- Majjhima Nikāya 2
Sabbāsavasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Sabbāsavasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc). Khi ở tại chỗ ấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo!” —“ Bạch Thế Tôn”, các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói: “Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Người pháp môn phòng hộ tất cả lậu hoặc”. Hãy nghe và khéo tác ý. Ta sẽ nói”.:” Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Thế Tôn nói như sau
SC 2—Này các Tỷ-kheo, Ta giảng sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, cho người không thấy. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy: có như lý tác ý và không như lý tác ý. Này các Tỷ-kheo, do không như lý tác ý, các lậu hoặc chưa sanh được sanh khởi, và các lậu hoặc đã sanh được tăng trưởng. Này các Tỷ-kheo, do như lý tác ý, các lậu hoặc chưa sanh không sanh khởi, và các lậu hoặc đã sanh được trừ diệt. Này các Tỷ-kheo, có những lậu hoặc phải do tri kiến được đoạn trừ, có những lậu hoặc phải do phòng hộ được đoạn trừ, có những lậu hoặc phải do thọ dụng được đoạn trừ, có những lậu hoặc phải do kham nhẫn được đoạn trừ, có những lậu hoặc phải do tránh né được đoạn trừ, có những lậu hoặc phải do trừ diệt được đoạn trừ, có những lậu hoặc phải do tu tập được đoạn trừ.
SC 3Này các Tỷ-kheo, và thế nào là các lậu hoặc phải do tri kiến được đoạn trừ? Này các Tỷ-kheo, ở đây có kẻ phàm phu ít nghe, không được thấy các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không được thấy các bậc Chơn nhơn, không thuần thục pháp các bậc Chơn nhơn, không tu tập pháp các bậc Chơn nhơn, không tuệ tri các pháp cần phải tác ý, không tuệ tri các pháp không cần phải tác ý; vị này vì không tuệ tri các pháp cần phải tác ý, vì không tuệ tri các pháp không cần phải tác ý nên tác ý các pháp không cần phải tác ý và không tác ý các pháp cần phải tác ý.
SC 4Này các Tỷ-kheo, và thế nào là các pháp không cần phải tác ý mà vị ấy tác ý? Này các Tỷ-kheo, nghĩa là các pháp do vị ấy tác ý mà dục lậu chưa sanh được sanh khởi, hay dục lậu đã sanh được tăng trưởng; hay hữu lậu chưa sanh được sanh khởi, hay hữu lậu đã sanh được tăng trưởng, hay vô minh lậu chưa sanh được sanh khởi, hay vô minh lậu đã sanh được tăng trưởng. Những pháp ấy là những pháp không cần phải tác ý mà vị ấy tác ý. Này các Tỷ-kheo, và thế nào là các pháp cần phải tác ý mà vị ấy không tác ý? Này các Tỷ-kheo, nghĩa là các pháp do vị ấy tác ý mà dục lậu chưa sanh không sanh khởi, hay dục lậu đã sanh được trừ diệt, hay hữu lậu chưa sanh không sanh khởi, hay hữu lậu đã sanh được trừ diệt, hay vô minh lậu chưa sanh không sanh khởi, hay vô minh lậu đã sanh được trừ diệt. Những pháp ấy là những pháp cần phải tác ý mà các vị ấy không tác ý. Do vị ấy tác ý các pháp không nên tác ý, do vị ấy không tác ý các pháp cần phải tác ý, nên các lậu hoặc chưa sanh được sanh khởi, và các lậu hoặc đã sanh được tăng trưởng.
SC 5Vị ấy không như lý tác ý như sau: “Ta có mặt trong thời quá khứ, hay ta không có mặt trong thời quá khứ? Ta có mặt trong thời quá khứ như thế nào? Ta có mặt trong thời quá khứ hình vóc như thế nào? Trước kia ta là gì và ta đã có mặt như thế nào trong thời quá khứ? Ta sẽ có mặt trong thời vị lai hay ta sẽ không có mặt trong thời vị lai? Ta sẽ có mặt trong thời vị lai như thế nào? Ta sẽ có mặt trong thời vị lai, hình vóc như thế nào? Trước kia ta là gì và ta sẽ có mặt như thế nào trong thời vị lai?” Hay nay vị ấy có nghi ngờ về mình trong thời hiện tại: “Ta có mặt hay ta không có mặt? Ta có mặt như thế nào? Ta có mặt hình vóc như thế nào? Chúng sanh này từ đâu đến? Và rồi nó sẽ đi đâu?”.
SC 6Với người không như lý tác ý như vậy, một trong sáu tà kiến này khởi lên: “Ta có tự ngã”, tà kiến này khởi lên với người ấy như thật, như chơn; “Ta không có tự ngã”, tà kiến này khởi lên với người ấy như thật như chơn; “Do tự mình, ta tưởng tri ta có tự ngã”, tà kiến này khởi lên với người ấy như thật, như chơn; “Do tự mình, ta tưởng tri ta không có tự ngã”, tà kiến này khởi lên với người ấy như thật, như chơn. “Không do tự mình, ta tưởng tri ta có tự ngã”, tà kiến này khởi lên với người ấy như thật, như chơn; hay tà kiến này khởi lên với người ấy: “Chính tự ngã của ta nói, cảm giác, hưởng thọ quả báo các nghiệp thiện ác đã làm chỗ này, chỗ kia, chính tự ngã ấy của ta là thường trú, thường hằng, hằng tồn, không chuyển biến, và sẽ vĩnh viễn tồn tại”. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là tà kiến, kiến trù lâm, kiến hoang vu, kiến hý luận, kiến tranh chấp, kiến kiết phược. Này các Tỷ-kheo, trói buộc bởi kiến kiết sử, kẻ phàm phu ít nghe không được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói kẻ ấy không thoát khỏi khổ đau.
SC 7Này các Tỷ-kheo, và vị Thánh đệ tử nghe nhiều, được thấy các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh; được thấy các bậc Chơn nhơn, thuần thục pháp các bậc Chơn nhơn, tu tập pháp các bậc Chơn nhơn, tuệ tri các pháp cần phải tác ý, tuệ tri các pháp không cần phải tác ý. Vị này, nhờ tuệ tri các pháp cần phải tác ý, nhờ tuệ tri các pháp không cần phải tác ý, nên không tác ý các pháp không cần phải tác ý và tác ý các pháp cần phải tác ý.
SC 8Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp không cần phải tác ý và vị này không tác ý? Này các Tỷ-kheo, những pháp nào do vị ấy tác ý mà dục lậu chưa sanh được sanh khởi, hay dục lậu đã sanh được tăng trưởng; hay hữu lậu chưa sanh … (như trên) … hay vô minh lậu chưa sanh được khởi, hay vô minh lậu đã sanh được tăng trưởng. Ðó là những pháp không nên tác ý và vị ấy không tác ý. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp cần phải tác ý và vị ấy tác ý? Này các Tỷ-kheo, những pháp nào do vị ấy tác ý mà dục lậu chưa sanh không sanh khởi, hay dục lậu đã sanh được trừ diệt, hay hữu lậu chưa sanh … (như trên) … hay vô minh lậu chưa sanh không sanh khởi, hay vô minh lậu đã sanh được trừ diệt, đó là những pháp cần phải tác ý và vị ấy tác ý. Nhờ vị ấy không tác ý các pháp không cần phải tác ý, tác ý các pháp cần phải tác ý nên các lậu hoặc chưa sanh không sanh khởi và các lậu hoặc đã sanh được trừ diệt.
SC 9Vị ấy như lý tác ý: “Ðây là khổ”, như lý tác ý: “Ðây là khổ tập”, như lý tác ý: “Ðây là khổ diệt”, như lý tác ý: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”. Nhờ vị ấy tác ý như vậy, ba kiết sử được trừ diệt: thân kiến, nghi, giới cấm thủ. Này các Tỷ-kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do tri kiến được đoạn trừ.
SC 10Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do phòng hộ được đoạn trừ? Ở đây, có Tỷ-kheo như lý giác sát, sống phòng hộ với sự phòng hộ mắt. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ấy sống không phòng hộ với sự phòng hộ mắt, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não có thể khởi lên. Nếu sống phòng hộ với sự phòng hộ mắt, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa. Vị ấy như lý giác sát, sống phòng hộ với sự phòng hộ lỗ tai … (như trên) … sống phòng hộ với sự phòng hộ lỗ mũi … (như trên) … sống phòng hộ với sự phòng hộ lưỡi … (như trên) … sống như lý giác sát phòng hộ với sự phòng hộ thân … (như trên) … sống như lý giác sát phòng hộ với sự phòng hộ ý. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ấy sống không phòng hộ với sự phòng hộ ý, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy có thể khởi lên. Nếu sống phòng hộ ý, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa. Này các Tỷ-kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do phòng hộ được đoạn trừ.
SC 11Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do thọ dụng được đoạn trừ? Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo như lý giác sát, thọ dụng y phục, chỉ để ngăn ngừa lạnh, ngăn ngừa nóng, ngăn ngừa sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát, chỉ với mục đích che đậy sự trần truồng.
SC 12Vị ấy như lý giác sát, thọ dụng món ăn khất thực không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được sống lâu và được bảo dưỡng, để thân này khỏi bị thương hại, để hỗ trợ phạm hạnh, nghĩ rằng: “Như vậy, ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới, và ta sẽ không có lỗi lầm, sống được an ổn”.
SC 13Vị ấy như lý giác sát, thọ dụng sàng tọa, chỉ để ngăn ngừa lạnh, ngăn ngừa nóng, ngăn ngừa sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loại bò sát, chỉ để giải trừ nguy hiểm của thời tiết, chỉ với mục đích sống độc cư an tịnh.
SC 14Vị ấy như lý giác sát thọ dụng dược phẩm trị bệnh, chỉ để ngăn chận các cảm giác khổ thống đã sanh, để được ly khổ hoàn toàn.
SC 15Này các Tỷ-kheo, nếu vị ấy không thọ dụng như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não có thể khởi lên. Nếu vị ấy thọ dụng như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa. Này các Tỷ-kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do thọ dụng được đoạn trừ.
SC 16Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do kham nhẫn được đoạn trừ? Này các Tỷ-kheo, ở đây, có Tỷ-kheo như lý giác sát, kham nhẫn lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát; kham nhẫn những cách nói mạ lị phỉ báng. Vị ấy có tánh kham nhẫn các cảm thọ về thân, những cảm thọ thống khổ, khốc liệt, đau nhói, nhức nhối, không sung sướng, không thích thú, chết điếng người. Này các Tỷ-kheo, nếu vị ấy không kham nhẫn như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não có thể khởi lên. Nếu vị ấy kham nhẫn như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa. Này các Tỷ-kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do kham nhẫn được đoạn trừ.
SC 17Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do tránh né được đoạn trừ? Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo như lý giác sát tránh né voi dữ, tránh né ngựa dữ, tránh né bò dữ, tránh né chó dữ, rắn, khúc cây, gai góc, hố sâu, vực núi, ao nước nhớp, vũng nước. Có những chỗ ngồi không xứng đáng ngồi, những trú xứ không nên lai vãng, những bạn bè ác độc mà nếu giao du thì bị các vị đồng phạm hạnh có trí nghi ngờ, khinh thường; vị ấy như lý giác sát tránh né chỗ ngồi không xứng đáng ấy, trú xứ không nên lai vãng ấy và các bạn độc ác ấy. Này các Tỷ-kheo, nếu vị ấy không tránh né như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy có thể khởi lên. Nếu vị ấy tránh né như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa. Này các Tỷ-kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do tránh né được đoạn trừ.
SC 18Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do trừ diệt được đoạn trừ? Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo như lý giác sát không có chấp nhận dục niệm đã khởi lên, từ bỏ, trừ diệt, diệt tận, không cho tồn tại (dục niệm ấy); không có chấp nhận sân niệm đã khởi lên, từ bỏ, trừ diệt, diệt tận, không cho tồn tại (sân niệm ấy); không có chấp nhận hại niệm đã khởi lên, từ bỏ, trừ diệt, diệt tận, không cho tồn tại (hại niệm ấy); không chấp nhận các ác bất thiện pháp luôn luôn khởi lên, từ bỏ, trừ diệt, diệt tận, không cho tồn tại (các ác bất thiện pháp ấy). Này các Tỷ-kheo, nếu vị ấy không trừ diệt như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy có thể khởi lên. Nếu vị ấy trừ diệt như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa. Này các Tỷ-kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do trừ diệt được đoạn diệt.
SC 19Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do tu tập được đoạn trừ? Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo như lý giác sát tu tập niệm giác chi, niệm giác chi này y viễn ly, y ly tham, y đoạn diệt, hướng đến từ bỏ; như lý giác sát tu tập trạch pháp giác chi … (như trên) … tu tập tinh tấn giác chi … tu tập hỷ giác chi … tu tập khinh an giác chi … tu tập định giác chi … tu tập xả giác chi; xả giác chi này y viễn ly, y ly tham, y đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Này các Tỷ-kheo, nếu vị ấy không tu tập như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy có thể khởi lên. Nếu vị ấy tu tập như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa. Này các Tỷ-kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do tu tập được đoạn trừ.
SC 20Này các Tỷ-kheo, đối với Tỷ-kheo những lậu hoặc nào phải do tri kiến được đoạn trừ đã được tri kiến đoạn trừ, những lậu hoặc nào phải do phòng hộ được đoạn trừ đã được phòng hộ đoạn trừ, những lậu hoặc nào phải do thọ dụng được đoạn trừ đã được thọ dụng đoạn trừ, những lậu hoặc nào phải do kham nhẫn được đoạn trừ đã được kham nhẫn đoạn trừ, những lậu hoặc nào phải do tránh né được đoạn trừ đã được tránh né đoạn trừ, những lậu hoặc nào phải do trừ diệt được đoạn trừ đã được trừ diệt đoạn trừ, những lậu hoặc nào phải do tu tập được đoạn trừ đã được tu tập đoạn trừ; này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là đã sống phòng hộ với sự phòng hộ tất cả lậu hoặc, đã đoạn diệt khát ái, đã thoát ly kiết sử, đã chánh quán kiêu mạn, đã diệt tận khổ đau.
SC 21Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 10–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
Kinh Tất Cả Lậu Hoặc, kinh thứ hai, kết thúc.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“sabbāsavasaṁvarapariyāyaṁ vo, bhikkhave, desessāmi. Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“Jānato ahaṁ, bhikkhave, passato āsavānaṁ khayaṁ vadāmi, no ajānato no apassato. Kiñca, bhikkhave, jānato kiñca passato āsavānaṁ khayaṁ vadāmi? Yoniso ca manasikāraṁ ayoniso ca manasikāraṁ.
“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
“Mendicants, I will teach you the explanation of the restraint of all defilements. Listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:
“Mendicants, I say that the ending of defilements is for one who knows and sees, not for one who does not know or see. For one who knows and sees what? Rational application of mind and irrational application of mind.
29. Tôi nghe như vầy: Một thời, đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī, trong khu vườn của ông Anāthapiṇḍika ở Jeta. Tại đấy, đức Thế Tôn gọi các vị tỳ khưu: 'Này các tỳ khưu.' Các vị tỳ khưu ấy vâng đáp đức Thế Tôn: 'Bạch ngài.' Đức Thế Tôn nói điều này:
15. “Này các Tỳ-khưu, Ta tuyên bố sự đoạn tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy, chứ không phải cho người không biết, không thấy. Này các Tỳ-khưu, biết điều gì, thấy điều gì mà Ta tuyên bố sự đoạn tận các lậu hoặc? Đó là sự tác ý như lý và sự tác ý không như lý. Này các Tỳ-khưu, đối với người tác ý không như lý, các lậu hoặc chưa sanh thì sanh khởi, và các lậu hoặc đã sanh thì tăng trưởng. Này các Tỳ-khưu, đối với người tác ý như lý, các lậu hoặc chưa sanh thì không sanh khởi, và các lậu hoặc đã sanh thì được đoạn trừ.”
Atthi, bhikkhave, āsavā dassanā pahātabbā, atthi āsavā saṁvarā pahātabbā, atthi āsavā paṭisevanā pahātabbā, atthi āsavā adhivāsanā pahātabbā, atthi āsavā parivajjanā pahātabbā, atthi āsavā vinodanā pahātabbā, atthi āsavā bhāvanā pahātabbā.
Some defilements should be given up by seeing, some by restraint, some by using, some by enduring, some by avoiding, some by dispelling, and some by developing.
16. “Này các Tỳ-khưu, có những lậu hoặc cần được đoạn trừ bằng tri kiến, có những lậu hoặc cần được đoạn trừ bằng sự phòng hộ, có những lậu hoặc cần được đoạn trừ bằng sự thọ dụng, có những lậu hoặc cần được đoạn trừ bằng sự kham nhẫn, có những lậu hoặc cần được đoạn trừ bằng sự né tránh, có những lậu hoặc cần được đoạn trừ bằng sự trừ diệt, có những lậu hoặc cần được đoạn trừ bằng sự tu tập.”
Các lậu hoặc cần được đoạn trừ bằng tri kiến
Katame ca, bhikkhave, āsavā dassanā pahātabbā? Idha, bhikkhave, assutavā puthujjano ariyānaṁ adassāvī ariyadhammassa akovido ariyadhamme avinīto, sappurisānaṁ adassāvī sappurisadhammassa akovido sappurisadhamme avinīto—manasikaraṇīye dhamme nappajānāti, amanasikaraṇīye dhamme nappajānāti. So manasikaraṇīye dhamme appajānanto amanasikaraṇīye dhamme appajānanto, ye dhammā na manasikaraṇīyā, te dhamme manasi karoti, ye dhammā manasikaraṇīyā te dhamme na manasi karoti.
And what are the defilements that should be given up by seeing? Take an unlearned ordinary person who has not seen the noble ones, and is neither skilled nor trained in the teaching of the noble ones. They’ve not seen true persons, and are neither skilled nor trained in the teaching of the true persons. They don’t understand to which things they should apply the mind and to which things they should not apply the mind. So they apply the mind to things they shouldn’t and don’t apply the mind to things they should.
17. “Và này các Tỳ-khưu, thế nào là các lậu hoặc cần được đoạn trừ bằng tri kiến? Ở đây, này các Tỳ-khưu, kẻ phàm phu ít nghe, không thấy các bậc Thánh, không thuần thục Thánh pháp, không tu tập trong Thánh pháp; không thấy các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp của bậc Chân nhân, không tu tập trong pháp của bậc Chân nhân, không biết rõ các pháp cần phải tác ý, không biết rõ các pháp không cần phải tác ý. Vị ấy, do không biết rõ các pháp cần phải tác ý và không biết rõ các pháp không cần phải tác ý, nên tác ý đến những pháp không cần phải tác ý, và không tác ý đến những pháp cần phải tác ý.”
Katame ca, bhikkhave, dhammā na manasikaraṇīyā ye dhamme manasi karoti? Yassa, bhikkhave, dhamme manasikaroto anuppanno vā kāmāsavo uppajjati, uppanno vā kāmāsavo pavaḍḍhati; anuppanno vā bhavāsavo uppajjati, uppanno vā bhavāsavo pavaḍḍhati; anuppanno vā avijjāsavo uppajjati, uppanno vā avijjāsavo pavaḍḍhati—ime dhammā na manasikaraṇīyā ye dhamme manasi karoti.
And what are the things to which they apply the mind but should not? They are the things that, when the mind is applied to them, give rise to unarisen defilements and make arisen defilements grow: the defilements of sensual desire, desire to be reborn, and ignorance. These are the things to which they apply the mind but should not.
“Và này các Tỳ-khưu, thế nào là những pháp không cần phải tác ý mà vị ấy lại tác ý? Này các Tỳ-khưu, khi vị ấy tác ý đến những pháp nào mà dục lậu chưa sanh thì sanh khởi, hoặc dục lậu đã sanh thì tăng trưởng; hữu lậu chưa sanh thì sanh khởi, hoặc hữu lậu đã sanh thì tăng trưởng; vô minh lậu chưa sanh thì sanh khởi, hoặc vô minh lậu đã sanh thì tăng trưởng – đây là những pháp không cần phải tác ý mà vị ấy lại tác ý.”
Katame ca, bhikkhave, dhammā manasikaraṇīyā ye dhamme na manasi karoti? Yassa, bhikkhave, dhamme manasikaroto anuppanno vā kāmāsavo na uppajjati, uppanno vā kāmāsavo pahīyati; anuppanno vā bhavāsavo na uppajjati, uppanno vā bhavāsavo pahīyati; anuppanno vā avijjāsavo na uppajjati, uppanno vā avijjāsavo pahīyati—ime dhammā manasikaraṇīyā ye dhamme na manasi karoti.
And what are the things to which they do not apply the mind but should? They are the things that, when the mind is applied to them, do not give rise to unarisen defilements and give up arisen defilements: the defilements of sensual desire, desire to be reborn, and ignorance. These are the things to which they do not apply the mind but should.
“Và này các Tỳ-khưu, thế nào là những pháp cần phải tác ý mà vị ấy lại không tác ý? Này các Tỳ-khưu, khi vị ấy tác ý đến những pháp nào mà dục lậu chưa sanh thì không sanh khởi, hoặc dục lậu đã sanh thì được đoạn trừ; hữu lậu chưa sanh thì không sanh khởi, hoặc hữu lậu đã sanh thì được đoạn trừ; vô minh lậu chưa sanh thì không sanh khởi, hoặc vô minh lậu đã sanh thì được đoạn trừ – đây là những pháp cần phải tác ý mà vị ấy lại không tác ý.”
Tassa amanasikaraṇīyānaṁ dhammānaṁ manasikārā manasikaraṇīyānaṁ dhammānaṁ amanasikārā anuppannā ceva āsavā uppajjanti uppannā ca āsavā pavaḍḍhanti.
Because of applying the mind to what they should not and not applying the mind to what they should, unarisen defilements arise and arisen defilements grow.
“Do vị ấy tác ý đến những pháp không cần phải tác ý và không tác ý đến những pháp cần phải tác ý, nên các lậu hoặc chưa sanh thì sanh khởi, và các lậu hoặc đã sanh thì tăng trưởng.”
So evaṁ ayoniso manasi karoti: ‘ahosiṁ nu kho ahaṁ atītamaddhānaṁ? Na nu kho ahosiṁ atītamaddhānaṁ? Kiṁ nu kho ahosiṁ atītamaddhānaṁ? Kathaṁ nu kho ahosiṁ atītamaddhānaṁ? Kiṁ hutvā kiṁ ahosiṁ nu kho ahaṁ atītamaddhānaṁ? Bhavissāmi nu kho ahaṁ anāgatamaddhānaṁ? Na nu kho bhavissāmi anāgatamaddhānaṁ? Kiṁ nu kho bhavissāmi anāgatamaddhānaṁ? Kathaṁ nu kho bhavissāmi anāgatamaddhānaṁ? Kiṁ hutvā kiṁ bhavissāmi nu kho ahaṁ anāgatamaddhānan’ti? Etarahi vā paccuppannamaddhānaṁ ajjhattaṁ kathaṅkathī hoti: ‘ahaṁ nu khosmi? No nu khosmi? Kiṁ nu khosmi? Kathaṁ nu khosmi? Ayaṁ nu kho satto kuto āgato? So kuhiṁ gāmī bhavissatī’ti?
This is how they apply the mind irrationally: ‘Did I exist in the past? Did I not exist in the past? What was I in the past? How was I in the past? After being what, what did I become in the past? Will I exist in the future? Will I not exist in the future? What will I be in the future? How will I be in the future? After being what, what will I become in the future?’ Or they are undecided about the present thus: ‘Am I? Am I not? What am I? How am I? This sentient being—where did it come from? And where will it go?’
18. “Vị ấy tác ý không như lý như sau: ‘Ta có mặt trong quá khứ chăng? Ta không có mặt trong quá khứ chăng? Ta là gì trong quá khứ? Ta như thế nào trong quá khứ? Ta đã là gì rồi trở thành gì trong quá khứ? Ta sẽ có mặt trong tương lai chăng? Ta sẽ không có mặt trong tương lai chăng? Ta sẽ là gì trong tương lai? Ta sẽ như thế nào trong tương lai? Ta sẽ là gì rồi trở thành gì trong tương lai?’ Hoặc vị ấy hoài nghi về tự thân trong hiện tại: ‘Ta có mặt chăng? Ta không có mặt chăng? Ta là gì? Ta như thế nào? Chúng sanh này từ đâu đến? Nó sẽ đi về đâu?’”
Tassa evaṁ ayoniso manasikaroto channaṁ diṭṭhīnaṁ aññatarā diṭṭhi uppajjati. ‘Atthi me attā’ti vā assa saccato thetato diṭṭhi uppajjati; ‘natthi me attā’ti vā assa saccato thetato diṭṭhi uppajjati; ‘attanāva attānaṁ sañjānāmī’ti vā assa saccato thetato diṭṭhi uppajjati; ‘attanāva anattānaṁ sañjānāmī’ti vā assa saccato thetato diṭṭhi uppajjati; ‘anattanāva attānaṁ sañjānāmī’ti vā assa saccato thetato diṭṭhi uppajjati; atha vā panassa evaṁ diṭṭhi hoti: ‘yo me ayaṁ attā vado vedeyyo tatra tatra kalyāṇapāpakānaṁ kammānaṁ vipākaṁ paṭisaṁvedeti so kho pana me ayaṁ attā nicco dhuvo sassato avipariṇāmadhammo sassatisamaṁ tatheva ṭhassatī’ti. Idaṁ vuccati, bhikkhave, diṭṭhigataṁ diṭṭhigahanaṁ diṭṭhikantāraṁ diṭṭhivisūkaṁ diṭṭhivipphanditaṁ diṭṭhisaṁyojanaṁ. Diṭṭhisaṁyojanasaṁyutto, bhikkhave, assutavā puthujjano na parimuccati jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi; ‘na parimuccati dukkhasmā’ti vadāmi.
When they apply the mind irrationally in this way, one of the following six views arises in them and is taken as a genuine fact. The view: ‘My self survives.’ The view: ‘My self does not survive.’ The view: ‘I perceive the self with the self.’ The view: ‘I perceive what is not-self with the self.’ The view: ‘I perceive the self with what is not-self.’ Or they have such a view: ‘This self of mine is he, the one who speaks, the one who knows, who experiences the results of good and bad deeds in all the different realms. This self is permanent, everlasting, eternal, and imperishable, and will last forever and ever.’ This is called a misconception, the thicket of views, the desert of views, the twist of views, the dodge of views, the fetter of views. An unlearned ordinary person who is fettered by views is not freed from rebirth, old age, and death, from sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. They’re not freed from suffering, I say.
19. Đối với người tác ý không như lý như vậy, một trong sáu loại tà kiến này khởi lên. Hoặc tà kiến này khởi lên nơi người ấy một cách chân thật, một cách chắc chắn rằng: ‘Ta có tự ngã’; hoặc tà kiến này khởi lên nơi người ấy một cách chân thật, một cách chắc chắn rằng: ‘Ta không có tự ngã’; hoặc tà kiến này khởi lên nơi người ấy một cách chân thật, một cách chắc chắn rằng: ‘Ta nhận biết tự ngã bằng chính tự ngã’; hoặc tà kiến này khởi lên nơi người ấy một cách chân thật, một cách chắc chắn rằng: ‘Ta nhận biết vô ngã bằng tự ngã’; hoặc tà kiến này khởi lên nơi người ấy một cách chân thật, một cách chắc chắn rằng: ‘Ta nhận biết tự ngã bằng vô ngã’; hoặc lại nữa, tà kiến này khởi lên nơi người ấy rằng: ‘Tự ngã này của ta là cái nói năng, cái cảm thọ, ở nơi này nơi kia cảm nhận quả báo của các nghiệp thiện ác; và tự ngã này của ta là thường còn, bền vững, vĩnh cửu, không bị biến đổi, sẽ tồn tại mãi mãi như những gì vĩnh cửu’. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là triền cái của tà kiến, rừng rậm của tà kiến, hoang địa của tà kiến, sự xuyên tạc của tà kiến, sự quằn quại của tà kiến, kiết sử của tà kiến. Này các Tỳ khưu, kẻ phàm phu vô văn, bị kiết sử tà kiến trói buộc, không giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não; Ta nói rằng, người ấy không giải thoát khỏi khổ đau.
Sutavā ca kho, bhikkhave, ariyasāvako—ariyānaṁ dassāvī ariyadhammassa kovido ariyadhamme suvinīto, sappurisānaṁ dassāvī sappurisadhammassa kovido sappurisadhamme suvinīto—manasikaraṇīye dhamme pajānāti amanasikaraṇīye dhamme pajānāti. So manasikaraṇīye dhamme pajānanto amanasikaraṇīye dhamme pajānanto ye dhammā na manasikaraṇīyā te dhamme na manasi karoti, ye dhammā manasikaraṇīyā te dhamme manasi karoti.
But take a learned noble disciple who has seen the noble ones, and is skilled and trained in the teaching of the noble ones. They’ve seen true persons, and are skilled and trained in the teaching of the true persons. They understand to which things they should apply the mind and to which things they should not apply the mind. So they apply the mind to things they should and don’t apply the mind to things they shouldn’t.
20. Này các Tỳ khưu, còn vị Thánh đệ tử có học, là người thấy rõ các bậc Thánh, thông thạo Chánh pháp của bậc Thánh, khéo huấn luyện trong Chánh pháp của bậc Thánh; là người thấy rõ các bậc Chân nhân, thông thạo Chánh pháp của bậc Chân nhân, khéo huấn luyện trong Chánh pháp của bậc Chân nhân, vị ấy biết rõ những pháp nên tác ý và biết rõ những pháp không nên tác ý. Vị ấy, do biết rõ những pháp nên tác ý và biết rõ những pháp không nên tác ý, nên không tác ý đến những pháp không nên tác ý, và tác ý đến những pháp nên tác ý.
Katame ca, bhikkhave, dhammā na manasikaraṇīyā ye dhamme na manasi karoti? Yassa, bhikkhave, dhamme manasikaroto anuppanno vā kāmāsavo uppajjati, uppanno vā kāmāsavo pavaḍḍhati; anuppanno vā bhavāsavo uppajjati, uppanno vā bhavāsavo pavaḍḍhati; anuppanno vā avijjāsavo uppajjati, uppanno vā avijjāsavo pavaḍḍhati—ime dhammā na manasikaraṇīyā, ye dhamme na manasi karoti.
And what are the things to which they don’t apply the mind and should not? They are the things that, when the mind is applied to them, give rise to unarisen defilements and make arisen defilements grow: the defilements of sensual desire, desire to be reborn, and ignorance. These are the things to which they don’t apply the mind and should not.
Này các Tỳ khưu, những pháp nào là những pháp không nên tác ý, mà vị ấy không tác ý đến? Này các Tỳ khưu, đối với người nào, khi tác ý đến các pháp, dục lậu chưa sanh thì sanh khởi, dục lậu đã sanh thì tăng trưởng; hữu lậu chưa sanh thì sanh khởi, hữu lậu đã sanh thì tăng trưởng; vô minh lậu chưa sanh thì sanh khởi, vô minh lậu đã sanh thì tăng trưởng – đây là những pháp không nên tác ý, mà vị ấy không tác ý đến.
Katame ca, bhikkhave, dhammā manasikaraṇīyā ye dhamme manasi karoti? Yassa, bhikkhave, dhamme manasikaroto anuppanno vā kāmāsavo na uppajjati, uppanno vā kāmāsavo pahīyati; anuppanno vā bhavāsavo na uppajjati, uppanno vā bhavāsavo pahīyati; anuppanno vā avijjāsavo na uppajjati, uppanno vā avijjāsavo pahīyati—ime dhammā manasikaraṇīyā ye dhamme manasi karoti.
And what are the things to which they do apply the mind and should? They are the things that, when the mind is applied to them, do not give rise to unarisen defilements and give up arisen defilements: the defilements of sensual desire, desire to be reborn, and ignorance. These are the things to which they do apply the mind and should.
Này các Tỳ khưu, những pháp nào là những pháp nên tác ý, mà vị ấy tác ý đến? Này các Tỳ khưu, đối với người nào, khi tác ý đến các pháp, dục lậu chưa sanh thì không sanh khởi, dục lậu đã sanh thì được đoạn trừ; hữu lậu chưa sanh thì không sanh khởi, hữu lậu đã sanh thì được đoạn trừ; vô minh lậu chưa sanh thì không sanh khởi, vô minh lậu đã sanh thì được đoạn trừ – đây là những pháp nên tác ý, mà vị ấy tác ý đến.
Tassa amanasikaraṇīyānaṁ dhammānaṁ amanasikārā manasikaraṇīyānaṁ dhammānaṁ manasikārā anuppannā ceva āsavā na uppajjanti, uppannā ca āsavā pahīyanti.
Because of not applying the mind to what they should not and applying the mind to what they should, unarisen defilements don’t arise and arisen defilements are given up.
Đối với vị ấy, do không tác ý đến những pháp không nên tác ý và do tác ý đến những pháp nên tác ý, các lậu hoặc chưa sanh thì không sanh khởi, và các lậu hoặc đã sanh thì được đoạn trừ.
So ‘idaṁ dukkhan’ti yoniso manasi karoti, ‘ayaṁ dukkhasamudayo’ti yoniso manasi karoti, ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti yoniso manasi karoti, ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yoniso manasi karoti. Tassa evaṁ yoniso manasikaroto tīṇi saṁyojanāni pahīyanti—sakkāyadiṭṭhi, vicikicchā, sīlabbataparāmāso. Ime vuccanti, bhikkhave, āsavā dassanā pahātabbā.
They rationally apply the mind: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering’. And as they do so, they give up three fetters: substantialist view, doubt, and misapprehension of precepts and observances. These are called the defilements that should be given up by seeing.
21. Vị ấy tác ý như lý: ‘Đây là khổ’, tác ý như lý: ‘Đây là khổ tập’, tác ý như lý: ‘Đây là khổ diệt’, tác ý như lý: ‘Đây là con đường đưa đến khổ diệt’. Khi vị ấy tác ý như lý như vậy, ba kiết sử được đoạn trừ – đó là thân kiến, hoài nghi, và giới cấm thủ. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là các lậu hoặc cần được đoạn trừ bằng tri kiến.
Các lậu hoặc cần được đoạn trừ bằng sự phòng hộ
Katame ca, bhikkhave, āsavā saṁvarā pahātabbā? Idha, bhikkhave, bhikkhu paṭisaṅkhā yoniso cakkhundriyasaṁvarasaṁvuto viharati. Yañhissa, bhikkhave, cakkhundriyasaṁvaraṁ asaṁvutassa viharato uppajjeyyuṁ āsavā vighātapariḷāhā, cakkhundriyasaṁvaraṁ saṁvutassa viharato evaṁsa te āsavā vighātapariḷāhā na honti. Paṭisaṅkhā yoniso sotindriyasaṁvarasaṁvuto viharati …pe… ghānindriyasaṁvarasaṁvuto viharati …pe… jivhindriyasaṁvarasaṁvuto viharati …pe… kāyindriyasaṁvarasaṁvuto viharati …pe… manindriyasaṁvarasaṁvuto viharati. Yañhissa, bhikkhave, manindriyasaṁvaraṁ asaṁvutassa viharato uppajjeyyuṁ āsavā vighātapariḷāhā, manindriyasaṁvaraṁ saṁvutassa viharato evaṁsa te āsavā vighātapariḷāhā na honti.
And what are the defilements that should be given up by restraint? Take a mendicant who, reflecting rationally, lives restraining the eye faculty. For the distressing and feverish defilements that might arise in someone who lives without restraint of the eye faculty do not arise when there is such restraint. Reflecting rationally, they live restraining the ear faculty … the nose faculty … the tongue faculty … the body faculty … the mind faculty. For the distressing and feverish defilements that might arise in someone who lives without restraint of the mind faculty do not arise when there is such restraint.
22. Này các Tỳ khưu, những lậu hoặc nào cần được đoạn trừ bằng sự phòng hộ? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu sau khi suy xét một cách như lý, sống phòng hộ nhãn căn. Này các Tỳ khưu, nếu vị ấy sống không phòng hộ nhãn căn, thì các lậu hoặc, phiền não, và nhiệt não có thể sanh khởi; nhưng khi vị ấy sống phòng hộ nhãn căn, thì các lậu hoặc, phiền não, và nhiệt não ấy không sanh khởi. Sau khi suy xét một cách như lý, vị ấy sống phòng hộ nhĩ căn... tóm tắt... sống phòng hộ tỷ căn... tóm tắt... sống phòng hộ thiệt căn... tóm tắt... sống phòng hộ thân căn... tóm tắt... sống phòng hộ ý căn. Này các Tỳ khưu, nếu vị ấy sống không phòng hộ ý căn, thì các lậu hoặc, phiền não, và nhiệt não có thể sanh khởi; nhưng khi vị ấy sống phòng hộ ý căn, thì các lậu hoặc, phiền não, và nhiệt não ấy không sanh khởi.
Yañhissa, bhikkhave, saṁvaraṁ asaṁvutassa viharato uppajjeyyuṁ āsavā vighātapariḷāhā, saṁvaraṁ saṁvutassa viharato evaṁsa te āsavā vighātapariḷāhā na honti. Ime vuccanti, bhikkhave, āsavā saṁvarā pahātabbā.
For the distressing and feverish defilements that might arise in someone who lives without restraint do not arise when there is such restraint. These are called the defilements that should be given up by restraint.
Này các Tỳ khưu, nếu vị ấy sống không phòng hộ, thì các lậu hoặc, phiền não, và nhiệt não có thể sanh khởi; nhưng khi vị ấy sống có phòng hộ, thì các lậu hoặc, phiền não, và nhiệt não ấy không sanh khởi. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là các lậu hoặc cần được đoạn trừ bằng sự phòng hộ.
Các lậu hoặc cần được đoạn trừ bằng sự thọ dụng
Katame ca, bhikkhave, āsavā paṭisevanā pahātabbā? Idha, bhikkhave, bhikkhu paṭisaṅkhā yoniso cīvaraṁ paṭisevati: ‘yāvadeva sītassa paṭighātāya, uṇhassa paṭighātāya, ḍaṁsamakasavātātapasarīsapasamphassānaṁ paṭighātāya, yāvadeva hirikopīnappaṭicchādanatthaṁ’.
And what are the defilements that should be given up by using? Take a mendicant who, reflecting rationally, makes use of robes: ‘Only for the sake of warding off cold and heat; for warding off the touch of flies, mosquitoes, wind, sun, and reptiles; and for covering up the private parts.’
23. Này các Tỳ khưu, những lậu hoặc nào cần được đoạn trừ bằng sự thọ dụng? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu sau khi suy xét một cách như lý, thọ dụng y phục – ‘chỉ để ngăn ngừa lạnh, ngăn ngừa nóng, ngăn ngừa sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, nắng, và các loài bò sát; chỉ để che đậy sự hổ thẹn’.
Paṭisaṅkhā yoniso piṇḍapātaṁ paṭisevati: ‘neva davāya, na madāya, na maṇḍanāya, na vibhūsanāya, yāvadeva imassa kāyassa ṭhitiyā yāpanāya, vihiṁsūparatiyā, brahmacariyānuggahāya, iti purāṇañca vedanaṁ paṭihaṅkhāmi navañca vedanaṁ na uppādessāmi, yātrā ca me bhavissati anavajjatā ca phāsuvihāro ca’.
Reflecting rationally, they make use of almsfood: ‘Not for fun, indulgence, adornment, or decoration, but only to sustain this body, to avoid harm, and to support spiritual practice. In this way, I shall put an end to old discomfort and not give rise to new discomfort, and I will have the means to keep going, blamelessness, and a comfortable abiding.’
Vị ấy sau khi như lý tác ý, thọ dụng vật thực khất thực: ‘Không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để làm đẹp, mà chỉ để cho thân này được duy trì và bảo dưỡng, để chấm dứt sự khổ não, để hỗ trợ cho phạm hạnh. Như vậy, ta sẽ diệt trừ cảm thọ cũ và không cho cảm thọ mới phát sinh. Và ta sẽ được sống điều độ, không bị chê trách, và an ổn’.
Paṭisaṅkhā yoniso senāsanaṁ paṭisevati: ‘yāvadeva sītassa paṭighātāya, uṇhassa paṭighātāya, ḍaṁsamakasavātātapasarīsapasamphassānaṁ paṭighātāya, yāvadeva utuparissayavinodanapaṭisallānārāmatthaṁ’.
Reflecting rationally, they make use of lodgings: ‘Only for the sake of warding off cold and heat; for warding off the touch of flies, mosquitoes, wind, sun, and reptiles; to shelter from harsh weather and to enjoy retreat.’
Vị ấy sau khi như lý tác ý, thọ dụng sàng tọa: ‘Chỉ để ngăn ngừa lạnh, để ngăn ngừa nóng, để ngăn ngừa sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, nắng, và các loài bò sát; chỉ để trừ các hiểm nguy của thời tiết và để hưởng sự an tịnh độc cư’.
Paṭisaṅkhā yoniso gilānappaccayabhesajjaparikkhāraṁ paṭisevati: ‘yāvadeva uppannānaṁ veyyābādhikānaṁ vedanānaṁ paṭighātāya, abyābajjhaparamatāya’.
Reflecting rationally, they make use of medicines and supplies for the sick: ‘Only for the sake of warding off the pains of illness and to promote good health.’
Vị ấy sau khi như lý tác ý, thọ dụng dược phẩm trị bệnh: ‘Chỉ để ngăn ngừa các cảm thọ khổ đau do bệnh tật đã phát sinh, và để được hoàn toàn thoát khỏi phiền não’.
Yañhissa, bhikkhave, appaṭisevato uppajjeyyuṁ āsavā vighātapariḷāhā, paṭisevato evaṁsa te āsavā vighātapariḷāhā na honti. Ime vuccanti, bhikkhave, āsavā paṭisevanā pahātabbā.
For the distressing and feverish defilements that might arise in someone who lives without using these things do not arise when they are used. These are called the defilements that should be given up by using.
Này các Tỳ khưu, đối với vị Tỳ khưu không thọ dụng (các vật dụng), những lậu hoặc, phiền não, và nhiệt não có thể phát sinh; nhưng khi thọ dụng, những lậu hoặc, phiền não, và nhiệt não ấy không còn nữa. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là các lậu hoặc cần được đoạn trừ bằng cách thọ dụng.
Các lậu hoặc cần được đoạn trừ bằng cách kham nhẫn.
Katame ca, bhikkhave, āsavā adhivāsanā pahātabbā? Idha, bhikkhave, bhikkhu paṭisaṅkhā yoniso khamo hoti sītassa uṇhassa, jighacchāya pipāsāya. Ḍaṁsamakasavātātapasarīsapasamphassānaṁ, duruttānaṁ durāgatānaṁ vacanapathānaṁ, uppannānaṁ sārīrikānaṁ vedanānaṁ dukkhānaṁ tibbānaṁ kharānaṁ kaṭukānaṁ asātānaṁ amanāpānaṁ pāṇaharānaṁ adhivāsakajātiko hoti.
And what are the defilements that should be given up by enduring? Take a mendicant who, reflecting rationally, endures cold, heat, hunger, and thirst. They endure the touch of flies, mosquitoes, wind, sun, and reptiles. They endure rude and unwelcome criticism. And they put up with physical pain—sharp, severe, acute, unpleasant, disagreeable, and life-threatening.
24. Này các Tỳ khưu, thế nào là các lậu hoặc cần được đoạn trừ bằng cách kham nhẫn? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu sau khi như lý tác ý, kham nhẫn với lạnh, nóng, đói, khát. Vị ấy có bản tánh kham nhẫn với sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, nắng, và các loài bò sát; với những lời nói ác độc, khó nghe; với các cảm thọ về thân đã phát sinh, đau đớn, dữ dội, khắc nghiệt, khó chịu, không vừa ý, có thể đoạt mạng.
Yañhissa, bhikkhave, anadhivāsayato uppajjeyyuṁ āsavā vighātapariḷāhā, adhivāsayato evaṁsa te āsavā vighātapariḷāhā na honti. Ime vuccanti, bhikkhave, āsavā adhivāsanā pahātabbā.
For the distressing and feverish defilements that might arise in someone who lives without enduring these things do not arise when they are endured. These are called the defilements that should be given up by enduring.
Này các Tỳ khưu, đối với vị Tỳ khưu không kham nhẫn, những lậu hoặc, phiền não, và nhiệt não có thể phát sinh; nhưng khi kham nhẫn, những lậu hoặc, phiền não, và nhiệt não ấy không còn nữa. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là các lậu hoặc cần được đoạn trừ bằng cách kham nhẫn.
Các lậu hoặc cần được đoạn trừ bằng cách né tránh.
Katame ca, bhikkhave, āsavā parivajjanā pahātabbā? Idha, bhikkhave, bhikkhu paṭisaṅkhā yoniso caṇḍaṁ hatthiṁ parivajjeti, caṇḍaṁ assaṁ parivajjeti, caṇḍaṁ goṇaṁ parivajjeti, caṇḍaṁ kukkuraṁ parivajjeti, ahiṁ khāṇuṁ kaṇṭakaṭṭhānaṁ sobbhaṁ papātaṁ candanikaṁ oḷigallaṁ. Yathārūpe anāsane nisinnaṁ yathārūpe agocare carantaṁ yathārūpe pāpake mitte bhajantaṁ viññū sabrahmacārī pāpakesu ṭhānesu okappeyyuṁ, so tañca anāsanaṁ tañca agocaraṁ te ca pāpake mitte paṭisaṅkhā yoniso parivajjeti.
And what are the defilements that should be given up by avoiding? Take a mendicant who, reflecting rationally, avoids a wild elephant, a wild horse, a wild ox, a wild dog, a snake, a stump, thorny ground, a pit, a cliff, a swamp, and a sewer. Reflecting rationally, they avoid sitting on inappropriate seats, walking in inappropriate neighborhoods, and mixing with bad friends—whatever sensible spiritual companions would believe to be a bad setting.
25. Này các Tỳ khưu, thế nào là các lậu hoặc cần được đoạn trừ bằng cách né tránh? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu sau khi như lý tác ý, né tránh voi dữ, ngựa dữ, bò dữ, chó dữ, rắn, gốc cây, nơi có gai, hố sâu, vực thẳm, hố phân, rãnh nước bẩn. Khi vị Tỳ khưu ngồi ở nơi không thích hợp, đi đến nơi không thích hợp, giao du với bạn bè xấu ác, các vị đồng phạm hạnh có trí có thể nghi ngờ vị ấy ở những nơi xấu ác. Vị ấy, sau khi như lý tác ý, né tránh nơi ngồi không thích hợp ấy, nơi đi đến không thích hợp ấy, và những người bạn xấu ác ấy.
Yañhissa, bhikkhave, aparivajjayato uppajjeyyuṁ āsavā vighātapariḷāhā, parivajjayato evaṁsa te āsavā vighātapariḷāhā na honti. Ime vuccanti, bhikkhave, āsavā parivajjanā pahātabbā.
For the distressing and feverish defilements that might arise in someone who lives without avoiding these things do not arise when they are avoided. These are called the defilements that should be given up by avoiding.
Này các Tỳ khưu, đối với vị Tỳ khưu không né tránh, những lậu hoặc, phiền não, và nhiệt não có thể phát sinh; nhưng khi né tránh, những lậu hoặc, phiền não, và nhiệt não ấy không còn nữa. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là các lậu hoặc cần được đoạn trừ bằng cách né tránh.
Các lậu hoặc cần được đoạn trừ bằng cách loại bỏ.
Katame ca, bhikkhave, āsavā vinodanā pahātabbā? Idha, bhikkhave, bhikkhu paṭisaṅkhā yoniso uppannaṁ kāmavitakkaṁ nādhivāseti pajahati vinodeti byantīkaroti anabhāvaṁ gameti, uppannaṁ byāpādavitakkaṁ …pe… uppannaṁ vihiṁsāvitakkaṁ …pe… uppannuppanne pāpake akusale dhamme nādhivāseti pajahati vinodeti byantīkaroti anabhāvaṁ gameti.
And what are the defilements that should be given up by dispelling? Take a mendicant who, reflecting rationally, doesn’t tolerate a sensual, malicious, or cruel thought that has arisen, but gives it up, dispels it, eliminates it, and obliterates it. They don’t tolerate any bad, unskillful qualities that have arisen, but give them up, dispel them, eliminate them, and obliterate them.
26. Này các Tỳ khưu, thế nào là các lậu hoặc cần được đoạn trừ bằng cách loại bỏ? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu sau khi như lý tác ý, không dung chứa một tầm về dục đã khởi lên, mà từ bỏ, loại trừ, chấm dứt, và làm cho nó không còn hiện hữu. Vị ấy không dung chứa một tầm về sân đã khởi lên... Vị ấy không dung chứa một tầm về hại đã khởi lên... Vị ấy không dung chứa các pháp ác, bất thiện đã khởi lên, mà từ bỏ, loại trừ, chấm dứt, và làm cho chúng không còn hiện hữu.
Yañhissa, bhikkhave, avinodayato uppajjeyyuṁ āsavā vighātapariḷāhā, vinodayato evaṁsa te āsavā vighātapariḷāhā na honti. Ime vuccanti, bhikkhave, āsavā vinodanā pahātabbā.
For the distressing and feverish defilements that might arise in someone who lives without dispelling these things do not arise when they are dispelled. These are called the defilements that should be given up by dispelling.
Này các Tỳ khưu, đối với vị Tỳ khưu không loại bỏ, những lậu hoặc, phiền não, và nhiệt não có thể phát sinh; nhưng khi loại bỏ, những lậu hoặc, phiền não, và nhiệt não ấy không còn nữa. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là các lậu hoặc cần được đoạn trừ bằng cách loại bỏ.
Các lậu hoặc cần được đoạn trừ bằng cách tu tập.
Katame ca, bhikkhave, āsavā bhāvanā pahātabbā? Idha, bhikkhave, bhikkhu paṭisaṅkhā yoniso satisambojjhaṅgaṁ bhāveti vivekanissitaṁ virāganissitaṁ nirodhanissitaṁ vossaggapariṇāmiṁ; paṭisaṅkhā yoniso dhammavicayasambojjhaṅgaṁ bhāveti …pe… vīriyasambojjhaṅgaṁ bhāveti … pītisambojjhaṅgaṁ bhāveti … passaddhisambojjhaṅgaṁ bhāveti … samādhisambojjhaṅgaṁ bhāveti … upekkhāsambojjhaṅgaṁ bhāveti vivekanissitaṁ virāganissitaṁ nirodhanissitaṁ vossaggapariṇāmiṁ.
And what are the defilements that should be given up by developing? Take a mendicant who, reflecting rationally, develops the awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity, which rely on seclusion, fading away, and cessation, and ripen as letting go.
27. Này các Tỳ khưu, thế nào là các lậu hoặc cần được đoạn trừ bằng cách tu tập? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu sau khi như lý tác ý, tu tập niệm giác chi, dựa trên sự viễn ly, dựa trên sự ly tham, dựa trên sự đoạn diệt, hướng đến sự xả ly; sau khi như lý tác ý, tu tập trạch pháp giác chi... tu tập tinh tấn giác chi... tu tập hỷ giác chi... tu tập khinh an giác chi... tu tập định giác chi... tu tập xả giác chi, dựa trên sự viễn ly, dựa trên sự ly tham, dựa trên sự đoạn diệt, hướng đến sự xả ly.
Yañhissa, bhikkhave, abhāvayato uppajjeyyuṁ āsavā vighātapariḷāhā, bhāvayato evaṁsa te āsavā vighātapariḷāhā na honti. Ime vuccanti, bhikkhave, āsavā bhāvanā pahātabbā.
For the distressing and feverish defilements that might arise in someone who lives without developing these things do not arise when they are developed. These are called the defilements that should be given up by developing.
Này các Tỳ khưu, đối với vị Tỳ khưu không tu tập, những lậu hoặc, phiền não, và nhiệt não có thể phát sinh; nhưng khi tu tập, những lậu hoặc, phiền não, và nhiệt não ấy không còn nữa. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là các lậu hoặc cần được đoạn trừ bằng cách tu tập.
Yato kho, bhikkhave, bhikkhuno ye āsavā dassanā pahātabbā te dassanā pahīnā honti, ye āsavā saṁvarā pahātabbā te saṁvarā pahīnā honti, ye āsavā paṭisevanā pahātabbā te paṭisevanā pahīnā honti, ye āsavā adhivāsanā pahātabbā te adhivāsanā pahīnā honti, ye āsavā parivajjanā pahātabbā te parivajjanā pahīnā honti, ye āsavā vinodanā pahātabbā te vinodanā pahīnā honti, ye āsavā bhāvanā pahātabbā te bhāvanā pahīnā honti; ayaṁ vuccati, bhikkhave: ‘bhikkhu sabbāsavasaṁvarasaṁvuto viharati, acchecchi taṇhaṁ, vivattayi saṁyojanaṁ, sammā mānābhisamayā antamakāsi dukkhassā’”ti.
Now, take a mendicant who, by seeing, has given up the defilements that should be given up by seeing. By restraint, they’ve given up the defilements that should be given up by restraint. By using, they’ve given up the defilements that should be given up by using. By enduring, they’ve given up the defilements that should be given up by enduring. By avoiding, they’ve given up the defilements that should be given up by avoiding. By dispelling, they’ve given up the defilements that should be given up by dispelling. By developing, they’ve given up the defilements that should be given up by developing. They’re called a mendicant who lives having restrained all defilements, who has cut off craving, cast off the fetters, and by rightly comprehending conceit has made an end of suffering.”
28. Này các Tỳ khưu, khi nào vị Tỳ khưu đã đoạn trừ bằng tri kiến những lậu hoặc cần được đoạn trừ bằng tri kiến, đã đoạn trừ bằng phòng hộ những lậu hoặc cần được đoạn trừ bằng phòng hộ, đã đoạn trừ bằng thọ dụng những lậu hoặc cần được đoạn trừ bằng thọ dụng, đã đoạn trừ bằng kham nhẫn những lậu hoặc cần được đoạn trừ bằng kham nhẫn, đã đoạn trừ bằng né tránh những lậu hoặc cần được đoạn trừ bằng né tránh, đã đoạn trừ bằng loại bỏ những lậu hoặc cần được đoạn trừ bằng loại bỏ, đã đoạn trừ bằng tu tập những lậu hoặc cần được đoạn trừ bằng tu tập; này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu ấy được gọi là: ‘Vị ấy sống phòng hộ với sự phòng hộ tất cả các lậu hoặc, đã cắt đứt ái, đã tháo bỏ kiết sử, đã chấm dứt khổ đau do chánh quán về ngã mạn’.
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
Sabbāsavasuttaṁ niṭṭhitaṁ dutiyaṁ.
That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
Thế Tôn đã thuyết giảng như vậy. Các Tỳ khưu ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.