con nào) đã uống nước, biết đường đi, khéo léo về đồng cỏ, và vắt sữa có chừa lại. Vị ấy tôn kính một cách đặc biệt đối với những con bò đực đầu đàn, là cha của đàn bò, là kẻ dẫn dắt đàn bò. Này các Tỳ khưu, người chăn bò hội đủ mười một yếu tố này thì có khả năng chăm sóc và làm cho đàn bò phát triển. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu hội đủ mười một pháp thì có khả năng đạt đến sự tăng trưởng, phát triển, lớn mạnh trong Pháp và Luật này. Thế nào là mười một? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu biết rõ về sắc, khéo léo về các đặc điểm, biết loại bỏ trứng ruồi, biết băng bó vết thương, biết tạo khói, biết bến nước, biết (con nào) đã uống nước, biết đường đi, khéo léo về hành xứ, và vắt sữa có chừa lại. Vị ấy tôn kính một cách đặc biệt đối với các vị Tỳ khưu là trưởng lão, có kinh nghiệm, xuất gia đã lâu, là những bậc cha của Tăng chúng, là những vị lãnh đạo Tăng chúng.”
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu rūpaññū hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhu yaṁ kiñci rūpaṁ sabbaṁ rūpaṁ ‘cattāri mahābhūtāni, catunnañca mahābhūtānaṁ upādāyarūpan’ti yathābhūtaṁ pajānāti. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu rūpaññū hoti.
And how does a mendicant know form? It’s when a mendicant truly understands that all form is the four principal states, or form derived from the four principal states. That’s how a mendicant knows form.
349. “Này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu biết rõ về sắc? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu tuệ tri như thật về tất cả các loại sắc, bất kể là loại nào, rằng: ‘Đó là bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành’. Này các Tỳ khưu, như vậy là vị Tỳ khưu biết rõ về sắc.”
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu lakkhaṇakusalo hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhu kammalakkhaṇo bālo, kammalakkhaṇo paṇḍitoti yathābhūtaṁ pajānāti. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu lakkhaṇakusalo hoti.
And how is a mendicant skilled in characteristics? It’s when a mendicant understands that a fool is characterized by their deeds, and an astute person is characterized by their deeds. That’s how a mendicant is skilled in characteristics.
“Này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu khéo léo về các đặc điểm? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu tuệ tri như thật rằng: ‘Người ngu có hành động làm đặc điểm, bậc trí có hành động làm đặc điểm’. Này các Tỳ khưu, như vậy là vị Tỳ khưu khéo léo về các đặc điểm.”
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu āsāṭikaṁ hāretā hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhu uppannaṁ kāmavitakkaṁ nādhivāseti, pajahati vinodeti byantī karoti anabhāvaṁ gameti. Uppannaṁ byāpādavitakkaṁ …pe… uppannaṁ vihiṁsāvitakkaṁ …pe… uppannuppanne pāpake akusale dhamme nādhivāseti, pajahati vinodeti byantī karoti anabhāvaṁ gameti. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu āsāṭikaṁ hāretā hoti.
And how does a mendicant pick out flies’ eggs? It’s when a mendicant doesn’t tolerate a sensual, malicious, or cruel thought that has arisen. They don’t tolerate any bad, unskillful qualities that have arisen, but give them up, dispel them, eliminate them, and obliterate them. That’s how a mendicant picks out flies’ eggs.
“Này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu biết loại bỏ trứng ruồi? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu không dung thứ một tầm về dục đã khởi lên; vị ấy từ bỏ, loại trừ, chấm dứt, làm cho nó không còn hiện hữu. Vị ấy không dung thứ một tầm về sân đã khởi lên... một tầm về hại đã khởi lên... Vị ấy không dung thứ các pháp ác, bất thiện đã khởi lên nhiều lần; vị ấy từ bỏ, loại trừ, chấm dứt, làm cho chúng không còn hiện hữu. Này các Tỳ khưu, như vậy là vị Tỳ khưu biết loại bỏ trứng ruồi.”
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu vaṇaṁ paṭicchādetā hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā na nimittaggāhī hoti nānubyañjanaggāhī. Yatvādhikaraṇamenaṁ cakkhundriyaṁ asaṁvutaṁ viharantaṁ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṁ tassa saṁvarāya paṭipajjati, rakkhati cakkhundriyaṁ, cakkhundriye saṁvaraṁ āpajjati. Sotena saddaṁ sutvā …pe… ghānena gandhaṁ ghāyitvā …pe… jivhāya rasaṁ sāyitvā …pe… kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā …pe… manasā dhammaṁ viññāya na nimittaggāhī hoti nānubyañjanaggāhī. Yatvādhikaraṇamenaṁ manindriyaṁ asaṁvutaṁ viharantaṁ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṁ tassa saṁvarāya paṭipajjati, rakkhati manindriyaṁ, manindriye saṁvaraṁ āpajjati. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu vaṇaṁ paṭicchādetā hoti.
And how does a mendicant dress wounds? When a mendicant sees a sight with their eyes, they don’t get caught up in the features and details. If the faculty of sight were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, they practice restraint, protecting the faculty of sight, and achieving its restraint. When they hear a sound with their ears … smell an odor with their nose … taste a flavor with their tongue … feel a touch with their body … know an idea with their mind, they don’t get caught up in the features and details. If the faculty of mind were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, they practice restraint, protecting the faculty of mind, and achieving its restraint. That’s how a mendicant dresses wounds.
“Này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu biết băng bó vết thương? Này các Tỳ khưu, ở đây, sau khi nhìn thấy một hình sắc bằng mắt, vị Tỳ khưu không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Do nhân nào mà nếu vị ấy sống không phòng hộ nhãn căn thì các pháp ác, bất thiện là tham ái và ưu phiền sẽ xâm nhập, vị ấy thực hành để phòng hộ nhãn căn, bảo vệ nhãn căn, đạt đến sự phòng hộ trong nhãn căn. Sau khi nghe một âm thanh bằng tai... Sau khi ngửi một mùi hương bằng mũi... Sau khi nếm một vị bằng lưỡi... Sau khi cảm nhận một vật xúc chạm bằng thân... Sau khi nhận biết một pháp bằng ý, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Do nhân nào mà nếu vị ấy sống không phòng hộ ý căn thì các pháp ác, bất thiện là tham ái và ưu phiền sẽ xâm nhập, vị ấy thực hành để phòng hộ ý căn, bảo vệ ý căn, đạt đến sự phòng hộ trong ý căn. Này các Tỳ khưu, như vậy là vị Tỳ khưu biết băng bó vết thương.”
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu dhūmaṁ kattā hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhu yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ vitthārena paresaṁ desetā hoti. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu dhūmaṁ kattā hoti.
And how does a mendicant spread smoke? It’s when a mendicant teaches others the Dhamma in detail as they learned and memorized it. That’s how a mendicant spreads smoke.
“Này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu biết tạo khói? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu thuyết giảng chi tiết cho người khác về Giáo pháp như đã được nghe, như đã được học. Này các Tỳ khưu, như vậy là vị Tỳ khưu biết tạo khói.”
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu titthaṁ jānāti? Idha, bhikkhave, bhikkhu ye te bhikkhū bahussutā āgatāgamā dhammadharā vinayadharā mātikādharā te kālena kālaṁ upasaṅkamitvā paripucchati, paripañhati: ‘idaṁ, bhante, kathaṁ? Imassa ko attho’ti? Tassa te āyasmanto avivaṭañceva vivaranti, anuttānīkatañca uttānīkaronti, anekavihitesu ca kaṅkhāṭhānīyesu dhammesu kaṅkhaṁ paṭivinodenti. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu titthaṁ jānāti.
And how does a mendicant know the ford? It’s when from time to time a mendicant goes up to those mendicants who are very learned—inheritors of the heritage, who have memorized the teachings, the monastic law, and the outlines—and asks them questions: ‘Why, sir, does it say this? What does that mean?’ Those venerables reveal what is hidden, clarify what is unclear, and dispel doubt regarding the many doubtful matters. That’s how a mendicant knows the ford.
“Này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu biết bến nước? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu thỉnh thoảng đi đến các vị Tỳ khưu đa văn, thông suốt A-hàm, trì Pháp, trì Luật, trì các Mẫu đề, rồi hỏi han, chất vấn: ‘Thưa Tôn giả, câu này nghĩa là gì? Ý nghĩa của nó là sao?’ Các vị Tôn giả ấy mở ra cho vị ấy những gì chưa được mở, làm cho sáng tỏ những gì chưa được sáng tỏ, và xua tan sự nghi ngờ trong nhiều pháp đáng nghi ngờ. Này các Tỳ khưu, như vậy là vị Tỳ khưu biết bến nước.
Kathañca bhikkhave, bhikkhu pītaṁ jānāti? Idha, bhikkhave, bhikkhu tathāgatappavedite dhammavinaye desiyamāne labhati atthavedaṁ, labhati dhammavedaṁ, labhati dhammūpasaṁhitaṁ pāmojjaṁ. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu pītaṁ jānāti.
And how does a mendicant know satisfaction? It’s when a mendicant, when the teaching and training proclaimed by the Realized One are being taught, finds inspiration in the meaning and the teaching, and finds joy connected with the teaching. That’s how a mendicant knows satisfaction.
“Này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu biết đã uống? Này các Tỳ khưu, ở đây, khi Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết được giảng dạy, vị Tỳ khưu đạt được sự hiểu biết về ý nghĩa, đạt được sự hiểu biết về Pháp, đạt được sự hân hoan liên hệ đến Pháp. Này các Tỳ khưu, như vậy là vị Tỳ khưu biết đã uống.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu vīthiṁ jānāti? Idha, bhikkhave, bhikkhu ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ yathābhūtaṁ pajānāti. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu vīthiṁ jānāti.
And how does a mendicant know the trail? It’s when a mendicant truly understands the noble eightfold path. That’s how a mendicant knows the trail.
“Này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu biết con đường? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu như thật tuệ tri Thánh đạo Tám ngành. Này các Tỳ khưu, như vậy là vị Tỳ khưu biết con đường.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu gocarakusalo hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhu cattāro satipaṭṭhāne yathābhūtaṁ pajānāti. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu gocarakusalo hoti.
And how is a mendicant skilled in ranges? It’s when a mendicant truly understands the four kinds of mindfulness meditation. That’s how a mendicant is skilled in ranges.
“Này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu thiện xảo về bãi ăn? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu như thật tuệ tri về bốn Niệm xứ. Này các Tỳ khưu, như vậy là vị Tỳ khưu thiện xảo về bãi ăn.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu sāvasesadohī hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhuṁ saddhā gahapatikā abhihaṭṭhuṁ pavārenti cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārehi. Tatra bhikkhu mattaṁ jānāti paṭiggahaṇāya. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu sāvasesadohī hoti.
And how does a mendicant not milk dry? It’s when a mendicant is invited by a householder to accept robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick, and that mendicant knows moderation in accepting. That’s how a mendicant doesn’t milk dry.
“Này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu vắt sữa chừa lại? Này các Tỳ khưu, ở đây, các gia chủ có lòng tin thỉnh mời vị Tỳ khưu với y phục, vật thực, sàng tọa, và dược phẩm trị bệnh. Ở đó, vị Tỳ khưu biết chừng mực trong việc nhận lãnh. Này các Tỳ khưu, như vậy là vị Tỳ khưu vắt sữa chừa lại.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu ye te bhikkhū therā rattaññū cirapabbajitā saṅghapitaro saṅghapariṇāyakā, te atirekapūjāya pūjetā hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhu ye te bhikkhū therā rattaññū cirapabbajitā saṅghapitaro saṅghapariṇāyakā tesu mettaṁ kāyakammaṁ paccupaṭṭhāpeti āvi ceva raho ca; mettaṁ vacīkammaṁ paccupaṭṭhāpeti āvi ceva raho ca; mettaṁ manokammaṁ paccupaṭṭhāpeti āvi ceva raho ca. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu ye te bhikkhū therā rattaññū cirapabbajitā saṅghapitaro saṅghapariṇāyakā te atirekapūjāya pūjetā hoti.
And how does a mendicant show extra respect to senior mendicants of long standing, long gone forth, fathers and leaders of the Saṅgha? It’s when a mendicant consistently treats senior mendicants of long standing, long gone forth, fathers and leaders of the Saṅgha with kindness by way of body, speech, and mind, both in public and in private. That’s how a mendicant shows extra respect to senior mendicants of long standing, long gone forth, fathers and leaders of the Saṅgha.
“Này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu tôn kính một cách đặc biệt các vị Tỳ khưu Trưởng lão, bậc kỳ cựu, xuất gia đã lâu, là những người cha của Tăng chúng, những người lãnh đạo Tăng chúng? Này các Tỳ khưu, ở đây, đối với các vị Tỳ khưu Trưởng lão, bậc kỳ cựu, xuất gia đã lâu, là những người cha của Tăng chúng, những người lãnh đạo Tăng chúng, vị Tỳ khưu thể hiện thân nghiệp từ, cả khi có mặt lẫn khi vắng mặt; thể hiện khẩu nghiệp từ, cả khi có mặt lẫn khi vắng mặt; thể hiện ý nghiệp từ, cả khi có mặt lẫn khi vắng mặt. Này các Tỳ khưu, như vậy là vị Tỳ khưu tôn kính một cách đặc biệt các vị Tỳ khưu Trưởng lão, bậc kỳ cựu, xuất gia đã lâu, là những người cha của Tăng chúng, những người lãnh đạo Tăng chúng.
Imehi kho, bhikkhave, ekādasahi dhammehi samannāgato bhikkhu bhabbo imasmiṁ dhammavinaye vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjitun”ti.
A mendicant with these eleven qualities can achieve growth, improvement, and maturity in this teaching and training.”
“Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu nào đầy đủ mười một pháp này thì có khả năng đạt đến sự tăng trưởng, phát triển, lớn mạnh trong Pháp và Luật này.”
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
Thế Tôn đã thuyết như vậy. Các Tỳ khưu ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Mahāgopālakasuttaṁ niṭṭhitaṁ tatiyaṁ.
Kinh Người Chăn Bò Lớn, kinh thứ ba, kết thúc.