- Majjhima Nikāya 31
Cūḷagosiṅgasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Cūḷagosiṅgasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở Nādika, tại Ginjakavasatha.
SC 2Lúc bấy giờ Tôn giả Anuruddha (A-na-luật-đà), Tôn giả Nandiya, Tôn giả Kimbila trú tại khu vườn trong rừng Gosinga (rừng Sừng bò) có nhiều cây ta-la.
SC 3Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều, sau khi tham thiền, đứng dậy đi đến khu vườn trong rừng Gosinga có nhiều cây ta-la. Người giữ vườn thấy Thế Tôn từ xa đi đến, liền bạch Thế Tôn
SC 4—Bạch Sa-môn, chớ có vào khu vườn này. Có ba Thiện nam tử đang trú tại đây, rất ái luyến tự ngã. Chớ có phiền nhiễu các vị ấy.
SC 5Tôn giả Anuruddha nghe người giữ vườn nói chuyện với Thế Tôn như vậy, liền nói với người giữ vườn
SC 6—Này người giữ vườn, chớ có ngăn chận Thế Tôn. Thế Tôn, bậc Ðạo Sư của chúng tôi đã đến.
SC 7Rồi Tôn giả Anuruddha đi đến Tôn giả Nandiya, Tôn giả Kimbila và nói
SC 8—Chư Tôn giả hãy đến, chư Tôn giả hãy đến. Thế Tôn, bậc Đạo sư của chúng ta đã đến.
SC 9Rồi Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Nandiya và Tôn giả Kimbila ra đón Thế Tôn, một người cầm y bát của Thế Tôn, một người sửa soạn chỗ ngồi, một người đặt sẵn nước rửa chân. Thế Tôn ngồi trên chỗ ngồi đã soạn sẵn, sau khi ngồi, Thế Tôn rửa chân. Rồi các Tôn giả ấy đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Và Thế Tôn nói với Tôn giả Anuruddha đang ngồi xuống một bên
SC 10—Này các Anuruddha, các Ông có được an lành không? Có được sống yên vui không? Ði khất thực có khỏi mệt nhọc không?
SC 11—Bạch Thế Tôn, chúng con được an lành; bạch Thế Tôn, chúng con sống yên vui; bạch Thế Tôn, chúng con đi khất thực khỏi có mệt nhọc.
SC 12—Này các Anuruddha, các Ông có sống hòa hợp, hoan hỷ với nhau, không có cãi nhau, như nước với sữa, sống nhìn nhau với cặp mắt thiện cảm không?
SC 13—Bạch Thế Tôn, thật sự chúng con sống hòa hợp, hoan hỷ với nhau, không có cãi nhau, như nước với sữa, sống nhìn nhau với cặp mắt thiện cảm.
SC 14—Này các Anuruddha, như thế nào các Ông sống hòa hợp, hoan hỷ với nhau, như nước với sữa, sống nhìn nhau với cặp mắt thiện cảm?
SC 15—Bạch Thế Tôn, ở đây, chúng con nghe như sau: “Thật lợi ích thay cho ta, thật khéo lợi ích thay cho ta, khi ta được sống với các vị đồng phạm hạnh như vậy”. Bạch Thế Tôn, do vậy, đối với các vị đồng phạm hạnh này, con khởi lên từ thân nghiệp trước mặt và sau lưng, con khởi lên từ khẩu nghiệp, trước mặt và sau lưng, con khởi lên từ ý nghiệp, trước mặt và sau lưng. Bạch Thế Tôn, do vậy, chúng con nghĩ như sau: “Ta hãy từ bỏ tâm của ta và sống thuận theo tâm của những Tôn giả này”. Bạch Thế Tôn, con từ bỏ tâm của con, và sống thuận theo tâm của những Tôn giả ấy. Bạch Thế Tôn, chúng con tuy khác thân nhưng giống như đồng một tâm.
SC 16Rồi Tôn giả Nandiya … (như trên) … rồi Tôn giả Kimbila bạch Thế Tôn
SC 17—Bạch Thế Tôn, ở đây chúng con nghĩ như sau: “Thật lợi ích thay cho ta, thật khéo lợi ích thay cho ta, khi ta được sống với các vị đồng phạm hạnh như vậy”. Bạch Thế Tôn, do vậy, đối với các vị đồng phạm hạnh này, con khởi lên từ thân nghiệp, trước mặt và sau lưng, con khởi lên từ khẩu nghiệp, trước mặt và sau lưng, con khởi lên từ ý nghiệp, trước mặt và sau lưng. Bạch Thế Tôn, do vậy, chúng con nghĩ như sau: “Ta hãy từ bỏ tâm của ta và sống thuận theo tâm của những Tôn giả này”. Bạch Thế Tôn, con từ bỏ tâm của con và sống thuận theo tâm của những Tôn giả ấy. Bạch Thế Tôn, chúng con tuy khác thân nhưng giống như đồng một tâm. Bạch Thế Tôn, như vậy chúng con sống hòa hợp, hoan hỷ với nhau, như nước với sữa, sống nhìn nhau với cặp mắt thiện cảm.
SC 18—Lành thay, lành thay, này Anuruddha! Này các Anuruddha, các Ông có sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần không?
SC 19—Bạch Thế Tôn, thật sự chúng con sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
SC 20—Này các Anuruddha, như thế nào, các Ông sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần?
SC 21—Ở đây, bạch Thế Tôn, chúng con, ai đi làng khất thực về trước, thì người ấy sắp đặt các chỗ ngồi, soạn sẵn nước uống, nước rửa chân, soạn sẵn một bát để bỏ đồ dư. Ai đi làng khất thực về sau, thì người ấy, còn đồ ăn thừa nếu muốn thì ăn, nếu không muốn thì bỏ vào chỗ không có cỏ xanh hay đổ vào nước không có loài côn trùng và người ấy xếp dọn lại các chỗ ngồi, cất đi nước uống, nước rửa chân, cất đi cái bát để bỏ đồ dư và quét sạch nhà ăn. Ai thấy ghè nước uống, ghè nước rửa chân, hay ghè nước trong nhà cầu hết nước, trống không thì người ấy sẽ lo liệu (nước). Nếu ai làm không nổi với sức bàn tay của mình, thì người ấy dùng tay ra hiệu gọi người thứ hai: “Chúng ta hãy lo liệu (nước)”. Dầu vậy, bạch Thế Tôn, chúng con không vì vây mà gây ra tiếng động. Và đến ngày thứ năm, bạch Thế Tôn, suốt cả đêm, chúng con ngồi đàm luận về đạo pháp. Như vây, bạch Thế Tôn chúng con sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
SC 22—Lành thay, lành thay, này các Anuruddha! Này các Anuruddha, các Ông sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, các Ông có chứng được pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh, sống thoải mái, an lạc không?
SC 23—Bạch Thế Tôn, sao có thể không được! Ở đây, bạch Thế Tôn, lâu cho đến khi chúng con muốn, chúng con ly dục, ly pháp bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Như vậy, bạch Thế Tôn, đối với chúng con, là pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh; chúng con chứng được và sống thoải mái, an lạc, nhờ chúng con sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
SC 24—Lành thay, lành thay, này các Anuruddha! Này các Anuruddha, các Ông có vượt qua sự an trú kia, có làm cho khinh an sự an trú kia, và chứng được một pháp thượng nhân khác, một tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh và sống thoải mái, an lạc không?
SC 25—Bạch Thế Tôn, làm sao có thể không được. Ở đây, bạch Thế Tôn, lâu cho đến khi chúng con muốn, chúng con diệt tầm diệt tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Bạch Thế Tôn, chúng con vượt qua sự an trú kia, làm cho khinh an sự an trú kia; chúng con chứng được pháp thượng nhân khác, một tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh và sống thoải mái, an lạc.
SC 26—Lành thay, lành thay, này các Anuruddha! Này các Anuruddha, các Ông có vượt qua sự an trú kia, có làm cho khinh an sự an trú kia, và chứng được một pháp thượng nhân khác, một tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh và sống thoải mái, an lạc không?
SC 27—Bạch Thế Tôn, làm sao có thể không được! Ở đây, lâu cho đến khi chúng con muốn, chúng con ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba, Bạch Thế Tôn, chúng con vượt qua sự an trú kia, làm cho khinh an sự an trú kia; chúng con chứng được pháp thượng nhân khác, một tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh, và sống thoải mái, an lạc.
SC 28—Lành thay, lành thay, này các Anuruddha! Này các Anuruddha, các Ông có vượt qua sự an trú kia, có làm cho khinh an sự an trú kia, và chứng được một pháp thượng nhân khác, một tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh và sống thoải mái, an lạc không?
SC 29—Bạch Thế Tôn, làm sao có thể không được! Ở đây, lâu cho đến khi chúng con muốn, chúng con xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Bạch Thế Tôn, chúng con vượt qua sự an trú kia, làm cho khinh an sự an trú kia; chúng con chứng được pháp thượng nhân khác, một tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh và sống thoải mái an lạc.
SC 30—Lành thay, lành thay, này các Anuruddha! Này các Anuruddha, các Ông có vượt qua sự an trú kia, có làm cho khinh an sự an trú kia, và chứng được một pháp thượng nhân khác, một tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh và sống thoải mái, an lạc không?
SC 31—Bạch Thế Tôn, làm sao có thể không được. Ở đây lâu cho đến khi chúng con muốn, chúng con vượt lên mọi sắc tưởng, diệt trừ mọi chướng ngại tưởng, không tác ý đối với dị tưởng; chúng con nghĩ rằng: “Hư không là vô biên”, chứng và trú Không vô biên xứ. Bạch Thế Tôn, chúng con vượt qua sự an trú kia, làm cho khinh an sự an trú kia; chúng con chứng được pháp thượng nhân khác, một tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh và sống thoải mái, an lạc … (như trên) … Ở đây, lâu cho đến khi chúng con muốn; chúng con vượt qua mọi Không vô biên xứ, nghĩ rằng: “Thức là vô biên”, chứng và trú Thức vô biên xứ … (như trên) … Ở đây, lâu cho đến khi chúng con muốn; chúng con vượt qua mọi Thức vô biên xứ, nghĩ rằng: “Không có vật gì”, chứng và trú Vô sở hữu xứ … (như trên) … Ở đây, lâu cho đến khi chúng con muốn; chúng con vượt qua mọi Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Ở đây, lâu cho đến khi chúng con muốn; chúng con vượt qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và trú Diệt thọ tưởng định. Sau khi đã thấy nhờ trí tuệ, các lậu hoặc của chúng con được đoạn trừ. Bạch Thế Tôn, chúng con vượt qua sự an trú kia, làm cho khinh an sự an trú kia; chúng con chứng được pháp thượng nhân này, một tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh và sống thoải mái, an lạc. Bạch Thế Tôn, chúng con không thấy một lạc trú nào khác cao thượng hơn, thù thắng hơn sự lạc trú này.
SC 32—Lành thay, lành thay, các Anuruddha! Này các Anuruddha, ngoài lạc trú này, không có một lạc trú nào khác cao thượng hơn, thù thắng hơn.
SC 33Thế Tôn thuyết pháp cho Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Nandiya và Tôn giả Kimbila, khai thị, khích lệ làm cho hoan hỷ, làm cho phấn khởi, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy ra về. Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Nandiya và Tôn giả Kimbila, sau khi tiễn đưa Thế Tôn và đi trở về. Tôn giả Nandiya và Tôn giả Kimbila nói với Tôn giả Anuruddha
SC 34—Chúng tôi không bao giờ nói với Tôn giả Anuruddha như sau: “Chúng tôi là người đã chứng và an trú quả này, an trú quả này”, và nhờ vậy, Tôn giả Anuruddha, trước mặt Thế Tôn, đã nêu rõ (các quả chứng) cho đến sự đoạn trừ các lậu hoặc.
SC 35—Chư Tôn giả không nói với tôi như sau: “Chúng tôi là người đã chứng và an trú quả này, an trú quả này”, nhưng với tâm của tôi, tôi biết được tâm của các Tôn giả: “Chư Tôn giả này là Người đã chứng và an trú quả này, an trú quả này”. Và chư Thiên có nói với tôi về vấn đề này: “Chư Tôn giả này là Người đã chứng và an trú quả này, an trú quả này”. Chính nhờ phương tiện này, các câu mà Thế Tôn hỏi đã được trả lời.
SC 36Rồi Dīgha Parajana, một Yakkha (Trường quỷ Dạ-xoa) đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Ngài và đứng một bên. Sau khi đứng một bên, Dīgha Parajana bạch Thế Tôn
SC 37—Bạch Thế Tôn, thật lợi ích thay cho dân chúng Vajjī (Bạt kỳ)! Thật khéo lợi ích thay cho dân chúng Vajjī! Vì Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ở đây, và cả ba Thiện nam tử, Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Nandiya và Tôn giả Kimbila cũng vậy.
SC 38Sau khi nghe tiếng của Yakkha Dīgha Parajana, các địa thần làm cho tiếng này được nghe: “Chư Hiền giả, thật lợi ích thay cho dân chúng Vajjī! Thật khéo lợi ích cho dân chúng Vajjī! Vì Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ở đây và cả ba Thiện nam tử này, Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Nandiya và Tôn giả Kimbila cũng vậy”. Sau khi nghe tiếng của các Ðịa thần, bốn Thiên vương … (như trên) … cõi trời Ba mươi ba … Dạ-ma thiên … Ðâu-suất-đà thiên … Hóa lạc thiên … Tha hóa tự tại thiên … Phạm chúng thiên làm cho tiếng này được nghe: “Chư Hiền giả, thật lợi ích thay có dân chúng Vajjī! Thật khéo lợi ích thay cho dân chúng Vajjī! Vì Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ở đây, và cả ba Thiện nam tử này, Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Nandiya, và Tôn giả Kimbila cũng vậy”. Như vậy, trong giờ phút này, trong sát-na này, các Tôn giả ấy được biết cho đến Phạm thiên.
SC 39—Sự việc là như vậy, này Dīgha, sự việc là như vậy, này Dīgha, này Dīgha, nếu gia đình nào, ba Thiện nam tử này xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, nghĩ đến ba Thiện nam tử này với tâm niệm hoan hỷ, thì gia đình ấy sẽ được an lạc, hạnh phúc lâu dài. Này Dīgha, nếu bà con quyến thuộc của gia đình mà ba Thiện nam tử này xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, nghĩ đến ba Thiện nam tử này với tâm niệm hoan hỷ, thì bà con quyến thuộc của gia đình mà ba Thiện nam tử này xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, nghĩ đến ba Thiện nam tử này với tâm niệm hoan hỷ, thì bà con quyến thuộc của gia đình ấy sẽ được an lạc, hạnh phúc lâu dài. Này Dīgha, nếu làng nào … nếu xã ấp nào … nếu thành phố nào … nếu quốc độ nào … nếu tất cả Sát đế lị … nếu tất cả Bà-la-môn … nếu tất cả Phệ xá (Vessa) … nếu tất cả Thủ đà (Sudda) … Này Dīgha, nếu thế giới với chư Thiên, với Ác ma, với Phạm thiên, với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người nhớ đến ba Tôn giả này với tâm niệm hoan hỷ, thì thế giới ấy với chư Thiên, với Ác ma, với Phạm thiên, với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người sẽ được an lạc, hạnh phúc lâu dài. Này Dīgha, hãy xem ba Thiện nam tử này sống như thế nào? —Vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.
SC 40Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Dạ xoa Dīgha Parajana hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 11–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
1. Kinh Gosiṅga Nhỏ
Tena kho pana samayena āyasmā ca anuruddho āyasmā ca nandiyo āyasmā ca kimilo gosiṅgasālavanadāye viharanti.
Atha kho bhagavā sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yena gosiṅgasālavanadāyo tenupasaṅkami. Addasā kho dāyapālo bhagavantaṁ dūratova āgacchantaṁ. Disvāna bhagavantaṁ etadavoca: “mā, samaṇa, etaṁ dāyaṁ pāvisi. Santettha tayo kulaputtā attakāmarūpā viharanti. Mā tesaṁ aphāsumakāsī”ti.
Now at that time the venerables Anuruddha, Nandiya, and Kimbila were staying in the sal forest park at Gosiṅga.
Then in the late afternoon, the Buddha came out of retreat and went to that park. The park keeper saw the Buddha coming off in the distance and said to him, “Don’t come into this park, ascetic. There are three gentlemen staying here whose nature is to desire self-knowledge. Do not disturb them.”
325. Tôi nghe như vầy. Một thời, Đức Thế Tôn trú ở Nātika, tại ngôi nhà gạch. Và vào lúc bấy giờ, Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Nandiya, và Tôn giả Kimila đang trú tại khu rừng sāla ở Gosiṅga. Khi ấy, vào buổi chiều, Đức Thế Tôn xuất khỏi nơi độc cư, đi đến khu rừng sāla ở Gosiṅga. Người giữ rừng thấy Đức Thế Tôn từ xa đi đến. Thấy vậy, người ấy bạch với Đức Thế Tôn rằng: ‘Thưa Sa-môn, xin ngài đừng vào khu rừng này. Ở đây có ba vị thiện gia nam tử đang sống với mong muốn lợi ích cho bản thân. Xin ngài đừng làm phiền họ.’
Assosi kho āyasmā anuruddho dāyapālassa bhagavatā saddhiṁ mantayamānassa. Sutvāna dāyapālaṁ etadavoca: “mā, āvuso dāyapāla, bhagavantaṁ vāresi. Satthā no bhagavā anuppatto”ti. Atha kho āyasmā anuruddho yenāyasmā ca nandiyo āyasmā ca kimilo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantañca nandiyaṁ āyasmantañca kimilaṁ etadavoca: “abhikkamathāyasmanto, abhikkamathāyasmanto, satthā no bhagavā anuppatto”ti.
Atha kho āyasmā ca anuruddho āyasmā ca nandiyo āyasmā ca kimilo bhagavantaṁ paccuggantvā—eko bhagavato pattacīvaraṁ paṭiggahesi, eko āsanaṁ paññapesi, eko pādodakaṁ upaṭṭhāpesi. Nisīdi bhagavā paññatte āsane. Nisajja kho bhagavā pāde pakkhālesi. Tepi kho āyasmanto bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu.
Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ anuruddhaṁ bhagavā etadavoca:
Anuruddha heard the park keeper conversing with the Buddha, and said to him, “Don’t keep the Buddha out, good park keeper! Our Teacher, the Blessed One, has arrived.” Then Anuruddha went to Nandiya and Kimbila, and said to them, “Come forth, venerables, come forth! Our Teacher, the Blessed One, has arrived!”
Then Anuruddha, Nandiya, and Kimbila came out to greet the Buddha. One received his bowl and robe, one spread out a seat, and one set out water for washing his feet. The Buddha sat down on the seat spread out, and washed his feet. Those venerables bowed and sat down to one side.
The Buddha said to Anuruddha,
Tôn giả Anuruddha nghe được cuộc nói chuyện của người giữ rừng với Đức Thế Tôn. Nghe vậy, Tôn giả nói với người giữ rừng rằng: ‘Này hiền giả giữ rừng, đừng cản Đức Thế Tôn. Bậc Đạo Sư của chúng ta, Đức Thế Tôn, đã đến.’ Khi ấy, Tôn giả Anuruddha đi đến chỗ Tôn giả Nandiya và Tôn giả Kimila; sau khi đến, Tôn giả nói với Tôn giả Nandiya và Tôn giả Kimila rằng: ‘Các Tôn giả hãy đi ra, các Tôn giả hãy đi ra, Bậc Đạo Sư của chúng ta, Đức Thế Tôn, đã đến.’ Khi ấy, Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Nandiya, và Tôn giả Kimila đi ra đón Đức Thế Tôn. Một vị nhận lấy y bát của Đức Thế Tôn, một vị trải chỗ ngồi, một vị đặt nước rửa chân. Đức Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ ngồi đã được trải. Sau khi ngồi, Đức Thế Tôn rửa chân. Các Tôn giả ấy cũng đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi Tôn giả Anuruddha đã ngồi xuống một bên, Đức Thế Tôn nói với Tôn giả như sau:
“Khamanīyaṁ, bhagavā, yāpanīyaṁ, bhagavā; na ca mayaṁ, bhante, piṇḍakena kilamāmā”ti.
“Kacci pana vo, anuruddhā, samaggā sammodamānā avivadamānā khīrodakībhūtā aññamaññaṁ piyacakkhūhi sampassantā viharathā”ti?
“Taggha mayaṁ, bhante, samaggā sammodamānā avivadamānā khīrodakībhūtā aññamaññaṁ piyacakkhūhi sampassantā viharāmā”ti.
“Yathā kathaṁ pana tumhe, anuruddhā, samaggā sammodamānā avivadamānā khīrodakībhūtā aññamaññaṁ piyacakkhūhi sampassantā viharathā”ti?
“Idha mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti: ‘lābhā vata me, suladdhaṁ vata me, yohaṁ evarūpehi sabrahmacārīhi saddhiṁ viharāmī’ti. Tassa mayhaṁ, bhante, imesu āyasmantesu mettaṁ kāyakammaṁ paccupaṭṭhitaṁ āvi ceva raho ca; mettaṁ vacīkammaṁ paccupaṭṭhitaṁ āvi ceva raho ca; mettaṁ manokammaṁ paccupaṭṭhitaṁ āvi ceva raho ca. Tassa mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti: ‘yannūnāhaṁ sakaṁ cittaṁ nikkhipitvā imesaṁyeva āyasmantānaṁ cittassa vasena vatteyyan’ti. So kho ahaṁ, bhante, sakaṁ cittaṁ nikkhipitvā imesaṁyeva āyasmantānaṁ cittassa vasena vattāmi. Nānā hi kho no, bhante, kāyā ekañca pana maññe cittan”ti.
“We’re keeping well, Blessed One, we’re getting by. And we have no trouble getting almsfood.”
“I hope you’re living in harmony, appreciating each other, without quarreling, blending like milk and water, and regarding each other with kindly eyes?”
“Indeed, sir, we live in harmony as you say.”
“But how do you live this way?”
“In this case, sir, I think: ‘I’m fortunate, so very fortunate, to live together with spiritual companions such as these.’ I consistently treat these venerables with kindness by way of body, speech, and mind, both in public and in private. I think, ‘Why don’t I set aside my own ideas and just go along with these venerables’ ideas?’ And that’s what I do. Though we’re different in body, sir, we’re one in mind, it seems to me.”
326. ‘Này các Anuruddha, các con có kham nhẫn được không, có sống được không, có không mệt nhọc vì việc khất thực không?’ ‘Bạch Đức Thế Tôn, chúng con kham nhẫn được, bạch Đức Thế Tôn, chúng con sống được; và bạch Ngài, chúng con không mệt nhọc vì việc khất thực.’ ‘Này các Anuruddha, các con có sống hòa hợp, hoan hỷ, không tranh cãi, như nước với sữa, nhìn nhau với cặp mắt thân ái không?’ ‘Bạch Ngài, quả thật chúng con sống hòa hợp, hoan hỷ, không tranh cãi, như nước với sữa, nhìn nhau với cặp mắt thân ái.’ ‘Này các Anuruddha, làm thế nào mà các con sống hòa hợp, hoan hỷ, không tranh cãi, như nước với sữa, nhìn nhau với cặp mắt thân ái?’ ‘Bạch Ngài, ở đây, con suy nghĩ như vầy: “Thật là lợi ích cho ta, thật là may mắn cho ta, khi ta được sống cùng với các vị đồng phạm hạnh như thế này.” Bạch Ngài, đối với các Tôn giả này, thân nghiệp từ của con được thiết lập, cả khi có mặt lẫn khi vắng mặt; khẩu nghiệp từ của con được thiết lập, cả khi có mặt lẫn khi vắng mặt; ý nghiệp từ của con được thiết lập, cả khi có mặt lẫn khi vắng mặt. Bạch Ngài, con suy nghĩ như vầy: “Tại sao ta không gạt bỏ tâm của mình và sống theo ý muốn của các Tôn giả này?” Và bạch Ngài, con đã gạt bỏ tâm của mình và sống theo ý muốn của các Tôn giả này. Bạch Ngài, thân của chúng con tuy khác nhau, nhưng con nghĩ rằng tâm chỉ là một.’
Āyasmāpi kho nandiyo …pe… āyasmāpi kho kimilo bhagavantaṁ etadavoca: “mayhampi, bhante, evaṁ hoti: ‘lābhā vata me, suladdhaṁ vata me, yohaṁ evarūpehi sabrahmacārīhi saddhiṁ viharāmī’ti. Tassa mayhaṁ, bhante, imesu āyasmantesu mettaṁ kāyakammaṁ paccupaṭṭhitaṁ āvi ceva raho ca, mettaṁ vacīkammaṁ paccupaṭṭhitaṁ āvi ceva raho ca, mettaṁ manokammaṁ paccupaṭṭhitaṁ āvi ceva raho ca. Tassa mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti: ‘yannūnāhaṁ sakaṁ cittaṁ nikkhipitvā imesaṁyeva āyasmantānaṁ cittassa vasena vatteyyan’ti. So kho ahaṁ, bhante, sakaṁ cittaṁ nikkhipitvā imesaṁyeva āyasmantānaṁ cittassa vasena vattāmi. Nānā hi kho no, bhante, kāyā ekañca pana maññe cittan”ti.
And the venerables Nandiya and Kimbila spoke likewise, and they added:
Bạch Thế Tôn, Tôn giả Nandiya ... Tôn giả Kimila bạch với Thế Tôn lời này: – Bạch ngài, đối với con cũng khởi lên ý nghĩ như sau: ‘Thật là lợi ích cho ta, thật là khéo được lợi ích cho ta, khi ta được sống cùng với các vị đồng phạm hạnh như thế này!’ Bạch ngài, đối với con, thân hành từ ái đối với các Tôn giả này được thể hiện cả khi có mặt lẫn khi vắng mặt, khẩu hành từ ái được thể hiện cả khi có mặt lẫn khi vắng mặt, ý hành từ ái được thể hiện cả khi có mặt lẫn khi vắng mặt. Bạch ngài, đối với con khởi lên ý nghĩ như sau: ‘Chắc chắn ta nên gác lại tâm của mình và hành động theo ý muốn của các Tôn giả này.’ Bạch ngài, quả thật con đã gác lại tâm của mình và hành động theo ý muốn của các Tôn giả này. Bạch ngài, thân của chúng con tuy khác nhau, nhưng con nghĩ rằng tâm chỉ là một.
Bạch ngài, như vậy chúng con sống hòa hợp, hoan hỷ, không tranh cãi, như nước với sữa, nhìn nhau với ánh mắt yêu thương.
“Sādhu sādhu, anuruddhā. Kacci pana vo, anuruddhā, appamattā ātāpino pahitattā viharathā”ti?
“Taggha mayaṁ, bhante, appamattā ātāpino pahitattā viharāmā”ti.
“Yathā kathaṁ pana tumhe, anuruddhā, appamattā ātāpino pahitattā viharathā”ti?
“Idha, bhante, amhākaṁ yo paṭhamaṁ gāmato piṇḍāya paṭikkamati so āsanāni paññapeti, pānīyaṁ paribhojanīyaṁ upaṭṭhāpeti, avakkārapātiṁ upaṭṭhāpeti. Yo pacchā gāmato piṇḍāya paṭikkamati, sace hoti bhuttāvaseso sace ākaṅkhati bhuñjati, no ce ākaṅkhati appaharite vā chaḍḍeti, appāṇake vā udake opilāpeti. So āsanāni paṭisāmeti, pānīyaṁ paribhojanīyaṁ paṭisāmeti, avakkārapātiṁ paṭisāmeti, bhattaggaṁ sammajjati. Yo passati pānīyaghaṭaṁ vā paribhojanīyaghaṭaṁ vā vaccaghaṭaṁ vā rittaṁ tucchaṁ so upaṭṭhāpeti. Sacassa hoti avisayhaṁ, hatthavikārena dutiyaṁ āmantetvā hatthavilaṅghakena upaṭṭhāpema, na tveva mayaṁ, bhante, tappaccayā vācaṁ bhindāma. Pañcāhikaṁ kho pana mayaṁ, bhante, sabbarattikaṁ dhammiyā kathāya sannisīdāma. Evaṁ kho mayaṁ, bhante, appamattā ātāpino pahitattā viharāmā”ti.
“Good, good, Anuruddha and friends! But I hope you’re living diligently, keen, and resolute?”
“Indeed, sir, we live diligently.”
“But how do you live this way?”
“In this case, sir, whoever returns first from almsround prepares the seats, and puts out the drinking water and the rubbish bin. If there’s remainder, whoever returns last eats it if they like. Otherwise they throw it out where there is little that grows, or drop it into water that has no living creatures. Then they put away the seats, drinking water, and rubbish bin, and sweep the refectory. If someone sees that the pot of water for washing, drinking, or the toilet is empty they set it up. If he can’t do it, he summons another with a wave of the hand, and they set it up by lending each other a hand to lift. But we don’t break into speech for that reason. And every five days we sit together for the whole night and discuss the teachings. That’s how we live diligently, keen, and resolute.”
327. – Lành thay, lành thay, này các Anuruddha! Này các Anuruddha, có phải các ông sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần không? – Thưa vâng, bạch ngài, chúng con sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. – Này các Anuruddha, các ông đã sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như thế nào? – Bạch ngài, ở đây, trong chúng con, vị nào đi khất thực từ làng về trước, vị ấy dọn dẹp chỗ ngồi, chuẩn bị nước uống và nước dùng, đặt sẵn đồ đựng vật thừa. Vị nào đi khất thực từ làng về sau, nếu có thức ăn còn thừa lại và nếu vị ấy muốn thì dùng. Nếu không muốn, vị ấy vứt bỏ ở nơi không có cỏ xanh, hoặc đổ vào nơi nước không có sinh vật. Vị ấy dọn dẹp chỗ ngồi, cất dọn nước uống và nước dùng, rửa sạch và cất dọn đồ đựng vật thừa, rồi quét dọn phòng ăn. Vị nào thấy ghè nước uống, hoặc ghè nước dùng, hoặc ghè nước trong nhà vệ sinh trống không, vị ấy sẽ đổ đầy. Nếu việc ấy ngoài sức của mình, vị ấy dùng tay ra hiệu gọi người thứ hai, rồi cùng nhau khiêng đi. Bạch ngài, chúng con không vì lý do đó mà nói ra lời nào. Và bạch ngài, cứ mỗi năm ngày, chúng con ngồi lại với nhau suốt đêm để đàm luận về Chánh pháp. Bạch ngài, như vậy chúng con sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
“Sādhu sādhu, anuruddhā. Atthi pana vo, anuruddhā, evaṁ appamattānaṁ ātāpīnaṁ pahitattānaṁ viharantānaṁ uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanaviseso adhigato phāsuvihāro”ti?
“Kiñhi no siyā, bhante. Idha mayaṁ, bhante, yāvadeva ākaṅkhāma vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharāma. Ayaṁ kho no, bhante, amhākaṁ appamattānaṁ ātāpīnaṁ pahitattānaṁ viharantānaṁ uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanaviseso adhigato phāsuvihāro”ti.
“Good, good, Anuruddha and friends! But as you live diligently like this, have you achieved any superhuman distinction in knowledge and vision worthy of the noble ones, a comfortable meditation?”
“How could we not, sir? Whenever we want, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, we enter and remain in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected. This is a superhuman distinction in knowledge and vision worthy of the noble ones, a comfortable meditation, that we have achieved while living diligent, keen, and resolute.”
328. – Lành thay, lành thay, này các Anuruddha! Này các Anuruddha, khi các ông sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, các ông có chứng đắc pháp thượng nhân nào, một tri kiến thù thắng xứng bậc Thánh, một sự an trú thoải mái không? – Bạch ngài, tại sao lại không có chứ! Bạch ngài, ở đây, hễ khi nào chúng con muốn, chúng con ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái có tầm có tứ, với hỷ và lạc do ly dục sanh. Bạch ngài, đây chính là pháp thượng nhân, là tri kiến thù thắng xứng bậc Thánh, là sự an trú thoải mái mà chúng con đã chứng đắc khi sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
“Sādhu sādhu, anuruddhā. Etassa pana vo, anuruddhā, vihārassa samatikkamāya etassa vihārassa paṭippassaddhiyā atthañño uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanaviseso adhigato phāsuvihāro”ti?
“Kiñhi no siyā, bhante. Idha mayaṁ, bhante, yāvadeva ākaṅkhāma vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharāma. Etassa, bhante, vihārassa samatikkamāya etassa vihārassa paṭippassaddhiyā ayamañño uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanaviseso adhigato phāsuvihāro”ti.
“Good, good! But have you achieved any other superhuman distinction for going beyond and stilling that meditation?”
“How could we not, sir? Whenever we want, as the placing of the mind and keeping it connected are stilled, we enter and remain in the second absorption, which has the rapture and bliss born of immersion, with internal clarity and mind at one, without placing the mind and keeping it connected. This is another superhuman distinction that we have achieved for going beyond and stilling that meditation.”
– Lành thay, lành thay, này các Anuruddha! Này các Anuruddha, để vượt qua sự an trú này, để làm lắng dịu sự an trú này, các ông có chứng đắc pháp thượng nhân nào khác, một tri kiến thù thắng xứng bậc Thánh, một sự an trú thoải mái không? – Bạch ngài, tại sao lại không có chứ! Bạch ngài, ở đây, hễ khi nào chúng con muốn, chúng con làm cho tầm và tứ lắng dịu, chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái nội tĩnh nhất tâm, không tầm không tứ, với hỷ và lạc do định sanh. Bạch ngài, để vượt qua sự an trú kia, để làm lắng dịu sự an trú kia, đây là pháp thượng nhân khác, là tri kiến thù thắng xứng bậc Thánh, là sự an trú thoải mái mà chúng con đã chứng đắc.
“Sādhu sādhu, anuruddhā. Etassa pana vo, anuruddhā, vihārassa samatikkamāya etassa vihārassa paṭippassaddhiyā atthañño uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanaviseso adhigato phāsuvihāro”ti?
“Kiñhi no siyā, bhante. Idha mayaṁ, bhante, yāvadeva ākaṅkhāma pītiyā ca virāgā upekkhakā ca viharāma, satā ca sampajānā, sukhañca kāyena paṭisaṁvedema, yaṁ taṁ ariyā ācikkhanti: ‘upekkhako satimā sukhavihārī’ti tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharāma. Etassa, bhante, vihārassa samatikkamāya etassa vihārassa paṭippassaddhiyā ayamañño uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanaviseso adhigato phāsuvihāro”ti.
“Good, good! But have you achieved any other superhuman distinction for going beyond and stilling that meditation?”
“How could we not, sir? Whenever we want, with the fading away of rapture, we enter and remain in the third absorption, where we meditate with equanimity, mindful and aware, experiencing for themselves the bliss of which the noble ones declare, ‘Equanimous and mindful, one meditates in bliss.’ This is another superhuman distinction that we have achieved for going beyond and stilling that meditation.”
– Lành thay, lành thay, này các Anuruddha! Này các Anuruddha, để vượt qua sự an trú này, để làm lắng dịu sự an trú này, các ông có chứng đắc pháp thượng nhân nào khác, một tri kiến thù thắng xứng bậc Thánh, một sự an trú thoải mái không? – Bạch ngài, tại sao lại không có chứ! Bạch ngài, ở đây, hễ khi nào chúng con muốn, chúng con ly hỷ, trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là ‘xả niệm lạc trú’, chứng và trú thiền thứ ba. Bạch ngài, để vượt qua sự an trú kia, để làm lắng dịu sự an trú kia, đây là pháp thượng nhân khác, là tri kiến thù thắng xứng bậc Thánh, là sự an trú thoải mái mà chúng con đã chứng đắc.
“Sādhu sādhu, anuruddhā. Etassa pana vo, anuruddhā, vihārassa samatikkamāya etassa vihārassa paṭippassaddhiyā atthañño uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanaviseso adhigato phāsuvihāro”ti?
“Kiñhi no siyā, bhante. Idha mayaṁ, bhante, yāvadeva ākaṅkhāma sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā, pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā, adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharāma. Etassa, bhante, vihārassa samatikkamāya etassa vihārassa paṭippassaddhiyā ayamañño uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanaviseso adhigato phāsuvihāro”ti.
“Good, good! But have you achieved any other superhuman distinction for going beyond and stilling that meditation?”
“How could we not, sir? Whenever we want, with the giving up of pleasure and pain, and the disappearance of former happiness and sadness, we enter and remain in the fourth absorption, without pleasure or pain, with pure equanimity and mindfulness. This is another superhuman distinction that we have achieved for going beyond and stilling that meditation.”
“Lành thay, lành thay, này các Anuruddha! Này các Anuruddha, để vượt qua trạng thái an trú này, để làm lắng dịu trạng thái an trú này, các ngươi có chứng đắc được một trạng thái an trú thoải mái nào khác, siêu việt hơn các pháp của người thường, một tri kiến đặc biệt của bậc Thánh không?” “Bạch Thế Tôn, tại sao lại không có chứ! Bạch Thế Tôn, ở đây, khi nào chúng con muốn, do đã từ bỏ lạc và từ bỏ khổ, do ưu và hỷ đã chấm dứt từ trước, chúng con chứng đạt và an trú vào thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Bạch Thế Tôn, để vượt qua trạng thái an trú này, để làm lắng dịu trạng thái an trú này, chúng con đã chứng đắc được trạng thái an trú thoải mái khác này, siêu việt hơn các pháp của người thường, một tri kiến đặc biệt của bậc Thánh.”
“Sādhu sādhu, anuruddhā. Etassa pana vo, anuruddhā, vihārassa samatikkamāya etassa vihārassa paṭippassaddhiyā atthañño uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanaviseso adhigato phāsuvihāro”ti?
“Kiñhi no siyā, bhante. Idha mayaṁ, bhante, yāvadeva ākaṅkhāma sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharāma. Etassa, bhante, vihārassa samatikkamāya etassa vihārassa paṭippassaddhiyā ayamañño uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanaviseso adhigato phāsuvihāro”ti.
“Good, good! But have you achieved any other superhuman distinction for going beyond and stilling that meditation?”
“How could we not, sir? Whenever we want, going totally beyond perceptions of form, with the disappearance of perceptions of impingement, not focusing on perceptions of diversity, aware that ‘space is infinite’, we enter and remain in the dimension of infinite space. This is another superhuman distinction that we have achieved for going beyond and stilling that meditation.”
“Lành thay, lành thay, này các Anuruddha! Này các Anuruddha, để vượt qua trạng thái an trú này, để làm lắng dịu trạng thái an trú này, các ngươi có chứng đắc được một trạng thái an trú thoải mái nào khác, siêu việt hơn các pháp của người thường, một tri kiến đặc biệt của bậc Thánh không?” “Bạch Thế Tôn, tại sao lại không có chứ! Bạch Thế Tôn, ở đây, khi nào chúng con muốn, do đã vượt qua hoàn toàn các sắc tưởng, do đã chấm dứt các đối ngại tưởng, do không tác ý đến các dị biệt tưởng, với ý niệm ‘hư không là vô biên,’ chúng con chứng đạt và an trú vào Không Vô Biên Xứ. Bạch Thế Tôn, để vượt qua trạng thái an trú này, để làm lắng dịu trạng thái an trú này, chúng con đã chứng đắc được trạng thái an trú thoải mái khác này, siêu việt hơn các pháp của người thường, một tri kiến đặc biệt của bậc Thánh.”
“Sādhu sādhu, anuruddhā. Etassa pana vo, anuruddhā, vihārassa samatikkamāya etassa vihārassa paṭippassaddhiyā atthañño uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanaviseso adhigato phāsuvihāro”ti?
“Kiñhi no siyā, bhante. Idha mayaṁ, bhante, yāvadeva ākaṅkhāma sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja viharāma …pe… sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharāma …pe… sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṁ upasampajja viharāma. Etassa, bhante, vihārassa samatikkamāya etassa vihārassa paṭippassaddhiyā ayamañño uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanaviseso adhigato phāsuvihāro”ti.
“Good, good! But have you achieved any other superhuman distinction for going beyond and stilling that meditation?”
“How could we not, sir? Whenever we want, going totally beyond the dimension of infinite space, aware that ‘consciousness is infinite’, we enter and remain in the dimension of infinite consciousness. … going totally beyond the dimension of infinite consciousness, aware that ‘there is nothing at all’, we enter and remain in the dimension of nothingness. … going totally beyond the dimension of nothingness, we enter and remain in the dimension of neither perception nor non-perception. This is another superhuman distinction that we have achieved for going beyond and stilling that meditation.”
“Lành thay, lành thay, này các Anuruddha! Này các Anuruddha, để vượt qua trạng thái an trú này, để làm lắng dịu trạng thái an trú này, các ngươi có chứng đắc được một trạng thái an trú thoải mái nào khác, siêu việt hơn các pháp của người thường, một tri kiến đặc biệt của bậc Thánh không?” “Bạch Thế Tôn, tại sao lại không có chứ! Bạch Thế Tôn, ở đây, khi nào chúng con muốn, do đã vượt qua hoàn toàn Không Vô Biên Xứ, với ý niệm ‘thức là vô biên,’ chúng con chứng đạt và an trú vào Thức Vô Biên Xứ... (vân vân)... do đã vượt qua hoàn toàn Thức Vô Biên Xứ, với ý niệm ‘không có gì cả,’ chúng con chứng đạt và an trú vào Vô Sở Hữu Xứ... (vân vân)... do đã vượt qua hoàn toàn Vô Sở Hữu Xứ, chúng con chứng đạt và an trú vào Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Bạch Thế Tôn, để vượt qua trạng thái an trú này, để làm lắng dịu trạng thái an trú này, chúng con đã chứng đắc được trạng thái an trú thoải mái khác này, siêu việt hơn các pháp của người thường, một tri kiến đặc biệt của bậc Thánh.”
“Sādhu sādhu, anuruddhā. Etassa pana vo, anuruddhā, vihārassa samatikkamāya etassa vihārassa paṭippassaddhiyā atthañño uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanaviseso adhigato phāsuvihāro”ti?
“Kiñhi no siyā, bhante. Idha mayaṁ, bhante, yāvadeva ākaṅkhāma sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja viharāma, paññāya ca no disvā āsavā parikkhīṇā. Etassa, bhante, vihārassa samatikkamāya etassa vihārassa paṭippassaddhiyā ayamañño uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanaviseso adhigato phāsuvihāro. Imamhā ca mayaṁ, bhante, phāsuvihārā aññaṁ phāsuvihāraṁ uttaritaraṁ vā paṇītataraṁ vā na samanupassāmā”ti.
“Sādhu sādhu, anuruddhā. Imamhā phāsuvihārā uttaritaro vā paṇītataro vā phāsuvihāro natthī”ti.
“Good, good! But have you achieved any other superhuman distinction for going beyond and stilling that meditation?”
“How could we not, sir? Whenever we want, going totally beyond the dimension of neither perception nor non-perception, we enter and remain in the cessation of perception and feeling. And, having seen with wisdom, our defilements have come to an end. This is another superhuman distinction in knowledge and vision worthy of the noble ones, a comfortable meditation, that we have achieved for going beyond and stilling that meditation. And we don’t see any better or finer way of meditating comfortably than this.”
“Good, good! There is no better or finer way of meditating comfortably than this.”
329. “Lành thay, lành thay, này các Anuruddha! Này các Anuruddha, để vượt qua trạng thái an trú này, để làm lắng dịu trạng thái an trú này, các ngươi có chứng đắc được một trạng thái an trú thoải mái nào khác, siêu việt hơn các pháp của người thường, một tri kiến đặc biệt của bậc Thánh không?” “Bạch Thế Tôn, tại sao lại không có chứ! Bạch Thế Tôn, ở đây, khi nào chúng con muốn, do đã vượt qua hoàn toàn Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, chúng con chứng đạt và an trú vào Diệt Thọ Tưởng Định, và do đã thấy bằng trí tuệ, các lậu hoặc của chúng con đã được đoạn tận. Bạch Thế Tôn, để vượt qua trạng thái an trú này, để làm lắng dịu trạng thái an trú này, chúng con đã chứng đắc được trạng thái an trú thoải mái khác này, siêu việt hơn các pháp của người thường, một tri kiến đặc biệt của bậc Thánh. Và bạch Thế Tôn, ngoài trạng thái an trú thoải mái này, chúng con không thấy có trạng thái an trú thoải mái nào khác cao thượng hơn hay vi diệu hơn.” “Lành thay, lành thay, này các Anuruddha! Ngoài trạng thái an trú thoải mái này, không có trạng thái an trú thoải mái nào khác cao thượng hơn hay vi diệu hơn.”
Atha kho bhagavā āyasmantañca anuruddhaṁ āyasmantañca nandiyaṁ āyasmantañca kimilaṁ dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
Atha kho āyasmā ca anuruddho āyasmā ca nandiyo āyasmā ca kimilo bhagavantaṁ anusaṁyāyitvā tato paṭinivattitvā āyasmā ca nandiyo āyasmā ca kimilo āyasmantaṁ anuruddhaṁ etadavocuṁ: “kiṁ nu kho mayaṁ āyasmato anuruddhassa evamārocimha: ‘imāsañca imāsañca vihārasamāpattīnaṁ mayaṁ lābhino’ti, yaṁ no āyasmā anuruddho bhagavato sammukhā yāva āsavānaṁ khayā pakāsetī”ti?
“Na kho me āyasmanto evamārocesuṁ: ‘imāsañca imāsañca vihārasamāpattīnaṁ mayaṁ lābhino’ti, api ca me āyasmantānaṁ cetasā ceto paricca vidito: ‘imāsañca imāsañca vihārasamāpattīnaṁ ime āyasmanto lābhino’ti. Devatāpi me etamatthaṁ ārocesuṁ: ‘imāsañca imāsañca vihārasamāpattīnaṁ ime āyasmanto lābhino’ti. Tamenaṁ bhagavatā pañhābhipuṭṭhena byākatan”ti.
Then the Buddha educated, encouraged, fired up, and inspired the venerables Anuruddha, Nandiya, and Kimbila with a Dhamma talk, after which he rose from his seat and left.
The venerables then accompanied the Buddha for a little way before turning back. Nandiya and Kimbila said to Anuruddha, “Did we ever tell you that we had gained such and such meditations and attainments, up to the ending of defilements, as you revealed to the Buddha?”
“The venerables did not tell me that they had gained such meditations and attainments. But I discovered it by encompassing your minds, and deities also told me. I answered when the Buddha directly asked about it.”
330. Khi ấy, sau khi đã chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, và làm cho hoan hỷ Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Nandiya, và Tôn giả Kimila bằng một bài pháp thoại, Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy rồi ra đi. Khi ấy, Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Nandiya, và Tôn giả Kimila sau khi đã đi theo tiễn Thế Tôn một đoạn rồi quay trở lại, Tôn giả Nandiya và Tôn giả Kimila đã nói điều này với Tôn giả Anuruddha: “Thưa Tôn giả, có phải chúng tôi đã từng nói với Tôn giả Anuruddha rằng: ‘Chúng tôi là những người đã chứng đắc các định an trú này và này’ không, mà Tôn giả Anuruddha đã tuyên bố trước mặt Thế Tôn cho đến cả sự đoạn tận các lậu hoặc của chúng tôi?” “Thưa các Tôn giả, các ngài đã không nói với tôi rằng: ‘Chúng tôi là những người đã chứng đắc các định an trú này và này.’ Tuy nhiên, với tâm của mình, tôi đã thấu hiểu tâm của các Tôn giả và biết rằng: ‘Các Tôn giả này là những người đã chứng đắc các định an trú này và này.’ Chư thiên cũng đã báo cho tôi biết điều này rằng: ‘Các Tôn giả này là những người đã chứng đắc các định an trú này và này.’ Và điều ấy đã được trả lời khi được Thế Tôn hỏi đến.”
Atha kho dīgho parajano yakkho yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho dīgho parajano yakkho bhagavantaṁ etadavoca: “lābhā vata, bhante, vajjīnaṁ, suladdhalābhā vajjipajāya, yattha tathāgato viharati arahaṁ sammāsambuddho, ime ca tayo kulaputtā—āyasmā ca anuruddho, āyasmā ca nandiyo, āyasmā ca kimilo”ti.
Dīghassa parajanassa yakkhassa saddaṁ sutvā bhummā devā saddamanussāvesuṁ: “lābhā vata, bho, vajjīnaṁ, suladdhalābhā vajjipajāya, yattha tathāgato viharati arahaṁ sammāsambuddho, ime ca tayo kulaputtā—āyasmā ca anuruddho, āyasmā ca nandiyo, āyasmā ca kimilo”ti.
Bhummānaṁ devānaṁ saddaṁ sutvā cātumahārājikā devā …pe… tāvatiṁsā devā …pe… yāmā devā …pe… tusitā devā …pe… nimmānaratī devā …pe… paranimmitavasavattī devā …pe… brahmakāyikā devā saddamanussāvesuṁ: “lābhā vata, bho, vajjīnaṁ, suladdhalābhā vajjipajāya, yattha tathāgato viharati arahaṁ sammāsambuddho, ime ca tayo kulaputtā—āyasmā ca anuruddho, āyasmā ca nandiyo, āyasmā ca kimilo”ti.
Itiha te āyasmanto tena khaṇena tena layena tena muhuttena yāva brahmalokā viditā ahesuṁ.
Then the native spirit Dīgha Parajana went up to the Buddha, bowed, stood to one side, and said to him, “The Vajjis are lucky! The Vajjian people are so very lucky that the Realized One, the perfected one, the fully awakened Buddha stays there, as well as these three gentlemen, the venerables Anuruddha, Nandiya, and Kimbila.”
Hearing the cry of Dīgha Parajana, the earth gods raised the cry …
Hearing the cry of the earth gods, the gods of the four great kings … the gods of the thirty-three … the gods of Yama … the joyful gods … the gods who love to create … the gods who control what is created by others … the gods of the Divinity’s host raised the cry, “The Vajjis are lucky! The Vajjian people are so very lucky that the Realized One, the perfected one, the fully awakened Buddha stays there, as well as these three gentlemen, the venerables Anuruddha, Nandiya, and Kimbila.”
And so at that moment, that second, that hour, those venerables were known as far as the realm of divinity.
331. Bấy giờ, dạ-xoa Dīgha Parajano đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng sang một bên. Sau khi đã đứng sang một bên, dạ-xoa Dīgha Parajano đã bạch với đức Thế Tôn điều này: – “Bạch ngài, thật là lợi ích cho dân Vajjī, thật là lợi ích lớn lao cho dân chúng Vajjī, nơi mà đức Như Lai, bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Giác đang trú ngụ, và cả ba vị thiện gia nam tử này – Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Nandiya, và Tôn giả Kimila.” Sau khi nghe tiếng của dạ-xoa Dīgha Parajano, các vị Địa thiên đã loan truyền âm thanh ấy: – ‘Chư vị ơi, thật là lợi ích cho dân Vajjī, thật là lợi ích lớn lao cho dân chúng Vajjī, nơi mà đức Như Lai, bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Giác đang trú ngụ, và cả ba vị thiện gia nam tử này – Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Nandiya, và Tôn giả Kimila.’ Sau khi nghe tiếng của các vị Địa thiên, các vị trời ở cõi Tứ Đại Thiên Vương... (như trên)... các vị trời ở cõi Ba Mươi Ba... (nt)... các vị trời ở cõi Dạ Ma... (nt)... các vị trời ở cõi Đâu Suất... (nt)... các vị trời ở cõi Hóa Lạc... (nt)... các vị trời ở cõi Tha Hóa Tự Tại... (nt)... các vị trời thuộc Phạm chúng thiên đã loan truyền âm thanh ấy: – ‘Chư vị ơi, thật là lợi ích cho dân Vajjī, thật là lợi ích lớn lao cho dân chúng Vajjī, nơi mà đức Như Lai, bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Giác đang trú ngụ, và cả ba vị thiện gia nam tử này – Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Nandiya, và Tôn giả Kimila.’ Như vậy, trong khoảnh khắc ấy, trong chốc lát ấy, trong sát-na ấy, các Tôn giả ấy đã được biết đến cho đến cõi Phạm thiên.
“Evametaṁ, dīgha, evametaṁ, dīgha. Yasmāpi, dīgha, kulā ete tayo kulaputtā agārasmā anagāriyaṁ pabbajitā, tañcepi kulaṁ ete tayo kulaputte pasannacittaṁ anussareyya, tassapāssa kulassa dīgharattaṁ hitāya sukhāya. Yasmāpi, dīgha, kulaparivaṭṭā ete tayo kulaputtā agārasmā anagāriyaṁ pabbajitā, so cepi kulaparivaṭṭo ete tayo kulaputte pasannacitto anussareyya, tassapāssa kulaparivaṭṭassa dīgharattaṁ hitāya sukhāya. Yasmāpi, dīgha, gāmā ete tayo kulaputtā agārasmā anagāriyaṁ pabbajitā, so cepi gāmo ete tayo kulaputte pasannacitto anussareyya, tassapāssa gāmassa dīgharattaṁ hitāya sukhāya. Yasmāpi, dīgha, nigamā ete tayo kulaputtā agārasmā anagāriyaṁ pabbajitā, so cepi nigamo ete tayo kulaputte pasannacitto anussareyya, tassapāssa nigamassa dīgharattaṁ hitāya sukhāya. Yasmāpi, dīgha, nagarā ete tayo kulaputtā agārasmā anagāriyaṁ pabbajitā, tañcepi nagaraṁ ete tayo kulaputte pasannacittaṁ anussareyya, tassapāssa nagarassa dīgharattaṁ hitāya sukhāya. Yasmāpi, dīgha, janapadā ete tayo kulaputtā agārasmā anagāriyaṁ pabbajitā, so cepi janapado ete tayo kulaputte pasannacitto anussareyya, tassapāssa janapadassa dīgharattaṁ hitāya sukhāya. Sabbe cepi, dīgha, khattiyā ete tayo kulaputte pasannacittā anussareyyuṁ, sabbesānampāssa khattiyānaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya. Sabbe cepi, dīgha, brāhmaṇā …pe… sabbe cepi, dīgha, vessā …pe… sabbe cepi, dīgha, suddā ete tayo kulaputte pasannacittā anussareyyuṁ, sabbesānampāssa suddānaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya.
Sadevako cepi, dīgha, loko samārako sabrahmako sassamaṇabrāhmaṇī pajā sadevamanussā ete tayo kulaputte pasannacittā anussareyya, sadevakassapāssa lokassa samārakassa sabrahmakassa sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya dīgharattaṁ hitāya sukhāya.
Passa, dīgha, yāva ete tayo kulaputtā bahujanahitāya paṭipannā bahujanasukhāya lokānukampāya, atthāya hitāya sukhāya devamanussānan”ti.
“That’s so true, Dīgha! That’s so true! If the family from which those three gentlemen went forth from the lay life to homelessness were to recollect those venerables with confident heart, that would be for that family’s lasting welfare and happiness. If the family circle … village … town … city … country … all the aristocrats … all the brahmins … all the peasants … all the workers were to recollect those venerables with confident heart, that would be for all those menials’ lasting welfare and happiness.
If the whole world—with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, gods and humans—were to recollect those venerables with confident heart, that would be for the whole world’s lasting welfare and happiness.
See, Dīgha, how those three gentlemen are practicing for the welfare and happiness of the people, out of sympathy for the world, for the benefit, welfare, and happiness of gods and humans!”
– Này Dīgha, đúng là như vậy! Này Dīgha, đúng là như vậy! Này Dīgha, ba vị thiện gia nam tử này đã xuất gia từ bỏ gia đình từ gia tộc nào, nếu gia tộc ấy với tâm tịnh tín mà tưởng nhớ đến ba vị thiện gia nam tử này, điều ấy sẽ là vì lợi ích, vì hạnh phúc lâu dài cho gia tộc ấy. Này Dīgha, ba vị thiện gia nam tử này đã xuất gia từ bỏ gia đình từ dòng họ nào, nếu dòng họ ấy với tâm tịnh tín mà tưởng nhớ đến ba vị thiện gia nam tử này, điều ấy sẽ là vì lợi ích, vì hạnh phúc lâu dài cho dòng họ ấy. Này Dīgha, ba vị thiện gia nam tử này đã xuất gia từ bỏ gia đình từ ngôi làng nào, nếu ngôi làng ấy với tâm tịnh tín mà tưởng nhớ đến ba vị thiện gia nam tử này, điều ấy sẽ là vì lợi ích, vì hạnh phúc lâu dài cho ngôi làng ấy. Này Dīgha, ba vị thiện gia nam tử này đã xuất gia từ bỏ gia đình từ thị trấn nào, nếu thị trấn ấy với tâm tịnh tín mà tưởng nhớ đến ba vị thiện gia nam tử này, điều ấy sẽ là vì lợi ích, vì hạnh phúc lâu dài cho thị trấn ấy. Này Dīgha, ba vị thiện gia nam tử này đã xuất gia từ bỏ gia đình từ thành phố nào, nếu thành phố ấy với tâm tịnh tín mà tưởng nhớ đến ba vị thiện gia nam tử này, điều ấy sẽ là vì lợi ích, vì hạnh phúc lâu dài cho thành phố ấy. Này Dīgha, ba vị thiện gia nam tử này đã xuất gia từ bỏ gia đình từ xứ sở nào, nếu xứ sở ấy với tâm tịnh tín mà tưởng nhớ đến ba vị thiện gia nam tử này, điều ấy sẽ là vì lợi ích, vì hạnh phúc lâu dài cho xứ sở ấy. Này Dīgha, nếu tất cả các vị Sát-đế-lỵ với tâm tịnh tín mà tưởng nhớ đến ba vị thiện gia nam tử này, điều ấy sẽ là vì lợi ích, vì hạnh phúc lâu dài cho tất cả các vị Sát-đế-lỵ ấy. Này Dīgha, nếu tất cả các vị Bà-la-môn... (nt)... Này Dīgha, nếu tất cả các vị Phệ-xá... (nt)... Này Dīgha, nếu tất cả các vị Thủ-đà-la với tâm tịnh tín mà tưởng nhớ đến ba vị thiện gia nam tử này, điều ấy sẽ là vì lợi ích, vì hạnh phúc lâu dài cho tất cả các vị Thủ-đà-la ấy. Này Dīgha, nếu thế giới này cùng với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, cùng với loài trời và loài người với tâm tịnh tín mà tưởng nhớ đến ba vị thiện gia nam tử này, điều ấy sẽ là vì lợi ích, vì hạnh phúc lâu dài cho thế giới ấy cùng với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, cho chúng Sa-môn, Bà-la-môn, cho loài trời và loài người. Này Dīgha, hãy xem, ba vị thiện gia nam tử này đã thực hành vì lợi ích của nhiều người, vì hạnh phúc của nhiều người, vì lòng thương tưởng thế gian, vì mục đích, vì lợi ích, vì hạnh phúc của chư Thiên và loài người.
Idamavoca bhagavā. Attamano dīgho parajano yakkho bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
That is what the Buddha said. Satisfied, the native spirit Dīgha Parajana approved what the Buddha said.
Đức Thế Tôn đã nói điều này. Dạ-xoa Dīgha Parajano với tâm hoan hỷ đã vui mừng về lời dạy của đức Thế Tôn.
Cūḷagosiṅgasuttaṁ niṭṭhitaṁ paṭhamaṁ.
Kinh Tiểu Gosiṅga, bài kinh thứ nhất, đã kết thúc.