- Majjhima Nikāya 30
Cūḷasāropamasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Cūḷasāropamasutta
Như vầy tôi nghe:
SC 1Một thời Thế Tôn trú tại Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).
SC 2Rồi Bà-la-môn Pingalakoccha đi đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến nói lên với Thế Tôn những lời hỏi thăm, chúc tụng xã giao, rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Pingalakoccha bạch Thế Tôn
SC 3—Tôn giả Gotama, có những Sa-môn, Bà-la-môn này là vị Hội chủ, vị Giáo trưởng, vị Sư trưởng Giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khi Tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng, như Purāna Kassapa, Makkhali Gosāla, Ajita Kesakambali, Pakudha Kaccāyana, Sanjaya Bellaṭṭhiputta, Nigaṇṭha Nātaputta, tất cả những vị này tự xưng là nhứt thiết trí hay tất cả không phải là nhứt thiết trí, hay một số là nhứt thiết trí và một số không phải nhứt thiết trí?
SC 4—Thôi vừa rồi, này Bà-la-môn, hãy dừng lại ở đây: “Tất cả những vị này tự xưng là nhứt thiết trí hay tất cả không phải là nhứt thiết trí? Hay một số là nhứt thiết trí và một số không phải nhứt thiết trí?” Này Bà-la-môn, Ta sẽ thuyết pháp cho Ông, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.
—Thưa vâng, Tôn giả.
SC 5Bà-la-môn Pingalakoccha vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn thuyết giảng như sau
SC 6—Này Bà-la-môn, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, bỏ qua vỏ ngoài, chặt cành lá, lấy chúng mang đi và tưởng rằng đó là lõi cây. Một người có mắt thấy vậy bèn nói: “Thật sự người này không biết lõi cây, không biết giác cây, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá. Người này muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng có lõi cây, người này bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, bỏ qua vỏ ngoài, chặt cành lá lấy chúng mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Và người này không đạt mục đích mà lõi cây có thể thành tựu”.
SC 7Này Bà-la-môn, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, chặt vỏ ngoài, lấy chúng mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Một người có mắt thấy vậy bèn nói: “Thật sự người này không biết lõi cây, không biết giác cây, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá. Người này muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người này bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, chặt vỏ ngoài, lấy chúng mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Và người này không đạt mục đích mà lõi cây có thể thành tựu”.
SC 8Này Bà-la-môn, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, chặt vỏ trong, lấy chúng mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Một người có mắt thấy vậy bèn nói: “Thật sự người này không biết lõi cây, không biết giác cây, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá. Người này muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người này bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, chặt vỏ trong mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Và người này không đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành tựu”.
SC 9Này Bà-la-môn, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, chặt giác cây mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Một người có mắt thấy vậy bèn nói: “Thật sự người này không biết lõi cây, không biết giác cây, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá. Người này muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người này bỏ qua lõi cây, chặt giác cây mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Và người này không đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành tựu”.
SC 10Này Bà-la-môn, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn đứng thẳng, có lõi cây, người ấy chặt lõi cây, mang đi và biết rằng đó là lõi cây. Một người có mắt thấy vậy, có thể nói: “Người này biết lõi cây, biết giác cây, biết vỏ trong, biết vỏ ngoài, biết cành lá. Người này muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy chặt lõi cây, mang đi và biết rằng đó là lõi cây. Và người này đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành tựu”.
SC 11Cũng vậy, này Bà-la-môn, ở đây, có người do lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: “Ta bị chìm đắm trong sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, bị chìm đắm trong đau khổ, bị chi phối bởi đau khổ, Rất có thể toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt”. Vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Do lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, vị ấy hoan hỷ, tự mãn. Do lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, vị ấy khen mình, chê người: “Ta được lợi dưỡng như vậy, được danh vọng như vậy, còn các Tỷ-kheo khác ít được biết đến, ít có uy quyền”. Và vị ấy không phát khởi lòng ao ước và không cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn những lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy trở thành biếng nhác và thụ động. Này Bà-la-môn, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, bỏ qua vỏ ngoài, chặt cành lá, lấy chúng mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Và người ấy sẽ không đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành tựu. Này Bà-la-môn, Ta nói rằng người này giống như ví dụ ấy.
SC 12Nhưng ở đây, này Bà-la-môn, có người vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: “Ta bị chìm đắm trong sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, bị chìm đắm trong đau khổ, bi chi phối bởi đau khổ. Rất có thể toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt”. Rồi vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, hoan hỷ, tự mãn. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, khen mình, chê người. Và vị ấy phát khởi lòng ao ước và cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn những lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy không trở thành biếng nhác và thụ động. Vị ấy thành tựu giới đức. Vì thành tựu giới đức này, vị ấy hoan hỷ, tự mãn. Vì thành tựu giới đức này, vị ấy khen mình, chê người: “Ta trì giới, theo thiện pháp. Các Tỷ-kheo khác phá giới, theo ác pháp”. Và vị ấy không phát khởi lòng ao ước và không cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn giới đức. Vị ấy trở thành biếng nhác và thụ động. Này Bà-la-môn, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, chặt lấy vỏ ngoài, lấy chúng mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Và người này sẽ không đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành tựu. Này Bà-la-môn, Ta nói rằng người này giống như ví dụ ấy.
SC 13Nhưng ở đây, này Bà-la-môn, có người vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: “Ta bị chìm đắm trong sanh, già, chết, sầu bi, khổ, ưu, não, bị chìm đắm trong đau khổ, bị chi phối bởi đau khổ. Rất có thể toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt”. Rồi vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy, không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, hoan hỷ, tự mãn. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, khen mình, chê người. Và vị ấy phát khởi lòng ao ước và cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn những lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy không trở thành biếng nhác và thụ động. Vị ấy thành tựu giới đức. Vì thành tựu giới đức này, vị ấy hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không vì thành tựu giới đức này, khen mình, chê người. Và vị ấy phát khởi lòng ao ước và cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn giới đức. Vị ấy không trở thành biếng nhác và thụ động. Vị ấy thành tựu Thiền định. Do thành tựu Thiền định này, vị ấy hoan hỷ, tự mãn. Do thành tựu Thiền định này, vị ấy khen mình, chê người: “Ta có Thiền định, nhứt tâm. Các Tỷ-kheo khác không có Thiền định, tâm bị phân tán”. Và vị ấy không phát khởi lòng ao ước và không cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn sự thành tựu Thiền định. Vị ấy trở thành biếng nhác và thụ động. Này Bà-la-môn, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, chặt vỏ trong, lấy vỏ trong mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Và người này sẽ không đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành tựu. Này Bà-la-môn, Ta nói rằng người này giống như ví dụ ấy.
SC 14Nhưng ở đây, này Bà-la-môn, có người vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: “Ta bị chìm đắm trong sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, bị chìm đắm trong đau khổ, bị chi phối bởi đau khổ. Rất có thể toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt”. Rồi vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy, không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, hoan hỷ, tự mãn. Vị ấy, không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, khen mình, chê người. Và vị ấy phát khởi lòng ao ước và cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn những lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy không trở thành biếng nhác và thụ động. Vị ấy thành tựu giới đức. Do thành tựu giới này, vị ấy hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không do thành tựu giới đức này, khen mình, chê người. Vị ấy phát khởi lòng ao ước và tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn sự thành tựu giới đức. Vị ấy không trở thành biếng nhác và thụ động. Vị ấy thành tựu Thiền định. Vì thành tựu Thiền định này, vị ấy hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không do thành tựu Thiền định này khen mình, chê người. Vị ấy phát khởi lòng ao ước và cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn sự thành tựu Thiền định. Vị ấy không trở thành biếng nhác và thụ động. Vị ấy thành tựu tri kiến. Vị ấy, do tri kiến này, hoan hỷ tự mãn. Vị ấy, do tri kiến này, khen mình, chê người: “Ta sống, thấy và biết. Các Tỷ-kheo khác sống không thấy và không biết”. Và vị ấy không phát khởi lòng ao ước và không cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến. Vị ấy trở thành biếng nhác và thụ động. Này Bà-la-môn, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, chặt giác cây mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Và người này sẽ không đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành tựu. Này Bà-la-môn, Ta nói rằng người này giống ví dụ ấy.
SC 15Nhưng ở đây, này Bà-la-môn, có người vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: “Ta bị chìm đắm trong sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, bị chìm đắm trong đau khổ, bị chi phối bởi đau khổ. Rất có thể toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt”. Do vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, hoan hỷ, tự mãn. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, khen mình chê người. Và vị ấy phát khởi lòng ao ước và cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn những lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy không trở thành biếng nhác và thụ động. Vị ấy thành tựu giới đức. Do thành tựu giới đức này, vị ấy hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không do thành tựu giới đức này, khen mình, chê người. Và vị ấy phát khởi lòng ao ước và cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn sự thành tựu giới đức. Vị ấy không trở thành biếng nhác và thụ động. Vị ấy thành tựu Thiền định. Do thành tựu Thiền định, vị ấy hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không do thành tựu Thiền định, khen mình, chê người. Vị ấy phát khởi lòng ao ước và tinh tấn, chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn sự thành tựu Thiền định. Vị ấy không trở thành biếng nhác và thụ động. Vị ấy thành tựu tri kiến. Vị ấy do tri kiến này hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không do tri kiến này, khen mình, chê người. Vị ấy phát khởi lòng ao ước, cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến. Vị ấy không trở thành biếng nhác và thụ động.
SC 16Và này Bà-la-môn, những pháp gì cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến?
SC 17Ở đây, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo ly dục, ly pháp bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc, do ly dục sanh, có tầm có tứ. Này Bà-la-môn, pháp này cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến.
SC 18Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh, nhất tâm. Này Bà-la-môn, pháp này cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến.
SC 19Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Này Bà-la-môn, pháp này cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến.
SC 20Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này Bà-la-môn, pháp này cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến.
SC 21Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo vượt lên mọi sắc tưởng, diệt trừ mọi chướng ngại tưởng, Tỷ-kheo nghĩ rằng: “Hư không là vô biên”, chứng và trú Không vô biên xứ. Này Bà-la-môn, pháp này cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến.
SC 22Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo vượt lên mọi Không vô biên xứ, nghĩ rằng: “Thức là vô biên”, chứng và trú Thức vô biên xứ. Này Bà-la-môn, pháp này cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến.
SC 23Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo vượt lên mọi Thức vô biên xứ, nghĩ rằng: “Không có vật gì”, chứng và trú Vô sở hữu xứ. Này Bà-la-môn, pháp này cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến.
SC 24Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo vượt mọi Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng Phi phi tưởng xứ. Này Bà-la-môn, pháp này cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến.
SC 25Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo vượt lên mọi Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và trú Diệt thọ tưởng (định), sau khi thấy với trí tuệ, các lậu hoặc được đoạn trừ. Này Bà-la-môn, pháp này cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến. Này Bà-la-môn, các pháp này cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến.
SC 26Này Bà-la-môn, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy chặt lõi cây, lấy và mang đi và tự biết đó là lõi cây. Và người ấy đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành tựu. Này Bà-la-môn, Ta nói rằng người này giống như ví dụ ấy.
SC 27Như vậy, này Bà-la-môn, phạm hạnh này không phải vì lợi ích, lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng, không phải vì lợi ích thành tựu giới đức, không phải vì lợi ích thành tựu Thiền định, không phải vì lợi ích tri kiến. Và này Bà-la-môn, tâm giải thoát bất động chính là mục đích của phạm hạnh này, là lõi cây của phạm hạnh, là mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh.
SC 28Khi nghe nói vậy, Bà-la-môn Pingalakoccha bạch Thế Tôn
SC 29—Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh Pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày. Và nay con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp, quy y Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 11–04-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
10. Kinh Tiểu Dụ Lõi Cây
Atha kho piṅgalakoccho brāhmaṇo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho piṅgalakoccho brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca:
“yeme, bho gotama, samaṇabrāhmaṇā saṅghino gaṇino gaṇācariyā ñātā yasassino titthakarā sādhusammatā, bahujanassa, seyyathidaṁ—pūraṇo kassapo, makkhali gosālo, ajito kesakambalo, pakudho kaccāyano, sañcayo belaṭṭhaputto, nigaṇṭho nāṭaputto, sabbete sakāya paṭiññāya abbhaññaṁsu sabbeva nābbhaññaṁsu, udāhu ekacce abbhaññaṁsu ekacce nābbhaññaṁsū”ti?
“Alaṁ, brāhmaṇa, tiṭṭhatetaṁ—sabbete sakāya paṭiññāya abbhaññaṁsu sabbeva nābbhaññaṁsu, udāhu ekacce abbhaññaṁsu ekacce nābbhaññaṁsūti. Dhammaṁ te, brāhmaṇa, desessāmi, taṁ suṇāhi, sādhukaṁ manasi karohi, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bho”ti kho piṅgalakoccho brāhmaṇo bhagavato paccassosi. Bhagavā etadavoca:
Then the brahmin Piṅgalakoccha went up to the Buddha, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to the Buddha:
“Worthy Gotama, there are those ascetics and brahmins who lead an order and a community, and tutor a community. They’re well-known and famous religious founders, deemed holy by many people. Namely: Pūraṇa Kassapa, the bamboo-staffed ascetic Gosāla, Ajita of the hair blanket, Pakudha Kaccāyana, Sañjaya Belaṭṭhiputta, and the Jain ascetic of the Ñātika clan. According to their own claims, did all of them have direct knowledge, or none of them, or only some?”
“Enough, brahmin, let this be: ‘According to their own claims, did all of them have direct knowledge, or none of them, or only some?’ I will teach you the Dhamma. Listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, worthy sir,” Piṅgalakoccha replied. The Buddha said this:
312. Tôi nghe như vầy. Một thời, đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī, trong khu vườn của ông Anāthapiṇḍika, tại Jetavana. Lúc bấy giờ, bà-la-môn Piṅgalakoccha đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, đã cùng đức Thế Tôn nói lên lời chào mừng. Sau khi trao đổi những lời chào mừng thân hữu, đáng ghi nhớ, ông ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, bà-la-môn Piṅgalakoccha bạch với đức Thế Tôn rằng: ‘Thưa ngài Gotama, có những sa-môn, bà-la-môn này là những vị có đoàn thể, có giáo chúng, là giáo chủ, nổi tiếng, có danh vọng, là người sáng lập giáo phái, được nhiều người xem là bậc thiện trí, đó là: Pūraṇa Kassapa, Makkhali Gosāla, Ajita Kesakambala, Pakudha Kaccāyana, Sañcaya Belaṭṭhaputta, Nigaṇṭha Nāṭaputta. Tất cả các vị ấy, theo như lời tự nhận của họ, đã chứng ngộ, hay tất cả đều không chứng ngộ, hay là có một số vị đã chứng ngộ và một số vị không chứng ngộ?’ ‘Thôi đi, này bà-la-môn, hãy để câu hỏi ấy qua một bên: “Tất cả các vị ấy, theo như lời tự nhận của họ, đã chứng ngộ, hay tất cả đều không chứng ngộ, hay là có một số vị đã chứng ngộ và một số vị không chứng ngộ?” Này bà-la-môn, Ta sẽ thuyết pháp cho ông, hãy lắng nghe, hãy khéo tác ý, Ta sẽ nói.’ ‘Vâng, thưa ngài.’ Bà-la-môn Piṅgalakoccha đã vâng đáp đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn đã nói điều này:
“Seyyathāpi, brāhmaṇa, puriso sāratthiko sāragavesī sārapariyesanaṁ caramāno mahato rukkhassa tiṭṭhato sāravato atikkammeva sāraṁ atikkamma phegguṁ atikkamma tacaṁ atikkamma papaṭikaṁ, sākhāpalāsaṁ chetvā ādāya pakkameyya ‘sāran’ti maññamāno. Tamenaṁ cakkhumā puriso disvā evaṁ vadeyya: ‘na vatāyaṁ bhavaṁ puriso aññāsi sāraṁ, na aññāsi phegguṁ, na aññāsi tacaṁ, na aññāsi papaṭikaṁ, na aññāsi sākhāpalāsaṁ. Tathā hayaṁ bhavaṁ puriso sāratthiko sāragavesī sārapariyesanaṁ caramāno mahato rukkhassa tiṭṭhato sāravato atikkammeva sāraṁ atikkamma phegguṁ atikkamma tacaṁ atikkamma papaṭikaṁ, sākhāpalāsaṁ chetvā ādāya pakkanto “sāran”ti maññamāno. Yañcassa sārena sārakaraṇīyaṁ tañcassa atthaṁ nānubhavissatī’ti.
“Suppose there was a person in need of heartwood. And while wandering in search of heartwood he’d come across a large tree standing with heartwood. But, passing over the heartwood, softwood, bark, and shoots, he’d cut off the branches and leaves and leave imagining they were heartwood. If a person with clear eyes saw him they’d say: ‘This gentleman doesn’t know what heartwood, softwood, bark, shoots, or branches and leaves are. That’s why he passed them over, cut off the branches and leaves, and left imagining they were heartwood. Whatever he needs to make from heartwood, he won’t succeed.’
313. ‘Này bà-la-môn, ví như một người cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, đi tìm lõi cây, đối với một cây lớn, đứng thẳng, có lõi, lại bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, bỏ qua vỏ ngoài, rồi chặt lấy cành lá, mang đi và nghĩ rằng: ‘Đây là lõi cây’. Một người có mắt, sau khi thấy người ấy, có thể nói như sau: ‘Vị này quả thật đã không biết lõi cây, không biết giác cây, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá. Do vậy, vị này, trong khi cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, đi tìm lõi cây, đối với một cây lớn, đứng thẳng, có lõi, đã bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, bỏ qua vỏ ngoài, rồi chặt lấy cành lá, mang đi và nghĩ rằng: “Đây là lõi cây”. Và mục đích cần phải thực hiện với lõi cây, mục đích ấy vị ấy sẽ không đạt được.’
Seyyathāpi vā pana, brāhmaṇa, puriso sāratthiko sāragavesī sārapariyesanaṁ caramāno mahato rukkhassa tiṭṭhato sāravato atikkammeva sāraṁ atikkamma phegguṁ atikkamma tacaṁ, papaṭikaṁ chetvā ādāya pakkameyya ‘sāran’ti maññamāno. Tamenaṁ cakkhumā puriso disvā evaṁ vadeyya: ‘na vatāyaṁ bhavaṁ puriso aññāsi sāraṁ, na aññāsi phegguṁ, na aññāsi tacaṁ, na aññāsi papaṭikaṁ, na aññāsi sākhāpalāsaṁ. Tathā hayaṁ bhavaṁ puriso sāratthiko sāragavesī sārapariyesanaṁ caramāno mahato rukkhassa tiṭṭhato sāravato atikkammeva sāraṁ atikkamma phegguṁ atikkamma tacaṁ papaṭikaṁ chetvā ādāya pakkanto “sāran”ti maññamāno. Yañcassa sārena sārakaraṇīyaṁ tañcassa atthaṁ nānubhavissatī’ti.
Suppose there was another person in need of heartwood … he’d cut off the shoots and leave imagining they were heartwood …
314. ‘Hoặc nữa, này bà-la-môn, ví như một người cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, đi tìm lõi cây, đối với một cây lớn, đứng thẳng, có lõi, lại bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, rồi chặt lấy vỏ ngoài, mang đi và nghĩ rằng: ‘Đây là lõi cây’. Một người có mắt, sau khi thấy người ấy, có thể nói như sau: ‘Vị này quả thật đã không biết lõi cây, không biết giác cây, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá. Do vậy, vị này, trong khi cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, đi tìm lõi cây, đối với một cây lớn, đứng thẳng, có lõi, đã bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, rồi chặt lấy vỏ ngoài, mang đi và nghĩ rằng: “Đây là lõi cây”. Và mục đích cần phải thực hiện với lõi cây, mục đích ấy vị ấy sẽ không đạt được.’
Seyyathāpi vā pana, brāhmaṇa, puriso sāratthiko sāragavesī sārapariyesanaṁ caramāno mahato rukkhassa tiṭṭhato sāravato atikkammeva sāraṁ atikkamma phegguṁ, tacaṁ chetvā ādāya pakkameyya ‘sāran’ti maññamāno. Tamenaṁ cakkhumā puriso disvā evaṁ vadeyya: ‘na vatāyaṁ bhavaṁ puriso aññāsi sāraṁ, na aññāsi phegguṁ, na aññāsi tacaṁ, na aññāsi papaṭikaṁ, na aññāsi sākhāpalāsaṁ. Tathā hayaṁ bhavaṁ puriso sāratthiko sāragavesī sārapariyesanaṁ caramāno mahato rukkhassa tiṭṭhato sāravato atikkammeva sāraṁ atikkamma phegguṁ, tacaṁ chetvā ādāya pakkanto “sāran”ti maññamāno. Yañcassa sārena sārakaraṇīyaṁ tañcassa atthaṁ nānubhavissatī’ti.
Suppose there was another person in need of heartwood … he’d cut off the bark and leave imagining it was heartwood …
315. ‘Hoặc nữa, này bà-la-môn, ví như một người cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, đi tìm lõi cây, đối với một cây lớn, đứng thẳng, có lõi, lại bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, rồi chặt lấy vỏ trong, mang đi và nghĩ rằng: ‘Đây là lõi cây’. Một người có mắt, sau khi thấy người ấy, có thể nói như sau: ‘Vị này quả thật đã không biết lõi cây, không biết giác cây, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá. Do vậy, vị này, trong khi cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, đi tìm lõi cây, đối với một cây lớn, đứng thẳng, có lõi, đã bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, rồi chặt lấy vỏ trong, mang đi và nghĩ rằng: “Đây là lõi cây”. Và mục đích cần phải thực hiện với lõi cây, mục đích ấy vị ấy sẽ không đạt được.’
Seyyathāpi vā pana, brāhmaṇa, puriso sāratthiko sāragavesī sārapariyesanaṁ caramāno mahato rukkhassa tiṭṭhato sāravato atikkammeva sāraṁ, phegguṁ chetvā ādāya pakkameyya ‘sāran’ti maññamāno. Tamenaṁ cakkhumā puriso disvā evaṁ vadeyya: ‘na vatāyaṁ bhavaṁ puriso aññāsi sāraṁ, na aññāsi phegguṁ, na aññāsi tacaṁ, na aññāsi papaṭikaṁ, na aññāsi sākhāpalāsaṁ. Tathā hayaṁ bhavaṁ puriso sāratthiko sāragavesī sārapariyesanaṁ caramāno mahato rukkhassa tiṭṭhato sāravato atikkammeva sāraṁ, phegguṁ chetvā ādāya pakkanto “sāran”ti maññamāno. Yañcassa sārena sārakaraṇīyaṁ tañcassa atthaṁ nānubhavissatī’ti.
Suppose there was another person in need of heartwood … he’d cut out the softwood and leave imagining it was heartwood …
316. ‘Hoặc nữa, này bà-la-môn, ví như một người cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, đi tìm lõi cây, đối với một cây lớn, đứng thẳng, có lõi, lại bỏ qua lõi cây, rồi chặt lấy giác cây, mang đi và nghĩ rằng: ‘Đây là lõi cây’. Một người có mắt, sau khi thấy người ấy, có thể nói như sau: ‘Vị này quả thật đã không biết lõi cây, không biết giác cây, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá. Do vậy, vị này, trong khi cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, đi tìm lõi cây, đối với một cây lớn, đứng thẳng, có lõi, đã bỏ qua lõi cây, rồi chặt lấy giác cây, mang đi và nghĩ rằng: “Đây là lõi cây”. Và mục đích cần phải thực hiện với lõi cây, mục đích ấy vị ấy sẽ không đạt được.’
Seyyathāpi vā pana, brāhmaṇa, puriso sāratthiko sāragavesī sārapariyesanaṁ caramāno mahato rukkhassa tiṭṭhato sāravato sāraññeva chetvā ādāya pakkameyya ‘sāran’ti jānamāno. Tamenaṁ cakkhumā puriso disvā evaṁ vadeyya: ‘aññāsi vatāyaṁ bhavaṁ puriso sāraṁ, aññāsi phegguṁ, aññāsi tacaṁ, aññāsi papaṭikaṁ, aññāsi sākhāpalāsaṁ. Tathā hayaṁ bhavaṁ puriso sāratthiko sāragavesī sārapariyesanaṁ caramāno mahato rukkhassa tiṭṭhato sāravato sāraññeva chetvā ādāya pakkanto “sāran”ti jānamāno. Yañcassa sārena sārakaraṇīyaṁ tañcassa atthaṁ anubhavissatī’ti.
Suppose there was another person in need of heartwood. And while wandering in search of heartwood he’d come across a large tree standing with heartwood. He’d cut out just the heartwood and leave knowing it was heartwood. If a person with clear eyes saw him they’d say: ‘This gentleman knows what heartwood, softwood, bark, shoots, or branches and leaves are. That’s why he cut out just the heartwood and left knowing it was heartwood. Whatever he needs to make from heartwood, he will succeed.’
317. Này Bà-la-môn, lại nữa, ví như một người cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, trong khi đi tìm lõi cây, đối với một cây đại thọ có lõi cây đang đứng vững, người ấy sau khi đốn chính phần lõi cây, đã mang đi và biết rằng: ‘Đây là lõi cây’. Một người có mắt trông thấy người ấy, bèn nói như vầy: ‘Vị thiện nhân này quả thật đã biết lõi cây, đã biết giác cây, đã biết vỏ cây, đã biết vỏ mỏng, đã biết cành lá. Vì vậy, vị thiện nhân này, người cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, trong khi đi tìm lõi cây, đối với một cây đại thọ có lõi cây đang đứng vững, sau khi đốn chính phần lõi cây, đã mang đi và biết rằng: ‘Đây là lõi cây’. Và việc gì cần làm với lõi cây, người ấy sẽ hưởng được lợi ích đó.’
Evameva kho, brāhmaṇa, idhekacco puggalo saddhā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito hoti: ‘otiṇṇomhi jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi, dukkhotiṇṇo dukkhapareto, appeva nāma imassa kevalassa dukkhakkhandhassa antakiriyā paññāyethā’ti. So evaṁ pabbajito samāno lābhasakkārasilokaṁ abhinibbatteti. So tena lābhasakkārasilokena attamano hoti paripuṇṇasaṅkappo. So tena lābhasakkārasilokena attānukkaṁseti, paraṁ vambheti: ‘ahamasmi lābhasakkārasilokavā, ime panaññe bhikkhū appaññātā appesakkhā’ti. Lābhasakkārasilokena ca ye aññe dhammā uttaritarā ca paṇītatarā ca tesaṁ dhammānaṁ sacchikiriyāya na chandaṁ janeti, na vāyamati, olīnavuttiko ca hoti sāthaliko. Seyyathāpi so, brāhmaṇa, puriso sāratthiko sāragavesī sārapariyesanaṁ caramāno mahato rukkhassa tiṭṭhato sāravato atikkammeva sāraṁ atikkamma phegguṁ atikkamma tacaṁ atikkamma papaṭikaṁ, sākhāpalāsaṁ chetvā ādāya pakkanto ‘sāran’ti maññamāno. Yañcassa sārena sārakaraṇīyaṁ tañcassa atthaṁ nānubhavissati. Tathūpamāhaṁ, brāhmaṇa, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
In the same way, take a certain individual who goes forth from the lay life to homelessness, thinking: ‘I’m swamped by rebirth, old age, and death; by sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. I’m swamped by suffering, mired in suffering. Hopefully I can make an end to this entire mass of suffering.’ When they’ve gone forth they generate possessions, honor, and popularity. They’re happy with that, and they’ve got all they wished for. And they glorify themselves and put others down on account of that: ‘I’m the one with possessions, honor, and popularity. These other mendicants are obscure and insignificant.’ They become lazy and slack on account of their possessions, honor, and popularity, not generating enthusiasm or trying to realize those things that are better and finer. … They’re like the individual who mistakes branches and leaves for heartwood, I say.
318. Này Bà-la-môn, cũng tương tự như vậy, ở đây, có hạng người do có đức tin nên đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, với suy nghĩ rằng: ‘Ta bị chìm đắm trong sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não; bị khổ đau chìm đắm, bị khổ đau chi phối. Mong rằng sự chấm dứt toàn bộ khối khổ này có thể được biết đến!’ Vị ấy, sau khi đã xuất gia như vậy, lại làm phát sanh lợi dưỡng, cung kính, và danh vọng. Vị ấy hài lòng và mãn nguyện với lợi dưỡng, cung kính, và danh vọng ấy. Do lợi dưỡng, cung kính, và danh vọng ấy, vị ấy tự tán dương mình và chê bai người khác rằng: ‘Ta là người có lợi dưỡng, cung kính, và danh vọng, còn các vị tỳ khưu khác này thì không được biết đến, ít có uy tín.’ Và đối với các pháp khác cao thượng hơn và thù thắng hơn lợi dưỡng, cung kính, và danh vọng, vị ấy không khởi lên ước muốn, không tinh tấn để chứng ngộ các pháp ấy, trở nên biếng nhác và buông thả. Này Bà-la-môn, ví như người kia cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, trong khi đi tìm lõi cây, đối với một cây đại thọ có lõi cây đang đứng vững, đã bỏ qua chính phần lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ cây, bỏ qua vỏ mỏng, rồi đốn lấy cành lá, mang đi và nghĩ rằng: ‘Đây là lõi cây’. Và việc gì cần làm với lõi cây, người ấy sẽ không hưởng được lợi ích đó. Này Bà-la-môn, Ta tuyên bố rằng người này cũng tương tự như ví dụ ấy.
Idha pana, brāhmaṇa, ekacco puggalo saddhā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito hoti: ‘otiṇṇomhi jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi, dukkhotiṇṇo dukkhapareto, appeva nāma imassa kevalassa dukkhakkhandhassa antakiriyā paññāyethā’ti. So evaṁ pabbajito samāno lābhasakkārasilokaṁ abhinibbatteti. So tena lābhasakkārasilokena na attamano hoti na paripuṇṇasaṅkappo. So tena lābhasakkārasilokena na attānukkaṁseti, na paraṁ vambheti. Lābhasakkārasilokena ca ye aññe dhammā uttaritarā ca paṇītatarā ca tesaṁ dhammānaṁ sacchikiriyāya chandaṁ janeti, vāyamati, anolīnavuttiko ca hoti asāthaliko. So sīlasampadaṁ ārādheti. So tāya sīlasampadāya attamano hoti, paripuṇṇasaṅkappo. So tāya sīlasampadāya attānukkaṁseti, paraṁ vambheti: ‘ahamasmi sīlavā kalyāṇadhammo, ime panaññe bhikkhū dussīlā pāpadhammā’ti. Sīlasampadāya ca ye aññe dhammā uttaritarā ca paṇītatarā ca tesaṁ dhammānaṁ sacchikiriyāya na chandaṁ janeti, na vāyamati, olīnavuttiko ca hoti sāthaliko. Seyyathāpi so, brāhmaṇa, puriso sāratthiko sāragavesī sārapariyesanaṁ caramāno mahato rukkhassa tiṭṭhato sāravato atikkammeva sāraṁ atikkamma phegguṁ atikkamma tacaṁ, papaṭikaṁ chetvā ādāya pakkanto ‘sāran’ti maññamāno. Yañcassa sārena sārakaraṇīyaṁ, tañcassa atthaṁ nānubhavissati. Tathūpamāhaṁ, brāhmaṇa, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Next, take an individual who has gone forth out of faith from the lay life to homelessness … When they’ve gone forth they generate possessions, honor, and popularity. They’re not happy with that, and haven’t got all they wished for. They don’t glorify themselves and put others down on account of that. They don’t become lazy and slack regarding their possessions, honor, and popularity, but generate enthusiasm and try to realize those things that are better and finer. They achieve accomplishment in ethics. They’re happy with that, and they’ve got all they wished for. And they glorify themselves and put others down on account of that: ‘I’m the one who is ethical, of good character. These other mendicants are unethical, of bad character.’ They become lazy and slack regarding their accomplishment in ethics, not generating enthusiasm or trying to realize those things that are better and finer. … They’re like the individual who mistakes shoots for heartwood, I say.
319. Này Bà-la-môn, lại nữa, ở đây, có hạng người do có đức tin nên đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, với suy nghĩ rằng: ‘Ta bị chìm đắm trong sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não; bị khổ đau chìm đắm, bị khổ đau chi phối. Mong rằng sự chấm dứt toàn bộ khối khổ này có thể được biết đến!’ Vị ấy, sau khi đã xuất gia như vậy, lại làm phát sanh lợi dưỡng, cung kính, và danh vọng. Vị ấy không hài lòng, không mãn nguyện với lợi dưỡng, cung kính, và danh vọng ấy. Do lợi dưỡng, cung kính, và danh vọng ấy, vị ấy không tự tán dương mình, không chê bai người khác. Và đối với các pháp khác cao thượng hơn và thù thắng hơn lợi dưỡng, cung kính, và danh vọng, vị ấy khởi lên ước muốn, tinh tấn để chứng ngộ các pháp ấy, không biếng nhác và không buông thả. Vị ấy thành tựu sự toàn hảo về giới. Vị ấy hài lòng và mãn nguyện với sự toàn hảo về giới ấy. Do sự toàn hảo về giới ấy, vị ấy tự tán dương mình và chê bai người khác rằng: ‘Ta là người có giới hạnh, có thiện pháp, còn các vị tỳ khưu khác này thì theo ác giới, theo ác pháp.’ Và đối với các pháp khác cao thượng hơn và thù thắng hơn sự toàn hảo về giới, vị ấy không khởi lên ước muốn, không tinh tấn để chứng ngộ các pháp ấy, trở nên biếng nhác và buông thả. Này Bà-la-môn, ví như người kia cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, trong khi đi tìm lõi cây, đối với một cây đại thọ có lõi cây đang đứng vững, đã bỏ qua chính phần lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ cây, rồi đốn lấy vỏ mỏng, mang đi và nghĩ rằng: ‘Đây là lõi cây’. Và việc gì cần làm với lõi cây, người ấy sẽ không hưởng được lợi ích đó. Này Bà-la-môn, Ta tuyên bố rằng người này cũng tương tự như ví dụ ấy.
Idha pana, brāhmaṇa, ekacco puggalo saddhā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito hoti: ‘otiṇṇomhi jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi, dukkhotiṇṇo dukkhapareto, appeva nāma imassa kevalassa dukkhakkhandhassa antakiriyā paññāyethā’ti. So evaṁ pabbajito samāno lābhasakkārasilokaṁ abhinibbatteti. So tena lābhasakkārasilokena na attamano hoti, na paripuṇṇasaṅkappo. So tena lābhasakkārasilokena na attānukkaṁseti, na paraṁ vambheti. Lābhasakkārasilokena ca ye aññe dhammā uttaritarā ca paṇītatarā ca tesaṁ dhammānaṁ sacchikiriyāya chandaṁ janeti, vāyamati, anolīnavuttiko ca hoti asāthaliko. So sīlasampadaṁ ārādheti. So tāya sīlasampadāya attamano hoti no ca kho paripuṇṇasaṅkappo. So tāya sīlasampadāya na attānukkaṁseti, na paraṁ vambheti. Sīlasampadāya ca ye aññe dhammā uttaritarā ca paṇītatarā ca tesaṁ dhammānaṁ sacchikiriyāya chandaṁ janeti, vāyamati, anolīnavuttiko ca hoti asāthaliko. So samādhisampadaṁ ārādheti. So tāya samādhisampadāya attamano hoti, paripuṇṇasaṅkappo. So tāya samādhisampadāya attānukkaṁseti, paraṁ vambheti: ‘ahamasmi samāhito ekaggacitto, ime panaññe bhikkhū asamāhitā vibbhantacittā’ti. Samādhisampadāya ca ye aññe dhammā uttaritarā ca paṇītatarā ca, tesaṁ dhammānaṁ sacchikiriyāya na chandaṁ janeti, na vāyamati, olīnavuttiko ca hoti sāthaliko. Seyyathāpi so, brāhmaṇa, puriso sāratthiko sāragavesī sārapariyesanaṁ caramāno mahato rukkhassa tiṭṭhato sāravato atikkammeva sāraṁ atikkamma phegguṁ, tacaṁ chetvā ādāya pakkanto ‘sāran’ti maññamāno. Yañcassa sārena sārakaraṇīyaṁ tañcassa atthaṁ nānubhavissati. Tathūpamāhaṁ, brāhmaṇa, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Next, take an individual who has gone forth out of faith from the lay life to homelessness … They achieve accomplishment in ethics … and immersion. … They become lazy and slack regarding their accomplishment in immersion, not generating enthusiasm or trying to realize those things that are better and finer. … They’re like the individual who mistakes bark for heartwood, I say.
320. Này Bà la môn, ở đây, có người do đức tin xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, nghĩ rằng: ‘Ta bị chìm đắm trong sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não; bị chìm đắm trong đau khổ, bị đau khổ chi phối. Mong rằng sự chấm dứt toàn bộ khối đau khổ này có thể được biết đến.’ Vị ấy sau khi xuất gia như vậy, liền tạo ra được lợi dưỡng, cung kính, và danh tiếng. Vị ấy không hoan hỷ, không mãn nguyện với lợi dưỡng, cung kính, và danh tiếng ấy. Vị ấy không vì lợi dưỡng, cung kính, và danh tiếng ấy mà tán dương mình, chê bai người khác. Và đối với những pháp khác cao thượng hơn, vi diệu hơn lợi dưỡng, cung kính, và danh tiếng, vị ấy khởi lên ước muốn, nỗ lực để chứng ngộ các pháp ấy, có ý chí không thối chuyển và không buông lơi. Vị ấy thành tựu giới cụ túc. Vị ấy hoan hỷ với giới cụ túc ấy, nhưng không vì thế mà mãn nguyện. Vị ấy không vì giới cụ túc ấy mà tán dương mình, chê bai người khác. Và đối với những pháp khác cao thượng hơn, vi diệu hơn giới cụ túc, vị ấy khởi lên ước muốn, nỗ lực để chứng ngộ các pháp ấy, có ý chí không thối chuyển và không buông lơi. Vị ấy thành tựu định cụ túc. Vị ấy hoan hỷ, mãn nguyện với định cụ túc ấy. Vị ấy vì định cụ túc ấy mà tán dương mình, chê bai người khác rằng: ‘Ta có định, có nhất tâm; còn các vị Tỳ khưu khác này thì không được định tĩnh, tâm bị phân tán.’ Và đối với những pháp khác cao thượng hơn, vi diệu hơn định cụ túc, vị ấy không khởi lên ước muốn, không nỗ lực để chứng ngộ các pháp ấy, có ý chí thối chuyển và buông lơi. Này Bà la môn, ví như một người cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, trong khi đi tìm lõi cây, đối với một cây lớn đang đứng thẳng có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, rồi đốn lấy vỏ trong, mang đi và nghĩ rằng đó là ‘lõi cây’. Và bất cứ công việc gì cần làm với lõi cây, mục đích ấy của người ấy sẽ không thành tựu. Này Bà la môn, Ta nói rằng người này cũng tương tự như ví dụ ấy.
Idha pana, brāhmaṇa, ekacco puggalo saddhā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito hoti: ‘otiṇṇomhi jātiyā jarāya maraṇena …pe… antakiriyā paññāyethā’ti. So evaṁ pabbajito samāno lābhasakkārasilokaṁ abhinibbatteti. So tena lābhasakkārasilokena na attamano hoti na paripuṇṇasaṅkappo. So tena lābhasakkārasilokena na attānukkaṁseti, na paraṁ vambheti. Lābhasakkārasilokena ca ye aññe dhammā uttaritarā ca paṇītatarā ca tesaṁ dhammānaṁ sacchikiriyāya chandaṁ janeti, vāyamati, anolīnavuttiko ca hoti asāthaliko. So sīlasampadaṁ ārādheti. So tāya sīlasampadāya attamano hoti, no ca kho paripuṇṇasaṅkappo. So tāya sīlasampadāya na attānukkaṁseti, na paraṁ vambheti. Sīlasampadāya ca ye aññe dhammā uttaritarā ca paṇītatarā ca tesaṁ dhammānaṁ sacchikiriyāya chandaṁ janeti, vāyamati, anolīnavuttiko ca hoti asāthaliko. So samādhisampadaṁ ārādheti. So tāya samādhisampadāya attamano hoti, no ca kho paripuṇṇasaṅkappo. So tāya samādhisampadāya na attānukkaṁseti, na paraṁ vambheti. Samādhisampadāya ca ye aññe dhammā uttaritarā ca paṇītatarā ca tesaṁ dhammānaṁ sacchikiriyāya chandaṁ janeti, vāyamati, anolīnavuttiko ca hoti asāthaliko. So ñāṇadassanaṁ ārādheti. So tena ñāṇadassanena attamano hoti, paripuṇṇasaṅkappo. So tena ñāṇadassanena attānukkaṁseti, paraṁ vambheti: ‘ahamasmi jānaṁ passaṁ viharāmi, ime panaññe bhikkhū ajānaṁ apassaṁ viharantī’ti. Ñāṇadassanena ca ye aññe dhammā uttaritarā ca paṇītatarā ca tesaṁ dhammānaṁ sacchikiriyāya na chandaṁ janeti, na vāyamati, olīnavuttiko ca hoti sāthaliko. Seyyathāpi so, brāhmaṇa, puriso sāratthiko sāragavesī sārapariyesanaṁ caramāno mahato rukkhassa tiṭṭhato sāravato atikkammeva sāraṁ, phegguṁ chetvā ādāya pakkanto ‘sāran’ti maññamāno. Yañcassa sārena sārakaraṇīyaṁ tañcassa atthaṁ nānubhavissati. Tathūpamāhaṁ, brāhmaṇa, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Next, take an individual who has gone forth out of faith from the lay life to homelessness … They achieve accomplishment in ethics … immersion … and knowledge and vision. They become lazy and slack regarding their knowledge and vision, not generating enthusiasm or trying to realize those things that are better and finer. … They’re like the individual who mistakes softwood for heartwood, I say.
321. Này Bà la môn, ở đây, có người do đức tin xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, nghĩ rằng: ‘Ta bị chìm đắm trong sanh, già, chết, ... (như trên) ... sự chấm dứt có thể được biết đến.’ Vị ấy sau khi xuất gia như vậy, liền tạo ra được lợi dưỡng, cung kính, và danh tiếng. Vị ấy không hoan hỷ, không mãn nguyện với lợi dưỡng, cung kính, và danh tiếng ấy. Vị ấy không vì lợi dưỡng, cung kính, và danh tiếng ấy mà tán dương mình, chê bai người khác. Và đối với những pháp khác cao thượng hơn, vi diệu hơn lợi dưỡng, cung kính, và danh tiếng, vị ấy khởi lên ước muốn, nỗ lực để chứng ngộ các pháp ấy, có ý chí không thối chuyển và không buông lơi. Vị ấy thành tựu giới cụ túc. Vị ấy hoan hỷ với giới cụ túc ấy, nhưng không vì thế mà mãn nguyện. Vị ấy không vì giới cụ túc ấy mà tán dương mình, chê bai người khác. Và đối với những pháp khác cao thượng hơn, vi diệu hơn giới cụ túc, vị ấy khởi lên ước muốn, nỗ lực để chứng ngộ các pháp ấy, có ý chí không thối chuyển và không buông lơi. Vị ấy thành tựu định cụ túc. Vị ấy hoan hỷ với định cụ túc ấy, nhưng không vì thế mà mãn nguyện. Vị ấy không vì định cụ túc ấy mà tán dương mình, chê bai người khác. Và đối với những pháp khác cao thượng hơn, vi diệu hơn định cụ túc, vị ấy khởi lên ước muốn, nỗ lực để chứng ngộ các pháp ấy, có ý chí không thối chuyển và không buông lơi. Vị ấy thành tựu tri kiến. Vị ấy hoan hỷ, mãn nguyện với tri kiến ấy. Vị ấy vì tri kiến ấy mà tán dương mình, chê bai người khác rằng: ‘Ta sống biết và thấy; còn các vị Tỳ khưu khác này sống không biết, không thấy.’ Và đối với những pháp khác cao thượng hơn, vi diệu hơn tri kiến, vị ấy không khởi lên ước muốn, không nỗ lực để chứng ngộ các pháp ấy, có ý chí thối chuyển và buông lơi. Này Bà la môn, ví như một người cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, trong khi đi tìm lõi cây, đối với một cây lớn đang đứng thẳng có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, rồi đốn lấy giác cây, mang đi và nghĩ rằng đó là ‘lõi cây’. Và bất cứ công việc gì cần làm với lõi cây, mục đích ấy của người ấy sẽ không thành tựu. Này Bà la môn, Ta nói rằng người này cũng tương tự như ví dụ ấy.
Idha pana, brāhmaṇa, ekacco puggalo saddhā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito hoti: ‘otiṇṇomhi jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi, dukkhotiṇṇo dukkhapareto, appeva nāma imassa kevalassa dukkhakkhandhassa antakiriyā paññāyethā’ti. So evaṁ pabbajito samāno lābhasakkārasilokaṁ abhinibbatteti. So tena lābhasakkārasilokena na attamano hoti, na paripuṇṇasaṅkappo. So tena lābhasakkārasilokena na attānukkaṁseti, na paraṁ vambheti. Lābhasakkārasilokena ca ye aññe dhammā uttaritarā ca paṇītatarā ca tesaṁ dhammānaṁ sacchikiriyāya chandaṁ janeti, vāyamati, anolīnavuttiko ca hoti asāthaliko. So sīlasampadaṁ ārādheti. So tāya sīlasampadāya attamano hoti, no ca kho paripuṇṇasaṅkappo. So tāya sīlasampadāya na attānukkaṁseti, na paraṁ vambheti. Sīlasampadāya ca ye aññe dhammā uttaritarā ca paṇītatarā ca tesaṁ dhammānaṁ sacchikiriyāya chandaṁ janeti, vāyamati, anolīnavuttiko ca hoti asāthaliko. So samādhisampadaṁ ārādheti. So tāya samādhisampadāya attamano hoti, no ca kho paripuṇṇasaṅkappo. So tāya samādhisampadāya na attānukkaṁseti, na paraṁ vambheti. Samādhisampadāya ca ye aññe dhammā uttaritarā ca paṇītatarā ca tesaṁ dhammānaṁ sacchikiriyāya chandaṁ janeti, vāyamati, anolīnavuttiko ca hoti asāthaliko. So ñāṇadassanaṁ ārādheti. So tena ñāṇadassanena attamano hoti, no ca kho paripuṇṇasaṅkappo. So tena ñāṇadassanena na attānukkaṁseti, na paraṁ vambheti. Ñāṇadassanena ca ye aññe dhammā uttaritarā ca paṇītatarā ca tesaṁ dhammānaṁ sacchikiriyāya chandaṁ janeti, vāyamati, anolīnavuttiko ca hoti asāthaliko.
Next, take an individual who has gone forth out of faith from the lay life to homelessness, thinking: ‘I’m swamped by rebirth, old age, and death; by sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. I’m swamped by suffering, mired in suffering. Hopefully I can find an end to this entire mass of suffering.’ When they’ve gone forth they generate possessions, honor, and popularity. They’re not happy with that, and haven’t got all they wished for. They don’t glorify themselves and put others down on account of that. They don’t become lazy and slack on account of their possessions, honor, and popularity, but generate enthusiasm and try to realize those things that are better and finer. They become accomplished in ethics. They’re happy with that, but they haven’t got all they wished for. They don’t glorify themselves and put others down on account of that. They don’t become lazy and slack regarding their accomplishment in ethics, but generate enthusiasm and try to realize those things that are better and finer. They become accomplished in immersion. They’re happy with that, but they haven’t got all they wished for. They don’t glorify themselves and put others down on account of that. They don’t become lazy and slack regarding their accomplishment in immersion, but generate enthusiasm and try to realize those things that are better and finer. They achieve knowledge and vision. They’re happy with that, but they haven’t got all they wished for. They don’t glorify themselves and put others down on account of that. They don’t become lazy and slack regarding their knowledge and vision, but generate enthusiasm and try to realize those things that are better and finer.
322. Này Bà-la-môn, ở đây, có người do có tín tâm, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia với ý nghĩ: ‘Ta bị chìm đắm trong sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não; bị khổ xâm chiếm, bị khổ áp bức. Mong sao toàn bộ khối khổ này có thể được chấm dứt.’ Vị ấy sau khi xuất gia như vậy, thành tựu được lợi dưỡng, cung kính, và danh vọng. Vị ấy không vì lợi dưỡng, cung kính, và danh vọng ấy mà tự mãn, không cho rằng chí nguyện đã viên mãn. Vị ấy không vì lợi dưỡng, cung kính, và danh vọng ấy mà tán dương mình, chê bai người. Và vị ấy khởi lên ước muốn, tinh tấn để chứng ngộ các pháp khác cao thượng hơn, vi diệu hơn lợi dưỡng, cung kính, và danh vọng; vị ấy có sự nỗ lực không thối chuyển và không buông lơi. Vị ấy thành tựu được giới thành tựu. Vị ấy nhờ giới thành tựu ấy mà tự mãn, nhưng chí nguyện vẫn chưa viên mãn. Vị ấy không vì giới thành tựu ấy mà tán dương mình, chê bai người. Và vị ấy khởi lên ước muốn, tinh tấn để chứng ngộ các pháp khác cao thượng hơn, vi diệu hơn giới thành tựu; vị ấy có sự nỗ lực không thối chuyển và không buông lơi. Vị ấy thành tựu được định thành tựu. Vị ấy nhờ định thành tựu ấy mà tự mãn, nhưng chí nguyện vẫn chưa viên mãn. Vị ấy không vì định thành tựu ấy mà tán dương mình, chê bai người. Và vị ấy khởi lên ước muốn, tinh tấn để chứng ngộ các pháp khác cao thượng hơn, vi diệu hơn định thành tựu; vị ấy có sự nỗ lực không thối chuyển và không buông lơi. Vị ấy thành tựu được tri kiến. Vị ấy nhờ tri kiến ấy mà tự mãn, nhưng chí nguyện vẫn chưa viên mãn. Vị ấy không vì tri kiến ấy mà tán dương mình, chê bai người. Và vị ấy khởi lên ước muốn, tinh tấn để chứng ngộ các pháp khác cao thượng hơn, vi diệu hơn tri kiến; vị ấy có sự nỗ lực không thối chuyển và không buông lơi.
Katame ca, brāhmaṇa, dhammā ñāṇadassanena uttaritarā ca paṇītatarā ca?
Idha, brāhmaṇa, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Ayampi kho, brāhmaṇa, dhammo ñāṇadassanena uttaritaro ca paṇītataro ca.
And what are those things that are better and finer than knowledge and vision?
Take a mendicant who, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected. This is something better and finer than knowledge and vision.
323. Này Bà-la-môn, những pháp nào cao thượng hơn, vi diệu hơn tri kiến? Này Bà-la-môn, ở đây, vị tỳ khưu ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú Sơ thiền, một trạng thái có tầm, có tứ, với hỷ và lạc do ly dục sanh. Này Bà-la-môn, pháp này cũng cao thượng hơn, vi diệu hơn tri kiến.
Puna caparaṁ, brāhmaṇa, bhikkhu vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Ayampi kho, brāhmaṇa, dhammo ñāṇadassanena uttaritaro ca paṇītataro ca.
Furthermore, as the placing of the mind and keeping it connected are stilled, a mendicant enters and remains in the second absorption, which has the rapture and bliss born of immersion, with internal clarity and mind at one, without placing the mind and keeping it connected. This too is something better and finer than knowledge and vision.
Lại nữa, này Bà-la-môn, vị tỳ khưu diệt tầm và tứ, chứng và trú Nhị thiền, một trạng thái nội tĩnh nhất tâm, không tầm không tứ, với hỷ và lạc do định sanh. Này Bà-la-môn, pháp này cũng cao thượng hơn, vi diệu hơn tri kiến.
Puna caparaṁ, brāhmaṇa, bhikkhu pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharati, sato ca sampajāno sukhañca kāyena paṭisaṁvedeti, yaṁ taṁ ariyā ācikkhanti: ‘upekkhako satimā sukhavihārī’ti tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Ayampi kho, brāhmaṇa, dhammo ñāṇadassanena uttaritaro ca paṇītataro ca.
Furthermore, with the fading away of rapture, a mendicant enters and remains in the third absorption, where they meditate with equanimity, mindful and aware, experiencing for themselves the bliss of which the noble ones declare, ‘Equanimous and mindful, one meditates in bliss.’ This too is something better and finer than knowledge and vision.
Lại nữa, này Bà-la-môn, vị tỳ khưu ly hỷ, trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ, chứng và trú Tam thiền, trạng thái mà các bậc Thánh gọi là ‘xả niệm lạc trú’. Này Bà-la-môn, pháp này cũng cao thượng hơn, vi diệu hơn tri kiến.
Puna caparaṁ, brāhmaṇa, bhikkhu sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Ayampi kho, brāhmaṇa, dhammo ñāṇadassanena uttaritaro ca paṇītataro ca.
Furthermore, with the giving up of pleasure and pain and the disappearance of former happiness and sadness, a mendicant enters and remains in the fourth absorption, without pleasure or pain, with pure equanimity and mindfulness. This too is something better and finer than knowledge and vision.
Lại nữa, này Bà-la-môn, vị tỳ khưu xả lạc, xả khổ, diệt trừ hỷ ưu đã có từ trước, chứng và trú Tứ thiền, một trạng thái không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này Bà-la-môn, pháp này cũng cao thượng hơn, vi diệu hơn tri kiến.
Puna caparaṁ, brāhmaṇa, bhikkhu sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharati. Ayampi kho, brāhmaṇa, dhammo ñāṇadassanena uttaritaro ca paṇītataro ca.
Furthermore, a mendicant, going totally beyond perceptions of form, with the disappearance of perceptions of impingement, not focusing on perceptions of diversity, aware that ‘space is infinite’, enters and remains in the dimension of infinite space. This too is something better and finer than knowledge and vision.
Lại nữa, này Bà-la-môn, vị tỳ khưu vượt qua hoàn toàn các sắc tưởng, chấm dứt các đối ngại tưởng, không tác ý đến các dị tưởng, với ý niệm ‘hư không là vô biên’, chứng và trú Không Vô Biên Xứ. Này Bà-la-môn, pháp này cũng cao thượng hơn, vi diệu hơn tri kiến.
Puna caparaṁ, brāhmaṇa, bhikkhu sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja viharati. Ayampi kho, brāhmaṇa, dhammo ñāṇadassanena uttaritaro ca paṇītataro ca.
Furthermore, a mendicant, going totally beyond the dimension of infinite space, aware that ‘consciousness is infinite’, enters and remains in the dimension of infinite consciousness. This too is something better and finer than knowledge and vision.
Lại nữa, này Bà-la-môn, vị tỳ khưu vượt qua hoàn toàn Không Vô Biên Xứ, với ý niệm ‘thức là vô biên’, chứng và trú Thức Vô Biên Xứ. Này Bà-la-môn, pháp này cũng cao thượng hơn, vi diệu hơn tri kiến.
Puna caparaṁ, brāhmaṇa, bhikkhu sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati. Ayampi kho, brāhmaṇa, dhammo ñāṇadassanena uttaritaro ca paṇītataro ca.
Furthermore, a mendicant, going totally beyond the dimension of infinite consciousness, aware that ‘there is nothing at all’, enters and remains in the dimension of nothingness. This too is something better and finer than knowledge and vision.
Lại nữa, này Bà-la-môn, vị tỳ khưu vượt qua hoàn toàn Thức Vô Biên Xứ, với ý niệm ‘không có gì cả’, chứng và trú Vô Sở Hữu Xứ. Này Bà-la-môn, pháp này cũng cao thượng hơn, vi diệu hơn tri kiến.
Puna caparaṁ, brāhmaṇa, bhikkhu sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṁ upasampajja viharati. Ayampi kho, brāhmaṇa, dhammo ñāṇadassanena uttaritaro ca paṇītataro ca.
Furthermore, take a mendicant who, going totally beyond the dimension of nothingness, enters and remains in the dimension of neither perception nor non-perception. This too is something better and finer than knowledge and vision.
Lại nữa, này Bà-la-môn, vị tỳ khưu vượt qua hoàn toàn Vô Sở Hữu Xứ, chứng và trú Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Này Bà-la-môn, pháp này cũng cao thượng hơn, vi diệu hơn tri kiến.
Puna caparaṁ, brāhmaṇa, bhikkhu sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja viharati, paññāya cassa disvā āsavā parikkhīṇā honti. Ayampi kho, brāhmaṇa, dhammo ñāṇadassanena uttaritaro ca paṇītataro ca. Ime kho, brāhmaṇa, dhammā ñāṇadassanena uttaritarā ca paṇītatarā ca.
Furthermore, take a mendicant who, going totally beyond the dimension of neither perception nor non-perception, enters and remains in the cessation of perception and feeling. And, having seen with wisdom, their defilements come to an end. This too is something better and finer than knowledge and vision. These are the things that are better and finer than knowledge and vision.
Lại nữa, này Bà-la-môn, vị tỳ khưu vượt qua hoàn toàn Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, chứng và trú Diệt Thọ Tưởng Định. Và sau khi thấy bằng trí tuệ, các lậu hoặc của vị ấy được đoạn tận. Này Bà-la-môn, pháp này cũng cao thượng hơn, vi diệu hơn tri kiến. Này Bà-la-môn, những pháp này là cao thượng hơn, vi diệu hơn tri kiến.
Seyyathāpi so, brāhmaṇa, puriso sāratthiko sāragavesī sārapariyesanaṁ caramāno mahato rukkhassa tiṭṭhato sāravato sāraṁyeva chetvā ādāya pakkanto ‘sāran’ti jānamāno. Yañcassa sārena sārakaraṇīyaṁ tañcassa atthaṁ anubhavissati. Tathūpamāhaṁ, brāhmaṇa, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Suppose there was a person in need of heartwood. And while wandering in search of heartwood he’d come across a large tree standing with heartwood. He’d cut out just the heartwood and leave knowing it was heartwood. Whatever he needs to make from heartwood, he will succeed. That’s what this individual is like, I say.
324. Này Bà-la-môn, ví như một người cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, đi quanh để tìm lõi cây, đối với một cây lớn đang đứng vững có lõi cây, người ấy chỉ đốn lấy lõi cây rồi mang đi, và biết rằng: ‘Đây là lõi cây’. Và bất cứ công việc gì cần làm với lõi cây, mục đích ấy của người ấy sẽ được thành tựu. Này Bà-la-môn, Ta nói rằng người này cũng tương tự như ví dụ ấy.
Iti kho, brāhmaṇa, nayidaṁ brahmacariyaṁ lābhasakkārasilokānisaṁsaṁ, na sīlasampadānisaṁsaṁ, na samādhisampadānisaṁsaṁ, na ñāṇadassanānisaṁsaṁ. Yā ca kho ayaṁ, brāhmaṇa, akuppā cetovimutti—etadatthamidaṁ, brāhmaṇa, brahmacariyaṁ, etaṁ sāraṁ etaṁ pariyosānan”ti.
And so, brahmin, this spiritual life is not lived for the sake of possessions, honor, and popularity, or for accomplishment in ethics, or for accomplishment in immersion, or for knowledge and vision. It is this unshakable freedom of heart that is the goal of the spiritual life, the core and the final end.”
Này Bà-la-môn, như vậy, phạm hạnh này không phải vì lợi ích là lợi lộc, cung kính, danh tiếng; không phải vì lợi ích là sự thành tựu giới hạnh; không phải vì lợi ích là sự thành tựu định tâm; không phải vì lợi ích là tri kiến. Này Bà-la-môn, mà chính là tâm giải thoát bất động này, phạm hạnh này là vì mục đích ấy, đây là lõi cây, đây là mục đích cuối cùng.
Evaṁ vutte, piṅgalakoccho brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca: “abhikkantaṁ, bho gotama, abhikkantaṁ, bho gotama …pe… upāsakaṁ maṁ bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
When he had spoken, the brahmin Piṅgalakoccha said to the Buddha, “Excellent, worthy Gotama! Excellent! … From this day forth, may the worthy Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
Khi được nói như vậy, Bà-la-môn Piṅgalakoccha bạch với Đức Thế Tôn rằng: ‘Thật vi diệu, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu, thưa Tôn giả Gotama! ... (v.v.) ... Mong Tôn giả Gotama hãy ghi nhận con là một cận sự nam đã quy y từ hôm nay cho đến trọn đời.’
Cūḷasāropamasuttaṁ niṭṭhitaṁ dasamaṁ.
Kinh Ví Dụ Lõi Cây Nhỏ, bài kinh thứ mười, đã chấm dứt.
Opammavaggo niṭṭhito tatiyo.
Tassuddānaṁ
Phẩm Ví Dụ, phẩm thứ ba, đã chấm dứt.
Moḷiyaphaggunariṭṭhañca nāmo, Andhavane kathipuṇṇaṁ nivāpo; Rāsikaṇerumahāgajanāmo, Sārūpamo puna piṅgalakoccho.
Moḷiyaphagguna và Ariṭṭha, Vammika ở Andhavana, Rathavinīta, Nivāpa; Pāsarāsi, Kaṇeru, Voi Lớn, Sāropama, và lại là Piṅgalakoccha.