- Majjhima Nikāya 27
Cūḷahatthipadopamasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Cūḷahatthipadopamasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi (Xá-vệ) tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).
SC 2Lúc bấy giờ Bà-la-môn Jānussoni, với một cỗ xe toàn trắng do ngựa cái kéo, vào buổi sáng sớm, ra khỏi thành Sāvatthi. Bà-la-môn Jānussoni thấy Du sĩ Pilotika từ xa đi đến, sau khi thấy, liền nói với Du sĩ Pilotika
SC 3—Tôn giả Vacchàyana đi từ đâu về sớm như vậy?
SC 4—Tôn giả, tôi từ Sa-môn Gotama đến đây.
SC 5—Tôn giả Vacchayana nghĩ thế nào? Sa-môn Gotama có trí tuệ sáng suốt không? Tôn giả có xem Sa-môn Gotama là bậc có trí không?
SC 6—Tôn giả, tôi là ai mà có thể biết Sa-môn Gotama có trí tuệ sáng suốt? Chỉ có người như Sa-môn Gotama mới có thể biết Sa-môn Gotama có trí tuệ sáng suốt.
SC 7—Tôn giả Vacchayana thật sự tán thán Sa-môn Gotama với lời tán thán tối thượng.
SC 8—Này Tôn giả, tôi là ai mà có thể tán thán Sa-môn Gotama, bậc tối thượng được tán thán trong các bậc được tán thán, bậc tối thượng giữa chư Thiên và loài Người.
SC 9—Nhưng Tôn giả Vacchayana thấy được lý do gì ở Sa-môn Gotama mà Tôn giả có lòng tin tưởng như vậy?
SC 10—Này Tôn giả, như một người săn voi thiện xảo vào một khu rừng có voi ở, và thấy một dấu chân voi lớn, dài bề dài và rộng bề ngang. Người đó đi đến kết luận: “Con voi này là con voi lớn”. Cũng vậy, này Tôn giả, tôi đã thấy bốn dấu chân của Sa-môn Gotama và đi đến kết luận: “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, và Tăng chúng khéo hành trì”. Thế nào là bốn?
SC 11Tôi thấy ở đây có một số Sát-đế-lị bác học, tế nhị, nghị luận biện tài, biện bác như chia chẻ sợi tóc. Những vị này đi chỗ này chỗ kia, như muốn đả phá các tà kiến với trí tuệ của họ. Những vị này nghe: “Sa-môn Gotama sẽ đến thăm ngôi làng này hay thị trấn này”. Họ sắp đặt câu hỏi: “‘Chúng ta, sau khi đến, sẽ hỏi Sa-môn Gotama câu hỏi này. Khi bị chúng ta hỏi như vậy, nếu Sa-môn Gotama trả lời như thế này, thì chúng ta sẽ chất vấn như thế kia. Khi chúng ta hỏi như vậy, nếu Sa-môn Gotama trả lời như thế kia, thì chúng ta sẽ chất vấn như thế này”.
SC 12Những vị này nghe: “Sa-môn Gotama đã đến thăm ngôi làng này hay thị trấn này”. Những vị này đến chỗ Sa-môn Gotama ở. Sa-môn Gotama với pháp thoại, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các vị này. Ðược Sa-môn Gotama với Pháp thoại khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, họ không hỏi Sa-môn Gotama câu hỏi (đã định trước), huống nữa là chất vấn. Trái lại, họ trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama. Này Tôn giả, khi tôi thấy dấu chân thứ nhất này của Sa-môn Gotama, Tôi đi đến kết luận: “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, và Tăng chúng khéo hành trì”.
SC 13Này Tôn giả, lại nữa, tôi thấy ở đây có một số Bà-la-môn bác học, tế nhị, nghị luận biện tài, biện bác như chia chẻ sợi tóc. Những vị này đi chỗ này chỗ kia, như muốn đả phá các tà kiến với trí tuệ của họ. Những vị này nghe … (như trên) … trái lại, họ trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama. Này Tôn giả, khi tôi thấy dấu chân thứ hai này của Sa-môn Gotama, tôi đi đến kết luận: “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, và Tăng chúng khéo hành trì”.
SC 14Này Tôn giả, lại nữa, tôi thấy ở đây có một số gia chủ bác học, tế nhị, nghị luận biện tài, biện bác như chia chẻ sợi tóc. Những vị này đi chỗ này chỗ kia, như muốn đả phá các tà kiến với trí tuệ của họ. Những vị này nghe … (như trên) … trái lại, họ trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama. Này Tôn giả, khi tôi thấy dấu chân thứ ba này của Sa-môn Gotama, tôi đi đến kết luận: “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, và Tăng chúng khéo hành trì”.
SC 15Này Tôn giả, lại nữa, tôi thấy ở đây có một số Sa-môn bác học, tế nhị, nghị luận biện tài, biện bác như chia chẻ sợi tóc. Những vị này đi chỗ này chỗ kia, như muốn đả phá các tà kiến với trí tuệ của họ. Những vị này nghe: “Sa-môn Gotama sẽ đến thăm ngôi làng này hay thị trấn này”. Họ sắp đặt câu hỏi: “Chúng ta sau khi đến sẽ hỏi Sa-môn Gotama câu hỏi này. Khi bị chúng ta hỏi như vậy, nếu Sa-môn Gotama trả lời như thế này, thì chúng ta sẽ chất vấn như thế kia. Khi bị chúng ta hỏi như vậy, nếu Sa-môn Gotama trả lời như thế kia, thì chúng ta sẽ chất vấn như thế này”. Những vị này nghe: “Sa-môn Gotama đã đến ngôi làng này hay thị trấn này”. Những vị này đến chỗ Sa-môn Gotama ở. Sa-môn Gotama với Pháp thoại khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các vị này. Ðược Sa-môn Gotama với Pháp thoại khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, họ không hỏi Sa-môn Gotama câu hỏi (đã định sẵn), huống nữa là chất vấn. Trái lại, họ xin phép Sa-môn Gotama được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Sa-môn Gotama cho họ được xuất gia. Ðược xuất gia như vậy, một số các vị ấy sống một mình, không phóng dật, nỗ lực, tinh cần, và không bao lâu tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú, ngay trong hiện tại, mục đích tối thượng của phạm hạnh mà những Thiện nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến. Họ nói như sau: “Thật sự chúng ta gần hoại vong. Thật sự chúng ta gần hoại diệt. Xưa kia chúng ta không phải là Sa-môn lại tự xem là Sa-môn, không phải là Bà-la-môn lại tự xem là Bà-la-môn, không phải là bậc A-la-hán, lại tự xem là bậc A-la-hán. Nay chúng ta mới thật là Sa-môn. Nay chúng ta mới thật là Bà-la-môn. Nay chúng ta mới thật là A-la-hán”. Khi tôi thấy dấu chân thứ tư của Sa-môn Gotama, tôi đi đến kết luận: “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, và Tăng chúng khéo hành trì”.
SC 16Khi được nói vậy, Bà-la-môn Jānussoni, từ cỗ xe toàn trắng do ngựa cái kéo, bước xuống, đắp thượng y lên một bên vai, chấp tay hướng về Thế Tôn vái lạy, và thốt ra ba lần cảm hứng ngữ sau đây: “Ðảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác! Ðảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác! Ðảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác! Rất có thể, chúng ta sẽ gặp Tôn giả Gotama tại một lúc nào, một chỗ nào đó. Rất có thể, sẽ có một cuộc đàm luận”. Rồi Bà-la-môn Jānussoni đi đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, nói lên những lời chào đón hỏi thăm xã giao với Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Jānussoni đem tất cả câu chuyện của Du Sĩ Pilotika, thuật lại với Thế Tôn. Sau khi nghe vậy, Thế Tôn nói với Bà-la-môn Jānussoni
SC 17—Này Bà-la-môn, ví dụ dấu chân voi như vậy chưa được đầy đủ một cách rộng rãi. Này Bà-la-môn, với tầm mức như thế nào ví dụ dấu chân voi được đầy đủ một cách rộng rãi? Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói
—Thưa vâng, Tôn giả.
SC 18Bà-la-môn Jānussoni vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn thuyết giảng như sau
SC 19—Này Bà-la-môn, ví như một người săn voi vào một khu rừng có voi ở. Người đó thấy một dấu chân voi lớn trong rừng voi, dài bề dài và rộng bề ngang. Nếu người đó là một thợ săn voi thiện xảo, người đó không đi đến kết luận: “Con voi này chắc chắn to lớn”. Vì sao vậy? Này Bà-la-môn, trong rừng voi, có những loại voi cái lùn thấp, có dấu chân lớn, có thể dấu chân này thuộc loại voi này. Người đó đi theo dấu chân ấy. Trong khi đi theo, người đó thấy trong rừng voi một dấu chân voi lớn, dài bề dài và rộng bề ngang, và những vật cao đều bị cọ xát. Nếu người đó là một thợ săn voi thiện xảo, người đó không đi đến kết luận: “Con voi này chắc chắn to lớn vì sao vậy? Này Bà-la-môn, trong rừng voi, có những loại voi cái có ngà, có dấu chân lớn, có thể dấu chân này thuộc loại voi này. Người đó đi theo dấu chân ấy. Trong khi đi theo, người đó thấy trong rừng voi, một dấu chân voi lớn, dài bề dài và rộng bề ngang, những vật cao bị cọ xát, và những vật cao bị ngà voi cắt chém. Nếu người đó là một thợ săn voi thiện xảo, người đó không đi đến kết luận: “Con voi này chắc chắn to lớn”. Vì sao vậy? Này Bà-la-môn, trong rừng voi, có những loại voi cái có ngà lớn, có dấu chân lớn, có thể dấu chân này thuộc loại voi này. Người đó đi theo dấu chân ấy. Trong khi đi theo, người đó thấy trong rừng voi một dấu chân voi lớn, dài bề dài và rộng bề ngang, những vật cao bị cọ xát, những vật cao bị ngà voi cắt chém, và những vật cao bị gãy các cành. Và người đó thấy một con voi đực dưới gốc cây hay ở ngoài trời, đang đi, đang đứng, đang ngồi hay đang nằm, người đó đi đến kết luận: “Con voi này thật là con voi đực lớn”.
SC 20Cũng vậy, này Bà-la-môn, ở đây Như Lai sanh ra ở đời, là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Với thắng trí, Ngài tự thân chứng ngộ thế giới này, cùng với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, các loài Trời và loài Người. Khi đã chứng ngộ, Ngài còn tuyên thuyết điều Ngài đã chứng ngộ, Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, văn nghĩa đầy đủ. Ngài giảng dạy phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch.
SC 21Người gia trưởng, hay con vị gia trưởng, hay một người sanh ở giai cấp (hạ tiện) nào nghe Pháp ấy, sau khi nghe Pháp, người ấy sanh lòng tín ngưỡng Như Lai. Khi có lòng tín ngưỡng, vị này suy nghĩ: “Ðời sống gia đình đầy những triền phược, con đường đầy những bụi đời. Ðời sống xuất gia phóng khoáng như hư không. Thật rất khó cho một người sống ở gia đình có thể sống theo phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình”. Một thời gian sau, người ấy từ bỏ tài sản nhỏ hay từ bỏ tài sản lớn, từ bỏ bà con quyến thuộc nhỏ hay từ bỏ bà con quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, và xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
SC 22Khi đã xuất gia như vậy, vị ấy thành tựu học giới và nếp sống các Tỷ-kheo, từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót tất cả chúng sanh và các loài hữu tình, từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho, chỉ lấy những vật đã cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống thanh tịnh, không có trộm cướp, từ bỏ không phạm hạnh, sống theo phạm hạnh, sống tránh xa (không phạm hạnh), từ bỏ dâm dục tục pháp.
SC 23Từ bỏ nói láo, tránh xa nói láo, vị ấy nói những lời chân thật, y chỉ trên sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không phản lại đời, từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đến nói chỗ kia để sanh chia rẽ ở những người này, nghe điều gì ở chỗ kia, không đi nói với những người này để sanh chia rẽ ở những người kia. Vị ấy sống hòa hợp những kẻ ly gián, khuyến khích những kẻ hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, thoải mái trong hòa hợp, hân hoan trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp. Vị ấy từ bỏ nói lời độc ác, tránh xa nói lời độc ác, vị ấy nói những lời nhẹ nhàng, thuận tại, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người, vui lòng nhiều người, vị ấy nói những lời như vậy. Vị ấy từ bỏ nói phù phiếm, tránh xa nói lời phù phiếm, nói đúng thời, nói những lời chân thật, nói những lời có ý nghĩa, nói những lời về Chánh pháp, nói những lời về Luật, nói những lời đáng được gìn giữ, những lời hợp thời, thuận lý, có mạch lạc, hệ thống, có ích lợi.
SC 24Vị ấy từ bỏ làm hại đến các hột giống và các loại cây cỏ, dùng một ngày một bữa, không ăn ban đêm; từ bỏ ăn phi thời; từ bỏ đi xem múa, hát nhạc, các cuộc trình diễn; từ bỏ trang sức bằng vòng hoa hương liệu, dầu thoa, các thời trang, các thời sức; từ bỏ dùng giường cao và giường lớn; từ bỏ nhận các hạt sống; từ bỏ nhận thịt sống, từ bỏ nhận đàn bà, con gái; từ bỏ nhận nô tỳ gái và trai; từ bỏ nhận cừu và dê; từ bỏ nhận gia cầm và heo; từ bỏ nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái; từ bỏ nhận ruộng nương và đất đai; từ bỏ nhận người môi giới hoặc tự mình làm môi giới; từ bỏ buôn bán; từ bỏ các sự gian lận bằng cân, tiền bạc và đo lường; từ bỏ các tà hạnh như hối lộ, gian trá, lừa đảo; từ bỏ làm thương tổn, sát hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá.
SC 25Vị ấy bằng lòng (tri túc) với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo (y bát). Ví như con chim bay đến chỗ nào cũng mang theo hai cánh; cũng vậy, Tỷ-kheo bằng lòng với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo (y bát). Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này, cảm giác lạc thọ thuộc nội tâm, không lỗi lầm.
SC 26Khi mắt thấy sắc, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến con mắt không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, vị ấy tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng … mũi ngửi hương … lưỡi nếm vị … thân cảm xúc … ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến ý căn không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi và các ác bất thiện pháp khởi lên, vị ấy tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. Vị ấy thành tựu Thánh hộ trì các căn này, cảm giác lạc thọ thuộc nội tâm, không vẩn đục.
SC 27Vị ấy khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác, khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác, khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác, khi mang y kép, y bát đều tỉnh giác, khi ăn, uống, nhai, nuốt, đều tỉnh giác, khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác, khi đi, đứng, ngồi nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác.
SC 28Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này, thành tựu Thánh hộ trì các căn này, và thành tựu Thánh chánh niệm tỉnh giác này, lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch như rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm. Sau khi đi khất thực về và ăn xong, vị ấy ngồi kiết già, lưng thẳng tại chỗ nói trên, và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm hết tham ái, từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận, từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên, từ bỏ trạo cử hối quá, vị ấy sống không trạo cử, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử, hối quá, từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp.
SC 29Vị ấy từ bỏ năm triền cái làm cho tâm ô uế, làm cho trí tuệ muội lược, ly dục, ly pháp ác bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Này Bà-la-môn, như vậy gọi là dấu chân của Như Lai, dấu cọ xát của Như Lai, dấu cắt chém của Như Lai. Nhưng vị Thánh đệ tử không đi đến kết luận: “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, Chúng Tăng khéo hành trì”.
SC 30Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc, do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Này Bà-la-môn, như vậy gọi là dấu chân của Như Lai, dấu cọ xát của Như Lai, dấu cắt chém của Như Lai. Nhưng vị Thánh đệ tử không đi đến kết luận: “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, Chúng Tăng khéo hành trì”.
SC 31Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Này Bà-la-môn, như vậy gọi là dấu chân của Như Lai, dấu cọ xát của Như Lai, dấu cắt chém của Như Lai. Nhưng vị Thánh đệ tử không đi đến kết luận: “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, Chúng Tăng khéo hành trì”.
SC 32Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này Bà-la-môn, như vậy gọi là dấu chân của Như Lai, dấu cọ xát của Như Lai, dấu cắt chém của Như Lai, nhưng vị Thánh đệ tử không đi đến kết luận: “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, Chúng Tăng khéo hành trì”.
SC 33Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến Túc mạng minh. Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Vị ấy nhớ rằng: “Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây”. Như vậy, vị ấy nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết. Này Bà-la-môn, như vậy gọi là dấu chân của Như Lai, dấu cọ xát của Như Lai, dấu cắt chém của Như Lai. Nhưng vị Thánh đệ tử không đi đến kết luận: “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, Chúng Tăng khéo hành trì”.
SC 34Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến trí tuệ về sanh tử của chúng sanh. Vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ ràng, chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Những chúng sanh làm những ác hạnh về thân, lời và ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn chúng sanh nào làm những thiện hạnh về thân, lời và ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến, những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, cõi Trời, trên đời này. Như vậy, vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Này Bà-la-môn, như vậy gọi là dấu chân của Như Lai, dấu cọ xát của Như Lai, dấu cắt chém của Như Lai. Nhưng vị Thánh đệ tử không đi đến kết luận: “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, Chúng Tăng khéo hành trì”.
SC 35Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến Lậu tận trí. Vị ấy biết như thật: “Ðây là Khổ”, biết như thật: “Ðây là Nguyên nhân của khổ”, biết như thật: “Ðây là Khổ diệt”, biết như thật: “Ðây là Con đường đưa đến khổ diệt”, biết như thật: “Ðây là những lậu hoặc”, biết như thật: “Ðây là nguyên nhân của lậu hoặc”, biết như thật: “Ðây là các lậu hoặc diệt”, biết như thật: “Ðây là con đường đưa đến các lậu hoặc diệt”.
SC 36Này Bà-la-môn, như vậy gọi là dấu chân của Như Lai, dấu cọ xát của Như Lai, dấu cắt chém của Như Lai. Nhưng vị Thánh đệ tử không đi đến kết luận: “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, Chúng Tăng khéo hành trì”.
SC 37Vị ấy nhờ biết như vậy, nhờ thấy như vậy, tâm của vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên sự hiểu biết: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy biết: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không có trở lui đời sống này nữa”.
SC 38Này Bà-la-môn, như vậy gọi là dấu chân của Như Lai, dấu cọ xát của Như Lai, dấu cắt chém của Như Lai. Này Bà-la-môn, tới mức độ này, vị Thánh đệ tử đi đến kết luận: “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, Chúng Tăng khéo hành trì”. Này Bà-la-môn, tới mức độ này, ví dụ dấu chân con voi thật sự được đầy đủ một cách rộng rãi.
SC 39Ðược nghe nói vậy, Bà-la-môn Jānussoni bạch Thế Tôn
SC 40—Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp, và quy y chúng Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mệnh chung, con trọn đời quy ngưỡng!
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 11–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
7. Kinh Tiểu Dụ Dấu Chân Voi
Tena kho pana samayena jāṇussoṇi brāhmaṇo sabbasetena vaḷavābhirathena sāvatthiyā niyyāti divādivassa. Addasā kho jāṇussoṇi brāhmaṇo pilotikaṁ paribbājakaṁ dūratova āgacchantaṁ. Disvāna pilotikaṁ paribbājakaṁ etadavoca:
Now at that time the brahmin Jānussoṇi drove out from Sāvatthī in the middle of the day in an all-white chariot drawn by mares. He saw the wanderer Pilotika coming off in the distance, and said to him,
288. Tôi nghe như vầy. Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Bấy giờ, Bà la môn Jāṇussoṇi đang đi ra khỏi Sāvatthī vào giữa trưa trên một cỗ xe ngựa cái toàn màu trắng. Bà la môn Jāṇussoṇi thấy du sĩ Pilotika từ xa đi lại. Thấy du sĩ Pilotika, ông nói như sau:
Này, Tôn giả Vacchāyana từ đâu đến vào giữa trưa thế này?
“Ito hi kho ahaṁ, bho, āgacchāmi samaṇassa gotamassa santikā”ti.
“Just now, worthy sir, I’ve come from the presence of the ascetic Gotama.”
Thưa ngài, tôi từ chỗ của Sa môn Gotama đến đây.
“Taṁ kiṁ maññati bhavaṁ vacchāyano samaṇassa gotamassa paññāveyyattiyaṁ paṇḍito maññe”ti.
“What do you think of the ascetic Gotama’s lucidity of wisdom? Do you think he’s astute?”
Tôn giả Vacchāyana nghĩ thế nào về sự thông tuệ của Sa môn Gotama?
“Ko cāhaṁ, bho, ko ca samaṇassa gotamassa paññāveyyattiyaṁ jānissāmi. Sopi nūnassa tādisova yo samaṇassa gotamassa paññāveyyattiyaṁ jāneyyā”ti.
“Worthy sir, who am I to judge the ascetic Gotama’s lucidity of wisdom? You’d really have to be on the same level to judge his lucidity of wisdom.”
Thưa ngài, tôi là ai mà có thể biết được sự thông tuệ của Sa môn Gotama! Chắc chắn, người nào có thể biết được sự thông tuệ của Sa môn Gotama thì người ấy cũng phải giống như ngài ấy.
“Uḷārāya khalu bhavaṁ vacchāyano samaṇaṁ gotamaṁ pasaṁsāya pasaṁsatī”ti.
“Worthy Vacchāyana praises the ascetic Gotama with high praise indeed.”
Tôn giả Vacchāyana thật đã tán thán Sa môn Gotama bằng một lời tán thán cao thượng.
“Ko cāhaṁ, bho, ko ca samaṇaṁ gotamaṁ pasaṁsissāmi,
“Who am I to praise the ascetic Gotama?
Thưa ngài, tôi là ai mà có thể tán thán Sa môn Gotama?
Tôn giả Gotama ấy được tán thán bởi những người tán thán, là bậc tối thượng giữa chư thiên và loài người.
“Kaṁ pana bhavaṁ vacchāyano atthavasaṁ sampassamāno samaṇe gotame evaṁ abhippasanno”ti?
“But for what reason are you so devoted to the ascetic Gotama?”
Tôn giả Vacchāyana thấy được lợi ích gì mà lại có lòng tịnh tín sâu sắc đối với Sa môn Gotama như vậy?
“Seyyathāpi, bho, kusalo nāgavaniko nāgavanaṁ paviseyya. So passeyya nāgavane mahantaṁ hatthipadaṁ, dīghato ca āyataṁ, tiriyañca vitthataṁ. So niṭṭhaṁ gaccheyya: ‘mahā vata bho nāgo’ti.
Evameva kho ahaṁ, bho, yato addasaṁ samaṇe gotame cattāri padāni athāhaṁ niṭṭhamagamaṁ: ‘sammāsambuddho bhagavā, svākkhāto bhagavatā dhammo, suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho’ti.
“Suppose that a skilled bull elephant tracker were to enter a bull elephant wood. There he’d see a large elephant’s footprint, long and broad. He would come to the conclusion, ‘This must be a big bull elephant.’
In the same way, because I saw four footprints of the ascetic Gotama I came to the conclusion, ‘The Blessed One is a fully awakened Buddha. The teaching is well explained. The Saṅgha is practicing well.’
Thưa ngài, ví như một người trông coi rừng voi thiện xảo đi vào rừng voi. Người ấy thấy trong rừng voi một dấu chân voi lớn, vừa dài vừa rộng. Người ấy đi đến kết luận: ‘Ôi, con voi này thật to lớn!’ Cũng vậy, thưa ngài, kể từ khi tôi thấy bốn dấu chân nơi Sa môn Gotama, tôi đã đi đến kết luận: ‘Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, Tăng chúng đệ tử của Thế Tôn là bậc diệu hạnh.’
Katamāni cattāri? Idhāhaṁ, bho, passāmi ekacce khattiyapaṇḍite nipuṇe kataparappavāde vālavedhirūpe, te bhindantā maññe caranti paññāgatena diṭṭhigatāni. Te suṇanti: ‘samaṇo khalu, bho, gotamo amukaṁ nāma gāmaṁ vā nigamaṁ vā osarissatī’ti. Te pañhaṁ abhisaṅkharonti: ‘imaṁ mayaṁ pañhaṁ samaṇaṁ gotamaṁ upasaṅkamitvā pucchissāma. Evañce no puṭṭho evaṁ byākarissati, evamassa mayaṁ vādaṁ āropessāma. Evañcepi no puṭṭho evaṁ byākarissati, evampissa mayaṁ vādaṁ āropessāmā’ti.
Te suṇanti: ‘samaṇo khalu, bho, gotamo amukaṁ nāma gāmaṁ vā nigamaṁ vā osaṭo’ti. Te yena samaṇo gotamo tenupasaṅkamanti. Te samaṇo gotamo dhammiyā kathāya sandasseti samādapeti samuttejeti sampahaṁseti. Te samaṇena gotamena dhammiyā kathāya sandassitā samādapitā samuttejitā sampahaṁsitā na ceva samaṇaṁ gotamaṁ pañhaṁ pucchanti, kutossa vādaṁ āropessanti? Aññadatthu samaṇasseva gotamassa sāvakā sampajjanti. Yadāhaṁ, bho, samaṇe gotame imaṁ paṭhamaṁ padaṁ addasaṁ athāhaṁ niṭṭhamagamaṁ: ‘sammāsambuddho bhagavā, svākkhāto bhagavatā dhammo, suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho’ti.
What four? Firstly, I see some astute aristocrats who are subtle, accomplished in the doctrines of others, hair-splitters. You’d think they live to demolish convictions with their intellect. They hear, ‘So, worthy sir, that ascetic Gotama will come down to such-and-such village or town.’ They formulate a question, thinking, ‘We’ll approach the ascetic Gotama and ask him this question. If he answers like this, we’ll refute him like that; and if he answers like that, we’ll refute him like this.’
When they hear that he has come down they approach him. The ascetic Gotama educates, encourages, fires up, and inspires them with a Dhamma talk. They don’t even get around to asking their question to the ascetic Gotama, so how could they refute his answer? Invariably, they become his disciples. When I saw this first footprint of the ascetic Gotama, I came to the conclusion, ‘The Blessed One is a fully awakened Buddha. The teaching is well explained. The Saṅgha is practicing well.’
289. Bốn dấu chân nào? Thưa ngài, ở đây tôi thấy có những vị Sát-đế-lỵ học giả, tinh tế, thông thạo luận thuyết của người khác, giống như những tay cung thủ có thể bắn xuyên sợi lông. Họ đi đây đi đó, dường như để phá tan các tà kiến bằng trí tuệ của mình. Họ nghe rằng: ‘Thưa các ngài, Sa môn Gotama sẽ đến làng kia hay thị trấn kia.’ Họ chuẩn bị câu hỏi: ‘Chúng ta sẽ đến gần Sa môn Gotama và hỏi câu này. Nếu được hỏi như vậy, ngài ấy sẽ trả lời thế này, và chúng ta sẽ bác bỏ luận điểm của ngài ấy như thế này. Và nếu được hỏi như vậy, ngài ấy sẽ trả lời thế kia, và chúng ta cũng sẽ bác bỏ luận điểm của ngài ấy như thế này.’ Họ nghe rằng: ‘Thưa các ngài, Sa môn Gotama đã đến làng kia hay thị trấn kia.’ Họ đến chỗ Sa môn Gotama. Sa môn Gotama chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ họ bằng một bài pháp thoại. Được Sa môn Gotama chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ bằng một bài pháp thoại, họ không hỏi Sa môn Gotama câu hỏi nào cả, huống nữa là bác bỏ luận điểm của ngài ấy? Trái lại, họ trở thành đệ tử của Sa môn Gotama. Thưa ngài, khi tôi thấy dấu chân thứ nhất này nơi Sa môn Gotama, tôi đã đi đến kết luận: ‘Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, Tăng chúng đệ tử của Thế Tôn là bậc diệu hạnh.’
Puna caparāhaṁ, bho, passāmi idhekacce brāhmaṇapaṇḍite …pe… gahapatipaṇḍite … pe…
samaṇapaṇḍite nipuṇe kataparappavāde vālavedhirūpe te bhindantā maññe caranti paññāgatena diṭṭhigatāni. Te suṇanti: ‘samaṇo khalu bho gotamo amukaṁ nāma gāmaṁ vā nigamaṁ vā osarissatī’ti. Te pañhaṁ abhisaṅkharonti ‘imaṁ mayaṁ pañhaṁ samaṇaṁ gotamaṁ upasaṅkamitvā pucchissāma. Evañce no puṭṭho evaṁ byākarissati, evamassa mayaṁ vādaṁ āropessāma. Evañcepi no puṭṭho evaṁ byākarissati, evampissa mayaṁ vādaṁ āropessāmā’ti. Te suṇanti ‘samaṇo khalu bho gotamo amukaṁ nāma gāmaṁ vā nigamaṁ vā osaṭo’ti. Te yena samaṇo gotamo tenupasaṅkamanti. Te samaṇo gotamo dhammiyā kathāya sandasseti samādapeti samuttejeti sampahaṁseti. Te samaṇena gotamena dhammiyā kathāya sandassitā samādapitā samuttejitā sampahaṁsitā na ceva samaṇaṁ gotamaṁ pañhaṁ pucchanti, kutossa vādaṁ āropessanti? Aññadatthu samaṇaṁyeva gotamaṁ okāsaṁ yācanti agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāya. Te samaṇo gotamo pabbājeti. Te tattha pabbajitā samānā vūpakaṭṭhā appamattā ātāpino pahitattā viharantā nacirasseva—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharanti.
Te evamāhaṁsu: ‘manaṁ vata, bho, anassāma, manaṁ vata, bho, panassāma; mayañhi pubbe assamaṇāva samānā samaṇamhāti paṭijānimha, abrāhmaṇāva samānā brāhmaṇamhāti paṭijānimha, anarahantova samānā arahantamhāti paṭijānimha. Idāni khomha samaṇā, idāni khomha brāhmaṇā, idāni khomha arahanto’ti. Yadāhaṁ, bho, samaṇe gotame imaṁ catutthaṁ padaṁ addasaṁ athāhaṁ niṭṭhamagamaṁ: ‘sammāsambuddho bhagavā, svākkhāto bhagavatā dhammo, suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho’ti.
Furthermore, I see some astute brahmins … some astute householders … they become his disciples.
Furthermore, I see some astute ascetics who are subtle, accomplished in the doctrines of others, hair-splitters. … They don’t even get around to asking their question to the ascetic Gotama, so how could they refute his answer? Invariably, they ask the ascetic Gotama for the chance to go forth. And he gives them the going-forth. Soon after going forth, living withdrawn, diligent, keen, and resolute, they realize the supreme culmination of the spiritual path in this very life. They live having achieved with their own insight the goal for which gentlemen rightly go forth from the lay life to homelessness.
They say, ‘We were almost lost! We almost perished! For we used to claim that we were ascetics, brahmins, and perfected ones, but we were none of these things. But now we really are ascetics, brahmins, and perfected ones!’ When I saw this fourth footprint of the ascetic Gotama, I came to the conclusion, ‘The Blessed One is a fully awakened Buddha. The teaching is well explained. The Saṅgha is practicing well.’
“Thưa ngài, lại nữa, ở đây, tôi thấy có những vị Bà-la-môn học giả... gia chủ học giả... Sa-môn học giả, những người khéo léo, thông hiểu giáo thuyết của người khác, như những tay thiện xạ có thể bắn trúng sợi lông, họ đi đây đi đó, dường như để phá tan các tà kiến bằng trí tuệ của mình. Họ nghe tin: ‘Thưa các ngài, nghe nói Sa-môn Gotama sẽ đến làng hay thị trấn kia.’ Họ bèn chuẩn bị câu hỏi: ‘Chúng ta sẽ đến gặp Sa-môn Gotama và hỏi câu này. Nếu được hỏi như vậy, ngài ấy trả lời thế này, chúng ta sẽ bắt bẻ lập luận của ngài ấy như thế này. Và nếu được hỏi như vậy, ngài ấy trả lời thế kia, chúng ta cũng sẽ bắt bẻ lập luận của ngài ấy như thế kia.’ Họ nghe tin: ‘Thưa các ngài, nghe nói Sa-môn Gotama đã đến làng hay thị trấn kia.’ Họ bèn đi đến chỗ Sa-môn Gotama. Sa-môn Gotama dùng pháp thoại chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ. Được Sa-môn Gotama dùng pháp thoại chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ, họ chẳng những không hỏi Sa-môn Gotama câu hỏi nào, nói gì đến việc bắt bẻ lập luận của ngài? Trái lại, họ còn xin Sa-môn Gotama cho phép được từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia. Sa-môn Gotama cho họ xuất gia. Sau khi xuất gia, họ sống một mình, nơi thanh vắng, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu, họ đã tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú ngay trong hiện tại mục đích vô thượng của phạm hạnh mà vì đó các thiện gia nam tử đã chân chính từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Họ nói như sau: ‘Thưa các ngài, thật chúng tôi suýt bị hoại vong! Thưa các ngài, thật chúng tôi suýt bị tiêu vong! Vì trước đây, dù không phải là Sa-môn, chúng tôi tự nhận là Sa-môn; dù không phải là Bà-la-môn, chúng tôi tự nhận là Bà-la-môn; dù không phải là A-la-hán, chúng tôi tự nhận là A-la-hán. Nhưng nay, chúng tôi thực sự là Sa-môn; nay, chúng tôi thực sự là Bà-la-môn; nay, chúng tôi thực sự là A-la-hán.’ Thưa ngài, khi tôi thấy dấu chân thứ tư này nơi Sa-môn Gotama, tôi đã đi đến kết luận: ‘Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, Tăng chúng của Thế Tôn là bậc diệu hạnh.’”
Yato kho ahaṁ, bho, samaṇe gotame imāni cattāri padāni addasaṁ athāhaṁ niṭṭhamagamaṁ: ‘sammāsambuddho bhagavā, svākkhāto bhagavatā dhammo, suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho’”ti.
It’s because I saw these four footprints of the ascetic Gotama that I came to the conclusion, ‘The Blessed One is a fully awakened Buddha. The teaching is well explained. The Saṅgha is practicing well.’”
“Thưa ngài, kể từ khi tôi thấy bốn dấu chân này nơi Sa-môn Gotama, tôi đã đi đến kết luận: ‘Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, Tăng chúng của Thế Tôn là bậc diệu hạnh.’”
Evaṁ vutte, jāṇussoṇi brāhmaṇo sabbasetā vaḷavābhirathā orohitvā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā tikkhattuṁ udānaṁ udānesi:
“Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa;
namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa;
namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassāti.
Appeva nāma mayampi kadāci karahaci tena bhotā gotamena saddhiṁ samāgaccheyyāma, appeva nāma siyā kocideva kathāsallāpo”ti.
Atha kho jāṇussoṇi brāhmaṇo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho jāṇussoṇi brāhmaṇo yāvatako ahosi pilotikena paribbājakena saddhiṁ kathāsallāpo taṁ sabbaṁ bhagavato ārocesi.
Evaṁ vutte, bhagavā jāṇussoṇiṁ brāhmaṇaṁ etadavoca: “na kho, brāhmaṇa, ettāvatā hatthipadopamo vitthārena paripūro hoti. Api ca, brāhmaṇa, yathā hatthipadopamo vitthārena paripūro hoti taṁ suṇāhi, sādhukaṁ manasi karohi, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bho”ti kho jāṇussoṇi brāhmaṇo bhagavato paccassosi. Bhagavā etadavoca:
When he had spoken, Jānussoṇi got down from his chariot, arranged his robe over one shoulder, raised his cupped palms toward the Buddha, and expressed this heartfelt sentiment three times:
“Homage to that Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha!
Homage to him, the blessed one, the perfected one, the fully awakened Buddha!
Homage to him, the blessed one, the perfected one, the fully awakened Buddha!
Hopefully, some time or other I’ll get to meet the worthy Gotama, and we can have a discussion.”
Then the brahmin Jānussoṇi went up to the Buddha, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side, and informed the Buddha of all he had discussed with the wanderer Pilotika.
When he had spoken, the Buddha said to him, “Brahmin, the simile of the elephant’s footprint is not yet completed in detail. As to how it is completed in detail, listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, worthy sir,” Jānussoṇi replied. The Buddha said this:
290. Khi nghe nói vậy, Bà-la-môn Jāṇussoṇi từ trên cỗ xe do toàn ngựa cái trắng kéo bước xuống, vắt thượng y qua một bên vai, chắp tay hướng về phía Thế Tôn và thốt lên lời cảm hứng ba lần: “Đảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác! Đảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác! Đảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác! Mong sao có một lúc nào đó, chúng tôi được gặp tôn giả Gotama! Mong sao có được một cuộc nói chuyện nào đó!” Rồi Bà-la-môn Jāṇussoṇi đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, ông cùng Thế Tôn nói lên những lời chào đón, thăm hỏi. Sau khi trao đổi những lời chào đón, thăm hỏi thân hữu, ông ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Bà-la-môn Jāṇussoṇi kể lại cho Thế Tôn nghe toàn bộ cuộc nói chuyện của ông với du sĩ Pilotika. Khi nghe nói vậy, Thế Tôn nói với Bà-la-môn Jāṇussoṇi: “Này Bà-la-môn, chừng ấy chưa đủ để ví dụ dấu chân voi được đầy đủ và chi tiết. Này Bà-la-môn, hãy nghe Ta nói về ví dụ dấu chân voi một cách đầy đủ và chi tiết. Hãy lắng nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.” “Thưa vâng, Tôn giả,” Bà-la-môn Jāṇussoṇi đáp lời Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
“Seyyathāpi, brāhmaṇa, nāgavaniko nāgavanaṁ paviseyya. So passeyya nāgavane mahantaṁ hatthipadaṁ, dīghato ca āyataṁ, tiriyañca vitthataṁ. Yo hoti kusalo nāgavaniko neva tāva niṭṭhaṁ gacchati: ‘mahā vata bho nāgo’ti. Taṁ kissa hetu? Santi hi, brāhmaṇa, nāgavane vāmanikā nāma hatthiniyo mahāpadā, tāsaṁ petaṁ padaṁ assāti.
“Suppose a bull elephant tracker were to enter a bull elephant wood. There they’d see a large elephant’s footprint, long and broad. A skilled bull elephant tracker does not yet come to the conclusion, ‘This must be a big bull elephant.’ Why not? Because in an elephant wood there are dwarf cow elephants with big footprints, and this footprint might be one of theirs.
291. “Này Bà-la-môn, ví như một người đi rừng chuyên về voi vào một khu rừng voi. Người ấy thấy trong rừng voi một dấu chân voi lớn, vừa dài vừa rộng. Một người đi rừng chuyên về voi có kinh nghiệm sẽ chưa vội đi đến kết luận: ‘Thật là một con voi đực lớn!’ Vì sao vậy? Này Bà-la-môn, vì trong rừng voi có những con voi cái lùn tên là Vāmanikā, chân của chúng rất to. Dấu chân này có thể là của chúng.”
So tamanugacchati. Tamanugacchanto passati nāgavane mahantaṁ hatthipadaṁ, dīghato ca āyataṁ, tiriyañca vitthataṁ, uccā ca nisevitaṁ. Yo hoti kusalo nāgavaniko neva tāva niṭṭhaṁ gacchati: ‘mahā vata bho nāgo’ti. Taṁ kissa hetu? Santi hi, brāhmaṇa, nāgavane uccā kāḷārikā nāma hatthiniyo mahāpadā, tāsaṁ petaṁ padaṁ assāti.
They keep following the track until they see a big footprint, long and broad, and traces high up. A skilled bull elephant tracker does not yet come to the conclusion, ‘This must be a big bull elephant.’ Why not? Because in an elephant wood there are tall lofty cow elephants with big footprints, and this footprint might be one of theirs.
“Người ấy đi theo dấu chân đó. Khi đi theo, người ấy thấy trong rừng voi một dấu chân voi lớn, vừa dài vừa rộng, và những vết cọ xát ở trên cao. Một người đi rừng chuyên về voi có kinh nghiệm sẽ chưa vội đi đến kết luận: ‘Thật là một con voi đực lớn!’ Vì sao vậy? Này Bà-la-môn, vì trong rừng voi có những con voi cái cao lớn tên là Uccākāḷārikā, chân của chúng rất to. Dấu chân này có thể là của chúng.”
So tamanugacchati. Tamanugacchanto passati nāgavane mahantaṁ hatthipadaṁ, dīghato ca āyataṁ, tiriyañca vitthataṁ, uccā ca nisevitaṁ, uccā ca dantehi ārañjitāni. Yo hoti kusalo nāgavaniko neva tāva niṭṭhaṁ gacchati: ‘mahā vata bho nāgo’ti. Taṁ kissa hetu? Santi hi, brāhmaṇa, nāgavane uccā kaṇerukā nāma hatthiniyo mahāpadā, tāsaṁ petaṁ padaṁ assāti.
They keep following the track until they see a big footprint, long and broad, and traces and tusk-marks high up. A skilled bull elephant tracker does not yet come to the conclusion, ‘This must be a big bull elephant.’ Why not? Because in an elephant wood there are tall matriarch cow elephants with big footprints, and this footprint might be one of theirs.
“Người ấy đi theo dấu chân đó. Khi đi theo, người ấy thấy trong rừng voi một dấu chân voi lớn, vừa dài vừa rộng, những vết cọ xát ở trên cao, và những vết rạch bằng ngà ở trên cao. Một người đi rừng chuyên về voi có kinh nghiệm sẽ chưa vội đi đến kết luận: ‘Thật là một con voi đực lớn!’ Vì sao vậy? Này Bà-la-môn, vì trong rừng voi có những con voi cái cao lớn tên là Uccākaṇerukā, chân của chúng rất to. Dấu chân này có thể là của chúng.”
So tamanugacchati. Tamanugacchanto passati nāgavane mahantaṁ hatthipadaṁ, dīghato ca āyataṁ, tiriyañca vitthataṁ, uccā ca nisevitaṁ, uccā ca dantehi ārañjitāni, uccā ca sākhābhaṅgaṁ. Tañca nāgaṁ passati rukkhamūlagataṁ vā abbhokāsagataṁ vā gacchantaṁ vā tiṭṭhantaṁ vā nisinnaṁ vā nipannaṁ vā. So niṭṭhaṁ gacchati: ‘ayameva so mahānāgo’ti.
They keep following the track until they see a big footprint, long and broad, and traces, tusk-marks, and broken branches high up. And they see that bull elephant walking, standing, sitting, or lying down at the root of a tree or in the open. Then they’d come to the conclusion, ‘This is that big bull elephant.’
“Người ấy đi theo dấu chân đó. Trong khi đi theo dấu chân đó, người ấy thấy trong khu rừng voi một dấu chân voi lớn, vừa dài vừa rộng, và thấy những chỗ bị cọ xát trên cao, những chỗ bị ngà đâm vào trên cao, và những cành cây bị gãy trên cao. Và người ấy thấy con voi đó, hoặc ở dưới gốc cây, hoặc ở ngoài trời trống, hoặc đang đi, hoặc đang đứng, hoặc đang ngồi, hoặc đang nằm. Người ấy đi đến kết luận: ‘Chính đây là con voi lớn ấy’.”
Evameva kho, brāhmaṇa, idha tathāgato loke uppajjati arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā. So imaṁ lokaṁ sadevakaṁ samārakaṁ sabrahmakaṁ sassamaṇabrāhmaṇiṁ pajaṁ sadevamanussaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedeti. So dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ; kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāseti.
Taṁ dhammaṁ suṇāti gahapati vā gahapatiputto vā aññatarasmiṁ vā kule paccājāto. So taṁ dhammaṁ sutvā tathāgate saddhaṁ paṭilabhati. So tena saddhāpaṭilābhena samannāgato iti paṭisañcikkhati: ‘sambādho gharāvāso rajopatho, abbhokāso pabbajjā. Nayidaṁ sukaraṁ agāraṁ ajjhāvasatā ekantaparipuṇṇaṁ ekantaparisuddhaṁ saṅkhalikhitaṁ brahmacariyaṁ carituṁ. Yannūnāhaṁ kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajeyyan’ti. So aparena samayena appaṁ vā bhogakkhandhaṁ pahāya mahantaṁ vā bhogakkhandhaṁ pahāya appaṁ vā ñātiparivaṭṭaṁ pahāya mahantaṁ vā ñātiparivaṭṭaṁ pahāya kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajati.
In the same way, brahmin, a Realized One arises in the world, perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed. He realizes with his own insight this world—with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, gods and humans—and he makes it known to others. He teaches Dhamma that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And he reveals a spiritual practice that’s entirely complete and pure.
A householder hears that teaching, or a householder’s child, or someone reborn in a good family. They gain faith in the Realized One, and reflect: ‘Life at home is cramped and dirty, life gone forth is wide open. It’s not easy for someone living at home to lead the spiritual life utterly full and pure, like a polished shell. Why don’t I shave off my hair and beard, dress in ocher robes, and go forth from the lay life to homelessness?’ After some time they give up a large or small fortune, and a large or small family circle. They shave off hair and beard, dress in ocher robes, and go forth from the lay life to homelessness.
“Này Bà-la-môn, cũng vậy, ở đời này, Như Lai xuất hiện, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Vị ấy, sau khi tự mình với thắng trí chứng ngộ thế giới này cùng với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài người, đã tuyên thuyết lại. Vị ấy thuyết giảng giáo pháp toàn thiện ở phần đầu, toàn thiện ở phần giữa, toàn thiện ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn cú; tuyên thuyết phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch. Giáo pháp ấy được một gia chủ, hoặc con của gia chủ, hoặc người sinh trong một gia tộc nào đó nghe được. Người ấy sau khi nghe pháp, có được niềm tin nơi Như Lai. Người ấy, với niềm tin đã có được, suy xét như sau: ‘Đời sống tại gia thì chật hẹp, là con đường của bụi bặm; đời sống xuất gia thì như trời quang mây tạnh. Sống tại gia không dễ gì thực hành phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn trong sạch, trắng bạch như vỏ ốc đã được chùi sạch. Vậy ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp y cà-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.’ Sau một thời gian, người ấy từ bỏ tài sản ít hay nhiều, từ bỏ tài sản nhiều hay ít, từ bỏ quyến thuộc ít hay nhiều, từ bỏ quyến thuộc nhiều hay ít, cạo bỏ râu tóc, đắp y cà-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.”
So evaṁ pabbajito samāno bhikkhūnaṁ sikkhāsājīvasamāpanno pāṇātipātaṁ pahāya pāṇātipātā paṭivirato hoti, nihitadaṇḍo nihitasattho lajjī dayāpanno sabbapāṇabhūtahitānukampī viharati.
Once they’ve gone forth, they take up the training and livelihood of the mendicants. They give up killing living creatures, renouncing the rod and the sword. They’re scrupulous and kind, living full of sympathy for all living beings.
292. “Vị ấy, sau khi xuất gia như vậy, sống theo học giới và đời sống của các Tỳ-khưu, từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ đao kiếm, có lòng tàm, có lòng bi mẫn, sống với lòng thương xót, mưu cầu hạnh phúc cho tất cả chúng sanh.”
Adinnādānaṁ pahāya adinnādānā paṭivirato hoti dinnādāyī dinnapāṭikaṅkhī. Athenena sucibhūtena attanā viharati.
They give up stealing. They take only what’s given, and expect only what’s given. They keep themselves clean by not thieving.
“Vị ấy từ bỏ lấy của không cho, tránh xa việc lấy của không cho, chỉ nhận vật đã cho, chỉ mong đợi vật đã cho. Vị ấy sống với tự thân trong sạch, không trộm cắp.”
Abrahmacariyaṁ pahāya brahmacārī hoti ārācārī virato methunā gāmadhammā.
They give up unchastity. They are chaste, set apart, refraining from the vulgar act of sex.
“Vị ấy từ bỏ hành vi không phạm hạnh, sống đời phạm hạnh, sống xa lìa, tránh xa hành vi dâm dục, là pháp của thế gian.”
Musāvādaṁ pahāya musāvādā paṭivirato hoti saccavādī saccasandho theto paccayiko avisaṁvādako lokassa.
They give up lying. They speak the truth and stick to the truth. They’re honest and dependable, and don’t trick the world with their words.
“Vị ấy từ bỏ nói dối, tránh xa việc nói dối, là người nói lời chân thật, kết hợp sự thật với sự thật, kiên định, đáng tin cậy, không lừa dối thế gian.”
Pisuṇaṁ vācaṁ pahāya pisuṇāya vācāya paṭivirato hoti, ito sutvā na amutra akkhātā imesaṁ bhedāya, amutra vā sutvā na imesaṁ akkhātā amūsaṁ bhedāya. Iti bhinnānaṁ vā sandhātā sahitānaṁ vā anuppadātā, samaggārāmo samaggarato samagganandī samaggakaraṇiṁ vācaṁ bhāsitā hoti.
They give up backbiting. They don’t repeat in one place what they heard in another so as to divide people against each other. Instead, they reconcile those who are divided and support those who are united, delighting in harmony, loving harmony, speaking words that promote harmony.
“Vị ấy từ bỏ lời nói đâm thọc, tránh xa lời nói đâm thọc; nghe điều gì ở đây, không đi nói ở chỗ kia để gây chia rẽ những người này; hoặc nghe điều gì ở chỗ kia, không đi nói ở đây để gây chia rẽ những người kia. Như vậy, vị ấy là người hàn gắn những ai đã chia rẽ, hoặc khuyến khích những ai đã hòa hợp, ưa thích sự hòa hợp, vui thích trong sự hòa hợp, hoan hỷ trong sự hòa hợp, nói những lời tạo ra sự hòa hợp.”
Pharusaṁ vācaṁ pahāya pharusāya vācāya paṭivirato hoti. Yā sā vācā nelā kaṇṇasukhā pemanīyā hadayaṅgamā porī bahujanakantā bahujanamanāpā tathārūpiṁ vācaṁ bhāsitā hoti.
They give up harsh speech. They speak in a way that’s mellow, pleasing to the ear, endearing, going to the heart, polite, likable, and agreeable to the people.
“Vị ấy từ bỏ lời nói thô ác, tránh xa lời nói thô ác. Vị ấy nói những lời không có lỗi, êm tai, dễ thương, đi vào lòng người, tao nhã, được nhiều người ưa thích, được nhiều người quý mến.”
Samphappalāpaṁ pahāya samphappalāpā paṭivirato hoti kālavādī bhūtavādī atthavādī dhammavādī vinayavādī, nidhānavatiṁ vācaṁ bhāsitā kālena sāpadesaṁ pariyantavatiṁ atthasaṁhitaṁ.
They give up talking nonsense. Their words are timely, true, and meaningful, in line with the teaching and training. They say things at the right time which are valuable, reasonable, succinct, and beneficial.
“Vị ấy từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù phiếm, là người nói đúng lúc, nói đúng sự thật, nói lời có ích, nói lời đúng pháp, nói lời đúng luật; nói vào đúng thời những lời đáng được ghi nhớ, có dẫn chứng, có giới hạn, hợp với mục đích.”
So bījagāmabhūtagāmasamārambhā paṭivirato hoti, ekabhattiko hoti rattūparato, virato vikālabhojanā, naccagītavāditavisūkadassanā paṭivirato hoti, mālāgandhavilepanadhāraṇamaṇḍanavibhūsanaṭṭhānā paṭivirato hoti, uccāsayanamahāsayanā paṭivirato hoti, jātarūparajatapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti, āmakadhaññapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti, āmakamaṁsapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti, itthikumārikapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti, dāsidāsapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti, ajeḷakapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti, kukkuṭasūkarapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti, hatthigavāssavaḷavapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti, khettavatthupaṭiggahaṇā paṭivirato hoti, dūteyyapahiṇagamanānuyogā paṭivirato hoti, kayavikkayā paṭivirato hoti, tulākūṭakaṁsakūṭamānakūṭā paṭivirato hoti, ukkoṭanavañcananikatisāciyogā paṭivirato hoti, chedanavadhabandhanaviparāmosaālopasahasākārā paṭivirato hoti.
They refrain from injuring plants and seeds. They eat in one part of the day, abstaining from eating at night and at the wrong time. They refrain from seeing shows of dancing, singing, and music. They refrain from attiring and adorning themselves with garlands, fragrance, and makeup. They refrain from high and luxurious beds. They refrain from receiving gold and currency, raw grains, raw meat, women and girls, male and female bondservants, goats and sheep, chickens and pigs, elephants, cows, horses, and mares, and fields and land. They refrain from running errands and messages; buying and selling; falsifying weights, metals, or measures; bribery, fraud, cheating, and duplicity; mutilation, murder, abduction, banditry, plunder, and violence.
293. “Vị ấy tránh xa việc phá hoại các loại hạt giống và cây cối; là người ăn một bữa, tránh xa ăn ban đêm, từ bỏ ăn phi thời; tránh xa xem múa, hát, nhạc, kịch; tránh xa việc trang sức, trang điểm bằng vòng hoa, hương liệu, dầu thơm; tránh xa giường cao, giường lớn; tránh xa việc nhận vàng bạc; tránh xa việc nhận ngũ cốc sống; tránh xa việc nhận thịt sống; tránh xa việc nhận phụ nữ, thiếu nữ; tránh xa việc nhận nô tỳ nam nữ; tránh xa việc nhận dê và cừu; tránh xa việc nhận gà và heo; tránh xa việc nhận voi, bò, ngựa, ngựa cái; tránh xa việc nhận ruộng đất; tránh xa việc làm người đưa tin, môi giới; tránh xa việc mua bán; tránh xa việc gian lận bằng cân, đấu, thước đo; tránh xa việc nhận hối lộ, lừa đảo, gian trá; tránh xa việc chặt, giết, trói, cướp bóc, trấn lột, và các hành vi bạo lực.”
So santuṭṭho hoti kāyaparihārikena cīvarena kucchiparihārikena piṇḍapātena. So yena yeneva pakkamati samādāyeva pakkamati. Seyyathāpi nāma pakkhī sakuṇo yena yeneva ḍeti sapattabhārova ḍeti; evameva bhikkhu santuṭṭho hoti kāyaparihārikena cīvarena kucchiparihārikena piṇḍapātena. So yena yeneva pakkamati samādāyeva pakkamati. So iminā ariyena sīlakkhandhena samannāgato ajjhattaṁ anavajjasukhaṁ paṭisaṁvedeti.
They’re content with robes to look after the body and almsfood to look after the belly. Wherever they go, they set out taking only these things. They’re like a bird: wherever it flies, wings are its only burden. In the same way, a mendicant is content with robes to look after the body and almsfood to look after the belly. Wherever they go, they set out taking only these things. When they have this spectrum of noble ethics, they experience a blameless happiness inside themselves.
294. “Vị ấy biết đủ với y để che thân, với vật thực để nuôi bụng. Vị ấy đi đến đâu cũng chỉ mang theo (y bát). Ví như loài chim, bay đi đâu cũng chỉ có đôi cánh là gánh nặng; cũng vậy, Tỳ-khưu biết đủ với y để che thân, với vật thực để nuôi bụng. Vị ấy đi đến đâu cũng chỉ mang theo (y bát). Vị ấy, được trang bị giới uẩn cao thượng này, cảm nhận được niềm an lạc không thể chê trách trong nội tâm.”
So cakkhunā rūpaṁ disvā na nimittaggāhī hoti nānubyañjanaggāhī. Yatvādhikaraṇamenaṁ cakkhundriyaṁ asaṁvutaṁ viharantaṁ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṁ tassa saṁvarāya paṭipajjati, rakkhati cakkhundriyaṁ, cakkhundriye saṁvaraṁ āpajjati. Sotena saddaṁ sutvā …pe… ghānena gandhaṁ ghāyitvā … jivhāya rasaṁ sāyitvā … kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā … manasā dhammaṁ viññāya na nimittaggāhī hoti nānubyañjanaggāhī. Yatvādhikaraṇamenaṁ manindriyaṁ asaṁvutaṁ viharantaṁ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṁ tassa saṁvarāya paṭipajjati, rakkhati manindriyaṁ, manindriye saṁvaraṁ āpajjati. So iminā ariyena indriyasaṁvarena samannāgato ajjhattaṁ abyāsekasukhaṁ paṭisaṁvedeti.
When they see a sight with their eyes, they don’t get caught up in the features and details. If the faculty of sight were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, they practice restraint, protecting the faculty of sight, and achieving its restraint. When they hear a sound with their ears … When they smell an odor with their nose … When they taste a flavor with their tongue … When they feel a touch with their body … When they know an idea with their mind, they don’t get caught up in the features and details. If the faculty of mind were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, they practice restraint, protecting the faculty of mind, and achieving its restraint. When they have this noble sense restraint, they experience an unsullied bliss inside themselves.
295. Vị ấy, sau khi dùng mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Do nhân duyên nào mà khi vị ấy sống không phòng hộ nhãn căn, các pháp ác, bất thiện là tham ái và ưu phiền có thể xâm chiếm, vị ấy thực hành để phòng hộ nhãn căn, gìn giữ nhãn căn, đạt đến sự phòng hộ trong nhãn căn. Sau khi dùng tai nghe tiếng... Sau khi dùng mũi ngửi hương... Sau khi dùng lưỡi nếm vị... Sau khi dùng thân cảm xúc... Sau khi dùng ý biết pháp, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Do nhân duyên nào mà khi vị ấy sống không phòng hộ ý căn, các pháp ác, bất thiện là tham ái và ưu phiền có thể xâm chiếm, vị ấy thực hành để phòng hộ ý căn, gìn giữ ý căn, đạt đến sự phòng hộ trong ý căn. Vị ấy, được trang bị sự phòng hộ các căn cao quý này, cảm thọ được niềm an lạc không bị phiền não bên trong.
So abhikkante paṭikkante sampajānakārī hoti, ālokite vilokite sampajānakārī hoti, samiñjite pasārite sampajānakārī hoti, saṅghāṭipattacīvaradhāraṇe sampajānakārī hoti, asite pīte khāyite sāyite sampajānakārī hoti, uccārapassāvakamme sampajānakārī hoti, gate ṭhite nisinne sutte jāgarite bhāsite tuṇhībhāve sampajānakārī hoti.
They act with situational awareness when going out and coming back; when looking ahead and aside; when bending and extending the limbs; when bearing the outer robe, bowl and robes; when eating, drinking, chewing, and tasting; when urinating and defecating; when walking, standing, sitting, sleeping, waking, speaking, and keeping silent.
Vị ấy hành động với tỉnh giác khi đi tới, đi lui; hành động với tỉnh giác khi nhìn thẳng, nhìn quanh; hành động với tỉnh giác khi co tay, duỗi tay; hành động với tỉnh giác khi mang y tăng-già-lê, bát và y; hành động với tỉnh giác khi ăn, uống, nhai, nếm; hành động với tỉnh giác khi đại tiện, tiểu tiện; hành động với tỉnh giác khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, và giữ im lặng.
So iminā ca ariyena sīlakkhandhena samannāgato, imāya ca ariyāya santuṭṭhiyā samannāgato iminā ca ariyena indriyasaṁvarena samannāgato, iminā ca ariyena satisampajaññena samannāgato vivittaṁ senāsanaṁ bhajati araññaṁ rukkhamūlaṁ pabbataṁ kandaraṁ giriguhaṁ susānaṁ vanapatthaṁ abbhokāsaṁ palālapuñjaṁ.
So pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto nisīdati pallaṅkaṁ ābhujitvā, ujuṁ kāyaṁ paṇidhāya, parimukhaṁ satiṁ upaṭṭhapetvā. So abhijjhaṁ loke pahāya vigatābhijjhena cetasā viharati, abhijjhāya cittaṁ parisodheti. Byāpādapadosaṁ pahāya abyāpannacitto viharati, sabbapāṇabhūtahitānukampī byāpādapadosā cittaṁ parisodheti. Thinamiddhaṁ pahāya vigatathinamiddho viharati ālokasaññī sato sampajāno, thinamiddhā cittaṁ parisodheti. Uddhaccakukkuccaṁ pahāya anuddhato viharati, ajjhattaṁ vūpasantacitto uddhaccakukkuccā cittaṁ parisodheti. Vicikicchaṁ pahāya tiṇṇavicikiccho viharati akathaṅkathī kusalesu dhammesu, vicikicchāya cittaṁ parisodheti.
When they have this spectrum of noble ethics, this noble contentment, this noble sense restraint, and this noble mindfulness and situational awareness, they frequent a secluded lodging—a wilderness, the root of a tree, a hill, a ravine, a mountain cave, a charnel ground, a forest, the open air, a heap of straw.
After the meal, they return from almsround, sit down cross-legged, set their body straight, and bring mindfulness to the present. Giving up covetousness for the world, they meditate with a heart rid of covetousness, cleansing the mind of covetousness. Giving up ill will and malevolence, they meditate with a mind rid of ill will, full of sympathy for all living beings, cleansing the mind of ill will. Giving up dullness and drowsiness, they meditate with a mind rid of dullness and drowsiness, perceiving light, mindful and aware, cleansing the mind of dullness and drowsiness. Giving up restlessness and remorse, they meditate without restlessness, their mind settled internally, cleansing the mind of restlessness and remorse. Giving up doubt, they meditate having gone beyond doubt, not undecided about skillful qualities, cleansing the mind of doubt.
296. Vị ấy, được trang bị uẩn giới cao quý này, sự phòng hộ các căn cao quý này, và chánh niệm tỉnh giác cao quý này, tìm đến một trú xứ vắng vẻ: trong rừng, dưới gốc cây, trên núi, trong hang đá, trong sơn động, ngoài nghĩa địa, trong lùm cây, ngoài trời, hoặc trong đống rơm. Vị ấy, sau bữa ăn, sau khi đi khất thực về, ngồi xuống, xếp bằng, giữ thân thẳng, và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát khỏi tham ái, gột sạch tâm khỏi tham ái. Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, có lòng thương tưởng đến lợi ích của tất cả chúng sanh, gột sạch tâm khỏi sân hận. Từ bỏ hôn trầm và thụy miên, vị ấy sống thoát khỏi hôn trầm và thụy miên, với nhận thức về ánh sáng, chánh niệm và tỉnh giác, gột sạch tâm khỏi hôn trầm và thụy miên. Từ bỏ trạo cử và hối quá, vị ấy sống không trạo cử, với tâm an tịnh nội tại, gột sạch tâm khỏi trạo cử và hối quá. Từ bỏ hoài nghi, vị ấy sống vượt qua hoài nghi, không còn phân vân đối với các pháp thiện, gột sạch tâm khỏi hoài nghi.
So ime pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe, vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Idampi vuccati, brāhmaṇa, tathāgatapadaṁ itipi, tathāgatanisevitaṁ itipi, tathāgatārañjitaṁ itipi. Na tveva tāva ariyasāvako niṭṭhaṁ gacchati: ‘sammāsambuddho bhagavā, svākkhāto bhagavatā dhammo, suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho’ti.
They give up these five hindrances, corruptions of the heart that weaken wisdom. Then, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, they enter and remain in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected. This, brahmin, is that which is called ‘a footprint of the Realized One’ and also ‘a trace of the Realized One’ and also ‘a mark of the Realized One’. But a noble disciple does not yet come to the conclusion, ‘The Blessed One is a fully awakened Buddha. The teaching is well explained. The Saṅgha is practicing well.’
297. Vị ấy, sau khi từ bỏ năm triền cái này là những pháp làm ô nhiễm tâm, làm trí tuệ suy yếu, đã ly dục, ly các pháp bất thiện, đạt và an trú vào thiền thứ nhất, một trạng thái có tầm, có tứ, với hỷ và lạc do ly dục sanh. Này Bà-la-môn, điều này cũng được gọi là dấu chân của Như Lai, nơi Như Lai đã đi qua, nơi Như Lai đã dùng đến. Nhưng vị Thánh đệ tử vẫn chưa đi đến kết luận rằng: ‘Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, Tăng chúng của Thế Tôn là bậc diệu hạnh’.
Puna caparaṁ, brāhmaṇa, bhikkhu vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Idampi vuccati, brāhmaṇa …pe… suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho’ti.
Furthermore, as the placing of the mind and keeping it connected are stilled, a mendicant enters and remains in the second absorption, which has the rapture and bliss born of immersion, with internal clarity and mind at one, without placing the mind and keeping it connected. This too is what is called ‘a footprint of the Realized One’ …
Lại nữa, này Bà-la-môn, vị Tỳ-khưu, do sự tịnh chỉ của tầm và tứ, đạt và an trú vào thiền thứ hai, một trạng thái nội tĩnh nhất tâm, không tầm không tứ, với hỷ và lạc do định sanh. Này Bà-la-môn, điều này cũng được gọi là... Tăng chúng của Thế Tôn là bậc diệu hạnh.
Puna caparaṁ, brāhmaṇa, bhikkhu pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharati sato ca sampajāno, sukhañca kāyena paṭisaṁvedeti, yaṁ taṁ ariyā ācikkhanti ‘upekkhako satimā sukhavihārī’ti tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Idampi vuccati, brāhmaṇa …pe… suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho’ti.
Furthermore, with the fading away of rapture, a mendicant enters and remains in the third absorption, where they meditate with equanimity, mindful and aware, experiencing for themselves the bliss of which the noble ones declare, ‘Equanimous and mindful, one meditates in bliss.’ This too is what is called ‘a footprint of the Realized One’ …
Lại nữa, này Bà-la-môn, vị Tỳ-khưu, do ly hỷ, an trú xả, chánh niệm và tỉnh giác, cảm thọ lạc bằng thân, đạt và an trú vào thiền thứ ba, mà các bậc Thánh gọi là ‘vị ấy an trú trong lạc với xả và chánh niệm’. Này Bà-la-môn, điều này cũng được gọi là... Tăng chúng của Thế Tôn là bậc diệu hạnh.
Puna caparaṁ, brāhmaṇa, bhikkhu sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā, pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā, adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Idampi vuccati, brāhmaṇa, tathāgatapadaṁ itipi, tathāgatanisevitaṁ itipi, tathāgatārañjitaṁ itipi. Na tveva tāva ariyasāvako niṭṭhaṁ gacchati: ‘sammāsambuddho bhagavā, svākkhāto bhagavatā dhammo, suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho’ti.
Furthermore, with the giving up of pleasure and pain and the disappearance of former happiness and sadness, a mendicant enters and remains in the fourth absorption, without pleasure or pain, with pure equanimity and mindfulness. This too is what is called ‘a footprint of the Realized One’ …
Lại nữa, này Bà-la-môn, vị Tỳ-khưu, do từ bỏ lạc và từ bỏ khổ, và do sự diệt mất của hỷ và ưu từ trước, đạt và an trú vào thiền thứ tư, một trạng thái không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này Bà-la-môn, điều này cũng được gọi là dấu chân của Như Lai, nơi Như Lai đã đi qua, nơi Như Lai đã dùng đến. Nhưng vị Thánh đệ tử vẫn chưa đi đến kết luận rằng: ‘Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, Tăng chúng của Thế Tôn là bậc diệu hạnh’.
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte pubbenivāsānussatiñāṇāya cittaṁ abhininnāmeti. So anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati, seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ, dvepi jātiyo …pe… iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati. Idampi vuccati, brāhmaṇa, tathāgatapadaṁ itipi, tathāgatanisevitaṁ itipi, tathāgatārañjitaṁ itipi. Na tveva tāva ariyasāvako niṭṭhaṁ gacchati: ‘sammāsambuddho bhagavā, svākkhāto bhagavatā dhammo, suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho’ti.
When their mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—they extend it toward recollection of past lives. They recollect many kinds of past lives, that is, one, two, three, four, five, ten, twenty, thirty, forty, fifty, a hundred, a thousand, a hundred thousand rebirths; many eons of the world contracting, many eons of the world expanding, many eons of the world contracting and expanding. … They recollect their many kinds of past lives, with features and details. This too is what is called ‘a footprint of the Realized One’ …
298. Khi tâm của vị ấy đã được định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không tỳ vết, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, và bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến trí tuệ nhớ lại các kiếp quá khứ. Vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau, cụ thể là: một kiếp, hai kiếp... Như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau với các đặc điểm và chi tiết của chúng. Này Bà-la-môn, điều này cũng được gọi là dấu chân của Như Lai, nơi Như Lai đã đi qua, nơi Như Lai đã dùng đến. Nhưng vị Thánh đệ tử vẫn chưa đi đến kết luận rằng: ‘Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, Tăng chúng của Thế Tôn là bậc diệu hạnh’.
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte sattānaṁ cutūpapātañāṇāya cittaṁ abhininnāmeti. So dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena …pe… yathākammūpage satte pajānāti. Idampi vuccati, brāhmaṇa, tathāgatapadaṁ itipi, tathāgatanisevitaṁ itipi, tathāgatārañjitaṁ itipi. Na tveva tāva ariyasāvako niṭṭhaṁ gacchati: ‘sammāsambuddho bhagavā, svākkhāto bhagavatā dhammo, suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho’ti.
When their mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—they extend it toward knowledge of the death and rebirth of sentient beings. With clairvoyance that is purified and surpasses the human, they understand how sentient beings pass on according to their deeds. This too is what is called ‘a footprint of the Realized One’ …
Vị ấy, với tâm định tĩnh, trong sạch, thanh tịnh, không tỳ vết, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, không dao động như vậy, hướng tâm đến trí tuệ về sự sinh tử của chúng sanh. Vị ấy, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu phàm... v.v... thấy rõ chúng sanh tùy theo nghiệp của họ. Này Bà-la-môn, điều này cũng được gọi là dấu chân của Như Lai, cũng được gọi là nơi Như Lai thường lui tới, cũng được gọi là nơi Như Lai ghi dấu. Tuy nhiên, vị Thánh đệ tử vẫn chưa đi đến kết luận rằng: ‘Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, Tăng chúng của Thế Tôn là bậc diệu hạnh’.
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte āsavānaṁ khayañāṇāya cittaṁ abhininnāmeti. So ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhasamudayo’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti. ‘Ime āsavā’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ āsavasamudayo’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ āsavanirodho’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ āsavanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti. Idampi vuccati, brāhmaṇa, tathāgatapadaṁ itipi, tathāgatanisevitaṁ itipi, tathāgatārañjitaṁ itipi. Na tveva tāva ariyasāvako niṭṭhaṁ gato hoti, api ca kho niṭṭhaṁ gacchati: ‘sammāsambuddho bhagavā, svākkhāto bhagavatā dhammo, suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho’ti.
When their mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—they extend it toward knowledge of the ending of defilements. They truly understand: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering.’ They truly understand: ‘These are defilements’ … ‘This is the origin of defilements’ … ‘This is the cessation of defilements’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of defilements.’ This, brahmin, is what is called ‘a footprint of the Realized One’ and also ‘a trace of the Realized One’ and also ‘a mark of the Realized One’. At this point a noble disciple has not yet come to a conclusion, but they are coming to the conclusion, ‘The Blessed One is a fully awakened Buddha. The teaching is well explained. The Saṅgha is practicing well.’
299. Vị ấy, với tâm định tĩnh, trong sạch, thanh tịnh, không tỳ vết, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, không dao động như vậy, hướng tâm đến trí tuệ về sự đoạn tận các lậu hoặc. Vị ấy biết như thật: ‘Đây là khổ’, biết như thật: ‘Đây là nguyên nhân của khổ’, biết như thật: ‘Đây là sự diệt khổ’, biết như thật: ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt khổ’. Vị ấy biết như thật: ‘Đây là các lậu hoặc’, biết như thật: ‘Đây là nguyên nhân của các lậu hoặc’, biết như thật: ‘Đây là sự diệt tận các lậu hoặc’, biết như thật: ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt tận các lậu hoặc’. Này Bà-la-môn, điều này cũng được gọi là dấu chân của Như Lai, cũng được gọi là nơi Như Lai thường lui tới, cũng được gọi là nơi Như Lai ghi dấu. Vị Thánh đệ tử vẫn chưa đi đến kết luận cuối cùng, nhưng quả thực vị ấy đi đến kết luận rằng: ‘Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, Tăng chúng của Thế Tôn là bậc diệu hạnh’.
Tassa evaṁ jānato evaṁ passato kāmāsavāpi cittaṁ vimuccati, bhavāsavāpi cittaṁ vimuccati, avijjāsavāpi cittaṁ vimuccati. Vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti. Idampi vuccati, brāhmaṇa, tathāgatapadaṁ itipi, tathāgatanisevitaṁ itipi, tathāgatārañjitaṁ itipi. Ettāvatā kho, brāhmaṇa, ariyasāvako niṭṭhaṁ gato hoti: ‘sammāsambuddho bhagavā, svākkhāto bhagavatā dhammo, suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho’ti. Ettāvatā kho, brāhmaṇa, hatthipadopamo vitthārena paripūro hotī”ti.
Knowing and seeing like this, their mind is freed from the defilements of sensuality, desire to be reborn, and ignorance. When they’re freed, they know they’re freed.
They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’ This, brahmin, is what is called ‘a footprint of the Realized One’ and also ‘a trace of the Realized One’ and also ‘a mark of the Realized One’. At this point a noble disciple has come to the conclusion, ‘The Blessed One is a fully awakened Buddha. The teaching is well explained. The Saṅgha is practicing well.’ And it is at this point that the simile of the elephant’s footprint has been completed in detail.”
Đối với vị ấy, khi biết như vậy, thấy như vậy, tâm được giải thoát khỏi dục lậu, tâm được giải thoát khỏi hữu lậu, tâm được giải thoát khỏi vô minh lậu. Trong sự giải thoát, trí tuệ khởi lên rằng: ‘Ta đã được giải thoát’. Vị ấy biết rõ: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa’. Này Bà-la-môn, điều này cũng được gọi là dấu chân của Như Lai, cũng được gọi là nơi Như Lai thường lui tới, cũng được gọi là nơi Như Lai ghi dấu. Này Bà-la-môn, đến mức độ này, vị Thánh đệ tử đã đi đến kết luận cuối cùng: ‘Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, Tăng chúng của Thế Tôn là bậc diệu hạnh’. Này Bà-la-môn, đến mức độ này, ví dụ dấu chân voi đã được trình bày đầy đủ chi tiết.
Evaṁ vutte, jāṇussoṇi brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca: “abhikkantaṁ, bho gotama, abhikkantaṁ, bho gotama. Seyyathāpi, bho gotama, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhotā gotamena anekapariyāyena dhammo pakāsito. Esāhaṁ bhavantaṁ gotamaṁ saraṇaṁ gacchāmi, dhammañca, bhikkhusaṅghañca. Upāsakaṁ maṁ bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
When he had spoken, the brahmin Jānussoṇi said to the Buddha, “Excellent, worthy Gotama! Excellent! As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark so people with clear eyes can see what’s there, worthy Gotama has made the teaching clear in many ways. I go for refuge to the worthy Gotama, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. From this day forth, may the worthy Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
Khi được nói như vậy, Bà-la-môn Jāṇussoṇi bạch với Thế Tôn rằng: ‘Thật vi diệu, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu, thưa Tôn giả Gotama! Thưa Tôn giả Gotama, cũng như người ta lật ngửa vật bị úp, mở ra vật bị che kín, chỉ đường cho người lạc lối, hay đem đèn vào trong bóng tối để người có mắt có thể thấy các hình sắc; cũng vậy, Pháp đã được Tôn giả Gotama trình bày bằng nhiều phương tiện. Con nay xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y Tỳ-khưu Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm một người cận sự nam, đã quy y từ hôm nay cho đến trọn đời’.
Cūḷahatthipadopamasuttaṁ niṭṭhitaṁ sattamaṁ.
Kinh Tiểu Dụ Dấu Chân Voi, thứ bảy, đã chấm dứt.