- Majjhima Nikāya 3
Dhammadāyādasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Dhammadāyādasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc). Khi ở tại chỗ ấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”, —“ Bạch Thế Tôn”, các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói
SC 2—Này các Tỷ-kheo, hãy là người thừa tự Pháp của Ta, đừng là những người thừa tự tài vật. Ta có lòng thương tưởng các Ngươi và Ta nghĩ: “Làm sao những đệ tử của Ta là những người thừa tự Pháp của Ta, không phải là những người thừa tự tài vật?”. Và này các Tỷ-kheo, nếu các Ngươi là những người thừa tự tài vật của Ta, không phải là những người thừa tự Pháp, thì không những các Ngươi trở thành những người mà người ta nói: “Cả thầy và trò đều là những người thừa tự tài vật, không phải là những người thừa tự Pháp”, mà cả Ta cũng trở thành người mà người ta nói: “Cả thầy và trò đều là những người thừa tự tài vật, không phải là những người thừa tự Pháp”.
SC 3Và này các Tỷ-kheo, nếu các Ngươi là những người thừa tự Pháp của Ta, không phải là những người thừa tự tài vật, thời không những các Ngươi trở thành những người mà người ta nói: “Cả Thầy và trò là những người thừa tự Pháp, không phải là những người thừa tự tài vật”, mà cả Ta cũng trở thành người mà người ta nói: “Cả Thầy và trò đều là những người thừa tự Pháp, không phải là những người thừa tự tài vật”. Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy là những người thừa tự Pháp của Ta, đừng là những người thừa tự tài vật. Ta có lòng thương tưởng các Ngươi và Ta nghĩ: “Làm sao những đệ tử của Ta là những người thừa tự Pháp của Ta, không phải là những người thừa tự tài vật?”.
SC 4Này các Tỷ-kheo, ở đây, một thời Ta ăn đã xong, thỏa mãn, đầy đủ, đã chấm dứt buổi ăn, tự cảm thỏa thích, vừa ý, và còn lại đồ ăn tàn thực của Ta đáng được quăng bỏ. Khi ấy có hai Tỷ-kheo đến, đói lả và kiệt sức. Ta có thể nói với hai vị ấy: “Này các Tỷ-kheo, Ta ăn đã xong, thỏa mãn, đầy đủ, đã chấm dứt buổi ăn, tự cảm thỏa thích, vừa ý, và còn lại đồ ăn tàn thực này của Ta đáng được quăng bỏ. Nếu các Ngươi muốn, hãy ăn đi. Nếu các Ngươi không muốn ăn, Ta sẽ quăng đồ ăn ấy tại chỗ không có cỏ xanh, hay Ta sẽ bỏ xuống chỗ nước không có chúng sanh trong ấy”. Rồi một Tỷ-kheo có thể nghĩ như sau: “Nay Thế Tôn ăn đã xong, thỏa mãn, đầy đủ, đã chấm dứt buổi ăn, tự cảm thỏa thích, vừa ý; và đây là đồ ăn tàn thực của Thế Tôn, đáng được quăng bỏ. Nếu chúng ta không ăn, Thế Tôn sẽ quăng đồ ăn ấy tại chỗ không có cỏ xanh, hay sẽ bỏ xuống chỗ nước không có chúng sanh trong ấy. Nhưng Thế Tôn có dạy như sau: “Này các Tỷ-kheo, hãy là người thừa tự Pháp của Ta, đừng là người thừa tự tài vật”. Ðây là loại tài vật; món đồ ăn này, ta hãy không ăn loại đồ ăn này và trải qua đêm ngày hôm nay, bị đói lả và kiệt sức”. Rồi vị ấy không ăn loại đồ ăn này và trải qua đêm ngày ấy, đói lả và kiệt sức. Tỷ-kheo thứ hai nghĩ như sau: “Thế Tôn ăn đã xong, thỏa mãn, đầy đủ, đã chấm dứt buổi ăn, tự cảm thỏa thích, vừa ý; và đây là đồ ăn tàn thực của Thế Tôn, đáng được quăng bỏ. Nếu chúng ta không ăn, Thế Tôn sẽ quăng đồ ăn ấy tại chỗ không có cỏ xanh, hay sẽ bỏ xuống chỗ nước không có chúng sanh trong ấy. Vậy ta hãy ăn loại đồ ăn này, trừ bỏ đói lả và kiệt sức, và trải qua đêm ngày hôm nay như vậy”. Rồi vị ấy ăn loại đồ ăn ấy, trừ bỏ đói lả và kiệt sức, và trải qua đêm ngày hôm ấy như vậy. Này các Tỷ-kheo, dầu cho Tỷ-kheo này, sau khi ăn loại đồ ăn ấy, trừ bỏ đói lả và kiệt sức, và trải qua đêm ngày hôm ấy như vậy, nhưng đối với Ta, Tỷ-kheo đầu tiên đáng được kính nể hơn, và đáng được tán thán hơn. Vì sao vậy? Vì như vậy sẽ đưa đến cho Tỷ-kheo ấy, trong một thời gian lâu ngày, ít dục, biết đủ, khổ hạnh, dễ nuôi dưỡng, tinh cần, tinh tấn. Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy là người thừa tự Pháp của Ta, đừng là người thừa tự tài vật.
SC 5Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Nói xong, Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy, đi vào tịnh xá. Lúc ấy, Tôn giả Sāriputta (Xá-lợi-phất), sau khi Thế Tôn đi chẳng bao lâu, liền gọi các Tỷ-kheo: “Này các Hiền giả Tỷ-kheo!” —“ Thưa vâng Hiền giả”, các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sāriputta. Tôn giả Sāriputta nói:
SC 6“Này các Hiền giả, như thế nào vị Ðạo sư sống viễn ly mà các đệ tử không tùy học viễn ly? Và như thế nào vị Ðạo sư sống viễn ly và các đệ tử tùy học viễn ly?” —“ Này Hiền giả, chúng tôi từ xa lại để được hiểu nghĩa lý câu nói này từ Tôn giả Sāriputta. Lành thay, nếu Tôn giả Sāriputta thuyết giảng nghĩa lý câu nói ấy. Sau khi được nghe Tôn giả Sāriputta thuyết giảng, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì” —“ Chư Hiền, vậy hãy nghe và khéo tác ý, ta sẽ giảng” —“ Thưa vâng, Hiền giả”, những Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sāriputta. Tôn giả Sāriputta nói như sau
SC 7—Này chư Hiền, ở đây vị Ðạo Sư sống viễn ly mà các đệ tử không tùy học viễn ly. Những pháp nào vị Ðạo Sư dạy nên từ bỏ, những pháp ấy họ không từ bỏ, và họ sống trong sự đầy đủ, lười biếng, dẫn đầu về đọa lạc, bỏ rơi gánh nặng sống viễn ly.
SC 8Này chư Hiền, các Thượng Tọa Tỷ-kheo có ba trường hợp đáng bị quở trách. Vị Ðạo Sư sống viễn ly, các đệ tử không tùy học viễn ly. Ðó là trường hợp thứ nhất, các Thượng Tọa Tỷ-kheo đáng bị quở trách. Và những pháp nào vị Ðạo Sư dạy nên từ bỏ, những pháp ấy họ không từ bỏ. Ðó là trường hợp thứ hai, các Thượng Tọa Tỷ-kheo đáng bị quở trách. Và họ sống đầy đủ, lười biếng, dẫn đầu về đọa lạc, bỏ rơi gánh nặng sống viễn ly. Ðó là trường hợp thứ ba, các Thượng Tọa Tỷ-kheo đáng bị quở trách. Này chư Hiền, các Thượng tọa Tỷ-kheo do ba trường hợp này đáng bị quở trách.
SC 9Này chư Hiền, các Trung tọa Tỷ-kheo có ba trường hợp đáng bị quở trách, … (như trên) …
SC 10Này chư Hiền, các vị mới thọ Tỷ-kheo có ba trường hợp đáng bị quở trách. Vị Ðạo Sư sống viễn ly, các đệ tử không tùy học viễn ly. Ðó là trường hợp thứ nhất, các vị mới thọ Tỷ-kheo đáng bị quở trách. Và những pháp nào vị Ðạo Sư dạy nên từ bỏ, những pháp ấy họ không từ bỏ. Ðó là trường hợp thứ hai, các vị mới thọ Tỷ-kheo đáng bị quở trách. Và họ sống đầy đủ, lười biếng, dẫn đầu về đọa lạc, bỏ rơi gánh nặng sống viễn ly. Ðó là trường hợp thứ ba, các vị mới thọ Tỷ-kheo đáng bị quở trách. Này chư Hiền, các vị mới thọ Tỷ-kheo do ba trường hợp này, đáng bị quở trách.
SC 11Này chư Hiền, như vậy là những trường hợp vị Ðạo Sư sống viễn ly, các đệ tử không tùy học viễn ly.
SC 12Và như thế nào, vị Ðạo Sư sống viễn ly, các đệ tử tùy học viễn ly? Này chư Hiền, vị Ðạo Sư sống viễn ly, các đệ tử tùy học viễn ly. Những pháp nào, vị Ðạo Sư dạy nên từ bỏ, những pháp ấy họ từ bỏ; và họ không sống trong sự đầy đủ, không lười biếng, họ bỏ rơi gánh nặng về đọa lạc và dẫn đầu về sống viễn ly.
SC 13Này chư Hiền, các Thượng tọa Tỷ-kheo có ba trường hợp đáng được tán thán. Vị Ðạo Sư sống viễn ly, các đệ tử tùy học viễn ly. Ðó là trường hợp thứ nhất, các Thượng Tọa Tỷ-kheo đáng được tán thán. Và những pháp nào vị Ðạo Sư dạy nên từ bỏ, những pháp ấy họ từ bỏ. Ðó là trường hợp thứ hai, các Thượng tọa Tỷ-kheo đáng được tán thán. Và họ không sống trong sự đầy đủ, không lười biếng, họ bỏ rơi gánh nặng về đọa lạc và dẫn đầu về sống viễn ly. Ðó là trường hợp thứ ba, các Thượng Tọa Tỷ-kheo đáng được tán thán. Này chư Hiền, các Thượng tọa Tỷ-kheo do ba trường hợp này, đáng được tán thán.
SC 14Này chư Hiền, các Trung tọa Tỷ-kheo có ba trường hợp đáng được tán thán. … (như trên) …
SC 15Này chư Hiền, các vị mới thọ Tỷ-kheo có ba trường hợp đáng được tán thán. Vị Ðạo Sư sống viễn ly, các đệ tử tùy học viễn ly. Ðó là trường hợp thứ nhất, các vị mới thọ Tỷ-kheo đáng được tán thán. Và những pháp nào vị Ðạo Sư dạy nên từ bỏ, những pháp ấy họ từ bỏ. Ðó là trường hợp thứ hai, các vị mới thọ Tỷ-kheo đáng được tán thán. Và họ không sống trong sự đầy đủ, không lười biếng, họ bỏ rơi gánh nặng về đọa lạc và dẫn đầu về viễn ly. Ðó là trường hợp thứ ba, các vị mới thọ Tỷ-kheo đáng được tán thán. Này chư Hiền, các vị mới thọ Tỷ-kheo do ba trường hợp này, đáng được tán thán.
SC 16Này chư Hiền, như vậy là những trường hợp vị Ðạo Sư sống viễn ly, các đệ tử tùy học viễn ly.
SC 17Ở đây, này chư Hiền, tham là ác pháp, và sân cũng là ác pháp, có một con đường Trung đạo diệt trừ tham và diệt trừ sân, khiến (tịnh) nhãn sanh, khiến (chân) trí sanh, hướng đến tịch tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Và này chư Hiền con đường Trung đạo ấy là gì—(con đường) khiến (tịnh) nhãn sanh, khiến (chân) trí sanh, hướng đến tịch tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn? Ðó là con đường Thánh tám ngành, tức là: Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. Này chư Hiền, đó là con đường Trung đạo, khiến (tịnh) nhãn sanh, khiến (chân) trí sanh, hướng đến tịch tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
SC 18Ở đây, này chư Hiền, phẫn nộ là ác pháp và hiềm hận cũng là ác pháp, giả dối là ác pháp và não hại cũng là ác pháp, tật đố là ác pháp và xan lẫn cũng là ác pháp, man trá là ác pháp và phản bội cũng là ác pháp, ngoan cố là ác pháp và bồng bột nông nổi cũng là ác pháp, mạn là ác pháp và tăng thượng mạn cũng là ác pháp, kiêu là ác pháp và phóng dật cũng là ác pháp. Có một con đường Trung đạo diệt trừ kiêu và diệt trừ phóng dật, khiến (tịnh) nhãn sanh, khiến (chân) trí sanh, hướng đến tịch tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Và này chư Hiền, con đường Trung đạo ấy là gì—(con đường) khiến (tịnh) nhãn sanh, khiến (chân) trí sanh, hướng đến tịch tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn? Ðó là con đường Thánh tám ngành, tức là: Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. Này chư Hiền, đó là con đường Trung đạo khiến (tịnh) nhãn sanh, khiến (chân) trí sanh, hướng đến tịch tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
SC 19Tôn giả Sāriputta thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời giảng của Tôn giả Sāriputta.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 10–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
3. Kinh Thừa Tự Pháp
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
29. Tôi nghe như vầy: Một thời, đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī, trong khu vườn của ông Anāthapiṇḍika ở Jeta. Tại đấy, đức Thế Tôn gọi các vị tỳ khưu: 'Này các tỳ khưu.' Các vị tỳ khưu ấy vâng đáp đức Thế Tôn: 'Bạch ngài.' Đức Thế Tôn nói điều này:
“Dhammadāyādā me, bhikkhave, bhavatha, mā āmisadāyādā. Atthi me tumhesu anukampā: ‘kinti me sāvakā dhammadāyādā bhaveyyuṁ, no āmisadāyādā’ti.
Tumhe ca me, bhikkhave, āmisadāyādā bhaveyyātha no dhammadāyādā, tumhepi tena ādiyā bhaveyyātha: ‘āmisadāyādā satthusāvakā viharanti, no dhammadāyādā’ti; ahampi tena ādiyo bhaveyyaṁ: ‘āmisadāyādā satthusāvakā viharanti, no dhammadāyādā’ti.
Tumhe ca me, bhikkhave, dhammadāyādā bhaveyyātha, no āmisadāyādā, tumhepi tena na ādiyā bhaveyyātha: ‘dhammadāyādā satthusāvakā viharanti, no āmisadāyādā’ti; ahampi tena na ādiyo bhaveyyaṁ: ‘dhammadāyādā satthusāvakā viharanti, no āmisadāyādā’ti.
Tasmātiha me, bhikkhave, dhammadāyādā bhavatha, mā āmisadāyādā. Atthi me tumhesu anukampā: ‘kinti me sāvakā dhammadāyādā bhaveyyuṁ, no āmisadāyādā’ti.
“Mendicants, be my heirs in the teaching, not in things of the flesh. Out of sympathy for you, I think, ‘How can my disciples become heirs in the teaching, not in things of the flesh?’
If you become heirs in things of the flesh, not in the teaching, that will make you liable to the accusation: ‘The Teacher’s disciples live as heirs in things of the flesh, not in the teaching.’ And it will make me liable to the accusation: ‘The Teacher’s disciples live as heirs in things of the flesh, not in the teaching.’
If you become heirs in the teaching, not in things of the flesh, that will make you not liable to the accusation: ‘The Teacher’s disciples live as heirs in the teaching, not in things of the flesh.’ And it will make me not liable to the accusation: ‘The Teacher’s disciples live as heirs in the teaching, not in things of the flesh.’
So, mendicants, be my heirs in the teaching, not in things of the flesh. Out of sympathy for you, I think, ‘How can my disciples become heirs in the teaching, not in things of the flesh?’
“Này các tỳ khưu, hãy là những người thừa tự Pháp của ta, đừng là những người thừa tự vật chất. Ta có lòng thương tưởng đến các ngươi: 'Làm thế nào để các đệ tử của ta là những người thừa tự Pháp, không phải là những người thừa tự vật chất?' Này các tỳ khưu, nếu các ngươi là những người thừa tự vật chất của ta, không phải là những người thừa tự Pháp, thì do đó các ngươi sẽ bị chỉ trích: 'Các đệ tử của bậc Đạo Sư sống như những người thừa tự vật chất, không phải là những người thừa tự Pháp;' và ta cũng sẽ bị chỉ trích do đó: 'Các đệ tử của bậc Đạo Sư sống như những người thừa tự vật chất, không phải là những người thừa tự Pháp.' Này các tỳ khưu, nếu các ngươi là những người thừa tự Pháp của ta, không phải là những người thừa tự vật chất, thì do đó các ngươi sẽ không bị chỉ trích: 'Các đệ tử của bậc Đạo Sư sống như những người thừa tự Pháp, không phải là những người thừa tự vật chất;' và ta cũng sẽ không bị chỉ trích do đó: 'Các đệ tử của bậc Đạo Sư sống như những người thừa tự Pháp, không phải là những người thừa tự vật chất.' Vì vậy, này các tỳ khưu, ở đây hãy là những người thừa tự Pháp của ta, đừng là những người thừa tự vật chất. Ta có lòng thương tưởng đến các ngươi: 'Làm thế nào để các đệ tử của ta là những người thừa tự Pháp, không phải là những người thừa tự vật chất?'”
Idhāhaṁ, bhikkhave, bhuttāvī assaṁ pavārito paripuṇṇo pariyosito suhito yāvadattho; siyā ca me piṇḍapāto atirekadhammo chaḍḍanīyadhammo. Atha dve bhikkhū āgaccheyyuṁ jighacchādubbalyaparetā. Tyāhaṁ evaṁ vadeyyaṁ: ‘ahaṁ khomhi, bhikkhave, bhuttāvī pavārito paripuṇṇo pariyosito suhito yāvadattho; atthi ca me ayaṁ piṇḍapāto atirekadhammo chaḍḍanīyadhammo. Sace ākaṅkhatha, bhuñjatha, no ce tumhe bhuñjissatha, idānāhaṁ appaharite vā chaḍḍessāmi, appāṇake vā udake opilāpessāmī’ti.
Tatrekassa bhikkhuno evamassa: ‘bhagavā kho bhuttāvī pavārito paripuṇṇo pariyosito suhito yāvadattho; atthi cāyaṁ bhagavato piṇḍapāto atirekadhammo chaḍḍanīyadhammo. Sace mayaṁ na bhuñjissāma, idāni bhagavā appaharite vā chaḍḍessati, appāṇake vā udake opilāpessati. Vuttaṁ kho panetaṁ bhagavatā: “dhammadāyādā me, bhikkhave, bhavatha, mā āmisadāyādā”ti. Āmisaññataraṁ kho panetaṁ, yadidaṁ piṇḍapāto. Yannūnāhaṁ imaṁ piṇḍapātaṁ abhuñjitvā imināva jighacchādubbalyena evaṁ imaṁ rattindivaṁ vītināmeyyan’ti. So taṁ piṇḍapātaṁ abhuñjitvā teneva jighacchādubbalyena evaṁ taṁ rattindivaṁ vītināmeyya.
Atha dutiyassa bhikkhuno evamassa: ‘bhagavā kho bhuttāvī pavārito paripuṇṇo pariyosito suhito yāvadattho; atthi cāyaṁ bhagavato piṇḍapāto atirekadhammo chaḍḍanīyadhammo. Sace mayaṁ na bhuñjissāma, idāni bhagavā appaharite vā chaḍḍessati, appāṇake vā udake opilāpessati. Yannūnāhaṁ imaṁ piṇḍapātaṁ bhuñjitvā jighacchādubbalyaṁ paṭivinodetvā evaṁ imaṁ rattindivaṁ vītināmeyyan’ti. So taṁ piṇḍapātaṁ bhuñjitvā jighacchādubbalyaṁ paṭivinodetvā evaṁ taṁ rattindivaṁ vītināmeyya.
Kiñcāpi so, bhikkhave, bhikkhu taṁ piṇḍapātaṁ bhuñjitvā jighacchādubbalyaṁ paṭivinodetvā evaṁ taṁ rattindivaṁ vītināmeyya, atha kho asuyeva me purimo bhikkhu pujjataro ca pāsaṁsataro ca. Taṁ kissa hetu? Tañhi tassa, bhikkhave, bhikkhuno dīgharattaṁ appicchatāya santuṭṭhiyā sallekhāya subharatāya vīriyārambhāya saṁvattissati.
Tasmātiha me, bhikkhave, dhammadāyādā bhavatha, mā āmisadāyādā. Atthi me tumhesu anukampā: ‘kinti me sāvakā dhammadāyādā bhaveyyuṁ, no āmisadāyādā’”ti.
Suppose that I had eaten and refused more food, being replete, and having had as much as I needed. And there was some extra almsfood that was going to be thrown away. Then two mendicants were to come who were weak with hunger. I’d say to them, ‘Mendicants, I have eaten and refused more food, being replete, and having had as much as I need. And there is this extra almsfood that’s going to be thrown away. Eat it if you like. Otherwise I’ll throw it out where there is little that grows, or drop it into water that has no living creatures.’
Then one of those mendicants thought, ‘The Buddha has eaten and refused more food. And he has some extra almsfood that’s going to be thrown away. If we don’t eat it he’ll throw it away. But the Buddha has also said: “Be my heirs in the teaching, not in things of the flesh.” And almsfood is one of the things of the flesh. Instead of eating this almsfood, why don’t I spend this day and night weak with hunger?’ And that’s what they did.
Then the second of those mendicants thought, ‘The Buddha has eaten and refused more food. And he has some extra almsfood that’s going to be thrown away. If we don’t eat it he’ll throw it away. Why don’t I eat this almsfood, then spend the day and night having dispelled my hunger and weakness?’ And that’s what they did.
Even though that mendicant, after eating the almsfood, spent the day and night having dispelled hunger and weakness, it is the former mendicant who is more worthy of respect and praise. Why is that? Because for a long time that will conduce to that mendicant being of few wishes, content, self-effacing, unburdensome, and energetic.
So, mendicants, be my heirs in the teaching, not in things of the flesh. Out of sympathy for you, I think, ‘How can my disciples become heirs in the teaching, not in things of the flesh?’”
30. “Này các tỳ khưu, ở đây, giả sử ta đã ăn xong, đã từ chối (thức ăn thêm), đã no đủ, đã mãn nguyện, đã thỏa thích, đã ăn vừa đủ; và có thức ăn khất thực của ta còn thừa lại, đáng được vứt bỏ. Rồi có hai vị tỳ khưu đến, bị đói và yếu sức hành hạ. Ta nói với họ như vầy: 'Này các tỳ khưu, ta đã ăn xong, đã từ chối, đã no đủ, đã mãn nguyện, đã thỏa thích, đã ăn vừa đủ; và đây là thức ăn khất thực của ta còn thừa lại, đáng được vứt bỏ. Nếu các ngươi muốn, hãy ăn đi. Nếu các ngươi không ăn, thì bây giờ ta sẽ vứt nó ở nơi không có cỏ xanh, hoặc nhận chìm nó vào nước không có chúng sanh.' Khi ấy, một vị tỳ khưu có thể nghĩ như vầy: 'Đức Thế Tôn đã ăn xong, đã từ chối, đã no đủ, đã mãn nguyện, đã thỏa thích, đã ăn vừa đủ; và đây là thức ăn khất thực của đức Thế Tôn còn thừa lại, đáng được vứt bỏ. Nếu chúng ta không ăn, bây giờ đức Thế Tôn sẽ vứt nó ở nơi không có cỏ xanh, hoặc nhận chìm nó vào nước không có chúng sanh. Lại nữa, điều này đã được đức Thế Tôn nói: 'Này các tỳ khưu, hãy là những người thừa tự Pháp của ta, đừng là những người thừa tự vật chất.' Thức ăn khất thực này là một trong những thứ vật chất. Vậy thì, ta hãy không ăn phần thức ăn khất thực này và trải qua đêm ngày này với cơn đói và sự yếu sức này.' Vị ấy có thể không ăn phần thức ăn khất thực đó và trải qua đêm ngày ấy với chính cơn đói và sự yếu sức đó. Rồi vị tỳ khưu thứ hai có thể nghĩ như vầy: 'Đức Thế Tôn đã ăn xong, đã từ chối, đã no đủ, đã mãn nguyện, đã thỏa thích, đã ăn vừa đủ; và đây là thức ăn khất thực của đức Thế Tôn còn thừa lại, đáng được vứt bỏ. Nếu chúng ta không ăn, bây giờ đức Thế Tôn sẽ vứt nó ở nơi không có cỏ xanh, hoặc nhận chìm nó vào nước không có chúng sanh. Vậy thì, ta hãy ăn phần thức ăn khất thực này, xua tan cơn đói và sự yếu sức, và trải qua đêm ngày này.' Vị ấy có thể ăn phần thức ăn khất thực đó, xua tan cơn đói và sự yếu sức, và trải qua đêm ngày ấy. Này các tỳ khưu, mặc dù vị tỳ khưu ấy, sau khi ăn phần thức ăn khất thực đó, xua tan cơn đói và sự yếu sức, và trải qua đêm ngày ấy, tuy nhiên, vị tỳ khưu đầu tiên đáng được ta tôn kính và tán thán hơn. Vì sao vậy? Này các tỳ khưu, vì điều đó sẽ dẫn dắt vị tỳ khưu ấy trong một thời gian dài đến sự ít ham muốn, sự biết đủ, sự khắc khổ, sự dễ nuôi dưỡng, và sự tinh tấn. Vì vậy, này các tỳ khưu, ở đây hãy là những người thừa tự Pháp của ta, đừng là những người thừa tự vật chất. Ta có lòng thương tưởng đến các ngươi: 'Làm thế nào để các đệ tử của ta là những người thừa tự Pháp, không phải là những người thừa tự vật chất?'”
Idamavoca bhagavā. Idaṁ vatvāna sugato uṭṭhāyāsanā vihāraṁ pāvisi.
That is what the Buddha said. When he had spoken, the Holy One rose from his seat and entered his dwelling.
Đức Thế Tôn nói điều này. Sau khi nói điều này, bậc Thiện Thệ đứng dậy khỏi chỗ ngồi và đi vào tịnh xá.
Tatra kho āyasmā sāriputto acirapakkantassa bhagavato bhikkhū āmantesi: “āvuso bhikkhave”ti.
“Āvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato sāriputtassa paccassosuṁ. Āyasmā sāriputto etadavoca:
Then, not long after the Buddha left, Venerable Sāriputta said to the mendicants, “Reverends, mendicants!”
“Reverend,” they replied. Sāriputta said this:
31. Lúc ấy, không lâu sau khi đức Thế Tôn rời đi, tôn giả Sāriputta gọi các vị tỳ khưu: 'Này chư hiền tỳ khưu.' Các vị tỳ khưu ấy vâng đáp tôn giả Sāriputta: 'Thưa hiền giả.' Tôn giả Sāriputta nói điều này:
“Kittāvatā nu kho, āvuso, satthu pavivittassa viharato sāvakā vivekaṁ nānusikkhanti, kittāvatā ca pana satthu pavivittassa viharato sāvakā vivekamanusikkhantī”ti?
“Dūratopi kho mayaṁ, āvuso, āgacchāma āyasmato sāriputtassa santike etassa bhāsitassa atthamaññātuṁ. Sādhu vatāyasmantaṁyeva sāriputtaṁ paṭibhātu etassa bhāsitassa attho; āyasmato sāriputtassa sutvā bhikkhū dhāressantī”ti.
“Tena hāvuso, suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evamāvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato sāriputtassa paccassosuṁ. Āyasmā sāriputto etadavoca:
“Reverends, how do the disciples of a Teacher who lives in seclusion not train in seclusion? And how do they train in seclusion?”
“Reverend, we would travel a long way to learn the meaning of this statement in the presence of Venerable Sāriputta. May Venerable Sāriputta himself please clarify the meaning of this. The mendicants will listen and remember it.”
“Well then, reverends, listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, reverend,” they replied. Sāriputta said this:
“Này chư hiền, trong trường hợp nào, khi bậc Đạo Sư sống viễn ly, các đệ tử không thực hành theo sự viễn ly? Và, trong trường hợp nào, khi bậc Đạo Sư sống viễn ly, các đệ tử thực hành theo sự viễn ly?” “Thưa hiền giả, chúng con từ xa đến đây, đến trước tôn giả Sāriputta để tìm hiểu ý nghĩa của lời nói này. Lành thay, nếu chính tôn giả Sāriputta giải thích ý nghĩa của lời nói này. Sau khi nghe từ tôn giả Sāriputta, các vị tỳ khưu sẽ ghi nhớ.” “Vậy thì, này chư hiền, hãy lắng nghe và chú tâm, ta sẽ nói.” “Vâng, thưa hiền giả,” các vị tỳ khưu ấy vâng đáp tôn giả Sāriputta. Tôn giả Sāriputta nói điều này:
“Kittāvatā nu kho, āvuso, satthu pavivittassa viharato sāvakā vivekaṁ nānusikkhanti? Idhāvuso, satthu pavivittassa viharato sāvakā vivekaṁ nānusikkhanti, yesañca dhammānaṁ satthā pahānamāha, te ca dhamme nappajahanti, bāhulikā ca honti, sāthalikā, okkamane pubbaṅgamā, paviveke nikkhittadhurā. Tatrāvuso, therā bhikkhū tīhi ṭhānehi gārayhā bhavanti. ‘Satthu pavivittassa viharato sāvakā vivekaṁ nānusikkhantī’ti—iminā paṭhamena ṭhānena therā bhikkhū gārayhā bhavanti. ‘Yesañca dhammānaṁ satthā pahānamāha te ca dhamme nappajahantī’ti—iminā dutiyena ṭhānena therā bhikkhū gārayhā bhavanti. ‘Bāhulikā ca, sāthalikā, okkamane pubbaṅgamā, paviveke nikkhittadhurā’ti—iminā tatiyena ṭhānena therā bhikkhū gārayhā bhavanti. Therā, āvuso, bhikkhū imehi tīhi ṭhānehi gārayhā bhavanti. Tatrāvuso, majjhimā bhikkhū …pe… navā bhikkhū tīhi ṭhānehi gārayhā bhavanti. ‘Satthu pavivittassa viharato sāvakā vivekaṁ nānusikkhantī’ti—iminā paṭhamena ṭhānena navā bhikkhū gārayhā bhavanti. ‘Yesañca dhammānaṁ satthā pahānamāha te ca dhamme nappajahantī’ti—iminā dutiyena ṭhānena navā bhikkhū gārayhā bhavanti. ‘Bāhulikā ca honti, sāthalikā, okkamane pubbaṅgamā, paviveke nikkhittadhurā’ti—iminā tatiyena ṭhānena navā bhikkhū gārayhā bhavanti. Navā, āvuso, bhikkhū imehi tīhi ṭhānehi gārayhā bhavanti. Ettāvatā kho, āvuso, satthu pavivittassa viharato sāvakā vivekaṁ nānusikkhanti.
“Reverends, how do the disciples of a Teacher who lives in seclusion not train in seclusion? The disciples of a Teacher who lives in seclusion do not train in seclusion. They don’t give up what the Teacher tells them to give up. They’re indulgent and slack, leaders in backsliding, neglecting seclusion. In this case, the senior mendicants should be criticized on three grounds. ‘The disciples of a Teacher who lives in seclusion do not train in seclusion.’ This is the first ground. ‘They don’t give up what the Teacher tells them to give up.’ This is the second ground. ‘They’re indulgent and slack, leaders in backsliding, neglecting seclusion.’ This is the third ground. The senior mendicants should be criticized on these three grounds. In this case, the middle mendicants and the junior mendicants should be criticized on the same three grounds. This is how the disciples of a Teacher who lives in seclusion do not train in seclusion.
Này các hiền hữu, đến mức độ nào, các đệ tử không học theo sự viễn ly của Bậc Đạo Sư, vị đang sống viễn ly? Này các hiền hữu, ở đây, các đệ tử không học theo sự viễn ly của Bậc Đạo Sư, vị đang sống viễn ly; và những pháp nào Bậc Đạo Sư dạy cần phải từ bỏ, thì họ không từ bỏ những pháp ấy, họ lại còn sống sung túc, buông thả, đi đầu trong sự thoái hóa, và từ bỏ gánh nặng trong sự viễn ly. Này các hiền hữu, trong trường hợp ấy, các tỳ khưu trưởng lão đáng bị khiển trách vì ba lý do. ‘Các đệ tử không học theo sự viễn ly của Bậc Đạo Sư, vị đang sống viễn ly’ – vì lý do thứ nhất này, các tỳ khưu trưởng lão đáng bị khiển trách. ‘Những pháp nào Bậc Đạo Sư dạy cần phải từ bỏ, thì họ không từ bỏ những pháp ấy’ – vì lý do thứ hai này, các tỳ khưu trưởng lão đáng bị khiển trách. ‘Họ lại còn sống sung túc, buông thả, đi đầu trong sự thoái hóa, và từ bỏ gánh nặng trong sự viễn ly’ – vì lý do thứ ba này, các tỳ khưu trưởng lão đáng bị khiển trách. Này các hiền hữu, các tỳ khưu trưởng lão đáng bị khiển trách vì ba lý do này. Này các hiền hữu, trong trường hợp ấy, các tỳ khưu trung niên... ... các tỳ khưu mới tu đáng bị khiển trách vì ba lý do. ‘Các đệ tử không học theo sự viễn ly của Bậc Đạo Sư, vị đang sống viễn ly’ – vì lý do thứ nhất này, các tỳ khưu mới tu đáng bị khiển trách. ‘Những pháp nào Bậc Đạo Sư dạy cần phải từ bỏ, thì họ không từ bỏ những pháp ấy’ – vì lý do thứ hai này, các tỳ khưu mới tu đáng bị khiển trách. ‘Họ lại còn sống sung túc, buông thả, đi đầu trong sự thoái hóa, và từ bỏ gánh nặng trong sự viễn ly’ – vì lý do thứ ba này, các tỳ khưu mới tu đáng bị khiển trách. Này các hiền hữu, các tỳ khưu mới tu đáng bị khiển trách vì ba lý do này. Này các hiền hữu, đến mức độ này, các đệ tử không học theo sự viễn ly của Bậc Đạo Sư, vị đang sống viễn ly.
Kittāvatā ca panāvuso, satthu pavivittassa viharato sāvakā vivekamanusikkhanti? Idhāvuso, satthu pavivittassa viharato sāvakā vivekamanusikkhanti—yesañca dhammānaṁ satthā pahānamāha te ca dhamme pajahanti; na ca bāhulikā honti, na sāthalikā okkamane nikkhittadhurā paviveke pubbaṅgamā. Tatrāvuso, therā bhikkhū tīhi ṭhānehi pāsaṁsā bhavanti. ‘Satthu pavivittassa viharato sāvakā vivekamanusikkhantī’ti—iminā paṭhamena ṭhānena therā bhikkhū pāsaṁsā bhavanti. ‘Yesañca dhammānaṁ satthā pahānamāha te ca dhamme pajahantī’ti—iminā dutiyena ṭhānena therā bhikkhū pāsaṁsā bhavanti. ‘Na ca bāhulikā, na sāthalikā okkamane nikkhittadhurā paviveke pubbaṅgamā’ti—iminā tatiyena ṭhānena therā bhikkhū pāsaṁsā bhavanti. Therā, āvuso, bhikkhū imehi tīhi ṭhānehi pāsaṁsā bhavanti. Tatrāvuso, majjhimā bhikkhū …pe… navā bhikkhū tīhi ṭhānehi pāsaṁsā bhavanti. ‘Satthu pavivittassa viharato sāvakā vivekamanusikkhantī’ti—iminā paṭhamena ṭhānena navā bhikkhū pāsaṁsā bhavanti. ‘Yesañca dhammānaṁ satthā pahānamāha te ca dhamme pajahantī’ti—iminā dutiyena ṭhānena navā bhikkhū pāsaṁsā bhavanti. ‘Na ca bāhulikā, na sāthalikā okkamane nikkhittadhurā paviveke pubbaṅgamā’ti—iminā tatiyena ṭhānena navā bhikkhū pāsaṁsā bhavanti. Navā, āvuso, bhikkhū imehi tīhi ṭhānehi pāsaṁsā bhavanti. Ettāvatā kho, āvuso, satthu pavivittassa viharato sāvakā vivekamanusikkhanti.
And how do the disciples of a Teacher who lives in seclusion train in seclusion? The disciples of a Teacher who lives in seclusion train in seclusion. They give up what the Teacher tells them to give up. They’re not indulgent and slack, leaders in backsliding, neglecting seclusion. In this case, the senior mendicants should be praised on three grounds. ‘The disciples of a Teacher who lives in seclusion train in seclusion.’ This is the first ground. ‘They give up what the Teacher tells them to give up.’ This is the second ground. ‘They’re not indulgent and slack, leaders in backsliding, neglecting seclusion.’ This is the third ground. The senior mendicants should be praised on these three grounds. In this case, the middle mendicants and the junior mendicants should be praised on the same three grounds. This is how the disciples of a Teacher who lives in seclusion train in seclusion.
32. Này các hiền hữu, đến mức độ nào, các đệ tử học theo sự viễn ly của Bậc Đạo Sư, vị đang sống viễn ly? Này các hiền hữu, ở đây, các đệ tử học theo sự viễn ly của Bậc Đạo Sư, vị đang sống viễn ly – và những pháp nào Bậc Đạo Sư dạy cần phải từ bỏ, thì họ từ bỏ những pháp ấy; họ không sống sung túc, không buông thả, từ bỏ gánh nặng trong sự thoái hóa, và đi đầu trong sự viễn ly. Này các hiền hữu, trong trường hợp ấy, các tỳ khưu trưởng lão đáng được tán dương vì ba lý do. ‘Các đệ tử học theo sự viễn ly của Bậc Đạo Sư, vị đang sống viễn ly’ – vì lý do thứ nhất này, các tỳ khưu trưởng lão đáng được tán dương. ‘Những pháp nào Bậc Đạo Sư dạy cần phải từ bỏ, thì họ từ bỏ những pháp ấy’ – vì lý do thứ hai này, các tỳ khưu trưởng lão đáng được tán dương. ‘Họ không sống sung túc, không buông thả, từ bỏ gánh nặng trong sự thoái hóa, và đi đầu trong sự viễn ly’ – vì lý do thứ ba này, các tỳ khưu trưởng lão đáng được tán dương. Này các hiền hữu, các tỳ khưu trưởng lão đáng được tán dương vì ba lý do này. Này các hiền hữu, trong trường hợp ấy, các tỳ khưu trung niên... ... các tỳ khưu mới tu đáng được tán dương vì ba lý do. ‘Các đệ tử học theo sự viễn ly của Bậc Đạo Sư, vị đang sống viễn ly’ – vì lý do thứ nhất này, các tỳ khưu mới tu đáng được tán dương. ‘Những pháp nào Bậc Đạo Sư dạy cần phải từ bỏ, thì họ từ bỏ những pháp ấy’ – vì lý do thứ hai này, các tỳ khưu mới tu đáng được tán dương. ‘Họ không sống sung túc, không buông thả, từ bỏ gánh nặng trong sự thoái hóa, và đi đầu trong sự viễn ly’ – vì lý do thứ ba này, các tỳ khưu mới tu đáng được tán dương. Này các hiền hữu, các tỳ khưu mới tu đáng được tán dương vì ba lý do này. Này các hiền hữu, đến mức độ này, các đệ tử học theo sự viễn ly của Bậc Đạo Sư, vị đang sống viễn ly.
Tatrāvuso, lobho ca pāpako doso ca pāpako. Lobhassa ca pahānāya dosassa ca pahānāya atthi majjhimā paṭipadā cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati. Katamā ca sā, āvuso, majjhimā paṭipadā cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati? Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi sammāsaṅkappo sammāvācā sammākammanto sammāājīvo sammāvāyāmo sammāsati sammāsamādhi. Ayaṁ kho sā, āvuso, majjhimā paṭipadā cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati.
The bad thing here is greed and hate. There is a middle way of practice for giving up greed and hate. It gives vision and knowledge, and leads to peace, direct knowledge, awakening, and extinguishment. And what is that middle way of practice? It is simply this noble eightfold path, that is: right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion. This is that middle way of practice, which gives vision and knowledge, and leads to peace, direct knowledge, awakening, and extinguishment.
33. Này các hiền hữu, trong đó, tham là xấu ác và sân là xấu ác. Để từ bỏ tham và để từ bỏ sân, có con đường trung đạo, tạo ra tuệ nhãn, tạo ra trí kiến, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Và này các hiền hữu, con đường trung đạo ấy là gì, con đường tạo ra tuệ nhãn, tạo ra trí kiến, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn? Chính là Bát Chánh Đạo này, tức là: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. Này các hiền hữu, đây chính là con đường trung đạo, tạo ra tuệ nhãn, tạo ra trí kiến, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
Tatrāvuso, kodho ca pāpako upanāho ca pāpako …pe… makkho ca pāpako paḷāso ca pāpako, issā ca pāpikā maccherañca pāpakaṁ, māyā ca pāpikā sāṭheyyañca pāpakaṁ, thambho ca pāpako sārambho ca pāpako, māno ca pāpako atimāno ca pāpako, mado ca pāpako pamādo ca pāpako. Madassa ca pahānāya pamādassa ca pahānāya atthi majjhimā paṭipadā cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati. Katamā ca sā, āvuso, majjhimā paṭipadā cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati? Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi sammāsaṅkappo sammāvācā sammākammanto sammāājīvo sammāvāyāmo sammāsati sammāsamādhi. Ayaṁ kho sā, āvuso, majjhimā paṭipadā cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattatī”ti.
The bad thing here is anger and acrimony. … disdain and contempt … jealousy and stinginess … deceit and deviousness … obstinacy and aggression … conceit and arrogance … vanity and negligence. There is a middle way of practice for giving up vanity and negligence. It gives vision and knowledge, and leads to peace, direct knowledge, awakening, and extinguishment. And what is that middle way of practice? It is simply this noble eightfold path, that is: right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion. This is that middle way of practice, which gives vision and knowledge, and leads to peace, direct knowledge, awakening, and extinguishment.”
“Này các hiền hữu, trong các pháp ấy, phẫn nộ là xấu xa, oán hận là xấu xa… cho đến… gièm pha là xấu xa, ganh đua là xấu xa, tật đố là xấu xa, bỏn xẻn là xấu xa, xảo trá là xấu xa, gian manh là xấu xa, ngoan cố là xấu xa, hiếu thắng là xấu xa, ngã mạn là xấu xa, quá mạn là xấu xa, say sưa là xấu xa, phóng dật là xấu xa. Và để đoạn trừ sự say sưa, để đoạn trừ sự phóng dật, có con đường trung đạo, tạo ra nhãn quan, tạo ra tri kiến, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Và này các hiền hữu, thế nào là con đường trung đạo, tạo ra nhãn quan, tạo ra tri kiến, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn? Đó chính là Thánh đạo Tám ngành này, tức là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này các hiền hữu, đây chính là con đường trung đạo, tạo ra nhãn quan, tạo ra tri kiến, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.”
Idamavocāyasmā sāriputto. Attamanā te bhikkhū āyasmato sāriputtassa bhāsitaṁ abhinandunti.
That is what Venerable Sāriputta said. Satisfied, the mendicants approved what Sāriputta said.
Tôn giả Sāriputta đã nói như vậy. Các vị tỳ khưu ấy, với tâm ý hoan hỷ, đã tán thưởng lời dạy của Tôn giả Sāriputta.
Dhammadāyādasuttaṁ niṭṭhitaṁ tatiyaṁ.
Kinh Người Thừa Tự Pháp, bài kinh thứ ba, đã chấm dứt.