- Majjhima Nikāya 32
Mahāgosiṅgasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Mahāgosiṅgasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở tại khu vườn trong rừng Gosinga có nhiều cây ta-la cùng với một số đông Thượng Tọa đệ tử nổi tiếng như Tôn giả Sāriputta (Xá-lợi-phất) Tôn giả Mahā Moggallāna (Ðại Mục-kiền-liên), Tôn giả Mahā Kassapa (Ðại Ca-diếp), Tôn giả Anuruddha (A-na-luật-đà), Tôn giả Revata (Ly-bà-đa), Tôn giả Ānanda (A-nan) cùng với một số Thượng Tọa đệ tử nổi tiếng khác.
SC 2Rồi Tôn giả Mahā Moggallāna vào buổi chiều, sau khi tham thiền đứng dậy, đi đến chỗ Tôn giả Mahā Kassapa ở, sau khi đến bèn nói với Tôn giả Mahā Kassapa
SC 3—Hiền giả Kassapa, chúng ta hãy đến chỗ Tôn giả Sāriputta để nghe pháp.
—Thưa vâng, Hiền giả.
SC 4Tôn giả Mahā Kassapa vâng đáp Tôn giả Mahā Moggallāna. Rồi Tôn giả Mahā Moggallāna, Tôn giả Mahā Kassapa và Tôn giả Anuruddha đi đến chỗ Tôn giả Sāriputta để nghe pháp. Tôn giả Ānanda thấy Tôn giả Mahā Moggallāna, Tôn giả Mahā Kassapa và Tôn giả Anuruddha đi đến chỗ Tôn giả Sāriputta để nghe pháp, sau khi thấy vậy liền đi đến chỗ Tôn giả Revata và nói với Tôn giả Revata
SC 5—Này Hiền giả Revata, các bậc Thượng nhân như vậy đã đến chỗ Tôn giả Sāriputta để nghe pháp. Này Hiền giả Revata, chúng ta hãy đi đến chỗ Tôn giả Sāriputta để nghe pháp.
—Thưa vâng, Hiền giả.
SC 6Tôn giả Revata vâng đáp Tôn giả Ānanda. Rồi Tôn giả Revata và Tôn giả Ānanda đi đến chỗ Tôn giả Sāriputta để nghe pháp. Tôn giả Sāriputta thấy Tôn giả Revata, Tôn giả Ānanda từ xa đi đến, sau khi thấy bèn nói với Tôn giả Ānanda
SC 7—Tôn giả Ānanda hãy đến đây, thiện lai, Tôn giả Ānanda, vị thị giả Thế Tôn, vị hầu cận Thế Tôn. Này Hiền giả Ānanda, khả ái thay khu rừng Gosinga! Ðêm rằm sáng trăng, cây Ta-la trổ hoa cùng khắp, hương trời như được tỏa rộng khắp nơi. Này Hiền giả Ānanda, hạng Tỷ-kheo nào có thể làm chói sáng khu rừng Gosinga?
SC 8—Ở đây, này Hiền giả Sāriputta, Tỷ-kheo nghe nhiều, gìn giữ điều đã nghe, tích tụ điều đã nghe. Những pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, văn nghĩa cụ túc, nói lên phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh, những pháp ấy được vị ấy nghe nhiều và gìn giữ kỹ, được lập lại lớn tiếng, được ý tư duy, được tri kiến khéo quán sát; vị ấy thuyết pháp cho bốn hội chúng với văn cú viên dung, lưu loát, với mục đích đoạn trừ mọi tùy miên. Này Hiền giả Sāriputta, hạng Tỷ-kheo này có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga.
SC 9Khi nghe nói vậy, Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả Revata
SC 10—Này Hiền giả Revata, Tôn giả Ānanda đã trả lời theo sự giải thích của mình. Ở đây, nay chúng tôi hỏi Tôn giả Revata: Này Hiền giả Revata, khả ái thay ngôi rừng Gosinga … (như trên) … Này Hiền giả Revata, hạng Tỷ-kheo nào làm sáng chói khu rừng Gosinga?
SC 11—Ở đây, này Hiền giả Sāriputta, Tỷ-kheo ưa thích đời sống tịnh cư, vui thú đời sống tịnh cư, nội tâm tu pháp, tịnh chỉ, không gián đoạn thiền định, thành tựu quán hạnh, luôn luôn lui tới các chỗ không tịch. Này Hiền giả Sāriputta, hạng Tỷ-kheo này có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga.
SC 12Khi nghe nói vậy, Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả Anuruddha
SC 13—Này Hiền giả Anuruddha, Tôn giả Revata đã trả lời theo sự giải thích của mình. Ở đây, nay chúng tôi hỏi Tôn giả Anuruddha: Này Hiền giả Anuruddha, khả ái thay ngôi rừng Gosinga … (như trên) … Này Hiền giả Anuruddha, hạng Tỷ-kheo nào làm sáng chói khu rừng Gosinga?
SC 14—Ở đây, này Hiền giả Sāriputta, Tỷ-kheo, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhiên, quán sát ngàn thế giới. Này Hiền giả Sāriputta, ví như một người có mắt lên trên đỉnh một ngôi lầu tốt đẹp, quán sát một ngàn đường vòng xung quanh. Cũng vậy, này Hiền giả Sāriputta, Tỷ-kheo, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhiên, quán sát ngàn thế giới. Này Hiền giả Sāriputta, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga.
SC 15Khi nghe nói vậy, Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả Mahā Kassapa
SC 16—Này Hiền giả Kassapa, Tôn giả Anuruddha đã trả lời theo sự giải thích của mình. Ở đây, nay chúng tôi hỏi Tôn giả Kassapa: Này Hiền giả Kassapa, khả ái thay ngôi rừng Gosinga … (như trên) … Này Hiền giả Kassapa, hạng Tỷ-kheo nào làm sáng chói khu rừng Gosinga?
SC 17—Ở đây, này Hiền giả Sāriputta, Tỷ-kheo, tự mình sống ở rừng núi và tán thán đời sống ở rừng núi, tự mình sống khất thực, và tán thán đời sống khất thực, tự mình mặc y phấn tảo và tán thán hạnh mặc y phấn tảo, tự mình sống với ba y và tán thán hạnh ba y, tự mình sống thiểu dục và tán thán hạnh thiểu dục, tự mình sống biết đủ và tán thán hạnh biết đủ, tự mình sống độc cư và tán thán hạnh sống độc cư, tự mình sống không nhiễm thế tục và tán thán hạnh không nhiễm thế tục, tự mình tinh cần, tinh tấn và tán thán hạn tinh cần, tinh tấn, tự mình thành tựu giới hạnh và tán thán sự thành tựu giới hạnh, tự mình thành tựu Thiền định và tán thán sự thành tựu thiền định, tự mình thành tựu trí tuệ và tán thán sự thành tựu trí tuệ, tự mình thành tựu giải thoát và tán thán sự thành tựu giải thoát, tự mình thành tựu giải thoát tri kiến và tán thán sự thành tựu giải thoát tri kiến. Này Hiền giả Sāriputta, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga.
SC 18Khi nghe nói vậy, Tôn giả Sāriputta nói Tôn giả Mahā Moggallāna
SC 19—Hiền giả Moggallāna, Tôn giả Mahā Kassapa đã trả lời theo sự giải thích của mình. Ở đây, nay chúng tôi hỏi Tôn giả Mahamoggallana: Này Hiền giả Moggallāna, khả ái thay khu rừng Gosinga! … Này Hiền giả Moggallāna, hạng Tỷ-kheo nào có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga?
SC 20—Ở đây, này Hiền giả Sāriputta, hai Tỷ-kheo đàm luận về Abhidhamma (A-tỳ-đàm). Các vị ấy hỏi nhau câu hỏi, và khi được hỏi, các vị trả lời được với nhau chớ không dừng lại vì không trả lời được, và cuộc đàm luận về pháp được tiếp tục. Này Hiền giả Sāriputta, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga?”
SC 21Rồi Tôn giả Mahamoggallana nói với Tôn giả Sāriputta
SC 22—Hiền giả Sāriputta, chúng tôi đã trả lời theo sự giải thích của chúng tôi. Ở đây, nay chúng tôi hỏi Tôn giả Sāriputta: Này Hiền giả Sāriputta, khả ái thay, khu rừng Gosinga! Ðêm rằm sáng trăng, cây Ta-la trổ hoa cùng khắp, hương trời như được tỏa rộng khắp nơi. Này Hiền giả Sāriputta, hạng Tỷ-kheo nào có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga?”
SC 23—Ở đây, này Hiền giả Moggallāna, Tỷ-kheo điều phục được tâm, không phải Tỷ-kheo không điều phục được tâm. An trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi sáng, vị ấy an trú quả ấy vào buổi sáng; an trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi trưa, vị ấy an trú quả ấy buổi trưa; an trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi chiều, vị ấy an trú quả ấy vào buổi chiều. Hiền giả Moggallāna, ví như một vị vua hay vị đại thần của vua có một tủ áo đựng đầy những áo có nhiều màu sắc khác nhau. Cặp áo nào nhà vua muốn mặc vào buổi sáng, nhà vua mặc cặp áo ấy vào buổi sáng; cặp áo nào nhà vua muốn mặc vào buổi trưa, nhà vua mặc cặp áo ấy vào buổi trưa; cặp áo nào nhà vua muốn mặc vào buổi chiều, nhà vua mặc cặp áo ấy vào buổi chiều. Cũng vậy, này Hiền giả Moggallāna, Tỷ-kheo điều phục được tâm, không phải Tỷ-kheo không điều phục được tâm. An trú quả nào Tỷ-kheo ấy muốn an trú vào buổi sáng, vị ấy an trú quả ấy vào buổi sáng; an trú quả nào Tỷ-kheo ấy muốn an trú vào buổi trưa, vị ấy an trú quả ấy vào buổi trưa; an trú quả nào vị Tỷ-kheo ấy muốn an trú vào buổi chiều, vị ấy an trú quả ấy vào buổi chiều. Này Hiền giả Moggallāna, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga.
SC 24Rồi Tôn giả Sāriputta nói với các Tôn giả ấy
SC 25—Này chư Hiền, chúng ta đã trả lời theo sự giải thích của chúng ta. Chư Hiền, chúng ta hãy đi đến chỗ Thế Tôn ở và thuật lại vấn đề này cho Thế Tôn rõ. Thế Tôn trả lời chúng ta như thế nào, chúng ta sẽ như vậy thọ trì.
—Thưa vâng, Hiền giả.
SC 26Các Tôn giả ấy vâng đáp Tôn giả Sāriputta. Rồi những Tôn giả ấy đi đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Sāriputta bạch Thế Tôn
SC 27—Ở đây, bạch Thế Tôn, Tôn giả Revata và Tôn giả Ānanda đến tại chỗ con ở để nghe pháp. Bạch Thế Tôn, con thấy Tôn giả Revata và Tôn giả Ānanda từ xa đi đến; thấy vậy, con nói với Tôn giả Ānanda:
SC 28“—Tôn giả Ānanda, hãy đến đây, thiện lai Tôn giả Ānanda, vị thị giả Thế Tôn, vị hầu cận Thế Tôn. Này Hiền giả Ānanda, khả ái thay khu rừng Gosinga! Ðếm rằm sáng trăng, cây ta-la trổ hoa cùng khắp, hương trời như được tỏa rộng khắp nơi. Này Hiền giả Ānanda, hạng Tỷ-kheo nào có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga? ”
SC 29Bạch Thế Tôn, được hỏi vậy, Tôn giả Ānanda trả lời với con như sau:
SC 30“—Ở đây, Hiền giả Sāriputta, Tỷ-kheo nghe nhiều, gìn giữ điều đã nghe, tích tụ điều đã nghe. Những pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, văn nghĩa cụ túc, nói lên phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh, những pháp ấy được vị ấy nghe nhiều và giữ gìn kỹ, được lập lại lớn tiếng, được ý tư duy, được tri kiến khéo quán sát. Vị ấy thuyết pháp cho bốn hội chúng với văn cú viên dung, lưu loát, với mục đích đoạn trừ mọi tùy miên. Này Hiền giả Sāriputta, hạng Tỷ-kheo này có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga.”
SC 31—Lành thay, lành thay, Sāriputta! Nếu trả lời cho được chơn chánh, Ānanda phải trả lời như vậy. Này Sāriputta, Ānanda là bậc đa văn, gìn giữ điều đã nghe, tích tụ điều đã nghe. Những pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, văn nghĩa cụ túc, nói lên phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh, những pháp ấy được vị ấy nghe nhiều và gìn giữ kỹ, được lập lại lớn tiếng, được ý tư duy, được tri kiến khéo quán sát. Vị ấy thuyết pháp cho bốn hội chúng, với văn cú viên dung lưu loát, với mục đích đoạn trừ mọi tùy miên.
SC 32—Bạch Thế Tôn khi nghe nói vậy, con nói với Tôn giả Revata:
SC 33“—Này Hiền giả Revata, Tôn giả Ānanda, đã trả lời theo sự giải thích của mình. Ở đây, nay chúng tôi hỏi Tôn giả Revata:
SC 34“—Này Hiền giả Revata, khả ái thay ngôi rừng Gosinga … (như trên) … Này Hiền giả Revata, hạng Tỷ-kheo nào có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga”.
SC 35“—Ở đây, này Hiền giả Sāriputta, Tỷ-kheo ưa thích đời sống tịnh cư, vui thú đời sống tịnh cư, nội tâm tu tập tịnh chỉ, không gián đoạn thiền định, thành tựu quán hạnh, luôn luôn lui tới các chỗ không tịch. Này Hiền giả Sāriputta, hạng Tỷ-kheo này có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga”.
SC 36—Lành thay, lành thay, Sāriputta! Nếu trả lời cho được chơn chánh, Revata phải trả lời như vậy. Này Sāriputta, Revata ưa thích đời sống tịnh cư, vui thú đời sống tịnh cư, nội tâm tu tập tịnh chỉ, không gián đoạn thiền định, thành tựu quán hạnh, luôn luôn lui tới các chỗ không tịch.
SC 37—Bạch Thế Tôn, khi được nói vậy, con nói với Tôn giả Anuruddha như sau:
SC 38“—Này Hiền giả Anuruddha, Tôn giả Revata đã trả lời theo sự giải thích của mình. Ở đây, nay chúng tôi hỏi Tôn giả Anuruddha:
SC 39“—Này Hiền giả Anuruddha, khả ái thay ngôi rừng Gosinga … (như trên) … Này Hiền giả Anuruddha, hạng Tỷ-kheo nào làm sáng chói khu rừng Gosinga?”
SC 40Bạch Thế Tôn, được nói vậy, Tôn giả Anuruddha nói với con:
SC 41“—Này Hiền giả Sāriputta, ở đây, Tỷ-kheo với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhiên, quán sát ngàn thế giới. Này Hiền giả Sāriputta, ví như một người có mắt, lên trên đỉnh một ngôi lầu tốt đẹp rồi quán sát một ngàn đường vòng xung quanh. Cũng vậy, này Hiền giả Sāriputta, Tỷ-Kheo với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhiên quán sát ngàn thế giới. Này Hiền giả Sāriputta, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga”.
SC 42—Lành thay, lành thay, Sāriputta! Nếu trả lời cho được chơn chánh, Anuruddha phải trả lời như vậy. Này Sāriputta, chính Anuruddha với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhiên quán sát ngàn thế giới.
SC 43—Bạch Thế Tôn, được nói vậy, con nói với Tôn giả Mahā Kassapa:
SC 44“—Này Hiền giả Kassapa, Tôn giả Anuruddha đã trả lời theo sự giải thích của mình. Ở đây, nay chúng tôi hỏi Tôn giả Kassapa:
SC 45“—Khả ái thay ngôi rừng Gosinga! … (như trên) … Này Hiền giả Kassapa, hạng Tỷ-kheo nào làm sáng chói khu rừng Gosinga?”
SC 46Bạch Thế Tôn, được nói vậy, Tôn giả Mahākassapa nói với con:
SC 47“—Ở đây, này Hiền giả Sāriputta, Tỷ-kheo tự mình sống ở rừng núi và tán thán đời sống ở rừng núi, tự mình sống khất thực và tán thán đời sống khất thực, tự mình mặc y phấn tảo và tán thán hạnh mặc y phấn tảo, tự mình sống với ba y và tán thán hạnh ba y, tự mình sống thiểu dục và tán thán hạnh thiểu dục, tự mình sống biết đủ và tán thán hạnh biết đủ, tự mình sống độc cư và tán thán hạnh độc cư, tự mình sống không nhiễm thế tục và tán thán hạnh không nhiễm thế tục, tự mình tinh cần, tinh tấn và tán thán hạnh tinh cần, tinh tấn, tự mình thành tựu giới hạnh và tán thán sự thành tựu giới hạnh, tự mình thành tựu thiền định và tán thán sự thành tựu thiền định, tự mình thành tựu trí tuệ và tán thán sự thành tựu trí tuệ, tự mình giải thoát và tán thán sự thành tựu giải thoát, tự mình thành tựu giải thoát tri kiến và tán thán sự thành tựu giải thoát tri kiến. Này Hiền giả Sāriputta, hạng Tỷ-kheo ấy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga.”
SC 48—Lành thay Sāriputta! Nếu trả lời cho được chân chánh, Kassapa phải trả lời như vậy. Này Sāriputta, Kassapa tự mình sống ở rừng núi và tán thán đời sống ở rừng núi … tự mình thành tựu giải thoát tri kiến và tán thán sự thành tựu giải thoát tri kiến.
SC 49—Bạch Thế Tôn, được nói vậy, con nói với Tôn giả Mahā Moggallāna:
SC 50“—Hiền giả Moggallāna, Tôn giả Mahā Kassapa đã trả lời theo sự giải thích của mình. Ở đây, nay chúng tôi hỏi Tôn giả Mahā Moggallāna:
SC 51“—Này Hiền giả Moggallāna, khả ái thay khu rưng Gosinga! … Này Hiền giả Moggallāna, hạng Tỷ-kheo nào có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga?”
SC 52Bạch Thế Tôn, được nói vậy, Tôn giả Mahā Moggallāna nói với con:
SC 53“—Ở đây, này Hiền giả Sāriputta, hai Tỷ-kheo đàm luận về Abhidhamma (A-tỳ-đàm). Họ hỏi nhau câu hỏi, và khi được hỏi, họ trả lời được với nhau, chớ không dừng lại vì không trả lời được, và cuộc đàm luận về pháp của họ được tiếp tục. Này Hiền giả Sāriputta, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga. ”
SC 54—Lành thay Sāriputta! Nếu trả lời cho được chơn chánh, Moggallāna phải trả lời như vậy. Này Sāriputta, Moggallāna là bậc thuyết về Chánh pháp.
SC 55Ðược nói vậy, Tôn giả Mahā Moggallāna bạch Thế Tôn
SC 56—Bạch Thế Tôn, con nói với Tôn giả Sāriputta, như sau:
SC 57“—Hiền giả Sāriputta, chúng tôi đã trả lời theo sự giải thích của chúng tôi. Ở đây, nay chúng tôi hỏi Tôn giả Sāriputta:
SC 58“—Này Hiền giả Sāriputta, khả ái thay khu rừng Gosinga! Ðêm rằm sáng trăng, cây ta-la trổ hoa cùng khắp, hương trời như tỏa rộng khắp nơi. Này Hiền giả Sāriputta, hạng Tỷ-kheo nào có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga?”
SC 59—Bạch Thế Tôn, được nói vậy, Tôn giả Sāriputta nói với con:
SC 60“—Ở đây, này Hiền giả Moggallāna, Tỷ-kheo điều phục được tâm, không phải Tỷ-kheo không điều phục được tâm. An trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi sáng, vị ấy an trú quả ấy vào buổi sáng; an trú quả nào vị ấy an trú vào buổi trưa, vị ấy an trú quả ấy vào buổi trưa; an trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi chiều, vị ấy an trú quả ấy vào buổi chiều. Hiền giả Moggallāna, ví như một vị vua hay vị đại thần của vua có một tủ áo đựng đầy những áo có nhiều màu sắc khác nhau. Cặp áo nào nhà vua muốn mặc vào buổi sáng, nhà vua mặc cặp áo ấy vào buổi sáng; cặp áo nào nhà vua muốn mặc vào buổi trưa, nhà vua mặc cặp áo ấy vào buổi trưa; cặp áo nào nhà vua muốn mặc vào buổi chiều, nhà vua mặc cặp áo ấy vào buổi chiều. Cũng vậy, này Hiền giả Moggallāna, Tỷ-kheo điều phục được tâm, không phải Tỷ-kheo không điều phục được tâm. An trú quả nào Tỷ-kheo ấy muốn an trú vào buổi sáng, Tỷ-kheo ấy an trú quả ấy vào buổi sáng; an trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi trưa, vị ấy an trú quả ấy vào buổi trưa; an trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi chiều, vị ấy an trú quả ấy vào buổi chiều. Này Hiền giả Moggallāna, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga?”
SC 61—Lành thay, lành thay, Moggallāna! Nếu trả lời cho được chơn chánh, Sāriputta phải trả lời như vậy. Này Moggallāna, Sāriputta điều phục được tâm, không phải Sāriputta không điều phục được tâm. An trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi sáng, vị ấy an trú quả ấy vào buổi sáng; an trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi trưa, vị ấy an trú quả ấy vào buổi trưa; an trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi chiều, vị ấy an trú quả ấy vào buổi chiều.
SC 62Khi được nói vậy, Tôn giả Sāriputta bạch Thế Tôn
SC 63—Bạch Thế Tôn, vị nào đã khéo trả lời (câu hỏi được đặt ra)?
SC 64—Này Sāriputta, tất cả đều lần lượt khéo trả lời. Và này các Ông hãy nghe Ta nói hạng Tỷ-kheo nào có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga? Ở đây, này Sāriputta, Tỷ-kheo, sau buổi ăn, sau khi đi khất thực về, ngồi kiết-già, lưng thẳng, đặt niệm trước mặt, và nghĩ rằng: “Ta sẽ không bỏ ngồi kiết-già này cho đến khi tâm của ta được khéo giải thoát các lậu hoặc, không có chấp thủ”. Này Sāriputta, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga.
SC 65Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tôn giả ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 11–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
2. Kinh Đại Gosiṅga
Atha kho āyasmā mahāmoggallāno sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yenāyasmā mahākassapo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ mahākassapaṁ etadavoca: “āyāmāvuso, kassapa, yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkamissāma dhammassavanāyā”ti.
“Evamāvuso”ti kho āyasmā mahākassapo āyasmato mahāmoggallānassa paccassosi. Atha kho āyasmā ca mahāmoggallāno āyasmā ca mahākassapo āyasmā ca anuruddho yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkamiṁsu dhammassavanāya.
Addasā kho āyasmā ānando āyasmantañca mahāmoggallānaṁ āyasmantañca mahākassapaṁ āyasmantañca anuruddhaṁ yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkamante dhammassavanāya. Disvāna yenāyasmā revato tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ revataṁ etadavoca: “upasaṅkamantā kho amū, āvuso revata, sappurisā yenāyasmā sāriputto tena dhammassavanāya. Āyāmāvuso revata, yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkamissāma dhammassavanāyā”ti. “Evamāvuso”ti kho āyasmā revato āyasmato ānandassa paccassosi. Atha kho āyasmā ca revato āyasmā ca ānando yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkamiṁsu dhammassavanāya.
Then in the late afternoon, Venerable Mahāmoggallāna came out of retreat, went to Venerable Mahākassapa, and said, “Come, Reverend Kassapa, let’s go to Venerable Sāriputta to hear the teaching.”
“Yes, reverend,” Mahākassapa replied. Then, together with Venerable Anuruddha, they went to Sāriputta to hear the teaching.
Seeing them, Venerable Ānanda went to Venerable Revata, told him what was happening, and invited him also.
332. Tôi nghe như vầy: Một thời, đức Thế Tôn trú tại rừng cây sāla ở Gosiṅga cùng với nhiều vị trưởng lão Thinh văn đệ tử nổi tiếng, đó là tôn giả Sāriputta, tôn giả Mahāmoggallāna, tôn giả Mahākassapa, tôn giả Anuruddha, tôn giả Revata, tôn giả Ānanda, và cùng với các vị trưởng lão Thinh văn đệ tử nổi tiếng khác. Bấy giờ, vào buổi chiều, tôn giả Mahāmoggallāna từ nơi độc cư đứng dậy, đi đến chỗ tôn giả Mahākassapa; sau khi đến, nói với tôn giả Mahākassapa điều này: "Này hiền giả Kassapa, chúng ta hãy đi đến chỗ tôn giả Sāriputta để nghe Pháp." Tôn giả Mahākassapa đã đáp lại tôn giả Mahāmoggallāna: "Thưa vâng, hiền giả." Bấy giờ, tôn giả Mahāmoggallāna, tôn giả Mahākassapa, và tôn giả Anuruddha đã đi đến chỗ tôn giả Sāriputta để nghe Pháp. Tôn giả Ānanda đã thấy tôn giả Mahāmoggallāna, tôn giả Mahākassapa, và tôn giả Anuruddha đang đi đến chỗ tôn giả Sāriputta để nghe Pháp. Sau khi thấy, ngài đi đến chỗ tôn giả Revata; sau khi đến, nói với tôn giả Revata điều này: "Này hiền giả Revata, các bậc thiện nhân kia đang đi đến chỗ tôn giả Sāriputta để nghe Pháp. Này hiền giả Revata, chúng ta hãy đi đến chỗ tôn giả Sāriputta để nghe Pháp." Tôn giả Revata đã đáp lại tôn giả Ānanda: "Thưa vâng, hiền giả." Bấy giờ, tôn giả Revata và tôn giả Ānanda đã đi đến chỗ tôn giả Sāriputta để nghe Pháp.
Addasā kho āyasmā sāriputto āyasmantañca revataṁ āyasmantañca ānandaṁ dūratova āgacchante. Disvāna āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca: “etu kho āyasmā ānando. Svāgataṁ āyasmato ānandassa bhagavato upaṭṭhākassa bhagavato santikāvacarassa. Ramaṇīyaṁ, āvuso ānanda, gosiṅgasālavanaṁ, dosinā ratti, sabbaphāliphullā sālā, dibbā, maññe, gandhā sampavanti; kathaṁrūpena, āvuso ānanda, bhikkhunā gosiṅgasālavanaṁ sobheyyā”ti?
“Idhāvuso sāriputta, bhikkhu bahussuto hoti sutadharo sutasannicayo. Ye te dhammā ādikalyāṇā majjhekalyāṇā pariyosānakalyāṇā sātthā sabyañjanā; kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ abhivadanti, tathārūpāssa dhammā bahussutā honti, dhātā, vacasā paricitā, manasānupekkhitā, diṭṭhiyā suppaṭividdhā. So catassannaṁ parisānaṁ dhammaṁ deseti parimaṇḍalehi padabyañjanehi anuppabandhehi anusayasamugghātāya. Evarūpena kho, āvuso sāriputta, bhikkhunā gosiṅgasālavanaṁ sobheyyā”ti.
Sāriputta saw them coming off in the distance and said to Ānanda, “Come, Venerable Ānanda. Welcome to Ānanda, the Buddha’s attendant, who is so close to the Buddha. Reverend Ānanda, the sal forest park at Gosiṅga is lovely, the night is bright, the sal trees are in full blossom, and heavenly scents seem to float on the air. What kind of mendicant would grace this park?”
“Reverend Sāriputta, it’s a mendicant who is very learned, remembering and keeping what they’ve learned. These teachings are good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased, describing a spiritual practice that’s entirely full and pure. They are very learned in such teachings, remembering them, rehearsing them, mentally scrutinizing them, and penetrating them theoretically. And they teach the four assemblies in order to uproot the underlying tendencies with well-rounded and coherent words and phrases. That’s the kind of mendicant who would grace this park.”
333. Tôn giả Sāriputta đã thấy tôn giả Revata và tôn giả Ānanda từ xa đi đến. Sau khi thấy, ngài nói với tôn giả Ānanda điều này: "Mong tôn giả Ānanda hãy đến! Lành thay, sự quang lâm của tôn giả Ānanda, vị thị giả của đức Thế Tôn, vị thường ở gần đức Thế Tôn! Này hiền giả Ānanda, khu rừng sāla ở Gosiṅga thật khả ái, đêm trăng sáng, các cây sāla đều trổ hoa, tôi nghĩ rằng hương thơm của chư thiên đang tỏa ra. Này hiền giả Ānanda, nhờ vị tỳ khưu có phẩm chất như thế nào mà khu rừng sāla ở Gosiṅga được tô điểm?" "Này hiền giả Sāriputta, ở đây, vị tỳ khưu là người đa văn, ghi nhớ điều đã nghe, tích lũy điều đã nghe. Những pháp nào toàn thiện ở phần đầu, toàn thiện ở phần giữa, toàn thiện ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn cú; tuyên thuyết phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch, những pháp như vậy được vị ấy nghe nhiều, ghi nhớ, thực hành thuần thục bằng lời, suy xét bằng ý, và khéo thông đạt bằng trí kiến. Vị ấy thuyết pháp cho bốn chúng nhằm nhổ sạch các tùy miên, với các từ và văn cú tròn trịa, không gián đoạn. Này hiền giả Sāriputta, nhờ vị tỳ khưu có phẩm chất như vậy mà khu rừng sāla ở Gosiṅga được tô điểm."
Evaṁ vutte, āyasmā sāriputto āyasmantaṁ revataṁ etadavoca: “byākataṁ kho, āvuso revata, āyasmatā ānandena yathāsakaṁ paṭibhānaṁ. Tattha dāni mayaṁ āyasmantaṁ revataṁ pucchāma: ‘ramaṇīyaṁ, āvuso revata, gosiṅgasālavanaṁ, dosinā ratti, sabbaphāliphullā sālā, dibbā, maññe, gandhā sampavanti; kathaṁrūpena, āvuso revata, bhikkhunā gosiṅgasālavanaṁ sobheyyā’”ti?
“Idhāvuso sāriputta, bhikkhu paṭisallānārāmo hoti paṭisallānarato, ajjhattaṁ cetosamathamanuyutto anirākatajjhāno, vipassanāya samannāgato, brūhetā suññāgārānaṁ. Evarūpena kho, āvuso sāriputta, bhikkhunā gosiṅgasālavanaṁ sobheyyā”ti.
When he had spoken, Sāriputta said to Revata, “Reverend Revata, Ānanda has answered according to his own inspiration. And now we ask you the same question.”
“Reverend Sāriputta, it’s a mendicant who enjoys retreat and loves retreat. They’re committed to inner serenity of the heart, they don’t neglect absorption, they’re endowed with discernment, and they frequent empty huts. That’s the kind of mendicant who would grace this park.”
334. Khi được nói như vậy, tôn giả Sāriputta nói với tôn giả Revata điều này: "Này hiền giả Revata, tôn giả Ānanda đã trả lời tùy theo sự biện tài của mình. Bây giờ, ở đây chúng tôi hỏi tôn giả Revata: 'Này hiền giả Revata, khu rừng sāla ở Gosiṅga thật khả ái, đêm trăng sáng, các cây sāla đều trổ hoa, tôi nghĩ rằng hương thơm của chư thiên đang tỏa ra. Này hiền giả Revata, nhờ vị tỳ khưu có phẩm chất như thế nào mà khu rừng sāla ở Gosiṅga được tô điểm?'" "Này hiền giả Sāriputta, ở đây, vị tỳ khưu ưa thích độc cư, vui thích trong độc cư, chuyên tâm vào việc nội tâm tĩnh lặng, không xao lãng thiền định, thành tựu minh sát, và làm tăng trưởng các trú xứ không. Này hiền giả Sāriputta, nhờ vị tỳ khưu có phẩm chất như vậy mà khu rừng sāla ở Gosiṅga được tô điểm."
Evaṁ vutte, āyasmā sāriputto āyasmantaṁ anuruddhaṁ etadavoca: “byākataṁ kho, āvuso anuruddha, āyasmatā revatena yathāsakaṁ paṭibhānaṁ. Tattha dāni mayaṁ āyasmantaṁ anuruddhaṁ pucchāma: ‘ramaṇīyaṁ, āvuso anuruddha, gosiṅgasālavanaṁ, dosinā ratti, sabbaphāliphullā sālā, dibbā, maññe, gandhā sampavanti; kathaṁrūpena, āvuso anuruddha, bhikkhunā gosiṅgasālavanaṁ sobheyyā’”ti?
“Idhāvuso sāriputta, bhikkhu dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena sahassaṁ lokānaṁ voloketi. Seyyathāpi, āvuso sāriputta, cakkhumā puriso uparipāsādavaragato sahassaṁ nemimaṇḍalānaṁ volokeyya; evameva kho, āvuso sāriputta, bhikkhu dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena sahassaṁ lokānaṁ voloketi. Evarūpena kho, āvuso sāriputta, bhikkhunā gosiṅgasālavanaṁ sobheyyā”ti.
When he had spoken, Sāriputta said to Anuruddha, “Reverend Anuruddha, Revata has answered according to his own inspiration. And now we ask you the same question.”
“Reverend Sāriputta, it’s a mendicant who surveys a thousandfold galaxy with clairvoyance that is purified and surpasses the human, just as a person with clear eyes could survey a thousand orbits from the upper floor of a royal longhouse. That’s the kind of mendicant who would grace this park.”
335. Khi được nói như vậy, tôn giả Sāriputta nói với tôn giả Anuruddha điều này: "Này hiền giả Anuruddha, tôn giả Revata đã trả lời tùy theo sự biện tài của mình. Bây giờ, ở đây chúng tôi hỏi tôn giả Anuruddha: 'Này hiền giả Anuruddha, khu rừng sāla ở Gosiṅga thật khả ái, đêm trăng sáng, các cây sāla đều trổ hoa, tôi nghĩ rằng hương thơm của chư thiên đang tỏa ra. Này hiền giả Anuruddha, nhờ vị tỳ khưu có phẩm chất như thế nào mà khu rừng sāla ở Gosiṅga được tô điểm?'" "Này hiền giả Sāriputta, ở đây, vị tỳ khưu với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, nhìn thấy một ngàn thế giới. Này hiền giả Sāriputta, ví như một người có mắt, đứng trên lầu cao, có thể nhìn thấy một ngàn vành bánh xe; cũng vậy, này hiền giả Sāriputta, vị tỳ khưu với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, nhìn thấy một ngàn thế giới. Này hiền giả Sāriputta, nhờ vị tỳ khưu có phẩm chất như vậy mà khu rừng sāla ở Gosiṅga được tô điểm."
Evaṁ vutte, āyasmā sāriputto āyasmantaṁ mahākassapaṁ etadavoca: “byākataṁ kho, āvuso kassapa, āyasmatā anuruddhena yathāsakaṁ paṭibhānaṁ. Tattha dāni mayaṁ āyasmantaṁ mahākassapaṁ pucchāma: ‘ramaṇīyaṁ, āvuso kassapa, gosiṅgasālavanaṁ, dosinā ratti, sabbaphāliphullā sālā, dibbā, maññe, gandhā sampavanti; kathaṁrūpena, āvuso kassapa, bhikkhunā gosiṅgasālavanaṁ sobheyyā’”ti?
“Idhāvuso sāriputta, bhikkhu attanā ca āraññiko hoti āraññikattassa ca vaṇṇavādī, attanā ca piṇḍapātiko hoti piṇḍapātikattassa ca vaṇṇavādī, attanā ca paṁsukūliko hoti paṁsukūlikattassa ca vaṇṇavādī, attanā ca tecīvariko hoti tecīvarikattassa ca vaṇṇavādī, attanā ca appiccho hoti appicchatāya ca vaṇṇavādī, attanā ca santuṭṭho hoti santuṭṭhiyā ca vaṇṇavādī, attanā ca pavivitto hoti pavivekassa ca vaṇṇavādī, attanā ca asaṁsaṭṭho hoti asaṁsaggassa ca vaṇṇavādī, attanā ca āraddhavīriyo hoti vīriyārambhassa ca vaṇṇavādī, attanā ca sīlasampanno hoti sīlasampadāya ca vaṇṇavādī, attanā ca samādhisampanno hoti samādhisampadāya ca vaṇṇavādī, attanā ca paññāsampanno hoti paññāsampadāya ca vaṇṇavādī, attanā ca vimuttisampanno hoti vimuttisampadāya ca vaṇṇavādī, attanā ca vimuttiñāṇadassanasampanno hoti vimuttiñāṇadassanasampadāya ca vaṇṇavādī. Evarūpena kho, āvuso sāriputta, bhikkhunā gosiṅgasālavanaṁ sobheyyā”ti.
When he had spoken, Sāriputta said to Mahākassapa, “Reverend Kassapa, Anuruddha has answered according to his own inspiration. And now we ask you the same question.”
“Reverend Sāriputta, it’s a mendicant who lives in the wilderness, eats only almsfood, wears rag robes, and owns just three robes; and they praise these things. They are of few wishes, content, secluded, aloof, and energetic; and they praise these things. They are accomplished in ethics, immersion, wisdom, freedom, and the knowledge and vision of freedom; and they praise these things. That’s the kind of mendicant who would grace this park.”
336. Khi được nói vậy, Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả Mahākassapa: ‘Thưa hiền giả Kassapa, Tôn giả Anuruddha đã trả lời tùy theo trí tuệ của mình. Bây giờ, ở đây chúng tôi xin hỏi Tôn giả Mahākassapa: ‘Thưa hiền giả Kassapa, khu rừng Sāla Gosiṅga thật khả ái, đêm trăng sáng tỏ, các cây Sāla đều trổ hoa, tôi nghĩ rằng hương thơm tỏa ra như hương trời. Thưa hiền giả Kassapa, do vị tỳ khưu có phẩm chất như thế nào mà khu rừng Sāla Gosiṅga được trở nên mỹ miều?’ ‘Thưa hiền giả Sāriputta, ở đây, vị tỳ khưu tự mình là người sống ở rừng và là người tán thán hạnh sống ở rừng; tự mình là người đi khất thực và là người tán thán hạnh đi khất thực; tự mình là người mặc y phấn tảo và là người tán thán hạnh mặc y phấn tảo; tự mình là người mặc tam y và là người tán thán hạnh mặc tam y; tự mình là người thiểu dục và là người tán thán sự thiểu dục; tự mình là người biết đủ và là người tán thán sự biết đủ; tự mình là người sống độc cư và là người tán thán sự độc cư; tự mình là người không giao du và là người tán thán sự không giao du; tự mình là người tinh cần và là người tán thán sự tinh cần; tự mình là người có đầy đủ giới và là người tán thán sự đầy đủ giới; tự mình là người có đầy đủ định và là người tán thán sự đầy đủ định; tự mình là người có đầy đủ tuệ và là người tán thán sự đầy đủ tuệ; tự mình là người có đầy đủ giải thoát và là người tán thán sự đầy đủ giải thoát; tự mình là người có đầy đủ giải thoát tri kiến và là người tán thán sự đầy đủ giải thoát tri kiến. Thưa hiền giả Sāriputta, do vị tỳ khưu có phẩm chất như vậy mà khu rừng Sāla Gosiṅga được trở nên mỹ miều.’
Evaṁ vutte, āyasmā sāriputto āyasmantaṁ mahāmoggallānaṁ etadavoca: “byākataṁ kho, āvuso moggallāna, āyasmatā mahākassapena yathāsakaṁ paṭibhānaṁ. Tattha dāni mayaṁ āyasmantaṁ mahāmoggallānaṁ pucchāma: ‘ramaṇīyaṁ, āvuso moggallāna, gosiṅgasālavanaṁ, dosinā ratti, sabbaphāliphullā sālā, dibbā, maññe, gandhā sampavanti; kathaṁrūpena, āvuso moggallāna, bhikkhunā gosiṅgasālavanaṁ sobheyyā’”ti?
“Idhāvuso sāriputta, dve bhikkhū abhidhammakathaṁ kathenti, te aññamaññaṁ pañhaṁ pucchanti, aññamaññassa pañhaṁ puṭṭhā vissajjenti, no ca saṁsādenti, dhammī ca nesaṁ kathā pavattinī hoti. Evarūpena kho, āvuso sāriputta, bhikkhunā gosiṅgasālavanaṁ sobheyyā”ti.
When he had spoken, Sāriputta said to Mahāmoggallāna, “Reverend Moggallāna, Mahākassapa has answered according to his own inspiration. And now we ask you the same question.”
“Reverend Sāriputta, it’s when two mendicants engage in discussion about the teaching. They question each other and answer each other’s questions without faltering, and their discussion on the teaching flows on. That’s the kind of mendicant who would grace this park.”
337. Khi được nói vậy, Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả Mahāmoggallāna: ‘Thưa hiền giả Moggallāna, Tôn giả Mahākassapa đã trả lời tùy theo trí tuệ của mình. Bây giờ, ở đây chúng tôi xin hỏi Tôn giả Mahāmoggallāna: ‘Thưa hiền giả Moggallāna, khu rừng Sāla Gosiṅga thật khả ái, đêm trăng sáng tỏ, các cây Sāla đều trổ hoa, tôi nghĩ rằng hương thơm tỏa ra như hương trời. Thưa hiền giả Moggallāna, do vị tỳ khưu có phẩm chất như thế nào mà khu rừng Sāla Gosiṅga được trở nên mỹ miều?’ ‘Thưa hiền giả Sāriputta, ở đây, có hai vị tỳ khưu thảo luận về Vi Diệu Pháp. Họ hỏi nhau các câu hỏi, và sau khi được hỏi, họ giải đáp cho nhau, không bị ngưng trệ, và cuộc pháp đàm của họ được tiếp diễn. Thưa hiền giả Sāriputta, do vị tỳ khưu như vậy mà khu rừng Sāla Gosiṅga được trở nên mỹ miều.’
Atha kho āyasmā mahāmoggallāno āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca: “byākataṁ kho, āvuso sāriputta, amhehi sabbeheva yathāsakaṁ paṭibhānaṁ. Tattha dāni mayaṁ āyasmantaṁ sāriputtaṁ pucchāma: ‘ramaṇīyaṁ, āvuso sāriputta, gosiṅgasālavanaṁ, dosinā ratti, sabbaphāliphullā sālā, dibbā, maññe, gandhā sampavanti; kathaṁrūpena, āvuso sāriputta, bhikkhunā gosiṅgasālavanaṁ sobheyyā’”ti?
“Idhāvuso moggallāna, bhikkhu cittaṁ vasaṁ vatteti, no ca bhikkhu cittassa vasena vattati. So yāya vihārasamāpattiyā ākaṅkhati pubbaṇhasamayaṁ viharituṁ, tāya vihārasamāpattiyā pubbaṇhasamayaṁ viharati; yāya vihārasamāpattiyā ākaṅkhati majjhanhikasamayaṁ viharituṁ, tāya vihārasamāpattiyā majjhanhikasamayaṁ viharati; yāya vihārasamāpattiyā ākaṅkhati sāyanhasamayaṁ viharituṁ, tāya vihārasamāpattiyā sāyanhasamayaṁ viharati. Seyyathāpi, āvuso moggallāna, rañño vā rājamahāmattassa vā nānārattānaṁ dussānaṁ dussakaraṇḍako pūro assa. So yaññadeva dussayugaṁ ākaṅkheyya pubbaṇhasamayaṁ pārupituṁ, taṁ tadeva dussayugaṁ pubbaṇhasamayaṁ pārupeyya; yaññadeva dussayugaṁ ākaṅkheyya majjhanhikasamayaṁ pārupituṁ, taṁ tadeva dussayugaṁ majjhanhikasamayaṁ pārupeyya; yaññadeva dussayugaṁ ākaṅkheyya sāyanhasamayaṁ pārupituṁ, taṁ tadeva dussayugaṁ sāyanhasamayaṁ pārupeyya.
Evameva kho, āvuso moggallāna, bhikkhu cittaṁ vasaṁ vatteti, no ca bhikkhu cittassa vasena vattati. So yāya vihārasamāpattiyā ākaṅkhati pubbaṇhasamayaṁ viharituṁ, tāya vihārasamāpattiyā pubbaṇhasamayaṁ viharati; yāya vihārasamāpattiyā ākaṅkhati majjhanhikasamayaṁ viharituṁ, tāya vihārasamāpattiyā majjhanhikasamayaṁ viharati; yāya vihārasamāpattiyā ākaṅkhati sāyanhasamayaṁ viharituṁ, tāya vihārasamāpattiyā sāyanhasamayaṁ viharati. Evarūpena kho, āvuso moggallāna, bhikkhunā gosiṅgasālavanaṁ sobheyyā”ti.
Atha kho āyasmā sāriputto te āyasmante etadavoca: “byākataṁ kho, āvuso, amhehi sabbeheva yathāsakaṁ paṭibhānaṁ. Āyāmāvuso, yena bhagavā tenupasaṅkamissāma; upasaṅkamitvā etamatthaṁ bhagavato ārocessāma. Yathā no bhagavā byākarissati tathā naṁ dhāressāmā”ti.
“Evamāvuso”ti kho te āyasmanto āyasmato sāriputtassa paccassosuṁ.
Then Mahāmoggallāna said to Sāriputta, “Each of us has spoken from our heart. And now we ask you: Reverend Sāriputta, the sal forest park at Gosiṅga is lovely, the night is bright, the sal trees are in full blossom, and heavenly scents seem to float on the air. What kind of mendicant would grace this park?”
“Reverend Moggallāna, it’s when a mendicant masters their mind and is not mastered by it. In the morning, they abide in whatever meditation or attainment they want. At midday, and in the evening, they abide in whatever meditation or attainment they want. Suppose that a ruler or their chief minister had a chest full of garments of different colors. In the morning, they’d don whatever pair of garments they wanted. At midday, and in the evening, they’d don whatever pair of garments they wanted.
In the same way, a mendicant masters their mind and is not mastered by it. In the morning, they abide in whatever meditation or attainment they want. At midday, and in the evening, they abide in whatever meditation or attainment they want. That’s the kind of mendicant who would grace this park.”
Then Sāriputta said to those venerables, “Each of us has spoken from the heart. Come, reverends, let’s go to the Buddha, and inform him about this. As he answers, so we’ll remember it.”
“Yes, reverend,” they replied.
338. Khi ấy, Tôn giả Mahāmoggallāna nói với Tôn giả Sāriputta: ‘Thưa hiền giả Sāriputta, tất cả chúng ta đã trả lời tùy theo trí tuệ của mình. Bây giờ, ở đây chúng tôi xin hỏi Tôn giả Sāriputta: ‘Thưa hiền giả Sāriputta, khu rừng Sāla Gosiṅga thật khả ái, đêm trăng sáng tỏ, các cây Sāla đều trổ hoa, tôi nghĩ rằng hương thơm tỏa ra như hương trời. Thưa hiền giả Sāriputta, do vị tỳ khưu có phẩm chất như thế nào mà khu rừng Sāla Gosiṅga được trở nên mỹ miều?’ ‘Thưa hiền giả Moggallāna, ở đây, vị tỳ khưu làm chủ được tâm, chứ vị tỳ khưu không bị tâm chi phối. Vị ấy muốn an trú vào định chứng nào vào buổi sáng, vị ấy an trú vào định chứng ấy vào buổi sáng; vị ấy muốn an trú vào định chứng nào vào buổi trưa, vị ấy an trú vào định chứng ấy vào buổi trưa; vị ấy muốn an trú vào định chứng nào vào buổi chiều, vị ấy an trú vào định chứng ấy vào buổi chiều. Ví như, thưa hiền giả Moggallāna, một vị vua hay một vị đại thần của vua có một rương y phục chứa đầy những cặp y được nhuộm nhiều màu sắc khác nhau. Vị ấy muốn mặc cặp y nào vào buổi sáng, vị ấy mặc chính cặp y ấy vào buổi sáng; vị ấy muốn mặc cặp y nào vào buổi trưa, vị ấy mặc chính cặp y ấy vào buổi trưa; vị ấy muốn mặc cặp y nào vào buổi chiều, vị ấy mặc chính cặp y ấy vào buổi chiều. Cũng vậy, thưa hiền giả Moggallāna, vị tỳ khưu làm chủ được tâm, chứ vị tỳ khưu không bị tâm chi phối. Vị ấy muốn an trú vào định chứng nào vào buổi sáng, vị ấy an trú vào định chứng ấy vào buổi sáng; vị ấy muốn an trú vào định chứng nào vào buổi trưa, vị ấy an trú vào định chứng ấy vào buổi trưa; vị ấy muốn an trú vào định chứng nào vào buổi chiều, vị ấy an trú vào định chứng ấy vào buổi chiều. Thưa hiền giả Moggallāna, do vị tỳ khưu có phẩm chất như vậy mà khu rừng Sāla Gosiṅga được trở nên mỹ miều.’
“Sādhu sādhu, sāriputta. Yathā taṁ ānandova sammā byākaramāno byākareyya. Ānando hi, sāriputta, bahussuto sutadharo sutasannicayo. Ye te dhammā ādikalyāṇā majjhekalyāṇā pariyosānakalyāṇā sātthā sabyañjanā; kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ abhivadanti, tathārūpāssa dhammā bahussutā honti, dhātā, vacasā paricitā, manasānupekkhitā, diṭṭhiyā suppaṭividdhā. So catassannaṁ parisānaṁ dhammaṁ deseti parimaṇḍalehi padabyañjanehi anuppabandhehi anusayasamugghātāyā”ti.
“Good, good, Sāriputta! Ānanda answered in the right way for him. For Ānanda is very learned …”
339. Bấy giờ, Tôn giả Sāriputta nói với các vị Tôn giả ấy rằng: – ‘Thưa chư hiền, tất cả chúng ta đã trả lời theo sự lĩnh hội của riêng mình. Này chư hiền, chúng ta hãy đi, chúng ta sẽ đến nơi Thế Tôn đang ngự; sau khi đến, chúng ta sẽ trình bày vấn đề này lên Thế Tôn. Thế Tôn sẽ giải thích cho chúng ta như thế nào, chúng ta sẽ ghi nhớ điều ấy như thế ấy.’ – ‘Thưa hiền giả, vâng ạ.’ Các vị Tôn giả ấy đã vâng lời Tôn giả Sāriputta. Bấy giờ, các vị Tôn giả ấy đã đi đến nơi Thế Tôn đang ngự; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, họ ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sāriputta đã bạch với Thế Tôn rằng: – ‘Bạch Thế Tôn, con đã thấy Tôn giả Revata và Tôn giả Ānanda đang đi đến từ xa. Sau khi thấy, con đã nói với Tôn giả Ānanda rằng: – ‘Mong Tôn giả Ānanda hãy đến! Lành thay, sự quang lâm của Tôn giả Ānanda, vị thị giả của Thế Tôn, vị thường ở gần Thế Tôn! Này hiền giả Ānanda, khu rừng sāla Gosiṅga thật khả ái, đêm trăng sáng tỏ, các cây sāla đều trổ hoa khắp cành, tôi nghĩ rằng hương thơm như hương trời đang tỏa ra; này hiền giả Ānanda, nhờ vị tỳ khưu như thế nào mà khu rừng sāla Gosiṅga này được tô điểm?’ Bạch Thế Tôn, khi được nói vậy, Tôn giả Ānanda đã nói với con rằng: – ‘Này hiền giả Sāriputta, ở đây, vị tỳ khưu là người đa văn, ghi nhớ những gì đã nghe... (cho đến) ... để đoạn trừ các tùy miên. Này hiền giả Sāriputta, nhờ vị tỳ khưu như vậy mà khu rừng sāla Gosiṅga được tô điểm.’’ – ‘Lành thay, lành thay, Sāriputta! Như Ānanda, khi trả lời một cách đúng đắn, đã trả lời. Này Sāriputta, quả thật Ānanda là người đa văn, ghi nhớ những gì đã nghe, tích lũy những gì đã nghe. Những pháp nào toàn thiện ở phần đầu, toàn thiện ở phần giữa, toàn thiện ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn cú; tuyên thuyết phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch, những pháp như vậy đã được vị ấy nghe nhiều, ghi nhớ, thực hành bằng lời nói, quán xét bằng ý, và thâm nhập bằng trí tuệ. Vị ấy thuyết pháp cho bốn chúng với những câu chữ tròn trịa, mạch lạc, để đoạn trừ các tùy miên.’
“Evaṁ vutte, ahaṁ, bhante, āyasmantaṁ revataṁ etadavocaṁ: ‘byākataṁ kho, āvuso revata, āyasmatā ānandena yathāsakaṁ paṭibhānaṁ. Tattha dāni mayaṁ āyasmantaṁ revataṁ pucchāma—ramaṇīyaṁ, āvuso revata, gosiṅgasālavanaṁ, dosinā ratti, sabbaphāliphullā sālā, dibbā maññe gandhā sampavanti. Kathaṁrūpena, āvuso revata, bhikkhunā gosiṅgasālavanaṁ sobheyyā’ti? Evaṁ vutte, bhante, āyasmā revato maṁ etadavoca: ‘idhāvuso sāriputta, bhikkhu paṭisallānārāmo hoti paṭisallānarato, ajjhattaṁ cetosamathamanuyutto, anirākatajjhāno, vipassanāya samannāgato, brūhetā suññāgārānaṁ. Evarūpena kho, āvuso sāriputta, bhikkhunā gosiṅgasālavanaṁ sobheyyā’”ti.
“Sādhu sādhu, sāriputta. Yathā taṁ revatova sammā byākaramāno byākareyya. Revato hi, sāriputta, paṭisallānārāmo paṭisallānarato, ajjhattaṁ cetosamathamanuyutto anirākatajjhāno, vipassanāya samannāgato brūhetā suññāgārānan”ti.
“Next I asked Revata the same question. He said: ‘It’s a mendicant who enjoys retreat … That’s the kind of mendicant who would grace this park.’”
“Good, good, Sāriputta! Revata answered in the right way for him. For Revata enjoys retreat …”
340. ‘Bạch Thế Tôn, khi được nói vậy, con đã nói với Tôn giả Revata rằng: – ‘Này hiền giả Revata, Tôn giả Ānanda đã trả lời theo sự lĩnh hội của riêng mình. Bây giờ, về vấn đề đó, chúng tôi xin hỏi Tôn giả Revata: – Này hiền giả Revata, khu rừng sāla Gosiṅga thật khả ái, đêm trăng sáng tỏ, các cây sāla đều trổ hoa khắp cành, tôi nghĩ rằng hương thơm như hương trời đang tỏa ra. Này hiền giả Revata, nhờ vị tỳ khưu như thế nào mà khu rừng sāla Gosiṅga này được tô điểm?’ Bạch Thế Tôn, khi được nói vậy, Tôn giả Revata đã nói với con rằng: – ‘Này hiền giả Sāriputta, ở đây, vị tỳ khưu ưa thích độc cư, vui thích trong độc cư, chuyên tâm vào việc nội tâm tĩnh lặng, không xao lãng thiền định, thành tựu minh sát, làm tăng trưởng các trú xứ không tịch. Này hiền giả Sāriputta, nhờ vị tỳ khưu như vậy mà khu rừng sāla Gosiṅga được tô điểm.’’ – ‘Lành thay, lành thay, Sāriputta! Như Revata, khi trả lời một cách đúng đắn, đã trả lời. Này Sāriputta, quả thật Revata ưa thích độc cư, vui thích trong độc cư, chuyên tâm vào việc nội tâm tĩnh lặng, không xao lãng thiền định, thành tựu minh sát, làm tăng trưởng các trú xứ không tịch.’
“Evaṁ vutte, ahaṁ, bhante, āyasmantaṁ anuruddhaṁ etadavocaṁ: ‘byākataṁ kho, āvuso anuruddha, āyasmatā revatena …pe… kathaṁrūpena, āvuso anuruddha, bhikkhunā gosiṅgasālavanaṁ sobheyyā’ti. Evaṁ vutte, bhante, āyasmā anuruddho maṁ etadavoca: ‘idhāvuso sāriputta, bhikkhu dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena sahassaṁ lokānaṁ voloketi. Seyyathāpi, āvuso sāriputta, cakkhumā puriso …pe… evarūpena kho, āvuso sāriputta, bhikkhunā gosiṅgasālavanaṁ sobheyyā’”ti.
“Sādhu sādhu, sāriputta, yathā taṁ anuruddhova sammā byākaramāno byākareyya. Anuruddho hi, sāriputta, dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena sahassaṁ lokānaṁ voloketī”ti.
“Next I asked Anuruddha the same question. He said: ‘It’s a mendicant who surveys the thousandfold galaxy with clairvoyance that is purified and surpasses the human … That’s the kind of mendicant who would grace this park.’”
“Good, good, Sāriputta! Anuruddha answered in the right way for him. For Anuruddha surveys the thousandfold galaxy with clairvoyance that is purified and surpasses the human.”
341. ‘Bạch Thế Tôn, khi được nói vậy, con đã nói với Tôn giả Anuruddha rằng: – ‘Này hiền giả Anuruddha, Tôn giả Revata đã trả lời... (cho đến)... Này hiền giả Anuruddha, nhờ vị tỳ khưu như thế nào mà khu rừng sāla Gosiṅga này được tô điểm?’ Bạch Thế Tôn, khi được nói vậy, Tôn giả Anuruddha đã nói với con rằng: – ‘Này hiền giả Sāriputta, ở đây, vị tỳ khưu với thiên nhãn thanh tịnh, siêu việt nhãn của người thường, nhìn thấy một ngàn thế giới. Này hiền giả Sāriputta, ví như một người có mắt... (cho đến)... Này hiền giả Sāriputta, nhờ vị tỳ khưu như vậy mà khu rừng sāla Gosiṅga được tô điểm.’’ – ‘Lành thay, lành thay, Sāriputta, như Anuruddha, khi trả lời một cách đúng đắn, đã trả lời. Này Sāriputta, quả thật Anuruddha với thiên nhãn thanh tịnh, siêu việt nhãn của người thường, nhìn thấy một ngàn thế giới.’
“Evaṁ vutte, ahaṁ, bhante, āyasmantaṁ mahākassapaṁ etadavocaṁ: ‘byākataṁ kho, āvuso kassapa, āyasmatā anuruddhena yathāsakaṁ paṭibhānaṁ. Tattha dāni mayaṁ āyasmantaṁ mahākassapaṁ pucchāma …pe… kathaṁrūpena kho, āvuso kassapa, bhikkhunā gosiṅgasālavanaṁ sobheyyā’ti? Evaṁ vutte, bhante, āyasmā mahākassapo maṁ etadavoca: ‘idhāvuso sāriputta, bhikkhu attanā ca āraññiko hoti āraññikattassa ca vaṇṇavādī, attanā ca piṇḍapātiko hoti …pe… attanā ca paṁsukūliko hoti …pe… attanā ca tecīvariko hoti …pe… attanā ca appiccho hoti …pe… attanā ca santuṭṭho hoti …pe… attanā ca pavivitto hoti …pe… attanā ca asaṁsaṭṭho hoti …pe… attanā ca āraddhavīriyo hoti …pe… attanā ca sīlasampanno hoti …pe… attanā ca samādhisampanno hoti …pe… attanā ca paññāsampanno hoti … attanā ca vimuttisampanno hoti … attanā ca vimuttiñāṇadassanasampanno hoti vimuttiñāṇadassanasampadāya ca vaṇṇavādī. Evarūpena kho, āvuso sāriputta, bhikkhunā gosiṅgasālavanaṁ sobheyyā’”ti.
“Sādhu sādhu, sāriputta. Yathā taṁ kassapova sammā byākaramāno byākareyya. Kassapo hi, sāriputta, attanā ca āraññiko āraññikattassa ca vaṇṇavādī, attanā ca piṇḍapātiko piṇḍapātikattassa ca vaṇṇavādī, attanā ca paṁsukūliko paṁsukūlikattassa ca vaṇṇavādī, attanā ca tecīvariko tecīvarikattassa ca vaṇṇavādī, attanā ca appiccho appicchatāya ca vaṇṇavādī, attanā ca santuṭṭho santuṭṭhiyā ca vaṇṇavādī, attanā ca pavivitto pavivekassa ca vaṇṇavādī, attanā ca asaṁsaṭṭho asaṁsaggassa ca vaṇṇavādī, attanā ca āraddhavīriyo vīriyārambhassa ca vaṇṇavādī, attanā ca sīlasampanno sīlasampadāya ca vaṇṇavādī, attanā ca samādhisampanno samādhisampadāya ca vaṇṇavādī, attanā ca paññāsampanno paññāsampadāya ca vaṇṇavādī, attanā ca vimuttisampanno vimuttisampadāya ca vaṇṇavādī, attanā ca vimuttiñāṇadassanasampanno vimuttiñāṇadassanasampadāya ca vaṇṇavādī”ti.
“Next I asked Mahākassapa the same question. He said: ‘It’s a mendicant who lives in the wilderness … and is accomplished in the knowledge and vision of freedom; and they praise these things. That’s the kind of mendicant who would grace this park.’”
“Good, good, Sāriputta! Kassapa answered in the right way for him. For Kassapa lives in the wilderness … and is accomplished in the knowledge and vision of freedom; and he praises these things.”
342. “Bạch Thế Tôn, khi được nói vậy, con bạch với Tôn giả Mahākassapa rằng: ‘Thưa hiền giả Kassapa, Tôn giả Anuruddha đã trả lời tùy theo trí tuệ của mình. Bây giờ, ở đây chúng tôi xin hỏi Tôn giả Mahākassapa... (vắn tắt)... Thưa hiền giả Kassapa, do hạng Tỳ-khưu như thế nào mà khu rừng Sāla ở Gosiṅga này được trở nên mỹ hảo?’ Bạch Thế Tôn, khi được hỏi vậy, Tôn giả Mahākassapa đã nói với con rằng: ‘Này hiền giả Sāriputta, ở đây, vị Tỳ-khưu tự mình là người sống ở rừng và tán thán hạnh sống ở rừng; tự mình là người đi khất thực... (vắn tắt)... tự mình là người mặc y phấn tảo... (vắn tắt)... tự mình là người chỉ dùng ba y... (vắn tắt)... tự mình là người thiểu dục... (vắn tắt)... tự mình là người tri túc... (vắn tắt)... tự mình là người sống độc cư... (vắn tắt)... tự mình là người không giao du... (vắn tắt)... tự mình là người tinh cần tinh tấn... (vắn tắt)... tự mình là người đầy đủ giới hạnh... (vắn tắt)... tự mình là người đầy đủ thiền định... (vắn tắt)... tự mình là người đầy đủ trí tuệ... tự mình là người đầy đủ giải thoát... tự mình là người đầy đủ giải thoát tri kiến và tán thán sự đầy đủ giải thoát tri kiến. Này hiền giả Sāriputta, do hạng Tỳ-khưu như vậy mà khu rừng Sāla ở Gosiṅga này được trở nên mỹ hảo.’” “Lành thay, lành thay, Sāriputta! Kassapa, khi trả lời một cách đúng đắn, đã trả lời như vậy. Này Sāriputta, quả thật Kassapa tự mình là người sống ở rừng và tán thán hạnh sống ở rừng; tự mình là người đi khất thực và tán thán hạnh khất thực; tự mình là người mặc y phấn tảo và tán thán hạnh mặc y phấn tảo; tự mình là người chỉ dùng ba y và tán thán hạnh chỉ dùng ba y; tự mình là người thiểu dục và tán thán hạnh thiểu dục; tự mình là người tri túc và tán thán hạnh tri túc; tự mình là người sống độc cư và tán thán hạnh sống độc cư; tự mình là người không giao du và tán thán hạnh không giao du; tự mình là người tinh cần tinh tấn và tán thán sự tinh cần tinh tấn; tự mình là người đầy đủ giới hạnh và tán thán sự đầy đủ giới hạnh; tự mình là người đầy đủ thiền định và tán thán sự đầy đủ thiền định; tự mình là người đầy đủ trí tuệ và tán thán sự đầy đủ trí tuệ; tự mình là người đầy đủ giải thoát và tán thán sự đầy đủ giải thoát; tự mình là người đầy đủ giải thoát tri kiến và tán thán sự đầy đủ giải thoát tri kiến.”
“Evaṁ vutte, ahaṁ bhante āyasmantaṁ mahāmoggallānaṁ etadavocaṁ: ‘byākataṁ kho, āvuso moggallāna, āyasmatā mahākassapena yathāsakaṁ paṭibhānaṁ. Tattha dāni mayaṁ āyasmantaṁ mahāmoggallānaṁ pucchāma …pe… kathaṁrūpena, āvuso moggallāna, bhikkhunā gosiṅgasālavanaṁ sobheyyā’ti? Evaṁ vutte, bhante, āyasmā mahāmoggallāno maṁ etadavoca: ‘idhāvuso sāriputta, dve bhikkhū abhidhammakathaṁ kathenti. Te aññamaññaṁ pañhaṁ pucchanti, aññamaññassa pañhaṁ puṭṭhā vissajjenti, no ca saṁsādenti, dhammī ca nesaṁ kathā pavattinī hoti. Evarūpena kho, āvuso sāriputta, bhikkhunā gosiṅgasālavanaṁ sobheyyā’”ti.
“Sādhu sādhu, sāriputta, yathā taṁ moggallānova sammā byākaramāno byākareyya. Moggallāno hi, sāriputta, dhammakathiko”ti.
“Next I asked Mahāmoggallāna the same question. He said: ‘It’s when two mendicants engage in discussion about the teaching … That’s the kind of mendicant who would grace this park.’”
“Good, good, Sāriputta! Moggallāna answered in the right way for him. For Moggallāna is a Dhamma speaker.”
343. “Bạch Thế Tôn, khi được nói vậy, con bạch với Tôn giả Mahāmoggallāna rằng: ‘Thưa hiền giả Moggallāna, Tôn giả Mahākassapa đã trả lời tùy theo trí tuệ của mình. Bây giờ, ở đây chúng tôi xin hỏi Tôn giả Mahāmoggallāna... (vắn tắt)... Thưa hiền giả Moggallāna, do hạng Tỳ-khưu như thế nào mà khu rừng Sāla ở Gosiṅga này được trở nên mỹ hảo?’ Bạch Thế Tôn, khi được hỏi vậy, Tôn giả Mahāmoggallāna đã nói với con rằng: ‘Này hiền giả Sāriputta, ở đây, có hai vị Tỳ-khưu thảo luận về Thắng Pháp. Họ hỏi nhau các câu hỏi, và khi được hỏi, họ trả lời cho nhau, không bị ngưng trệ, và cuộc pháp đàm của họ được tiến hành. Này hiền giả Sāriputta, do hạng Tỳ-khưu như vậy mà khu rừng Sāla ở Gosiṅga này được trở nên mỹ hảo.’” “Lành thay, lành thay, Sāriputta! Moggallāna, khi trả lời một cách đúng đắn, đã trả lời như vậy. Này Sāriputta, quả thật Moggallāna là một vị pháp sư.”
Evaṁ vutte, āyasmā mahāmoggallāno bhagavantaṁ etadavoca: “atha khvāhaṁ, bhante, āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavocaṁ: ‘byākataṁ kho, āvuso sāriputta, amhehi sabbeheva yathāsakaṁ paṭibhānaṁ. Tattha dāni mayaṁ āyasmantaṁ sāriputtaṁ pucchāma—ramaṇīyaṁ, āvuso sāriputta, gosiṅgasālavanaṁ, dosinā ratti, sabbaphāliphullā sālā, dibbā, maññe, gandhā sampavanti. Kathaṁrūpena, āvuso sāriputta, bhikkhunā gosiṅgasālavanaṁ sobheyyā’ti? Evaṁ vutte, bhante, āyasmā sāriputto maṁ etadavoca: ‘idhāvuso moggallāna, bhikkhu cittaṁ vasaṁ vatteti no ca bhikkhu cittassa vasena vattati. So yāya vihārasamāpattiyā ākaṅkhati pubbaṇhasamayaṁ viharituṁ, tāya vihārasamāpattiyā pubbaṇhasamayaṁ viharati; yāya vihārasamāpattiyā ākaṅkhati majjhanhikasamayaṁ viharituṁ, tāya vihārasamāpattiyā majjhanhikasamayaṁ viharati; yāya vihārasamāpattiyā ākaṅkhati sāyanhasamayaṁ viharituṁ, tāya vihārasamāpattiyā sāyanhasamayaṁ viharati. Seyyathāpi, āvuso moggallāna, rañño vā rājamahāmattassa vā nānārattānaṁ dussānaṁ dussakaraṇḍako pūro assa. So yaññadeva dussayugaṁ ākaṅkheyya pubbaṇhasamayaṁ pārupituṁ, taṁ tadeva dussayugaṁ pubbaṇhasamayaṁ pārupeyya; yaññadeva dussayugaṁ ākaṅkheyya majjhanhikasamayaṁ pārupituṁ, taṁ tadeva dussayugaṁ majjhanhikasamayaṁ pārupeyya; yaññadeva dussayugaṁ ākaṅkheyya sāyanhasamayaṁ pārupituṁ, taṁ tadeva dussayugaṁ sāyanhasamayaṁ pārupeyya. Evameva kho, āvuso moggallāna, bhikkhu cittaṁ vasaṁ vatteti, no ca bhikkhu cittassa vasena vattati. So yāya vihārasamāpattiyā ākaṅkhati pubbaṇhasamayaṁ viharituṁ, tāya vihārasamāpattiyā pubbaṇhasamayaṁ viharati; yāya vihārasamāpattiyā ākaṅkhati majjhanhikasamayaṁ viharituṁ, tāya vihārasamāpattiyā majjhanhikasamayaṁ viharati; yāya vihārasamāpattiyā ākaṅkhati sāyanhasamayaṁ viharituṁ, tāya vihārasamāpattiyā sāyanhasamayaṁ viharati. Evarūpena kho, āvuso moggallāna, bhikkhunā gosiṅgasālavanaṁ sobheyyā’”ti.
“Sādhu sādhu, moggallāna. Yathā taṁ sāriputtova sammā byākaramāno byākareyya. Sāriputto hi, moggallāna, cittaṁ vasaṁ vatteti no ca sāriputto cittassa vasena vattati. So yāya vihārasamāpattiyā ākaṅkhati pubbaṇhasamayaṁ viharituṁ, tāya vihārasamāpattiyā pubbaṇhasamayaṁ viharati; yāya vihārasamāpattiyā ākaṅkhati majjhanhikasamayaṁ viharituṁ, tāya vihārasamāpattiyā majjhanhikasamayaṁ viharati; yāya vihārasamāpattiyā ākaṅkhati sāyanhasamayaṁ viharituṁ, tāya vihārasamāpattiyā sāyanhasamayaṁ viharatī”ti.
When he had spoken, Moggallāna said to the Buddha, “Next, I asked Sāriputta: ‘Each of us has spoken according to our own inspiration. And now we ask you: Reverend Sāriputta, the sal forest park at Gosiṅga is lovely, the night is bright, the sal trees are in full blossom, and heavenly scents seem to float on the air. What kind of mendicant would grace this park?’ When I had spoken, Sāriputta said to me: ‘Reverend Moggallāna, it’s when a mendicant masters their mind and is not mastered by it … That’s the kind of mendicant who would grace this park.’”
“Good, good, Moggallāna! Sāriputta answered in the right way for him. For Sāriputta masters his mind and is not mastered by it …”
344. Khi được nói vậy, Tôn giả Mahāmoggallāna bạch với đức Thế Tôn rằng: – ‘Bạch Thế Tôn, sau đó, con đã nói với Tôn giả Sāriputta điều này: ‘Này hiền giả Sāriputta, tất cả chúng ta đã trả lời tùy theo sự ứng đối của mỗi người. Bây giờ, chúng tôi xin hỏi Tôn giả Sāriputta về điều ấy: ‘Này hiền giả Sāriputta, khu rừng Sāla ở Gosinga thật khả ái, đêm trăng sáng tỏ, các cây sāla đều trổ hoa khắp cành, và con nghĩ rằng hương thơm tỏa ra như hương trời. Này hiền giả Sāriputta, khu rừng Sāla ở Gosinga sẽ được tô điểm bởi vị tỳ khưu như thế nào?’ Bạch Thế Tôn, khi được nói vậy, Tôn giả Sāriputta đã nói với con điều này: ‘Này hiền giả Moggallāna, ở đây, vị tỳ khưu làm chủ được tâm, chứ không phải vị tỳ khưu bị tâm chi phối. Vị ấy muốn an trú vào thiền chứng nào vào buổi sáng, vị ấy an trú vào thiền chứng ấy vào buổi sáng; vị ấy muốn an trú vào thiền chứng nào vào buổi trưa, vị ấy an trú vào thiền chứng ấy vào buổi trưa; vị ấy muốn an trú vào thiền chứng nào vào buổi chiều, vị ấy an trú vào thiền chứng ấy vào buổi chiều. Này hiền giả Moggallāna, ví như rương y phục của một vị vua hay một vị đại thần của vua chứa đầy những y phục được nhuộm nhiều màu sắc khác nhau. Vị ấy muốn mặc bộ y phục nào vào buổi sáng, vị ấy mặc chính bộ y phục ấy vào buổi sáng; vị ấy muốn mặc bộ y phục nào vào buổi trưa, vị ấy mặc chính bộ y phục ấy vào buổi trưa; vị ấy muốn mặc bộ y phục nào vào buổi chiều, vị ấy mặc chính bộ y phục ấy vào buổi chiều. Cũng vậy, này hiền giả Moggallāna, vị tỳ khưu làm chủ được tâm, chứ không phải vị tỳ khưu bị tâm chi phối. Vị ấy muốn an trú vào thiền chứng nào vào buổi sáng, vị ấy an trú vào thiền chứng ấy vào buổi sáng; vị ấy muốn an trú vào thiền chứng nào vào buổi trưa, vị ấy an trú vào thiền chứng ấy vào buổi trưa; vị ấy muốn an trú vào thiền chứng nào vào buổi chiều, vị ấy an trú vào thiền chứng ấy vào buổi chiều. Này hiền giả Moggallāna, khu rừng Sāla ở Gosinga sẽ được tô điểm bởi vị tỳ khưu như thế ấy.’” ‘Lành thay, lành thay, Moggallāna! Sāriputta đã trả lời đúng như một người trả lời đúng đắn. Vì này Moggallāna, Sāriputta làm chủ được tâm, chứ không phải Sāriputta bị tâm chi phối. Vị ấy muốn an trú vào thiền chứng nào vào buổi sáng, vị ấy an trú vào thiền chứng ấy vào buổi sáng; vị ấy muốn an trú vào thiền chứng nào vào buổi trưa, vị ấy an trú vào thiền chứng ấy vào buổi trưa; vị ấy muốn an trú vào thiền chứng nào vào buổi chiều, vị ấy an trú vào thiền chứng ấy vào buổi chiều.’
Evaṁ vutte, āyasmā sāriputto bhagavantaṁ etadavoca: “kassa nu kho, bhante, subhāsitan”ti?
“Sabbesaṁ vo, sāriputta, subhāsitaṁ pariyāyena. Api ca mamapi suṇātha yathārūpena bhikkhunā gosiṅgasālavanaṁ sobheyya. Idha, sāriputta, bhikkhu pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto nisīdati pallaṅkaṁ ābhujitvā ujuṁ kāyaṁ paṇidhāya parimukhaṁ satiṁ upaṭṭhapetvā: ‘na tāvāhaṁ imaṁ pallaṅkaṁ bhindissāmi yāva me nānupādāya āsavehi cittaṁ vimuccissatī’ti. Evarūpena kho, sāriputta, bhikkhunā gosiṅgasālavanaṁ sobheyyā”ti.
When he had spoken, Sāriputta asked the Buddha, “Sir, who has spoken well?”
“You’ve all spoken well in your own way. However, listen to me also as to what kind of mendicant would grace this sal forest park at Gosiṅga. It’s a mendicant who, after the meal, returns from almsround, sits down cross-legged, sets their body straight, and brings mindfulness to the present, thinking: ‘I will not break this sitting posture until my mind is freed from the defilements by not grasping!’ That’s the kind of mendicant who would grace this park.”
345. Khi được nói vậy, Tôn giả Sāriputta bạch với đức Thế Tôn rằng: – ‘Bạch Thế Tôn, vậy lời nói của ai là lời thiện thuyết?’ – ‘Này Sāriputta, lời nói của tất cả các ông đều là thiện thuyết theo cách riêng. Tuy nhiên, hãy nghe cả lời của ta về việc khu rừng Sāla ở Gosinga sẽ được tô điểm bởi vị tỳ khưu như thế nào. Này Sāriputta, ở đây, vị tỳ khưu sau bữa ăn, sau khi đi khất thực về, ngồi kiết-già, giữ thân thẳng, an lập chánh niệm trước mặt, và quyết tâm rằng: ‘Ta sẽ không xả tư thế kiết-già này cho đến khi tâm của ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc do không còn chấp thủ.’ Này Sāriputta, khu rừng Sāla ở Gosinga sẽ được tô điểm bởi vị tỳ khưu như thế ấy.’”
Idamavoca bhagavā. Attamanā te āyasmanto bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
That is what the Buddha said. Satisfied, those venerables approved what the Buddha said.
Đức Thế Tôn đã nói điều này. Các Tôn giả ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của đức Thế Tôn.
Mahāgosiṅgasuttaṁ niṭṭhitaṁ dutiyaṁ.
Kinh Đại Gosinga, bài kinh thứ hai, đã chấm dứt.