- Majjhima Nikāya 26
Pāsarāsisutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Pāsarāsisutta
Tôi nghe như vầy:
SC 1Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi, tại Jetavana, vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).
SC 2Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đến Sāvatthi để khất thực. Có một số đông Tỷ-kheo đến chỗ Tôn giả Ānanda ở, sau khi đến, nói với Tôn giả Ānanda
SC 3—Hiền giả, đã lâu chúng tôi chưa được tận mặt nghe Thế Tôn thuyết pháp. Lành thay, Hiền giả Ānanda, nếu chúng tôi được tận mặt nghe Thế Tôn thuyết pháp!
SC 4—Các Tôn giả hãy đến chỗ Bà-la-môn Rammaka ở, và các Tôn giả sẽ được tận mặt nghe Thế Tôn thuyết pháp.
—Thưa vâng, Hiền giả.
SC 5Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Ānanda. Rồi Thế Tôn, khất thực ở Sāvatthi xong, sau buổi ăn trên con đường đi khất thực trở về, cho gọi Tôn giả Ānanda
SC 6—Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Pubbārāma (Ðông viên), ngôi lầu của Migaramatu (Lộc Mẫu Giảng Ðường) để nghỉ trưa.
SC 7—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 8Tôn giả Ānanda vâng đáp Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với Tôn giả Ānanda đi đến vườn Pubbārāma, ngôi lầu của Migaramatu để nghỉ trưa. Thế Tôn vào buổi chiều từ Thiền tịnh đứng dậy, gọi Tôn giả Ānanda
SC 9—Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Pubbakoṭṭhaka để rửa tay, rửa chân.
SC 10—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 11Tôn giả Ānanda vâng đáp Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với Tôn giả Ānanda đi đến Pubbakoṭṭhaka để rửa tay, rửa chân. Sau khi rửa tay, rửa chân ở Pubbalotthaka xong, Thế Tôn leo đứng trên bờ, đắp một tấm y, phơi tay chân cho khô. Rồi Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 12—Bạch Thế Tôn, tinh thất của Bà-la-môn Rammaka không xa; bạch Thế Tôn, tịnh thất của Bà-la-môn Rammaka là khả ái; bạch Thế Tôn, tinh thất của Bà-la-môn Rammaka là khả lạc; bạch Thế Tôn, lành thay, nếu Thế Tôn vì lòng từ bi đi đến tịnh thất của Bà-la-môn Rammaka!
SC 13Thế Tôn im lặng nhận lời. Rồi Thế Tôn đi đến tịnh thất của Bà-la-môn Rammaka. Lúc bấy giờ, một số đông Tỷ-kheo đang hội họp tại tịnh thất của Bà-la-môn Rammaka để thuyết pháp. Thế Tôn đứng chờ ngoài cửa cho đến khi thuyết pháp xong. Thế Tôn biết cuộc thuyết pháp đã xong, liền đằng hắng và gõ vào thanh cửa. Các Tỷ-kheo ấy mở cửa cho Thế Tôn. Rồi Thế Tôn bước vào tịnh thất của Bà-la-môn Rammaka và ngồi lên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo
SC 14—Này các Tỷ-kheo, các Người nay hội họp bàn vấn đề gì? Và câu chuyện gì giữa các Người bị gián đoạn?
SC 15—Bạch Thế Tôn, câu chuyện giữa chúng con thuộc về Thế Tôn và câu chuyện ấy bị gián đoạn khi Thế Tôn đến.
SC 16—Này các Tỷ-kheo, lành thay khi Thiện nam tử các Người, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, cùng nhau hội họp để luận bàn đạo pháp. Này các Tỷ-kheo, khi các Người hội họp với nhau, có hai việc cần phải làm: luận bàn đạo pháp hay giữ sự im lặng của bậc Thánh.
SC 17Này các Tỷ-kheo, có hai loại tầm cầu này: Thánh cầu và phi Thánh cầu. Chư Tỷ-kheo, và thế nào là phi Thánh cầu? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tự mình bị sanh lại tầm cầu cái bị sanh, tự mình bị già lại tìm cầu cái bị già, tự mình bị bệnh … tự mình bị chết … tự mình bị sầu … tự mình bị ô nhiễm lại tầm cầu cái bị ô nhiễm.
SC 18Này các Tỷ-kheo, cái gì theo các Người gọi là bị sanh? Này các Tỷ-kheo, vợ con là bị sanh; đầy tớ nam, đầy tớ nữ là bị sanh; dê và cừu là bị sanh; gà và heo là bị sanh; voi, bò, ngựa đực, ngựa cái là bị sanh; vàng và bạc là bị sanh. Này các Tỷ-kheo, những chấp thủ ấy bị sanh, và người ấy lại nắm giữ, tham đắm, mê say chúng, tự mình bị sanh lại tầm cầu cái bị sanh.
SC 19Và này các Tỷ-kheo, cái gì theo các Người gọi là bị già? Này các Tỷ-kheo, vợ con là bị già; đầy tớ nam, đầy tớ nữ là bị già; dê và cừu là bị già; gà và heo là bị già; voi, bò, ngựa đực, ngựa cái là bị già; vàng và bạc là bị già. Này các Tỷ-kheo, những chấp thủ ấy là bị già, và người ấy lại nắm giữ, tham đắm, mê say chúng, tự mình bị già lại tìm cầu cái bị già.
SC 20Và này các Tỷ-kheo, cái gì theo các Người gọi là bị bệnh? Này các Tỷ-kheo, vợ con là bị bệnh; đầy tớ nam, đầy tớ nữ là bi bệnh; dê và cừu là bị bệnh; gà và heo là bị bệnh; voi, bò, ngựa đực, ngựa cái là bị bệnh. Này các Tỷ-kheo, những chấp thủ ấy là bị bệnh, và người ấy lại nắm giữ tham đắm, mê say chúng, tự mình bị bệnh lại tìm cầu cái bị bệnh.
SC 21Và này các Tỷ-kheo, cái gì các Người nói là bị chết? Này các Tỷ-kheo, vợ con là bi chết; đầy tớ nam, đầy tớ nữ là bị chết; dê và cừu là bị chết; gà và heo là bị chết; voi, bò, ngựa đực, ngựa cái là bị chết. Này các Tỷ-kheo, những chấp thủ ấy là bị chết, và người ấy lại nắm giữ, tham đắm, mê say chúng, tự mình bị chết lại tìm cầu cái bị chết.
SC 22Và này các Tỷ-kheo, cái gì theo các Người gọi là bị sầu? Này các Tỷ-kheo, vợ con là bị sầu; đầy tớ nam, đầy tớ nữ là bị sầu; dê và cừu là bị sầu, gà và heo là bị sầu; voi, bò, ngựa đực, ngựa cái là bị sầu. Này các Tỷ-kheo, những chấp thủ ấy là bị sầu, và người ấy lại nắm giữ, tham đắm, mê say chúng, tự mình bị sầu lại tìm cầu cái bị sầu.
SC 23Và này các Tỷ-kheo, cái gì theo các Người gọi là bị ô nhiễm? Này các Tỷ-kheo, vợ con là bị ô nhiễm; đầy tớ nam, đầy tớ nữ là bị ô nhiễm; dê và cừu la bị ô nhiễm; gà và heo là bị ô nhiễm; voi, bò, ngựa đực, ngựa cái là bị ô nhiễm; vàng và bạc là bị ô nhiễm. Và này các Tỷ-kheo, những chấp thủ ấy là bị ô nhiễm, và người ấy lại nắm giữ, tham đắm, mê say chúng, tự mình bị ô nhiễm lại tìm cầu cái bị ô nhiễm. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là phi Thánh cầu.
SC 24Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Thánh cầu? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tự mình bị sanh, sau khi biết rõ sự nguy hại của bị sanh, tìm cầu cái vô sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị già, sau khi biết rõ sự nguy hại của bị già, tìm cầu cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị bệnh … cái không bệnh … tự mình bị chết … cái bất tử … tự mình bị sầu … cái không sầu … tự mình bị ô nhiễm, sau khi biết rõ sự nguy hại của ô nhiễm, tìm cầu cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn. Này các Tỷ-kheo, như vậy, gọi là Thánh cầu.
SC 25Này các Tỷ-kheo, Ta cũng vậy, trước khi Giác Ngộ, khi chưa chứng Chánh Ðẳng Giác, khi còn là Bồ-tát, tự mình bị sanh lại tìm cầu cái bị sanh, tự mình bị già, lại tìm cầu cái bị già, tự mình bị bệnh … tự mình bị chết … tự mình bị sầu” … tự mình bị ô nhiễm lại tìm cầu cái bị ô nhiễm. Này các Tỷ-kheo, rồi Ta suy nghĩ như sau: “Tại sao Ta, tự mình bị sanh lại tìm cầu cái bị sanh, tự mình bị già … (như trên) … tự mình bi ô nhiễm lại tìm cầu cái bị ô nhiễm? Vậy Ta, tự mình bị sanh, sau khi biết rõ sự nguy hại của bị sanh, hãy tìm cầu cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị già … cái không già … tự mình bị bệnh … cái không bệnh … tự mình bị chết … cái bất tử … tự mình bị sầu … cái không sầu … tự mình bi ô nhiễm, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị nhiễm, hãy tìm cầu cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn.
SC 26Rồi này các Tỷ-kheo, sau một thời gian, khi Ta còn trẻ, niên thiếu, tóc đen nhánh, đầy đủ huyết khí của tuổi thanh xuân, trong thời vàng son cuộc đời, mặc dầu cha mẹ không bằng lòng, nước mắt đầy mặt, than khóc, Ta cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
SC 27Ta xuất gia như vậy, một người đi tìm cái gì chí thiện, tìm cầu vô thượng tối thắng an tịnh đạo lộ. Ta đến chỗ Alāra Kālāma ở, khi đến xong liền thưa với Alāra Kālāma: “Hiền giả Kālāma, tôi muốn sống phạm hạnh trong pháp luật này”. Này các Tỷ-kheo, được nghe nói vậy, Alāra Kālāma nói với Ta: “Này Tôn giả, hãy sống (và an trú). Pháp này là như vậy, khiến kẻ có trí, không bao lâu như vị Bổn sư của mình (chỉ dạy), tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú”. Này các Tỷ-kheo, và không bao lâu Ta đã thông suốt pháp ấy một cách mau chóng. Và này các Tỷ-kheo, cho đến vấn đề khua môi và vấn đề phát ngôn mà nói, thời Ta nói giáo lý của kẻ trí và giáo lý của bậc Trưởng lão (Thượng tọa), và Ta tự cho rằng Ta như kẻ khác cũng vậy, Ta biết và Ta thấy.
SC 28Này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ như sau: “Alāra Kālāma tuyên bố pháp này không phải chỉ vì lòng tin: “Sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt, Ta mới an trú”. Chắc chắn Alāra Kālāma biết pháp này, thấy pháp này rồi mới an trú”. Này các Tỷ-kheo, rồi Ta đi đến chỗ Alāra Kālāma ở, sau khi đến Ta nói với Alāra Kālāma: “Hiền giả Kālāma, cho đến mức độ nào, Ngài tự tri, tự chứng, tự đạt, và tuyên bố pháp này?” Này các Tỷ-kheo, được nói vậy, Alāra Kālāma tuyên bố về Vô sở hữu xứ.
SC 29Rồi này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ: “Không phải chỉ có Alāra Kālāma có lòng tin, Ta cũng có lòng tin. Không phải chỉ có Alāra Kālāma mới có tinh tấn, Ta cũng có tinh tấn. Không phải chỉ có Alāra Kālāma mới có niệm, Ta cũng có niệm. Không phải chỉ có Alāra Kālāma mới có định, Ta cũng có định. Không phải chỉ có Alāra Kālāma mới có tuệ, Ta cũng có tuệ. Vậy Ta hãy cố gắng chứng cho được pháp mà Alāra Kālāma tuyên bố: “Sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt, ta an trú”.
SC 30Rồi này các Tỷ-kheo, không bao lâu sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt pháp ấy một cách mau chóng, Ta an trú. Rồi này các Tỷ-kheo, Ta đi đến chỗ Alāra Kālāma ở, sau khi đến, Ta nói với Alāra Kālāma: “Này Hiền giả Kālāma, có phải Hiền giả đã tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy?” —“ Vâng, Hiền giả, tôi đã tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy”.:” Này Hiền giả, tôi cũng tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy”.:” Thật lợi ích thay cho chúng tôi, Thật khéo lợi ích thay cho chúng tôi, khi chúng tôi được thấy một đồng phạm hạnh như Tôn giả! Pháp mà tôi tự tri, tự chứng, tự đạt, và tuyên bố, chính pháp ấy Hiền giả tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú; pháp mà Hiền giả tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú, chính pháp ấy tôi tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố; pháp mà tôi biết, chính pháp ấy Hiền giả biết; pháp mà Hiền giả biết, chính pháp ấy tôi biết. Tôi như thế nào, Hiền giả là như vậy; Hiền giả như thế nào, tôi là như vậy. Nay hãy đến đây, Hiền giả, hai chúng ta hãy chăm sóc hội chúng này!”
SC 31Như vậy, này các Tỷ-kheo, Alāra Kālāma là Ðạo Sư của Ta, lại đặt Ta, đệ tử của vị ấy ngang hàng với mình, và tôn sùng Ta với sự tôn sùng tối thượng. Này các Tỷ-kheo, rồi Ta tự suy nghĩ: “Pháp này không hướng đến yểm ly, không hướng đến ly tham, không hướng đến đoạn diệt, không hướng đến an tịnh, không hướng đến thượng trí, không hướng đến giác ngộ, không hướng đến Niết-bàn, mà chỉ đưa đến sự chứng đạt Vô sở hữu xứ”. Như vậy này các Tỷ-kheo, Ta không tôn kính pháp này, và từ bỏ pháp ấy, Ta bỏ đi.
SC 32Rồi này các Tỷ-kheo, Ta, kẻ đi tìm cái gì chí thiện, tìm cầu vô thượng tối thắng an tịnh đạo lộ. Ta đi đến chỗ Uddaka Ramaputta, khi đến xong Ta nói với Uddaka Ramaputta: “Hiền giả, tôi muốn sống phạm hạnh trong pháp luật này. Ðược nói vậy, này các Tỷ-kheo, Uddaka Ramaputta nói với Ta: “Này Tôn giả, hãy sống (và an trú), pháp này là như vậy, khiến người có trí không bao lâu như vị Bổn sư của mình (chỉ dạy) tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú”. Này các Tỷ-kheo, Ta đã thông suốt pháp ấy một cách mau chóng. Và này các Tỷ-kheo, cho đến vấn đề khua môi và vấn đề phát ngôn mà nói, thời Ta nói giáo lý của kẻ trí, và giáo lý của bậc Trưởng lão (Thượng Tọa), và Ta tự cho rằng Ta như người khác cũng vậy, Ta biết và Ta thấy.
SC 33Này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ như sau: “Rama tuyên bố pháp này không phải vì lòng tin: “Sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt, ta mới an trú”. Chắc chắn Rama thấy pháp này, biết pháp này, rồi mới an trú”. Này các Tỷ-kheo, rồi Ta đi đến chỗ Uddaka Ramaputta ở, sau khi đến Ta nói với Uddaka Ramaputta: “Hiền giả Rama, cho đến mức độ nào, Ngài tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này?” Này các Tỷ-kheo được nghe nói vậy, Uddaka Ramaputta tuyên bố về Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
SC 34Rồi này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ: “Không phải chỉ có Rama mới có lòng tin. Ta cũng có lòng tin. Không phải chỉ có Rama mới có tinh tấn, Ta cũng có tinh tấn. Không phải chỉ có Rama mới có niệm, Ta cũng có niệm. Không phải chỉ có Rama mới có định, Ta cũng có định. Không phải chỉ có Rama mới có tuệ, Ta cũng có tuệ. Vậy ta hãy cố gắng chứng cho được pháp mà Rama tuyên bố: “Sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt, tự an trú”.
SC 35Rồi này các Tỷ-kheo, không bao lâu sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt pháp ấy một cách mau chóng, Ta an trú. Rồi này các Tỷ-kheo, Ta đi đến chỗ Uddaka Ramaputta ở, sau khi đến, Ta nói với Uddaka Ramaputta: “Này Hiền giả Rama, có phải Hiền giả đã tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy?” —“ Vâng Hiền giả, tôi đã tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy”.:” Này Hiền giả, tôi cũng đã tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy.” Thật lợi ích thay cho chúng tôi! Thật khéo lợi ích thay cho chúng tôi, khi chúng tôi được thấy một đồng phạm hạnh như Tôn giả! Pháp mà tôi, tự tri tự chứng, tự đạt và tuyên bố, chính pháp ấy Hiền giả tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú; pháp mà Hiền giả tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú, chính pháp ấy tôi tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố; pháp mà tôi biết, chính pháp ấy Hiền giả biết; pháp mà Hiền giả biết, chính pháp ấy tôi biết. Tôi như thế nào, Hiền giả là như vậy; Hiền giả như thế nào, Tôi là như vậy. Nay hãy đến đây, Hiền giả, hai chúng ta hãy chăm sóc hội chúng này!”
SC 36Như vậy, này các Tỷ-kheo, Uddaka Ramaputta-là Ðạo Sư của Ta, lại đặt Ta, đệ tử của vị ấy ngang hàng với mình, và tôn sùng Ta với sự tôn sùng tối thượng. Này các Tỷ-kheo, rồi Ta suy nghĩ: “Pháp này không hướng đến yểm ly, không hướng đến ly tham, không hướng đến đoạn diệt, không hướng đến an tịnh, không hướng đến thượng trí, không hướng đến giác ngộ, không hướng đến Niết-bàn, mà chỉ đưa đến sự chứng đạt Phi tưởng phi phi tưởng xứ”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Ta không tôn kính pháp ấy và từ bỏ pháp ấy, Ta bỏ đi.
SC 37Này các Tỷ-kheo, Ta, kẻ đi tìm cái gì chí thiện, tìm cầu vô thượng tối thắng an tịnh đạo lộ, tuần tự du hành tại nước Magadha (Ma kiệt đà) và đến tại tụ lạc Uruvela (Ưu lâu tần loa). Tại đây, Ta thấy một địa điểm khả ái, một khóm rừng thoải mái, có con sông trong sáng chảy gần, với một chỗ lội qua dễ dàng khả ái, và xung quanh có làng mạc bao bọc dễ dàng đi khất thực. Này các Tỷ-kheo, rồi Ta tự nghĩ: “Thật là một địa điểm khả ái, một khóm rừng thoải mái, có con sông trong sáng chảy gần, với một chỗ lội qua dễ dàng khả ái, và xung quanh có làng mạc bao bọc dễ dàng đi khất thực. Thật là một chỗ vừa đủ cho một Thiện nam tử tha thiết tinh cần có thể tinh tấn”. Và này các Tỷ-kheo, Ta ngồi xuống tại chỗ ấy và nghĩ: “Thật là vừa đủ để tinh tấn”.
SC 38Rồi này các Tỷ-kheo, Ta tự mình bị sanh, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị sanh, tìm cầu cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị già, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị già, tìm cầu cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; và đã chứng được cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị bệnh, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị bệnh, tìm cầu cái không bệnh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không bệnh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị chết, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị chết, tìm cầu cái không chết, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không chết, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị sầu, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị sầu, tìm cầu cái không sầu, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái vô sầu, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị ô nhiễm, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị ô nhiễm, tìm cầu cái không bị ô nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách, Niết-bàn. Và tri kiến khởi lên nơi Ta. Sự giải thoát của Ta không bị dao động. Nay là đời sống cuối cùng của Ta, không còn sự tái sanh nữa.
SC 39Này các Tỷ-kheo, rồi Ta suy nghĩ như sau: “Pháp này do Ta chứng được, thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu, chỉ người trí mới hiểu thấu. Còn quần chúng này thì ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục. Ðối với quần chúng ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục, thật khó mà thấy được định lý Idapaccàyata Paticcasamuppada (Y Tánh Duyên Khởi Pháp); sự kiện này thật khó thấy; tức là sự tịnh chỉ tất cả hành, sự trừ bỏ tất cả sanh y, ái diệt, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn. Nếu nay Ta thuyết pháp mà các người khác không hiểu Ta, thời như vậy thật khổ não cho Ta, như vậy thật bực mình cho Ta!” Này các Tỷ-kheo, rồi những kệ bất khả tư nghì, từ trước chưa từng được nghe, được khởi lên nơi Ta:
SC 40Sao Ta nói Chánh pháp,
Ðược chứng ngộ khó khăn?
Những ai còn tham sân,
Khó chứng ngộ pháp này.
SC 41Ði ngược dòng, thâm diệu,
Khó thấy, thật tế nhị,
Kẻ ái nhiễm vô minh,
Không thấy được pháp này.
SC 42Rồi này các Tỷ-kheo, với những suy tư như vậy, tâm của Ta hướng về vô vi thụ động, không muốn thuyết pháp.
SC 43Này các Tỷ-kheo, lúc bấy giờ Phạm thiên Sahampati khi biết được tâm tư của Ta; với tâm tư của mình, liền suy nghĩ: “Than ôi, thế giới sẽ tiêu diệt, thế giới sẽ bi hoại vong, nếu tâm của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác hướng về vô vi thụ động, không muốn thuyết pháp”. Rồi này các Tỷ-kheo, Phạm thiên Sahampati, như một nhà lực sĩ duỗi cánh tay đang co, hay co cánh tay đang duỗi; cũng vậy, vị ấy biến mất từ thế giới Phạm thiên, và hiện ra trước mặt Ta. Này các Tỷ-kheo, rồi Phạm thiên Sahampati đắp thượng y một bên vai chắp tay hướng vái Ta và bạch với Ta: “Bạch Thế Tôn, hãy thuyết pháp! Bạch Thiện Thệ, hãy thuyết pháp! Có những chúng sanh ít nhiễm bụi trần sẽ bi nguy hại nếu không được nghe Chánh pháp. (Nếu được nghe), những vị này có thể thâm hiểu Chánh pháp”. Này các Tỷ-kheo, Phạm thiện Sahampati nói như vậy. Sau khi nói vậy, lại nói thêm như sau:
SC 44Xưa tại Magadha,
Hiện ra pháp bất tịnh,
Pháp do tâm cấu uế,
Do suy tư tác thành.
Hãy mỡ tung mở rộng,
Cánh cửa bất tử này.
Hãy để họ nghe Pháp,
Bậc Thanh tịnh Chứng Ngộ.
SC 45Như đứng trên tảng đá,
Trên đỉnh núi tột cao
Có người đứng nhìn xuống,
Ðám chúng sanh quây quần.
Cũng vậy, ôi Thiện Thệ,
Bậc Biến Nhãn cùng khắp,
Leo lên ngôi lâu đài,
Xây dựng bằng Chánh pháp
Bậc Thoát Ly sầu muộn,
Nhìn xuống đám quần sanh,
Bị sầu khổ áp bức,
Bị sanh già chi phối,
SC 46Ðứng lên vị Anh Hùng,
Bậc Chiến Thắng chiến trường.
Vị trưởng đoàn lữ khách,
Bậc Thoát Ly nợ nần.
Hãy đi khắp thế giới,
Bậc Thế Tôn Chánh Giác!
Hãy thuyết vi diệu pháp,
Người nghe sẽ thâm hiểu!
SC 47Này các Tỷ-kheo, sau khi biết được lời Phạm thiên yêu cầu, vì lòng từ bi đối với chúng sanh, với Phật nhãn, Ta nhìn quanh thế giới. Này các Tỷ-kheo, với Phật nhãn, Ta thấy có hạng chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nhiều nhiễm bụi đời, có hạng lợi căn, độn căn, có hạng thiện tánh, ác tánh, có hạng dễ dạy, khó dạy, và một số ít thấy sự nguy hiểm phải tái sanh thế giới khác và sự nguy hiểm làm những hành động lỗi lầm. Như trong hồ sen xanh, hồ sen hồng hay hồ sen trắng có một số hoa sen xanh, sen hồng, hay sen trắng sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, không vượt lên khỏi mặt nước, được nuôi dưỡng dưới nước. Có một hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, sống vươn lên tới mặt nước. Có một số hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, vươn lên khỏi mặt nước, không bị nước đẫm ướt. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, với Phật nhãn, Ta thấy có hạng chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nhiều nhiễm bụi đời, có hạng lợi căn, độn căn, có hạng thiện tánh, ác tánh, có hạng dễ dạy, khó dạy, và một số ít thấy sự nguy hiểm phải tái sanh thế giới khác và sự nguy hiểm làm những hành động lỗi lầm. Và này các Tỷ-kheo, Ta nói lên bài kệ sau đây với Phạm thiên Sahampati:
SC 48Cửa bất tử rộng mở,
Cho những ai chịu nghe.
Hãy từ bỏ tín tâm,
Không chính xác của mình.
Tự nghĩ đến phiền toái,
Ta đã không muốn giảng,
Tối thượng vi diệu pháp,
Giữa chúng sanh loài Người.
(Ôi Phạm thiên)
SC 49Này các Tỷ-kheo, rồi Phạm thiên Sahampati tự nghĩ: “Ta đã tạo cơ hội cho Thế Tôn thuyết pháp”, đảnh lễ Ta, thân phía hữu hướng về Ta rồi biến mất tại chỗ.
SC 50Này các Tỷ-kheo, rồi Ta tự suy nghĩ: “Ta sẽ thuyết pháp cho ai đầu tiên, ai sẽ mau hiểu Chánh pháp này?” Này các Tỷ-kheo, rồi Ta tự nghĩ: “Nay có Alāra Kālāma là bậc trí thức, đa văn, sáng suốt, đã từ lâu sống ít nhiễm bụi đời. Ta hãy thuyết pháp đầu tiên cho Alāra Kālāma, vị này sẽ mau hiểu Chánh pháp này”. Này các Tỷ-kheo, rồi chư Thiên đến Ta và nói như sau: “Bạch Thế Tôn, Alāra Kālāma đã mệnh chung bảy ngày rồi”. Rồi tri kiến khởi lên nơi Ta: “Alāra Kālāma đã mệnh chung bảy ngày rồi”. Này các Tỷ-kheo, Ta nghĩ: “Thật là một thiệt hại lớn cho Alāra Kālāma: Nếu nghe pháp này, Alāra Kālāma sẽ mau thâm hiểu”.
SC 51Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại nghĩ: “Ta sẽ thuyết pháp cho ai đầu tiên? Ai sẽ mau hiểu Chánh pháp này?” Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại nghĩ: “Nay có Uddaka Ramaputta-là bậc tri thức, đa văn, sáng suốt, đã từ lâu sống ít nhiễm bụi đời. Ta hãy thuyết pháp đầu tiên cho Uddaka Ramaputta. Vị này sẽ mau hiểu Chánh pháp này.” Rồi chư Thiên đến Ta và nói như sau: “Bạch Thế Tôn Uddaka Ramaputta đã mệnh chung ngày hôm qua”. Rồi tri kiến khởi lên nơi Ta: “Uddaka Ramaputta đã mệnh chung hôm qua”. Này các Tỷ-kheo, Ta nghĩ: “Thật là một thiệt hại lớn cho Uddaka Ramaputta. Nếu nghe pháp này, Uddaka Ramaputta sẽ mau thâm hiểu”.
SC 52Này các Tỷ-kheo, rồi Ta suy nghĩ: “Ta sẽ thuyết pháp cho ai đầu tiên? Ai sẽ mau hiểu Chánh pháp này?” Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại nghĩ: “Nhóm năm Tỷ-kheo này đã hầu hạ Ta khi Ta còn nỗ lực tinh cần, nhóm ấy thật giúp ích nhiều. Vậy ta hãy thuyết pháp đầu tiên cho nhóm năm Tỷ-kheo!” Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại nghĩ: “Nay nhóm năm Tỷ-kheo ở tại đâu?” Này các Tỷ-kheo, với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, Ta thấy nhóm năm Tỷ-kheo hiện ở Bārāṇāsī (Ba la nại), tại Isipatana, vườn Lộc Uyển. Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi ở tại Uruvela lâu cho đến khi mãn ý, Ta lên đường đi đến Bārāṇāsī.
SC 53Này các Tỷ-kheo, một tà mạng ngoại đạo tên là Upaka, đã thấy Ta khi Ta còn đi trên con đường giữa Gaya và cây Bồ-đề. Sau khi thấy, vị ấy nói với Ta:
SC 54“—Các căn của Hiền giả thật sáng suốt. Da sắc của Hiền giả thật thanh tịnh, thật thanh khiết. Này Hiền giả, vì mục đích gì, Hiền giả xuất gia? Ai là bậc Ðạo Sư của Hiền giả? Hiền giả hoan hỷ thọ trì pháp của ai?”
SC 55Này các Tỷ-kheo, khi nghe nói vậy, Ta nói với tà mạng đạo Upaka bài kệ như sau:
SC 56“—Ta, bậc Thắng tất cả,
Ta, bậc Nhất thiết Trí.
Hết thảy pháp, không nhiễm,
Hết thảy pháp, xả ly.
Ta sống chân giải thoát,
Ðoạn tận mọi khát ái.
Như vậy Ta tự giác,
Còn phải y chỉ ai?
SC 57Ta không có Ðạo Sư,
Bậc như Ta không có.
Giữa thế giới Nhơn, Thiên,
Không có ai bằng Ta.
Bậc Ứng Cúng trên đời,
Bậc Ðạo Sư vô thượng.
Tự mình Chánh Ðẳng Giác,
Ta an tịnh, thanh thoát.
SC 58Ðể chuyển bánh xe Pháp.
Ta đến thành Kāsi.
Gióng lên trống bất tử,
Trong thế giới mù lòa.”
SC 59“—Như Hiền giả đã tự xưng, Hiền giả xứng đáng là bậc Chiến thắng Vô tận. ”
SC 60“—Như Ta, bậc Thắng giả,
Những ai chứng lậu tận,
Ác pháp, Ta nhiếp phục,
Do vậy, Ta vô địch”.
(Này Upaka)
SC 61Này các Tỷ-kheo, sau khi được nói vậy, tà mạng ngoại đạo Upaka nói với Ta:
SC 62“—Này Hiền giả, mong rằng sự việc là vậy”.
SC 63Nói xong, Upaka lắc đầu rồi đi theo một ngã khác.
SC 64Này các Tỷ-kheo, rồi Ta tuần tự đi đến Bārāṇāsī, Isipatana, vườn Lộc Uyển, đi đến chỗ nhóm năm Tỷ-kheo ở. Này các Tỷ-kheo, nhóm năm Tỷ-kheo khi thấy Ta từ xa đi đến, đã cùng nhau thỏa thuận như sau: “Này các Hiền giả, nay Sa-môn Gotama đang đi đến; vị này sống trong sự sung túc, đã từ bỏ tinh cần, đã trở lui đời sống đầy đủ vật chất. Chúng ta chớ có đảnh lễ, chớ có đứng dậy, chớ có lấy y bát. Hãy đặt một chỗ ngồi, và nếu vị ấy muốn, vị ấy sẽ ngồi”. Này các Tỷ-kheo, nhưng khi Ta đi đến gần, năm Tỷ-kheo ấy không thể giữ đúng điều đã thỏa thuận với nhau. Có người đến đón Ta và cầm lấy y bát, có người sắp đặt chỗ ngồi, có người đem nước rửa chân đến. Nhưng các vị ấy gọi Ta bằng tên với danh từ Hiền giả (Āvuso).
SC 65Này các Tỷ-kheo khi ta nghe nói vậy, Ta nói với nhóm năm Tỷ-kheo:
SC 66“—Này các Tỷ-kheo, chớ có gọi Ta bằng tên và dùng danh từ Hiền giả. Này các Tỷ-kheo, Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Hãy lóng tai, Pháp bất tử đã chứng được, Ta giảng dạy, Ta thuyết pháp. Sống đúng theo lời khuyến giáo, các Ông không bao lâu, sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt ngay trong hiện tại, mục đích vô thượng của phạm hạnh mà các Thiện nam tử, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, các Ông sẽ an trú. ”
SC 67Này các Tỷ-kheo, khi nghe nói vậy, nhóm năm Tỷ-kheo nói Ta:
SC 68“—Hiền giả Gotama, với nếp sống này, với đạo tu này, với khổ hạnh này, Hiền giả đã không chứng được Pháp siêu nhân, tri kiến, thù thắng xứng đáng bậc Thánh, thì này làm sao Hiền giả, với nếp sống sung túc, với sự từ bỏ tinh cần, với sự trở lui đời sống vật chất đầy đủ, lại có thể chứng được Pháp siêu nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh?”
SC 69Này các Tỷ-kheo, khi nghe nói vậy, Ta nói với nhóm năm Tỷ-kheo:
SC 70“—Này các Tỷ-kheo, Như Lai không sống sung túc, không từ bỏ tinh cần, không trở lui đời sống vật chất đầy đủ. Này các Tỷ-kheo, Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Này các Tỷ-kheo, hãy lóng tai, Pháp bất tử đã chứng được, Ta giảng dạy, Ta thuyết pháp. Sống đúng theo lời khuyến giáo, các Ông không bao lâu, sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt ngay trong hiện tại mục đích vô thượng của Phạm hạnh mà các Thiện nam tử xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, các Ông sẽ an trú.”
SC 71Này các Tỷ-kheo, lại lần thứ hai, nhóm năm Tỷ-kheo nói với Ta:
SC 72“—Hiền giả Gotama, với nếp sống này … (như trên) … tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh?”
SC 73Này các Tỷ-kheo, lại lần thứ hai Ta nói với nhóm năm Tỷ-kheo:
SC 74“—Này các Tỷ-kheo, Như Lai không sống sung túc … (như trên) … các Ông sẽ an trú.”
SC 75Này các Tỷ-kheo, lại lần thứ ba, nhóm năm Tỷ-kheo nói với Ta:
SC 76“—Hiền giả Gotama, với nếp sống này … (như trên) … tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh?”
SC 77Này các Tỷ-kheo, khi nghe nói vậy, Ta nói với nhóm năm Tỷ-kheo:
SC 78“—Này các Tỷ-kheo, từ trước đến nay, các Ông có chấp nhận là Ta chưa bao giờ nói như vậy chăng?”
SC 79“—Bạch Thế Tôn, chưa bao giờ như vậy. ”
SC 80“—Này các Tỷ-kheo, Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Hãy lóng tai, Pháp bất tử đã chứng được, Ta giảng dạy, Ta thuyết pháp. Sống đúng theo lời khuyến giáo, các Ông không bao lâu, sau khi tự tri, tư chứng, tự đạt được ngay trong hiện tại mục đích vô thượng của phạm hạnh mà các Thiện nam tử xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, các Ông sẽ an trú”.
SC 81Này các Tỷ-kheo, Ta đã làm cho nhóm năm Tỷ-kheo chấp nhận. Này các Tỷ-kheo, Ta thuyết giảng cho hai Tỷ-kheo. Ba Tỷ-kheo kia đi khất thực. Ðồ ăn mà ba Tỷ-kheo này khất thực mang về, đủ nuôi sống cho nhóm sáu người. Này các Tỷ-kheo, Ta thuyết giảng cho ba Tỷ-kheo. Hai Tỷ-kheo kia đi khất thực. Ðồ ăn mà hai Tỷ-kheo này khất thực mang về, đủ nuôi sống cho nhóm sáu người. Này các Tỷ-kheo, chúng năm Tỷ-kheo, sau khi được Ta thuyết giảng, sau khi được Ta khuyến giáo, tự mình bị sanh, sau khi biết được sự nguy hại của cái bị sanh, tìm cầu cái không sanh, vô thượng an ổn, thoát khỏi các khổ ách, chứng Niết-bàn và đã chứng được cái không sanh, vô thượng an ổn, thoát khỏi các khổ ách, chứng Niết-bàn, tự mình bị già … cái không già … tự mình bị bệnh … cái không bệnh … tự mình bị chết … cái không chết … tự mình bi sầu … cái không sầu … tự mình bị ô nhiễm, sau khi biết được sự nguy hại của cái bị ô nhiễm, tìm cầu cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn, thoát khỏi các khổ ách, chứng Niết-bàn, và đã chứng được cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn, thoát khỏi các khổ ách, chứng Niết-bàn. Tri và kiến khởi lên nơi họ: “Sự giải thoát của chúng ta không bị dao động, đây thức gì được hiện khởi như vậy đều quy là đời sống cuối cùng. Nay không còn tái sanh nữa”.
SC 82Này các Tỷ-kheo, có năm dục trưởng dưỡng. Thế nào là năm? Các sắc do mắt nhận thức, sắc này khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích lòng dục, hấp dẫn. Các tiếng do tai nhận thức … (như trên) … các hương do mũi nhận thức … các vị do lưỡi nhận thức … các xúc do thân cảm xúc là khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích lòng dục, hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo, như vậy, là năm dục trưởng dưỡng.
SC 83Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào bị trói buộc, bị tham đắm, bị mê say bởi năm dục trưởng dưỡng này, không thấy sự nguy hại của chúng, không biết rõ sự xuất ly khỏi chúng, mà thọ dụng chúng, những vị ấy cần phải được hiểu là: “Các Người đã rơi vào bất hạnh, đã rơi vào tai họa, đã bị Ác ma sử dụng như ý muốn”. Này các Tỷ-kheo, như một con nai sống trong rừng bị sập bẫy nằm xuống, con nai ấy cần phải được hiểu là: “Nó đã rơi vào bất hạnh, đã rơi vào tai họa, đã bị thợ săn sử dụng như ý muốn. Khi người thợ săn đến, con nai không thể bỏ đi như ý muốn. Này các Tỷ-kheo, cũng vậy, những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào bị trói buộc … (như trên) … đã bị Ác ma sử dụng như ý muốn.
SC 84Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không bị trói buộc, không bị tham đắm, không bị mê say bởi năm dục trưởng dưỡng này, thấy sự nguy hại của chúng, biết rõ sự xuất ly khỏi chúng, và thọ dụng chúng, những vị ấy cần phải được hiểu là: “Các Người không rơi vào bất hạnh, không rơi vào tai họa, không bị Ác ma sử dụng như ý muốn”. Này các Tỷ-kheo, như một con nai sống trong rừng, không bị sập bẫy phải nằm xuống, con nai ấy cần phải được hiểu là: “Nó không rơi vào bất hạnh, nó không rơi vào tai họa, nó không bị người thợ săn sử dụng như ý muốn”. Khi người thợ săn đến, con nai có thể bỏ đi như ý muốn. Này các Tỷ-kheo, cũng vậy, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không bị trói buộc … không bị Ác ma sử dụng như ý muốn.
SC 85Chư Tỷ-kheo, ví như con nai sống trong rừng, đi qua đi lại trong rừng, an tâm nó đi, an tâm nó đứng, an tâm nó ngồi, an tâm nó nằm. Tại sao vậy? Này các Tỷ-kheo, vì nó vượt khỏi tầm tay của người thợ săn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo ly dục, ly ác bất thiện pháp chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc, do ly dục sanh, có tầm có tứ. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là: một vị đã làm Ác Ma mù mắt, đã diệt trừ mọi vết tích, đã vượt khỏi tầm mắt Ác ma.
SC 86Này các Tỷ-kheo, lại nữa Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là … đã vượt khỏi tầm mắt của Ác ma.
SC 87Này các Tỷ-kheo, lại nữa Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các vị Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là … đã vượt khỏi tầm mắt của Ác ma.
SC 88Này các Tỷ-kheo, lại nữa Tỷ-kheo xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là … vượt khỏi tầm mắt của Ác ma.
SC 89Này các Tỷ-kheo, lại nữa Tỷ-kheo vượt lên mọi sắc tướng, diệt trừ mọi chướng ngại tưởng, không tác ý đối với dị tưởng, Tỷ-kheo nghĩ rằng: “Hư không là vô biên”, chứng và trú Không vô biên xứ. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là … đã vượt khỏi tầm mắt của Ác ma.
SC 90Này các Tỷ-kheo, lại nữa Tỷ-kheo vượt lên mọi Không vô biên xứ, nghĩ rằng: “Thức là vô biên”, chứng và trú Thức vô biên xứ. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là … đã vượt khỏi tầm mắt của Ác ma.
SC 91Này các Tỷ-kheo, lại nữa Tỷ-kheo vượt lên mọi Thức vô biên xứ, nghĩ rằng: “Không có vật gì”, chứng và trú Vô sở hữu xứ. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là … đã vượt khỏi tầm mắt của Ác ma.
SC 92Này các Tỷ-kheo, lại nữa Tỷ-kheo vượt lên mọi Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Này các Tỷ-kheo, Tỷ—kheo ấy được gọi là … đã vượt khỏi tầm mắt của Ác ma.
SC 93Này các Tỷ-kheo, lại nữa Tỷ-kheo vượt lên mọi Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và trú Diệt thọ tưởng (định). Sau khi thấy bằng trí tuệ, các lậu hoặc được đoạn trừ. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là một vị đã làm Ác ma mù mắt, đã diệt trừ mọi vết tích, đã vượt khỏi tầm mắt Ác ma. Vị ấy đã vượt khỏi mọi triền phược ở đời. An tâm vị ấy đi, an tâm vị ấy đứng, an tâm vị ấy ngồi, an tâm vị ấy nằm. Vì sao vậy? Này các Tỷ-kheo, vì vị ấy vượt khỏi tầm tay của Ác ma.
SC 94Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 11–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
6. Kinh Đống Cạm Bẫy
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiṁ piṇḍāya pāvisi. Atha kho sambahulā bhikkhū yenāyasmā ānando tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ etadavocuṁ: “cirassutā no, āvuso ānanda, bhagavato sammukhā dhammī kathā. Sādhu mayaṁ, āvuso ānanda, labheyyāma bhagavato sammukhā dhammiṁ kathaṁ savanāyā”ti.
“Tena hāyasmanto yena rammakassa brāhmaṇassa assamo tenupasaṅkamatha; appeva nāma labheyyātha bhagavato sammukhā dhammiṁ kathaṁ savanāyā”ti.
“Evamāvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato ānandassa paccassosuṁ.
Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, entered Sāvatthī for alms. Then several mendicants went up to Venerable Ānanda and said to him, “Reverend, it’s been a long time since we’ve heard a Dhamma talk from the Buddha. It would be good if we got to hear a Dhamma talk from the Buddha.”
“Well then, reverends, go to the brahmin Rammaka’s hermitage. Hopefully you’ll get to hear a Dhamma talk from the Buddha.”
“Yes, reverend,” they replied.
272. Tôi nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn trú tại Sāvatthī, ở Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Bấy giờ, vào buổi sáng, Thế Tôn đắp y, mang bát và y, vào thành Sāvatthī để khất thực. Lúc ấy, nhiều Tỳ khưu đi đến chỗ Tôn giả Ānanda; sau khi đến, họ nói với Tôn giả Ānanda rằng: 'Thưa hiền giả Ānanda, đã lâu rồi chúng tôi chưa được nghe pháp thoại trực tiếp từ Thế Tôn. Lành thay, thưa hiền giả Ānanda, nếu chúng tôi có thể được nghe một bài pháp thoại trực tiếp từ Thế Tôn.' 'Nếu vậy, thưa các Tôn giả, hãy đi đến am thất của Bà-la-môn Rammaka; có lẽ các ngài sẽ có cơ hội được nghe một bài pháp thoại trực tiếp từ Thế Tôn.' 'Vâng, thưa hiền giả.' Các Tỳ khưu ấy đã vâng đáp Tôn giả Ānanda.
Atha kho bhagavā sāvatthiyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi: “āyāmānanda, yena pubbārāmo migāramātupāsādo tenupasaṅkamissāma divāvihārāyā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi. Atha kho bhagavā āyasmatā ānandena saddhiṁ yena pubbārāmo migāramātupāsādo tenupasaṅkami divāvihārāya. Atha kho bhagavā sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi: “āyāmānanda, yena pubbakoṭṭhako tenupasaṅkamissāma gattāni parisiñcitun”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi.
Then, after the meal, on his return from almsround, the Buddha addressed Ānanda, “Come, Ānanda, let’s go to the stilt longhouse of Migāra’s mother in the Eastern Monastery for the day’s meditation.”
“Yes, sir,” Ānanda replied. So the Buddha went with Ānanda to the Eastern Monastery for the day’s meditation. In the late afternoon the Buddha came out of retreat and addressed Ānanda, “Come, Ānanda, let’s go to the eastern gate to bathe.”
“Yes, sir,” Ānanda replied.
Bấy giờ, sau khi đi khất thực ở Sāvatthī, dùng bữa xong, trên đường từ nơi khất thực trở về, Thế Tôn gọi Tôn giả Ānanda: 'Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Tu viện phía Đông, lâu đài của mẹ Migāra, để nghỉ ban ngày.' 'Vâng, bạch Thế Tôn.' Tôn giả Ānanda vâng đáp Thế Tôn. Bấy giờ, Thế Tôn cùng với Tôn giả Ānanda đi đến Tu viện phía Đông, lâu đài của mẹ Migāra, để nghỉ ban ngày. Rồi vào buổi chiều, Thế Tôn ra khỏi nơi độc cư và gọi Tôn giả Ānanda: 'Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến cổng thành phía Đông để tắm rửa.' 'Vâng, bạch Thế Tôn.' Tôn giả Ānanda vâng đáp Thế Tôn.
Atha kho bhagavā āyasmatā ānandena saddhiṁ yena pubbakoṭṭhako tenupasaṅkami gattāni parisiñcituṁ. Pubbakoṭṭhake gattāni parisiñcitvā paccuttaritvā ekacīvaro aṭṭhāsi gattāni pubbāpayamāno. Atha kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca: “ayaṁ, bhante, rammakassa brāhmaṇassa assamo avidūre. Ramaṇīyo, bhante, rammakassa brāhmaṇassa assamo; pāsādiko, bhante, rammakassa brāhmaṇassa assamo. Sādhu, bhante, bhagavā yena rammakassa brāhmaṇassa assamo tenupasaṅkamatu anukampaṁ upādāyā”ti. Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena.
So the Buddha went with Ānanda to the eastern gate to bathe. When he had bathed and emerged from the water he stood in one robe drying his limbs. Then Ānanda said to the Buddha, “Sir, the hermitage of the brahmin Rammaka is nearby. It’s so delightful, so lovely. Please visit it out of sympathy.” The Buddha consented with silence.
273. Bấy giờ, Thế Tôn cùng với Tôn giả Ānanda đi đến cổng thành phía Đông để tắm rửa. Sau khi tắm rửa ở cổng thành phía Đông, ngài lên bờ, chỉ mặc một y, đứng hong khô thân thể. Lúc ấy, Tôn giả Ānanda bạch với Thế Tôn: 'Bạch Thế Tôn, am thất của Bà-la-môn Rammaka ở không xa. Bạch Thế Tôn, am thất của Bà-la-môn Rammaka thật khả ái. Bạch Thế Tôn, am thất của Bà-la-môn Rammaka thật đáng ưa. Lành thay, bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn vì lòng bi mẫn mà đi đến am thất của Bà-la-môn Rammaka.' Thế Tôn đã im lặng nhận lời.
Atha kho bhagavā yena rammakassa brāhmaṇassa assamo tenupasaṅkami. Tena kho pana samayena sambahulā bhikkhū rammakassa brāhmaṇassa assame dhammiyā kathāya sannisinnā honti. Atha kho bhagavā bahidvārakoṭṭhake aṭṭhāsi kathāpariyosānaṁ āgamayamāno. Atha kho bhagavā kathāpariyosānaṁ viditvā ukkāsitvā aggaḷaṁ ākoṭesi. Vivariṁsu kho te bhikkhū bhagavato dvāraṁ. Atha kho bhagavā rammakassa brāhmaṇassa assamaṁ pavisitvā paññatte āsane nisīdi. Nisajja kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “kāya nuttha, bhikkhave, etarahi kathāya sannisinnā? Kā ca pana vo antarākathā vippakatā”ti?
“Bhagavantameva kho no, bhante, ārabbha dhammī kathā vippakatā, atha bhagavā anuppatto”ti.
“Sādhu, bhikkhave. Etaṁ kho, bhikkhave, tumhākaṁ patirūpaṁ kulaputtānaṁ saddhā agārasmā anagāriyaṁ pabbajitānaṁ yaṁ tumhe dhammiyā kathāya sannisīdeyyātha. Sannipatitānaṁ vo, bhikkhave, dvayaṁ karaṇīyaṁ—dhammī vā kathā, ariyo vā tuṇhībhāvo.
He went to the brahmin Rammaka’s hermitage. Now at that time several mendicants were sitting together in the hermitage talking about the teaching. The Buddha stood outside the door waiting for the talk to end. When he knew the talk had ended he cleared his throat and knocked on the door-panel. The mendicants opened the door for the Buddha, and he entered the hermitage, where he sat down on the seat spread out and addressed the mendicants: “Mendicants, what were you sitting talking about just now? What conversation was left unfinished?”
“Sir, our unfinished discussion on the teaching was about the Buddha himself when the Buddha arrived.”
“Good, mendicants! It’s appropriate for gentlemen like you, who have gone forth out of faith from the lay life to homelessness, to sit together and talk about the teaching. When you’re sitting together you should do one of two things: discuss the teachings or keep noble silence.
Bấy giờ, Thế Tôn đi đến am thất của Bà-la-môn Rammaka. Lúc ấy, có nhiều Tỳ khưu đang ngồi lại với nhau trong am thất của Bà-la-môn Rammaka để đàm luận về Chánh pháp. Thế Tôn đứng bên ngoài cổng, chờ cho cuộc đàm luận kết thúc. Khi biết cuộc đàm luận đã kết thúc, Thế Tôn hắng giọng và gõ vào thanh cài cửa. Các Tỳ khưu ấy mở cửa cho Thế Tôn. Bấy giờ, Thế Tôn vào am thất của Bà-la-môn Rammaka và ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn hỏi các Tỳ khưu: 'Này các Tỳ khưu, các ông vừa rồi ngồi lại với nhau để bàn luận về vấn đề gì? Và câu chuyện gì của các ông bị dang dở?' 'Bạch Thế Tôn, câu chuyện pháp của chúng con bị dang dở chính là về Thế Tôn, và rồi Thế Tôn đã đến.' 'Lành thay, này các Tỳ khưu! Thật xứng đáng cho các ông, những thiện nam tử đã vì lòng tin mà xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, được ngồi lại với nhau để đàm luận về Chánh pháp. Này các Tỳ khưu, khi các ông hội họp, có hai việc nên làm: hoặc là đàm luận về Chánh pháp, hoặc là giữ sự im lặng của bậc Thánh.'
Dvemā, bhikkhave, pariyesanā—ariyā ca pariyesanā, anariyā ca pariyesanā.
Mendicants, there are these two quests: the noble quest and the ignoble quest.
274. Này các Tỳ khưu, có hai sự tìm cầu này: sự tìm cầu cao thượng, và sự tìm cầu không cao thượng.
Katamā ca, bhikkhave, anariyā pariyesanā? Idha, bhikkhave, ekacco attanā jātidhammo samāno jātidhammaṁyeva pariyesati, attanā jarādhammo samāno jarādhammaṁyeva pariyesati, attanā byādhidhammo samāno byādhidhammaṁyeva pariyesati, attanā maraṇadhammo samāno maraṇadhammaṁyeva pariyesati, attanā sokadhammo samāno sokadhammaṁyeva pariyesati, attanā saṅkilesadhammo samāno saṅkilesadhammaṁyeva pariyesati.
And what is the ignoble quest? It’s when someone who is themselves liable to be reborn seeks what is also liable to be reborn. Themselves liable to grow old, fall sick, die, sorrow, and become corrupted, they seek what is also liable to these things.
Và này các Tỳ khưu, thế nào là sự tìm cầu không cao thượng? Này các Tỳ khưu, ở đây, có người tự mình có bản chất sanh lại đi tìm kiếm cái cũng có bản chất sanh; tự mình có bản chất già lại đi tìm kiếm cái cũng có bản chất già; tự mình có bản chất bệnh lại đi tìm kiếm cái cũng có bản chất bệnh; tự mình có bản chất chết lại đi tìm kiếm cái cũng có bản chất chết; tự mình có bản chất sầu muộn lại đi tìm kiếm cái cũng có bản chất sầu muộn; tự mình có bản chất ô nhiễm lại đi tìm kiếm cái cũng có bản chất ô nhiễm.
Kiñca, bhikkhave, jātidhammaṁ vadetha? Puttabhariyaṁ, bhikkhave, jātidhammaṁ, dāsidāsaṁ jātidhammaṁ, ajeḷakaṁ jātidhammaṁ, kukkuṭasūkaraṁ jātidhammaṁ, hatthigavāssavaḷavaṁ jātidhammaṁ, jātarūparajataṁ jātidhammaṁ. Jātidhammā hete, bhikkhave, upadhayo.
And what should be described as liable to be reborn? Partners and children, male and female bondservants, goats and sheep, chickens and pigs, elephants and cattle, and gold and currency are liable to be reborn. These attachments are liable to be reborn.
Và này các Tỳ khưu, cái gì được gọi là có bản chất sanh? Này các Tỳ khưu, vợ con là có bản chất sanh, tôi trai tớ gái là có bản chất sanh, dê và cừu là có bản chất sanh, gà và heo là có bản chất sanh, voi, bò, ngựa đực, và ngựa cái là có bản chất sanh, vàng và bạc là có bản chất sanh. Này các Tỳ khưu, những thứ ấy là các món chấp thủ có bản chất sanh. Ở nơi ấy, chúng sanh này bị tham ái, bị mê muội, bị trói buộc, tự mình có bản chất sanh lại đi tìm kiếm cái cũng có bản chất sanh.
Kiñca, bhikkhave, jarādhammaṁ vadetha? Puttabhariyaṁ, bhikkhave, jarādhammaṁ, dāsidāsaṁ jarādhammaṁ, ajeḷakaṁ jarādhammaṁ, kukkuṭasūkaraṁ jarādhammaṁ, hatthigavāssavaḷavaṁ jarādhammaṁ, jātarūparajataṁ jarādhammaṁ. Jarādhammā hete, bhikkhave, upadhayo. Etthāyaṁ gathito mucchito ajjhāpanno attanā jarādhammo samāno jarādhammaṁyeva pariyesati.
And what should be described as liable to grow old? Partners and children, male and female bondservants, goats and sheep, chickens and pigs, elephants and cattle, and gold and currency are liable to grow old. These attachments are liable to grow old. Someone who is tied, infatuated, and attached to such things, themselves liable to grow old, seeks what is also liable to grow old.
Và này các Tỳ khưu, cái gì được gọi là có bản chất già? Này các Tỳ khưu, vợ con là có bản chất già, tôi trai tớ gái là có bản chất già, dê và cừu là có bản chất già, gà và heo là có bản chất già, voi, bò, ngựa đực, và ngựa cái là có bản chất già, vàng và bạc là có bản chất già. Này các Tỳ khưu, những thứ ấy là các món chấp thủ có bản chất già. Ở nơi ấy, chúng sanh này bị tham ái, bị mê muội, bị trói buộc, tự mình có bản chất già lại đi tìm kiếm cái cũng có bản chất già.
Kiñca, bhikkhave, byādhidhammaṁ vadetha? Puttabhariyaṁ, bhikkhave, byādhidhammaṁ, dāsidāsaṁ byādhidhammaṁ, ajeḷakaṁ byādhidhammaṁ, kukkuṭasūkaraṁ byādhidhammaṁ, hatthigavāssavaḷavaṁ byādhidhammaṁ. Byādhidhammā hete, bhikkhave, upadhayo. Etthāyaṁ gathito mucchito ajjhāpanno attanā byādhidhammo samāno byādhidhammaṁyeva pariyesati.
And what should be described as liable to fall sick? Partners and children, male and female bondservants, goats and sheep, chickens and pigs, and elephants and cattle are liable to fall sick. These attachments are liable to fall sick. Someone who is tied, infatuated, and attached to such things, themselves liable to falling sick, seeks what is also liable to fall sick.
Và này các Tỳ khưu, cái gì được gọi là có bản chất bệnh? Này các Tỳ khưu, vợ con là có bản chất bệnh, tôi trai tớ gái là có bản chất bệnh, dê và cừu là có bản chất bệnh, gà và heo là có bản chất bệnh, voi, bò, ngựa đực, và ngựa cái là có bản chất bệnh. Này các Tỳ khưu, những thứ ấy là các món chấp thủ có bản chất bệnh. Ở nơi ấy, chúng sanh này bị tham ái, bị mê muội, bị trói buộc, tự mình có bản chất bệnh lại đi tìm kiếm cái cũng có bản chất bệnh.
Kiñca, bhikkhave, maraṇadhammaṁ vadetha? Puttabhariyaṁ, bhikkhave, maraṇadhammaṁ, dāsidāsaṁ maraṇadhammaṁ, ajeḷakaṁ maraṇadhammaṁ, kukkuṭasūkaraṁ maraṇadhammaṁ, hatthigavāssavaḷavaṁ maraṇadhammaṁ. Maraṇadhammā hete, bhikkhave, upadhayo. Etthāyaṁ gathito mucchito ajjhāpanno attanā maraṇadhammo samāno maraṇadhammaṁyeva pariyesati.
And what should be described as liable to die? Partners and children, male and female bondservants, goats and sheep, chickens and pigs, and elephants and cattle are liable to die. These attachments are liable to die. Someone who is tied, infatuated, and attached to such things, themselves liable to die, seeks what is also liable to die.
Và này các Tỳ khưu, cái gì được gọi là có bản chất chết? Này các Tỳ khưu, vợ con là có bản chất chết, tôi trai tớ gái là có bản chất chết, dê và cừu là có bản chất chết, gà và heo là có bản chất chết, voi, bò, ngựa đực, và ngựa cái là có bản chất chết. Này các Tỳ khưu, những thứ ấy là các món chấp thủ có bản chất chết. Ở nơi ấy, chúng sanh này bị tham ái, bị mê muội, bị trói buộc, tự mình có bản chất chết lại đi tìm kiếm cái cũng có bản chất chết.
Kiñca, bhikkhave, sokadhammaṁ vadetha? Puttabhariyaṁ, bhikkhave, sokadhammaṁ, dāsidāsaṁ sokadhammaṁ, ajeḷakaṁ sokadhammaṁ, kukkuṭasūkaraṁ sokadhammaṁ, hatthigavāssavaḷavaṁ sokadhammaṁ. Sokadhammā hete, bhikkhave, upadhayo. Etthāyaṁ gathito mucchito ajjhāpanno attanā sokadhammo samāno sokadhammaṁyeva pariyesati.
And what should be described as liable to sorrow? Partners and children, male and female bondservants, goats and sheep, chickens and pigs, and elephants and cattle are liable to sorrow. These attachments are liable to sorrow. Someone who is tied, infatuated, and attached to such things, themselves liable to sorrow, seeks what is also liable to sorrow.
Và này các Tỳ khưu, cái gì được gọi là có bản chất sầu muộn? Này các Tỳ khưu, vợ con là có bản chất sầu muộn, tôi trai tớ gái là có bản chất sầu muộn, dê và cừu là có bản chất sầu muộn, gà và heo là có bản chất sầu muộn, voi, bò, ngựa đực, và ngựa cái là có bản chất sầu muộn. Này các Tỳ khưu, những thứ ấy là các món chấp thủ có bản chất sầu muộn. Ở nơi ấy, chúng sanh này bị tham ái, bị mê muội, bị trói buộc, tự mình có bản chất sầu muộn lại đi tìm kiếm cái cũng có bản chất sầu muộn.
Kiñca, bhikkhave, saṅkilesadhammaṁ vadetha? Puttabhariyaṁ, bhikkhave, saṅkilesadhammaṁ, dāsidāsaṁ saṅkilesadhammaṁ, ajeḷakaṁ saṅkilesadhammaṁ, kukkuṭasūkaraṁ saṅkilesadhammaṁ, hatthigavāssavaḷavaṁ saṅkilesadhammaṁ, jātarūparajataṁ saṅkilesadhammaṁ. Saṅkilesadhammā hete, bhikkhave, upadhayo. Etthāyaṁ gathito mucchito ajjhāpanno attanā saṅkilesadhammo samāno saṅkilesadhammaṁyeva pariyesati. Ayaṁ, bhikkhave, anariyā pariyesanā.
And what should be described as liable to corruption? Partners and children, male and female bondservants, goats and sheep, chickens and pigs, elephants and cattle, and gold and currency are liable to corruption. These attachments are liable to corruption. Someone who is tied, infatuated, and attached to such things, themselves liable to corruption, seeks what is also liable to corruption. This is the ignoble quest.
Và này các Tỳ khưu, cái gì được gọi là có bản chất ô nhiễm? Này các Tỳ khưu, vợ con là có bản chất ô nhiễm, tôi trai tớ gái là có bản chất ô nhiễm, dê và cừu là có bản chất ô nhiễm, gà và heo là có bản chất ô nhiễm, voi, bò, ngựa đực, và ngựa cái là có bản chất ô nhiễm, vàng và bạc là có bản chất ô nhiễm. Này các Tỳ khưu, những thứ ấy là các món chấp thủ có bản chất ô nhiễm. Ở nơi ấy, chúng sanh này bị tham ái, bị mê muội, bị trói buộc, tự mình có bản chất ô nhiễm lại đi tìm kiếm cái cũng có bản chất ô nhiễm. Này các Tỳ khưu, đây là sự tìm cầu không cao thượng.
Katamā ca, bhikkhave, ariyā pariyesanā? Idha, bhikkhave, ekacco attanā jātidhammo samāno jātidhamme ādīnavaṁ viditvā ajātaṁ anuttaraṁ yogakkhemaṁ nibbānaṁ pariyesati, attanā jarādhammo samāno jarādhamme ādīnavaṁ viditvā ajaraṁ anuttaraṁ yogakkhemaṁ nibbānaṁ pariyesati, attanā byādhidhammo samāno byādhidhamme ādīnavaṁ viditvā abyādhiṁ anuttaraṁ yogakkhemaṁ nibbānaṁ pariyesati, attanā maraṇadhammo samāno maraṇadhamme ādīnavaṁ viditvā amataṁ anuttaraṁ yogakkhemaṁ nibbānaṁ pariyesati, attanā sokadhammo samāno sokadhamme ādīnavaṁ viditvā asokaṁ anuttaraṁ yogakkhemaṁ nibbānaṁ pariyesati, attanā saṅkilesadhammo samāno saṅkilesadhamme ādīnavaṁ viditvā asaṅkiliṭṭhaṁ anuttaraṁ yogakkhemaṁ nibbānaṁ pariyesati. Ayaṁ, bhikkhave, ariyā pariyesanā.
And what is the noble quest? It’s when someone who is themselves liable to be reborn, understanding the drawbacks in being liable to be reborn, seeks that which is free of rebirth, the supreme sanctuary from the yoke, extinguishment. Themselves liable to grow old, fall sick, die, sorrow, and become corrupted, understanding the drawbacks in these things, they seek that which is free of old age, sickness, death, sorrow, and corruption, the supreme sanctuary from the yoke, extinguishment. This is the noble quest.
275. Và này các Tỳ khưu, thế nào là sự tìm cầu cao thượng? Này các Tỳ khưu, ở đây, có người tự mình có bản chất sanh, sau khi đã biết sự nguy hại trong cái có bản chất sanh, liền tìm kiếm cái không sanh, vô thượng, an ổn khỏi các ách trược, là Nibbāna; tự mình có bản chất già, sau khi đã biết sự nguy hại trong cái có bản chất già, liền tìm kiếm cái không già, vô thượng, an ổn khỏi các ách trược, là Nibbāna; tự mình có bản chất bệnh, sau khi đã biết sự nguy hại trong cái có bản chất bệnh, liền tìm kiếm cái không bệnh, vô thượng, an ổn khỏi các ách trược, là Nibbāna; tự mình có bản chất chết, sau khi đã biết sự nguy hại trong cái có bản chất chết, liền tìm kiếm cái bất tử, vô thượng, an ổn khỏi các ách trược, là Nibbāna; tự mình có bản chất sầu muộn, sau khi đã biết sự nguy hại trong cái có bản chất sầu muộn, liền tìm kiếm cái không sầu muộn, vô thượng, an ổn khỏi các ách trược, là Nibbāna; tự mình có bản chất ô nhiễm, sau khi đã biết sự nguy hại trong cái có bản chất ô nhiễm, liền tìm kiếm cái không ô nhiễm, vô thượng, an ổn khỏi các ách trược, là Nibbāna. Này các Tỳ khưu, đây là sự tìm cầu cao thượng.
Ahampi sudaṁ, bhikkhave, pubbeva sambodhā anabhisambuddho bodhisattova samāno attanā jātidhammo samāno jātidhammaṁyeva pariyesāmi, attanā jarādhammo samāno jarādhammaṁyeva pariyesāmi, attanā byādhidhammo samāno byādhidhammaṁyeva pariyesāmi, attanā maraṇadhammo samāno maraṇadhammaṁyeva pariyesāmi, attanā sokadhammo samāno sokadhammaṁyeva pariyesāmi, attanā saṅkilesadhammo samāno saṅkilesadhammaṁyeva pariyesāmi. Tassa mayhaṁ, bhikkhave, etadahosi: ‘kiṁ nu kho ahaṁ attanā jātidhammo samāno jātidhammaṁyeva pariyesāmi, attanā jarādhammo samāno …pe… byādhidhammo samāno … maraṇadhammo samāno … sokadhammo samāno … attanā saṅkilesadhammo samāno saṅkilesadhammaṁyeva pariyesāmi? Yannūnāhaṁ attanā jātidhammo samāno jātidhamme ādīnavaṁ viditvā ajātaṁ anuttaraṁ yogakkhemaṁ nibbānaṁ pariyeseyyaṁ, attanā jarādhammo samāno jarādhamme ādīnavaṁ viditvā ajaraṁ anuttaraṁ yogakkhemaṁ nibbānaṁ pariyeseyyaṁ, attanā byādhidhammo samāno byādhidhamme ādīnavaṁ viditvā abyādhiṁ anuttaraṁ yogakkhemaṁ nibbānaṁ pariyeseyyaṁ, attanā maraṇadhammo samāno maraṇadhamme ādīnavaṁ viditvā amataṁ anuttaraṁ yogakkhemaṁ nibbānaṁ pariyeseyyaṁ, attanā sokadhammo samāno sokadhamme ādīnavaṁ viditvā asokaṁ anuttaraṁ yogakkhemaṁ nibbānaṁ pariyeseyyaṁ, attanā saṅkilesadhammo samāno saṅkilesadhamme ādīnavaṁ viditvā asaṅkiliṭṭhaṁ anuttaraṁ yogakkhemaṁ nibbānaṁ pariyeseyyan’ti.
Mendicants, before my awakening—when I was still unawakened but intent on awakening—I too, being liable to be reborn, sought what is also liable to be reborn. Myself liable to grow old, fall sick, die, sorrow, and become corrupted, I sought what is also liable to these things. Then it occurred to me: ‘Why do I, being liable to be reborn, grow old, fall sick, sorrow, die, and become corrupted, seek things that have the same nature? Why don’t I seek that which is free of rebirth, old age, sickness, death, sorrow, and corruption, the supreme sanctuary from the yoke, extinguishment?’
276. “Này các Tỳ khưu, Ta cũng vậy, trước khi giác ngộ, khi chưa chánh đẳng giác, còn là Bồ-tát, bản thân có sanh pháp, đã tìm kiếm cái cũng có sanh pháp; bản thân có lão pháp, đã tìm kiếm cái cũng có lão pháp; bản thân có bệnh pháp, đã tìm kiếm cái cũng có bệnh pháp; bản thân có tử pháp, đã tìm kiếm cái cũng có tử pháp; bản thân có sầu pháp, đã tìm kiếm cái cũng có sầu pháp; bản thân có uế nhiễm pháp, đã tìm kiếm cái cũng có uế nhiễm pháp. Này các Tỳ khưu, rồi Ta suy nghĩ như sau: ‘Tại sao Ta, bản thân có sanh pháp, lại đi tìm kiếm cái cũng có sanh pháp; bản thân có lão pháp... bệnh pháp... tử pháp... sầu pháp... bản thân có uế nhiễm pháp, lại đi tìm kiếm cái cũng có uế nhiễm pháp? Hay là Ta, bản thân có sanh pháp, sau khi thấy sự nguy hại trong cái có sanh pháp, hãy tìm cầu cái vô sanh, vô thượng, an ổn khỏi các ách phược, là Niết-bàn. Bản thân có lão pháp, sau khi thấy sự nguy hại trong cái có lão pháp, hãy tìm cầu cái vô lão, vô thượng, an ổn khỏi các ách phược, là Niết-bàn. Bản thân có bệnh pháp, sau khi thấy sự nguy hại trong cái có bệnh pháp, hãy tìm cầu cái vô bệnh, vô thượng, an ổn khỏi các ách phược, là Niết-bàn. Bản thân có tử pháp, sau khi thấy sự nguy hại trong cái có tử pháp, hãy tìm cầu cái bất tử, vô thượng, an ổn khỏi các ách phược, là Niết-bàn. Bản thân có sầu pháp, sau khi thấy sự nguy hại trong cái có sầu pháp, hãy tìm cầu cái vô sầu, vô thượng, an ổn khỏi các ách phược, là Niết-bàn. Bản thân có uế nhiễm pháp, sau khi thấy sự nguy hại trong cái có uế nhiễm pháp, hãy tìm cầu cái vô uế nhiễm, vô thượng, an ổn khỏi các ách phược, là Niết-bàn’.”
So kho ahaṁ, bhikkhave, aparena samayena daharova samāno susukāḷakeso, bhadrena yobbanena samannāgato paṭhamena vayasā akāmakānaṁ mātāpitūnaṁ assumukhānaṁ rudantānaṁ kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajiṁ.
So evaṁ pabbajito samāno kiṅkusalagavesī anuttaraṁ santivarapadaṁ pariyesamāno yena āḷāro kālāmo tenupasaṅkamiṁ. upasaṅkamitvā āḷāraṁ kālāmaṁ etadavocaṁ: ‘icchāmahaṁ, āvuso kālāma, imasmiṁ dhammavinaye brahmacariyaṁ caritun’ti.
Evaṁ vutte, bhikkhave, āḷāro kālāmo maṁ etadavoca: ‘viharatāyasmā; tādiso ayaṁ dhammo yattha viññū puriso nacirasseva sakaṁ ācariyakaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihareyyā’ti.
So kho ahaṁ, bhikkhave, nacirasseva khippameva taṁ dhammaṁ pariyāpuṇiṁ. So kho ahaṁ, bhikkhave, tāvatakeneva oṭṭhapahatamattena lapitalāpanamattena ñāṇavādañca vadāmi theravādañca, ‘jānāmi passāmī’ti ca paṭijānāmi ahañceva aññe ca.
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, etadahosi: ‘na kho āḷāro kālāmo imaṁ dhammaṁ kevalaṁ saddhāmattakena sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharāmīti pavedeti; addhā āḷāro kālāmo imaṁ dhammaṁ jānaṁ passaṁ viharatī’ti.
Some time later, while still with pristine black hair, blessed with youth, in the prime of life—though my mother and father wished otherwise, weeping with tearful faces—I shaved off my hair and beard, dressed in ocher robes, and went forth from the lay life to homelessness.
Once I had gone forth I set out to discover what is skillful, seeking the supreme state of sublime peace. I approached Āḷāra Kālāma and said to him, ‘Reverend Kālāma, I wish to lead the spiritual life in this teaching and training.’
Āḷāra Kālāma replied, ‘Stay, venerable. This teaching is such that a sensible person can soon realize their own denomination with their own insight and live having achieved it.’
I quickly memorized that teaching. As far as lip-recital and verbal repetition went, I spoke the doctrine of knowledge, the elder doctrine. I claimed to know and see, and so did others.
Then it occurred to me, ‘It is not solely by mere faith that Āḷāra Kālāma declares: “I realize this teaching with my own insight, and live having achieved it.” Surely he meditates knowing and seeing this teaching.’
277. “Này các Tỳ khưu, rồi Ta, sau một thời gian, khi còn trẻ, tóc đen nhánh, đầy đủ tuổi thanh xuân, trong thời đầu của cuộc đời, đã cạo bỏ râu tóc, đắp y cà-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, trong khi cha mẹ không bằng lòng, nước mắt đầm đìa, khóc lóc. Ta, sau khi xuất gia như vậy, trong khi tìm cầu cái gì là thiện, trong khi tìm cầu trạng thái an tịnh vô thượng, đã đi đến chỗ của Āḷāra Kālāma. Sau khi đến, Ta nói với Āḷāra Kālāma: ‘Thưa hiền giả Kālāma, tôi muốn thực hành phạm hạnh trong Pháp và Luật này’. Này các Tỳ khưu, khi được nói vậy, Āḷāra Kālāma nói với Ta: ‘Tôn giả hãy ở lại. Giáo pháp này là như vậy, ở đây người có trí không bao lâu có thể tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú vào giáo lý của bậc thầy mình’. Này các Tỳ khưu, Ta đã không bao lâu, một cách nhanh chóng, học thuộc lòng giáo pháp ấy. Này các Tỳ khưu, chỉ với sự mấp máy môi, chỉ với sự nói lặp lại, Ta đã nói lên lời của người có trí và lời của bậc trưởng lão, và Ta cùng những người khác đã xác nhận rằng: ‘Tôi biết, tôi thấy’. Này các Tỳ khưu, rồi Ta suy nghĩ như sau: ‘Āḷāra Kālāma không phải chỉ vì lòng tin mà tuyên bố giáo pháp này rằng: “Tôi tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú”. Chắc chắn Āḷāra Kālāma biết và thấy giáo pháp này mà an trú’.”
Atha khvāhaṁ, bhikkhave, yena āḷāro kālāmo tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā āḷāraṁ kālāmaṁ etadavocaṁ: ‘kittāvatā no, āvuso kālāma, imaṁ dhammaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharāmīti pavedesī’ti? Evaṁ vutte, bhikkhave, āḷāro kālāmo ākiñcaññāyatanaṁ pavedesi.
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, etadahosi: ‘na kho āḷārasseva kālāmassa atthi saddhā, mayhampatthi saddhā; na kho āḷārasseva kālāmassa atthi vīriyaṁ, mayhampatthi vīriyaṁ; na kho āḷārasseva kālāmassa atthi sati, mayhampatthi sati; na kho āḷārasseva kālāmassa atthi samādhi, mayhampatthi samādhi; na kho āḷārasseva kālāmassa atthi paññā, mayhampatthi paññā. Yannūnāhaṁ yaṁ dhammaṁ āḷāro kālāmo sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharāmīti pavedeti, tassa dhammassa sacchikiriyāya padaheyyan’ti. So kho ahaṁ, bhikkhave, nacirasseva khippameva taṁ dhammaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihāsiṁ.
So I approached Āḷāra Kālāma and said to him, ‘Reverend Kālāma, to what extent do you say you’ve realized this teaching with your own insight?’ When I said this, he declared the dimension of nothingness.
Then it occurred to me, ‘It’s not just Āḷāra Kālāma who has faith, energy, mindfulness, immersion, and wisdom; I too have these things. Why don’t I make an effort to realize the same teaching that Āḷāra Kālāma says he has realized with his own insight?’ I quickly realized that teaching with my own insight, and lived having achieved it.
“Này các Tỳ khưu, rồi Ta đi đến chỗ của Āḷāra Kālāma; sau khi đến, Ta nói với Āḷāra Kālāma: ‘Thưa hiền giả Kālāma, ngài tuyên bố giáo pháp này, mà ngài tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú, là đến mức độ nào?’. Này các Tỳ khưu, khi được nói vậy, Āḷāra Kālāma đã tuyên bố về Vô Sở Hữu Xứ. Này các Tỳ khưu, rồi Ta suy nghĩ như sau: ‘Không phải chỉ Āḷāra Kālāma mới có tín, ta cũng có tín. Không phải chỉ Āḷāra Kālāma mới có tấn, ta cũng có tấn. Không phải chỉ Āḷāra Kālāma mới có niệm, ta cũng có niệm. Không phải chỉ Āḷāra Kālāma mới có định, ta cũng có định. Không phải chỉ Āḷāra Kālāma mới có tuệ, ta cũng có tuệ. Hay là ta hãy nỗ lực để chứng ngộ giáo pháp mà Āḷāra Kālāma tuyên bố rằng ngài đã tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú’. Này các Tỳ khưu, Ta đã không bao lâu, một cách nhanh chóng, tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú trong giáo pháp ấy.”
Atha khvāhaṁ, bhikkhave, yena āḷāro kālāmo tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā āḷāraṁ kālāmaṁ etadavocaṁ:
So I approached Āḷāra Kālāma and said to him,
“Này các Tỳ khưu, rồi Ta đi đến chỗ của Āḷāra Kālāma; sau khi đến, Ta nói với Āḷāra Kālāma rằng –”
“‘Thưa hiền giả Kālāma, có phải ngài tuyên bố giáo pháp này, mà ngài tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến, là chỉ đến mức độ này thôi phải không?’”
‘Ettāvatā kho ahaṁ, āvuso, imaṁ dhammaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja pavedemī’ti.
‘I have, reverend.’
“‘Thưa hiền giả, tôi tuyên bố giáo pháp này, mà tôi tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến, là chỉ đến mức độ này thôi’.”
‘Ahampi kho, āvuso, ettāvatā imaṁ dhammaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharāmī’ti.
‘I too, reverend, have realized this teaching with my own insight up to this point, and live having achieved it.’
“‘Thưa hiền giả, tôi cũng vậy, đã tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú trong giáo pháp này đến mức độ này’.”
‘Lābhā no, āvuso, suladdhaṁ no, āvuso, ye mayaṁ āyasmantaṁ tādisaṁ sabrahmacāriṁ passāma. Iti yāhaṁ dhammaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja pavedemi taṁ tvaṁ dhammaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharasi. Yaṁ tvaṁ dhammaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharasi tamahaṁ dhammaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja pavedemi. Iti yāhaṁ dhammaṁ jānāmi taṁ tvaṁ dhammaṁ jānāsi, yaṁ tvaṁ dhammaṁ jānāsi tamahaṁ dhammaṁ jānāmi. Iti yādiso ahaṁ tādiso tuvaṁ, yādiso tuvaṁ tādiso ahaṁ. Ehi dāni, āvuso, ubhova santā imaṁ gaṇaṁ pariharāmā’ti.
Iti kho, bhikkhave, āḷāro kālāmo ācariyo me samāno attano antevāsiṁ maṁ samānaṁ attanā samasamaṁ ṭhapesi, uḷārāya ca maṁ pūjāya pūjesi.
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, etadahosi: ‘nāyaṁ dhammo nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṁvattati, yāvadeva ākiñcaññāyatanūpapattiyā’ti. So kho ahaṁ, bhikkhave, taṁ dhammaṁ analaṅkaritvā tasmā dhammā nibbijja apakkamiṁ.
‘We are fortunate, reverend, so very fortunate to see a venerable such as yourself as one of our spiritual companions! So the teaching that I’ve realized with my own insight, and declare having achieved it, you’ve realized with your own insight, and dwell having achieved it. The teaching that you’ve realized with your own insight, and dwell having achieved it, I’ve realized with my own insight, and declare having achieved it. So the teaching that I know, you know, and the teaching that you know, I know. I am like you and you are like me. Come now, reverend! We should both lead this community together.’
And that is how my tutor Āḷāra Kālāma placed me, his pupil, on the same position as him, and honored me with high praise.
Then it occurred to me, ‘This teaching doesn’t lead to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment. It only leads as far as rebirth in the dimension of nothingness.’ Realizing that this teaching was inadequate, I left disappointed.
‘Này hiền hữu, thật là lợi ích cho chúng tôi! Này hiền hữu, thật là khéo được cho chúng tôi, khi chúng tôi được thấy một vị đồng phạm hạnh như tôn giả đây. Pháp mà tôi đã tự mình thắng tri, chứng ngộ, đạt đến và tuyên thuyết, pháp ấy hiền hữu cũng đã tự mình thắng tri, chứng ngộ, đạt đến và an trú. Pháp mà hiền hữu đã tự mình thắng tri, chứng ngộ, đạt đến và an trú, pháp ấy tôi cũng đã tự mình thắng tri, chứng ngộ, đạt đến và tuyên thuyết. Như vậy, pháp mà tôi biết thì hiền hữu cũng biết, pháp mà hiền hữu biết thì tôi cũng biết. Như vậy, tôi thế nào thì hiền hữu thế ấy, hiền hữu thế nào thì tôi thế ấy. Này hiền hữu, bây giờ chúng ta hãy đến, cả hai chúng ta sẽ cùng nhau lãnh đạo giáo đoàn này.’ Này các tỳ khưu, như vậy đó, Āḷāra Kālāma, là thầy của ta, đã đặt ta, là đệ tử, ngang hàng với chính mình, và đã tôn vinh ta bằng sự tôn vinh cao thượng. Này các tỳ khưu, khi ấy ta đã suy nghĩ thế này: ‘Pháp này không đưa đến yếm ly, không đưa đến ly tham, không đưa đến đoạn diệt, không đưa đến an tịnh, không đưa đến thắng tri, không đưa đến giác ngộ, không đưa đến Niết Bàn, mà chỉ đưa đến sự tái sanh vào cõi Vô Sở Hữu Xứ.’ Này các tỳ khưu, ta đã không hài lòng với pháp ấy, đã nhàm chán và từ bỏ pháp ấy mà ra đi.
So kho ahaṁ, bhikkhave, kiṁ kusalagavesī anuttaraṁ santivarapadaṁ pariyesamāno yena udako rāmaputto tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā udakaṁ rāmaputtaṁ etadavocaṁ: ‘icchāmahaṁ, āvuso, imasmiṁ dhammavinaye brahmacariyaṁ caritun’ti.
Evaṁ vutte, bhikkhave, udako rāmaputto maṁ etadavoca: ‘viharatāyasmā; tādiso ayaṁ dhammo yattha viññū puriso nacirasseva sakaṁ ācariyakaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihareyyā’ti.
So kho ahaṁ, bhikkhave, nacirasseva khippameva taṁ dhammaṁ pariyāpuṇiṁ. So kho ahaṁ, bhikkhave, tāvatakeneva oṭṭhapahatamattena lapitalāpanamattena ñāṇavādañca vadāmi theravādañca, ‘jānāmi passāmī’ti ca paṭijānāmi ahañceva aññe ca.
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, etadahosi: ‘na kho rāmo imaṁ dhammaṁ kevalaṁ saddhāmattakena sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharāmīti pavedesi; addhā rāmo imaṁ dhammaṁ jānaṁ passaṁ vihāsī’ti.
I set out to discover what is skillful, seeking the supreme state of sublime peace. I approached Uddaka son of Rāma and said to him, ‘Reverend, I wish to lead the spiritual life in this teaching and training.’
Uddaka replied, ‘Stay, venerable. This teaching is such that a sensible person can soon realize their own denomination with their own insight and live having achieved it.’
I quickly memorized that teaching. As far as lip-recital and verbal repetition went, I spoke the doctrine of knowledge, the elder doctrine. I claimed to know and see, and so did others.
Then it occurred to me, ‘It is not solely by mere faith that Rāma declared: “I realize this teaching with my own insight, and live having achieved it.” Surely he meditated knowing and seeing this teaching.’
278. Này các tỳ khưu, khi ấy, ta đang tìm cầu cái gì là thiện, đang tìm kiếm đạo lộ vô thượng, an tịnh, tối thắng, đã đi đến chỗ của Udaka Rāmaputta. Sau khi đến, ta nói với Udaka Rāmaputta rằng: ‘Này hiền hữu, tôi muốn thực hành phạm hạnh trong pháp và luật này.’ Này các tỳ khưu, khi được nói vậy, Udaka Rāmaputta đã nói với ta rằng: ‘Tôn giả hãy ở lại. Pháp này là như vậy, một người có trí không bao lâu sẽ tự mình thắng tri, chứng ngộ, đạt đến và an trú giáo lý của thầy mình.’ Này các tỳ khưu, không bao lâu, ta đã nhanh chóng học thuộc pháp ấy. Này các tỳ khưu, chỉ với mức độ mấp máy môi, mức độ lặp lại lời nói, ta đã tuyên bố lời của người có trí tuệ và lời của bậc trưởng lão, và ta cùng những người khác đã thừa nhận rằng: ‘Tôi biết, tôi thấy.’ Này các tỳ khưu, khi ấy ta đã suy nghĩ thế này: ‘Chắc chắn Rāma không phải chỉ dựa vào lòng tin mà tuyên bố rằng: ‘Tôi đã tự mình thắng tri, chứng ngộ, đạt đến và an trú pháp này.’ Chắc chắn Rāma đã sống, biết và thấy pháp này.’
Atha khvāhaṁ, bhikkhave, yena udako rāmaputto tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā udakaṁ rāmaputtaṁ etadavocaṁ: ‘kittāvatā no, āvuso, rāmo imaṁ dhammaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharāmīti pavedesī’ti?
Evaṁ vutte, bhikkhave, udako rāmaputto nevasaññānāsaññāyatanaṁ pavedesi.
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, etadahosi: ‘na kho rāmasseva ahosi saddhā, mayhampatthi saddhā; na kho rāmasseva ahosi vīriyaṁ, mayhampatthi vīriyaṁ; na kho rāmasseva ahosi sati, mayhampatthi sati; na kho rāmasseva ahosi samādhi, mayhampatthi samādhi, na kho rāmasseva ahosi paññā, mayhampatthi paññā. Yannūnāhaṁ yaṁ dhammaṁ rāmo sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharāmīti pavedesi, tassa dhammassa sacchikiriyāya padaheyyan’ti. So kho ahaṁ, bhikkhave, nacirasseva khippameva taṁ dhammaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihāsiṁ.
So I approached Uddaka son of Rāma and said to him, ‘Reverend, to what extent did Rāma say he’d realized this teaching with his own insight?’
When I said this, Uddaka son of Rāma declared the dimension of neither perception nor non-perception.
Then it occurred to me, ‘It’s not just Rāma who had faith, energy, mindfulness, immersion, and wisdom; I too have these things. Why don’t I make an effort to realize the same teaching that Rāma said he had realized with his own insight?’ I quickly realized that teaching with my own insight, and lived having achieved it.
Này các tỳ khưu, rồi ta đi đến chỗ của Udaka Rāmaputta. Sau khi đến, ta nói với Udaka Rāmaputta rằng: ‘Này hiền hữu Rāma, đến mức độ nào mà Rāma đã tuyên bố rằng: ‘Tôi đã tự mình thắng tri, chứng ngộ, đạt đến và an trú pháp này’?’ Này các tỳ khưu, khi được nói vậy, Udaka Rāmaputta đã tuyên thuyết về cõi Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Này các tỳ khưu, khi ấy ta đã suy nghĩ thế này: ‘Không phải chỉ Rāma mới có đức tin, ta cũng có đức tin. Không phải chỉ Rāma mới có tinh tấn, ta cũng có tinh tấn. Không phải chỉ Rāma mới có chánh niệm, ta cũng có chánh niệm. Không phải chỉ Rāma mới có định, ta cũng có định. Không phải chỉ Rāma mới có trí tuệ, ta cũng có trí tuệ. Vậy ta hãy nỗ lực để chứng ngộ pháp mà Rāma đã tuyên bố rằng ngài đã tự mình thắng tri, chứng ngộ, đạt đến và an trú.’ Này các tỳ khưu, không bao lâu, ta đã nhanh chóng tự mình thắng tri, chứng ngộ, đạt đến và an trú pháp ấy.
Atha khvāhaṁ, bhikkhave, yena udako rāmaputto tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā udakaṁ rāmaputtaṁ etadavocaṁ:
So I approached Uddaka son of Rāma and said to him,
Này các tỳ khưu, rồi ta đi đến chỗ của Udaka Rāmaputta. Sau khi đến, ta nói với Udaka Rāmaputta rằng:
‘Này hiền hữu, có phải đến mức độ này mà Rāma đã tuyên bố pháp này cho chúng tôi sau khi tự mình thắng tri, chứng ngộ và chứng đạt không?’
‘Ettāvatā kho, āvuso, rāmo imaṁ dhammaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja pavedesī’ti.
‘He had, reverend.’
‘Này hiền hữu, quả thực đến mức độ này mà Rāma đã tuyên bố pháp này sau khi tự mình thắng tri, chứng ngộ và chứng đạt.’
‘Ahampi kho, āvuso, ettāvatā imaṁ dhammaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharāmī’ti.
‘I too have realized this teaching with my own insight up to this point, and live having achieved it.’
‘Này hiền hữu, tôi cũng đã đến mức độ này, tự mình thắng tri, chứng ngộ, chứng đạt và đang an trú trong pháp này.’
‘Lābhā no, āvuso, suladdhaṁ no, āvuso, ye mayaṁ āyasmantaṁ tādisaṁ sabrahmacāriṁ passāma. Iti yaṁ dhammaṁ rāmo sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja pavedesi, taṁ tvaṁ dhammaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharasi. Yaṁ tvaṁ dhammaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharasi, taṁ dhammaṁ rāmo sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja pavedesi. Iti yaṁ dhammaṁ rāmo abhiññāsi taṁ tvaṁ dhammaṁ jānāsi, yaṁ tvaṁ dhammaṁ jānāsi, taṁ dhammaṁ rāmo abhiññāsi. Iti yādiso rāmo ahosi tādiso tuvaṁ, yādiso tuvaṁ tādiso rāmo ahosi. Ehi dāni, āvuso, tuvaṁ imaṁ gaṇaṁ pariharā’ti.
Iti kho, bhikkhave, udako rāmaputto sabrahmacārī me samāno ācariyaṭṭhāne maṁ ṭhapesi, uḷārāya ca maṁ pūjāya pūjesi.
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, etadahosi: ‘nāyaṁ dhammo nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṁvattati, yāvadeva nevasaññānāsaññāyatanūpapattiyā’ti. So kho ahaṁ, bhikkhave, taṁ dhammaṁ analaṅkaritvā tasmā dhammā nibbijja apakkamiṁ.
‘We are fortunate, reverend, so very fortunate to see a venerable such as yourself as one of our spiritual companions! So the teaching that Rāma had realized with his own insight, and declared having achieved it, you’ve realized with your own insight, and dwell having achieved it. The teaching that you’ve realized with your own insight, and dwell having achieved it, Rāma had realized with his own insight, and declared having achieved it. So the teaching that Rāma directly knew, you know, and the teaching you know, Rāma directly knew. Rāma was like you and you are like Rāma. Come now, reverend! You should lead this community.’
And that is how my spiritual companion Uddaka son of Rāma placed me in the position of a tutor and honored me with high praise.
Then it occurred to me, ‘This teaching doesn’t lead to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment. It only leads as far as rebirth in the dimension of neither perception nor non-perception.’ Realizing that this teaching was inadequate, I left disappointed.
‘Thật là lợi lạc cho chúng tôi, này hiền hữu! Thật là khéo đắc cho chúng tôi, này hiền hữu, khi chúng tôi được thấy một vị đồng phạm hạnh như tôn giả. Như vậy, pháp nào mà Rāma đã tự mình thắng tri, chứng ngộ, chứng đạt và tuyên bố, pháp ấy hiền hữu đã tự mình thắng tri, chứng ngộ, chứng đạt và đang an trú. Pháp nào mà hiền hữu đã tự mình thắng tri, chứng ngộ, chứng đạt và đang an trú, pháp ấy Rāma cũng đã tự mình thắng tri, chứng ngộ, chứng đạt và tuyên bố. Như vậy, pháp mà Rāma đã thắng tri thì hiền hữu biết; pháp mà hiền hữu biết thì Rāma đã thắng tri. Như vậy, Rāma thế nào thì hiền hữu thế ấy; hiền hữu thế nào thì Rāma thế ấy. Này hiền hữu, hãy đến đây, giờ đây hiền hữu hãy lãnh đạo hội chúng này.’ Này các tỳ-khưu, như vậy đó, Udaka Rāmaputta là bạn đồng phạm hạnh của Ta, đã đặt Ta vào vị trí của bậc thầy và tôn vinh Ta bằng sự cúng dường cao thượng. Này các tỳ-khưu, khi ấy Ta đã suy nghĩ thế này: ‘Pháp này không đưa đến yếm ly, không đưa đến ly tham, không đưa đến đoạn diệt, không đưa đến an tịnh, không đưa đến thắng tri, không đưa đến giác ngộ, không đưa đến Niết-bàn, mà chỉ đưa đến sự tái sanh vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ.’ Này các tỳ-khưu, Ta đã không tôn sùng pháp ấy, cảm thấy nhàm chán pháp ấy và rời bỏ đi.
So kho ahaṁ, bhikkhave, kiṁ kusalagavesī anuttaraṁ santivarapadaṁ pariyesamāno magadhesu anupubbena cārikaṁ caramāno yena uruvelā senānigamo tadavasariṁ. Tatthaddasaṁ ramaṇīyaṁ bhūmibhāgaṁ, pāsādikañca vanasaṇḍaṁ, nadiñca sandantiṁ setakaṁ supatitthaṁ ramaṇīyaṁ, samantā ca gocaragāmaṁ.
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, etadahosi: ‘ramaṇīyo vata bho bhūmibhāgo, pāsādiko ca vanasaṇḍo, nadī ca sandati setakā supatitthā ramaṇīyā, samantā ca gocaragāmo. Alaṁ vatidaṁ kulaputtassa padhānatthikassa padhānāyā’ti. So kho ahaṁ, bhikkhave, tattheva nisīdiṁ—alamidaṁ padhānāyāti.
I set out to discover what is skillful, seeking the supreme state of sublime peace. Traveling stage by stage in the Magadhan lands, I arrived at the town of Senā in Uruvelā. There I saw a delightful park, a lovely grove with a flowing river that was clean and charming, with smooth banks. And nearby was a village to resort to for alms.
Then it occurred to me, ‘This park is truly delightful, a lovely grove with a flowing river that’s clean and charming, with smooth banks. And nearby there’s a village to resort to for alms. This is good enough for striving for a gentleman wanting to strive.’ So I sat down right there, thinking, ‘This is good enough for striving.’
279. “Này các tỳ-khưu, Ta khi ấy là người tầm cầu cái gì là thiện, tìm cầu trạng thái an tịnh vô thượng tối thắng, đã tuần tự du hành qua xứ Magadha và đi đến thị trấn Senā tại Uruvelā. Tại đó, Ta thấy một vùng đất khả ái, một lùm cây xinh đẹp, một dòng sông đang chảy với làn nước trong lành, có bến nước tốt đẹp và khả ái, xung quanh là làng mạc để khất thực. Này các tỳ-khưu, Ta đã suy nghĩ thế này: ‘Thật khả ái thay vùng đất này, thật xinh đẹp thay lùm cây này, dòng sông đang chảy với làn nước trong lành, bến nước thật tốt và khả ái, xung quanh là làng mạc để khất thực. Nơi này thật vừa đủ cho một thiện nam tử thiết tha tinh cần để tu tập.’ Này các tỳ-khưu, Ta đã ngồi xuống ngay tại đó (với ý nghĩ): ‘Nơi này thật vừa đủ cho sự tinh cần’.”
So kho ahaṁ, bhikkhave, attanā jātidhammo samāno jātidhamme ādīnavaṁ viditvā ajātaṁ anuttaraṁ yogakkhemaṁ nibbānaṁ pariyesamāno ajātaṁ anuttaraṁ yogakkhemaṁ nibbānaṁ ajjhagamaṁ, attanā jarādhammo samāno jarādhamme ādīnavaṁ viditvā ajaraṁ anuttaraṁ yogakkhemaṁ nibbānaṁ pariyesamāno ajaraṁ anuttaraṁ yogakkhemaṁ nibbānaṁ ajjhagamaṁ, attanā byādhidhammo samāno byādhidhamme ādīnavaṁ viditvā abyādhiṁ anuttaraṁ yogakkhemaṁ nibbānaṁ pariyesamāno abyādhiṁ anuttaraṁ yogakkhemaṁ nibbānaṁ ajjhagamaṁ, attanā maraṇadhammo samāno maraṇadhamme ādīnavaṁ viditvā amataṁ anuttaraṁ yogakkhemaṁ nibbānaṁ ajjhagamaṁ, attanā sokadhammo samāno sokadhamme ādīnavaṁ viditvā asokaṁ anuttaraṁ yogakkhemaṁ nibbānaṁ ajjhagamaṁ, attanā saṅkilesadhammo samāno saṅkilesadhamme ādīnavaṁ viditvā asaṅkiliṭṭhaṁ anuttaraṁ yogakkhemaṁ nibbānaṁ pariyesamāno asaṅkiliṭṭhaṁ anuttaraṁ yogakkhemaṁ nibbānaṁ ajjhagamaṁ.
Ñāṇañca pana me dassanaṁ udapādi: ‘akuppā me vimutti, ayamantimā jāti, natthi dāni punabbhavo’ti.
And so, being myself liable to be reborn, understanding the drawbacks in being liable to be reborn, I sought that which is free of rebirth, the supreme sanctuary from the yoke, extinguishment—and I found it. Being myself liable to grow old, fall sick, die, sorrow, and become corrupted, understanding the drawbacks in these things, I sought that which is free of old age, sickness, death, sorrow, and corruption, the supreme sanctuary from the yoke, extinguishment—and I found it.
Knowledge and vision arose in me: ‘My freedom is unshakable; this is my last rebirth; now there’ll be no more future lives.’
280. Này các Tỳ khưu, Ta khi ấy, tự mình có bản chất phải sanh, sau khi thấy rõ sự nguy hại trong các pháp có bản chất phải sanh, trong khi tìm cầu trạng thái không sanh, vô thượng, an ổn khỏi các ách縛, tức là Niết-bàn, đã chứng đắc trạng thái không sanh, vô thượng, an ổn khỏi các ách縛, tức là Niết-bàn. Tự mình có bản chất phải già, sau khi thấy rõ sự nguy hại trong các pháp có bản chất phải già, trong khi tìm cầu trạng thái không già, vô thượng, an ổn khỏi các ách縛, tức là Niết-bàn, đã chứng đắc trạng thái không già, vô thượng, an ổn khỏi các ách縛, tức là Niết-bàn. Tự mình có bản chất phải bệnh, sau khi thấy rõ sự nguy hại trong các pháp có bản chất phải bệnh, trong khi tìm cầu trạng thái không bệnh, vô thượng, an ổn khỏi các ách縛, tức là Niết-bàn, đã chứng đắc trạng thái không bệnh, vô thượng, an ổn khỏi các ách縛, tức là Niết-bàn. Tự mình có bản chất phải chết, sau khi thấy rõ sự nguy hại trong các pháp có bản chất phải chết, trong khi tìm cầu trạng thái bất tử, vô thượng, an ổn khỏi các ách縛, tức là Niết-bàn, đã chứng đắc trạng thái bất tử, vô thượng, an ổn khỏi các ách縛, tức là Niết-bàn. Tự mình có bản chất sầu muộn, sau khi thấy rõ sự nguy hại trong các pháp có bản chất sầu muộn, trong khi tìm cầu trạng thái không sầu muộn, vô thượng, an ổn khỏi các ách縛, tức là Niết-bàn, đã chứng đắc trạng thái không sầu muộn, vô thượng, an ổn khỏi các ách縛, tức là Niết-bàn. Tự mình có bản chất bị ô nhiễm, sau khi thấy rõ sự nguy hại trong các pháp có bản chất bị ô nhiễm, trong khi tìm cầu trạng thái không ô nhiễm, vô thượng, an ổn khỏi các ách縛, tức là Niết-bàn, đã chứng đắc trạng thái không ô nhiễm, vô thượng, an ổn khỏi các ách縛, tức là Niết-bàn. Và tri kiến đã khởi lên nơi Ta: ‘Sự giải thoát của Ta là bất động. Đây là kiếp sống cuối cùng. Nay không còn tái sanh nữa.’
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, etadahosi: ‘adhigato kho myāyaṁ dhammo gambhīro duddaso duranubodho santo paṇīto atakkāvacaro nipuṇo paṇḍitavedanīyo. Ālayarāmā kho panāyaṁ pajā ālayaratā ālayasammuditā. Ālayarāmāya kho pana pajāya ālayaratāya ālayasammuditāya duddasaṁ idaṁ ṭhānaṁ yadidaṁ—idappaccayatā paṭiccasamuppādo. Idampi kho ṭhānaṁ duddasaṁ yadidaṁ—sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhākkhayo virāgo nirodho nibbānaṁ. Ahañceva kho pana dhammaṁ deseyyaṁ, pare ca me na ājāneyyuṁ, so mamassa kilamatho, sā mamassa vihesā’ti.
Apissu maṁ, bhikkhave, imā anacchariyā gāthāyo paṭibhaṁsu pubbe assutapubbā:
Then it occurred to me, ‘This principle I have discovered is deep, hard to see, hard to understand, peaceful, sublime, beyond the scope of logic, subtle, comprehensible to the astute. But people like clinging, they love it and enjoy it. It’s hard for them to see this topic; that is, specific conditionality, dependent origination. It’s also hard for them to see this topic; that is, the stilling of all activities, the letting go of all attachments, the ending of craving, fading away, cessation, extinguishment. And if I were to teach this principle, others might not understand me, which would be wearying and troublesome for me.’
And then these verses, which were neither supernaturally inspired, nor learned before in the past, occurred to me:
281. Này các Tỳ khưu, Ta đã khởi lên suy nghĩ thế này: ‘Pháp này do Ta chứng đắc thật là sâu xa, khó thấy, khó hiểu, an tịnh, cao siêu, vượt ngoài tầm lý luận, vi tế, chỉ người trí mới có thể thấu hiểu. Còn chúng sanh này thì ưa thích ái luyến, vui thích trong ái luyến, hoan hỷ trong ái luyến. Đối với chúng sanh ưa thích ái luyến, vui thích trong ái luyến, hoan hỷ trong ái luyến, thật khó thấy được trạng thái này, tức là Tương duyên tính, Lý Duyên khởi. Trạng thái này cũng thật khó thấy, tức là sự tịch tịnh của tất cả các hành, sự từ bỏ tất cả các sanh y, sự đoạn tận của ái, sự ly tham, sự diệt, Niết-bàn. Nếu Ta thuyết giảng Pháp, mà những người khác không thể hiểu được, điều đó sẽ là sự mệt nhọc cho Ta, điều đó sẽ là sự phiền não cho Ta.’ Hơn nữa, này các Tỳ khưu, những câu kệ kỳ diệu, chưa từng được nghe trước đây, đã hiện khởi trong Ta:
‘Kicchena me adhigataṁ, halaṁ dāni pakāsituṁ; Rāgadosaparetehi, nāyaṁ dhammo susambudho.
‘I’ve struggled hard to realize this, there’s no need to reveal it now! Those mired in greed and hate can’t really understand this teaching.
‘Pháp Ta khó khăn mới chứng được, nay không nên tuyên thuyết làm gì. Pháp này không dễ gì thấu hiểu bởi những kẻ bị tham và sân chi phối.
Paṭisotagāmiṁ nipuṇaṁ, gambhīraṁ duddasaṁ aṇuṁ; Rāgarattā na dakkhanti, tamokhandhena āvuṭā’ti.
It goes against the stream, subtle, deep, obscure, and very fine. Those besotted by greed cannot see, for they’re cloaked in a mass of darkness.’
‘Pháp đi ngược dòng, vi tế, sâu xa, khó thấy, nhiệm mầu; những kẻ nhiễm ái dục, bị khối u minh che lấp, sẽ không thấy được.’
Itiha me, bhikkhave, paṭisañcikkhato appossukkatāya cittaṁ namati, no dhammadesanāya.
Atha kho, bhikkhave, brahmuno sahampatissa mama cetasā cetoparivitakkamaññāya etadahosi: ‘nassati vata bho loko, vinassati vata bho loko, yatra hi nāma tathāgatassa arahato sammāsambuddhassa appossukkatāya cittaṁ namati, no dhammadesanāyā’ti.
Atha kho, bhikkhave, brahmā sahampati—seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evameva—brahmaloke antarahito mama purato pāturahosi. Atha kho, bhikkhave, brahmā sahampati ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā yenāhaṁ tenañjaliṁ paṇāmetvā maṁ etadavoca: ‘desetu, bhante, bhagavā dhammaṁ, desetu sugato dhammaṁ. Santi sattā apparajakkhajātikā, assavanatā dhammassa parihāyanti. Bhavissanti dhammassa aññātāro’ti.
Idamavoca, bhikkhave, brahmā sahampati. Idaṁ vatvā athāparaṁ etadavoca:
So, as I reflected like this, my mind inclined to remaining passive, not to teaching the Dhamma.
Then the divinity Sahampati, knowing my train of thought, thought, ‘Oh lord! The world will be lost, the world will perish! For the mind of the Realized One, the perfected one, the fully awakened Buddha, inclines to remaining passive, not to teaching the Dhamma.’
Then, as easily as a strong person would extend or contract their arm, the divinity Sahampati vanished from the realm of divinity and reappeared in front of me. He arranged his robe over one shoulder, raised his cupped palms toward me, and said, ‘Sir, let the Blessed One teach the Dhamma! Let the Holy One teach the Dhamma! There are beings with little dust in their eyes. They’re in decline because they haven’t heard the teaching. There will be those who understand the teaching!’
That is what the divinity Sahampati said. Then he went on to say:
282. Này các Tỳ khưu, khi Ta suy xét như vậy, tâm Ta hướng về sự không nỗ lực, không hướng về việc thuyết Pháp. Khi ấy, này các Tỳ khưu, Phạm thiên Sahampati, với tâm của mình biết được suy tư trong tâm Ta, đã khởi lên ý nghĩ: ‘Thật nguy thay cho thế gian! Thật hoại vong thay cho thế gian! Vì tâm của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, lại hướng về sự không nỗ lực, không hướng về việc thuyết Pháp.’ Khi ấy, này các Tỳ khưu, Phạm thiên Sahampati, ví như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co cánh tay đang duỗi ra, cũng vậy, đã biến mất khỏi cõi Phạm thiên và hiện ra trước mặt Ta. Khi ấy, này các Tỳ khưu, Phạm thiên Sahampati vắt thượng y qua một bên vai, chắp tay hướng về Ta và nói lời này: ‘Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy thuyết Pháp! Mong Thiện Thệ hãy thuyết Pháp! Có những chúng sanh ít bụi trong mắt. Vì không được nghe Pháp, họ sẽ bị suy thoái. Sẽ có những người thấu hiểu được Pháp.’ Này các Tỳ khưu, Phạm thiên Sahampati đã nói như vậy. Sau khi nói lời ấy, vị ấy lại nói thêm điều này:
‘Pāturahosi magadhesu pubbe, Dhammo asuddho samalehi cintito; Apāpuretaṁ amatassa dvāraṁ, Suṇantu dhammaṁ vimalenānubuddhaṁ.
‘Among the Magadhans there appeared in the past an impure teaching thought up by the stained. Fling open the door to freedom from death! Let them hear the teaching <j>the immaculate one discovered.
‘Trước đây tại xứ Magadha, đã xuất hiện pháp bất tịnh, do những người còn ô uế suy tư ra. Xin Ngài hãy mở cánh cửa bất tử này, mong họ được nghe Pháp do bậc Vô Nhiễm đã giác ngộ.
Sele yathā pabbatamuddhaniṭṭhito, Yathāpi passe janataṁ samantato; Tathūpamaṁ dhammamayaṁ sumedha, Pāsādamāruyha samantacakkhu; Sokāvatiṇṇaṁ janatamapetasoko, Avekkhassu jātijarābhibhūtaṁ.
Standing high on a rocky mountain, you can see the people all around. In just the same way, All-seer, so intelligent, having ascended the Temple of Truth, rid of sorrow, look upon the people swamped with sorrow, <j>overcome by rebirth and old age.
‘Như người đứng trên đỉnh núi đá, có thể nhìn thấy dân chúng khắp bốn phương; cũng vậy, hỡi bậc Thiện Tuệ, bậc Toàn Nhãn, xin hãy lên lầu đài Chánh Pháp. Bậc đã thoát ly sầu muộn, xin hãy nhìn xem chúng sanh đang chìm trong sầu muộn, bị sanh và già áp bức.
Uṭṭhehi vīra vijitasaṅgāma, Satthavāha aṇaṇa vicara loke; Desassu bhagavā dhammaṁ, Aññātāro bhavissantī’ti.
Rise, hero! Victor in battle, caravan leader, wander the world free of debt. Let the Blessed One teach the Dhamma! There will be those who understand!’
‘Xin hãy đứng lên, hỡi bậc Anh hùng, bậc Chiến thắng! Hỡi bậc Trưởng đoàn, bậc Vô nợ, xin hãy du hành trong thế gian. Xin Thế Tôn hãy thuyết giảng Pháp, sẽ có những người thấu hiểu.’
Atha kho ahaṁ, bhikkhave, brahmuno ca ajjhesanaṁ viditvā sattesu ca kāruññataṁ paṭicca buddhacakkhunā lokaṁ volokesiṁ. Addasaṁ kho ahaṁ, bhikkhave, buddhacakkhunā lokaṁ volokento satte apparajakkhe mahārajakkhe, tikkhindriye mudindriye, svākāre dvākāre, suviññāpaye duviññāpaye, appekacce paralokavajjabhayadassāvine viharante, appekacce na paralokavajjabhayadassāvine viharante. Seyyathāpi nāma uppaliniyaṁ vā paduminiyaṁ vā puṇḍarīkiniyaṁ vā appekaccāni uppalāni vā padumāni vā puṇḍarīkāni vā udake jātāni udake saṁvaḍḍhāni udakānuggatāni antonimuggaposīni, appekaccāni uppalāni vā padumāni vā puṇḍarīkāni vā udake jātāni udake saṁvaḍḍhāni udakānuggatāni samodakaṁ ṭhitāni, appekaccāni uppalāni vā padumāni vā puṇḍarīkāni vā udake jātāni udake saṁvaḍḍhāni udakaṁ accuggamma ṭhitāni anupalittāni udakena; evameva kho ahaṁ, bhikkhave, buddhacakkhunā lokaṁ volokento addasaṁ satte apparajakkhe mahārajakkhe, tikkhindriye mudindriye, svākāre dvākāre, suviññāpaye duviññāpaye, appekacce paralokavajjabhayadassāvine viharante, appekacce na paralokavajjabhayadassāvine viharante.
Atha khvāhaṁ, bhikkhave, brahmānaṁ sahampatiṁ gāthāya paccabhāsiṁ:
Then, understanding the Divinity’s invitation, I surveyed the world with the eye of a Buddha, because of my compassion for sentient beings. And I saw sentient beings with little dust in their eyes, and some with much dust in their eyes; with keen faculties and with weak faculties, with good qualities and with bad qualities, easy to teach and hard to teach. And some of them lived seeing the danger in the fault to do with the next world, while others did not. It’s like a pool with blue water lilies, or pink or white lotuses. Some of them sprout and grow in the water without rising above it, thriving underwater. Some of them sprout and grow in the water reaching the water’s surface. And some of them sprout and grow in the water but rise up above the water and stand with no water clinging to them. In the same way, I saw sentient beings with little dust in their eyes, and some with much dust in their eyes.
Then I replied in verse to the divinity Sahampati:
283. “Này các Tỳ khưu, khi ấy, sau khi biết được lời thỉnh cầu của Phạm thiên và vì lòng bi mẫn đối với chúng sanh, Ta đã dùng Phật nhãn để quan sát thế gian. Này các Tỳ khưu, khi Ta dùng Phật nhãn quan sát thế gian, Ta thấy có những chúng sanh ít bụi trong mắt, nhiều bụi trong mắt; có chúng sanh căn tánh lanh lợi, căn tánh đần độn; có chúng sanh thiện tướng, ác tướng; có chúng sanh dễ dạy, khó dạy; có một số chúng sanh sống thấy sự đáng sợ trong tội lỗi và đời sau, có một số chúng sanh sống không thấy sự đáng sợ trong tội lỗi và đời sau. Ví như trong hồ sen xanh, hồ sen hồng, hay hồ sen trắng, có một số hoa sen xanh, hoa sen hồng, hay hoa sen trắng sanh trong nước, lớn lên trong nước, chưa vươn khỏi mặt nước, được nuôi dưỡng ngập chìm trong nước. Có một số hoa sen xanh, hoa sen hồng, hay hoa sen trắng sanh trong nước, lớn lên trong nước, đứng ngang bằng mặt nước. Có một số hoa sen xanh, hoa sen hồng, hay hoa sen trắng sanh trong nước, lớn lên trong nước, vươn lên khỏi mặt nước, không bị nước làm ô nhiễm. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, khi Ta dùng Phật nhãn quan sát thế gian, Ta thấy có những chúng sanh ít bụi trong mắt, nhiều bụi trong mắt; có chúng sanh căn tánh lanh lợi, căn tánh đần độn; có chúng sanh thiện tướng, ác tướng; có chúng sanh dễ dạy, khó dạy; có một số chúng sanh sống thấy sự đáng sợ trong tội lỗi và đời sau, có một số chúng sanh sống không thấy sự đáng sợ trong tội lỗi và đời sau. Bấy giờ, này các Tỳ khưu, Ta đã trả lời Phạm thiên Sahampati bằng một bài kệ:”
‘Apārutā tesaṁ amatassa dvārā, Ye sotavanto pamuñcantu saddhaṁ; Vihiṁsasaññī paguṇaṁ na bhāsiṁ, Dhammaṁ paṇītaṁ manujesu brahme’ti.
‘Flung open are the doors to freedom from death! Let those with ears to hear commit to faith. Thinking it would be troublesome, Divinity, <j>I did not teach the sophisticated, sublime Dhamma among mankind.’
“‘Cửa bất tử đã mở ra cho họ, những ai có tai hãy giải phóng lòng tin. Này Phạm thiên, vì nhận thấy sự phiền nhiễu, Ta đã không nói Pháp vi diệu, thù thắng này cho loài người.’”
Atha kho, bhikkhave, brahmā sahampati ‘katāvakāso khomhi bhagavatā dhammadesanāyā’ti maṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā tatthevantaradhāyi.
Then the divinity Sahampati, knowing that his request for me to teach the Dhamma had been granted, bowed and respectfully circled me, keeping me on his right, before vanishing right there.
“Này các Tỳ khưu, khi ấy, Phạm thiên Sahampati, nghĩ rằng: ‘Thế Tôn đã cho phép ta thuyết Pháp,’ đã đảnh lễ Ta, đi nhiễu quanh thân hữu, rồi biến mất ngay tại chỗ ấy.”
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, etadahosi: ‘kassa nu kho ahaṁ paṭhamaṁ dhammaṁ deseyyaṁ; ko imaṁ dhammaṁ khippameva ājānissatī’ti?
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, etadahosi: ‘ayaṁ kho āḷāro kālāmo paṇḍito viyatto medhāvī dīgharattaṁ apparajakkhajātiko. Yannūnāhaṁ āḷārassa kālāmassa paṭhamaṁ dhammaṁ deseyyaṁ. So imaṁ dhammaṁ khippameva ājānissatī’ti.
Atha kho maṁ, bhikkhave, devatā upasaṅkamitvā etadavoca: ‘sattāhakālaṅkato, bhante, āḷāro kālāmo’ti.
Ñāṇañca pana me dassanaṁ udapādi: ‘sattāhakālaṅkato āḷāro kālāmo’ti.
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, etadahosi: ‘mahājāniyo kho āḷāro kālāmo. Sace hi so imaṁ dhammaṁ suṇeyya, khippameva ājāneyyā’ti.
Then I thought, ‘Who should I teach first of all? Who will quickly understand this teaching?’
Then it occurred to me, ‘That Āḷāra Kālāma is astute, competent, intelligent, and has long had little dust in his eyes. Why don’t I teach him first of all? He’ll quickly understand the teaching.’
But a deity came to me and said, ‘Sir, Āḷāra Kālāma passed away seven days ago.’
And knowledge and vision arose in me, ‘Āḷāra Kālāma passed away seven days ago.’
I thought, ‘This is a great loss for Āḷāra Kālāma. If he had heard the teaching, he would have understood it quickly.’
284. “Này các Tỳ khưu, Ta suy nghĩ thế này: ‘Ta nên thuyết Pháp cho ai trước tiên? Ai sẽ nhanh chóng hiểu được Pháp này?’ Này các Tỳ khưu, Ta lại suy nghĩ: ‘Vị Āḷāra Kālāma này là bậc hiền trí, thông minh, có tuệ, từ lâu đã là người ít bụi trong mắt. Ta nên thuyết Pháp cho Āḷāra Kālāma trước tiên. Vị ấy sẽ nhanh chóng hiểu được Pháp này.’ Bấy giờ, này các Tỳ khưu, một vị thiên nhân đến gần Ta và nói: ‘Bạch Thế Tôn, Āḷāra Kālāma đã mệnh chung bảy ngày rồi.’ Tri kiến cũng khởi lên nơi Ta: ‘Āḷāra Kālāma đã mệnh chung bảy ngày rồi.’ Này các Tỳ khưu, Ta suy nghĩ: ‘Āḷāra Kālāma đã bị một tổn thất lớn. Nếu vị ấy được nghe Pháp này, chắc chắn đã nhanh chóng hiểu được.’”
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, etadahosi: ‘kassa nu kho ahaṁ paṭhamaṁ dhammaṁ deseyyaṁ; ko imaṁ dhammaṁ khippameva ājānissatī’ti?
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, etadahosi: ‘ayaṁ kho udako rāmaputto paṇḍito viyatto medhāvī dīgharattaṁ apparajakkhajātiko. Yannūnāhaṁ udakassa rāmaputtassa paṭhamaṁ dhammaṁ deseyyaṁ. So imaṁ dhammaṁ khippameva ājānissatī’ti.
Atha kho maṁ, bhikkhave, devatā upasaṅkamitvā etadavoca: ‘abhidosakālaṅkato, bhante, udako rāmaputto’ti.
Ñāṇañca pana me dassanaṁ udapādi: ‘abhidosakālaṅkato udako rāmaputto’ti.
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, etadahosi: ‘mahājāniyo kho udako rāmaputto. Sace hi so imaṁ dhammaṁ suṇeyya, khippameva ājāneyyā’ti.
Then I thought, ‘Who should I teach first of all? Who will quickly understand this teaching?’
Then it occurred to me, ‘That Uddaka son of Rāma is astute, competent, intelligent, and has long had little dust in his eyes. Why don’t I teach him first of all? He’ll quickly understand the teaching.’
But a deity came to me and said, ‘Sir, Uddaka son of Rāma passed away just last night.’
And knowledge and vision arose in me, ‘Uddaka son of Rāma passed away just last night.’
I thought, ‘This is a great loss for Uddaka. If he had heard the teaching, he would have understood it quickly.’
“Này các Tỳ khưu, Ta suy nghĩ thế này: ‘Ta nên thuyết Pháp cho ai trước tiên? Ai sẽ nhanh chóng hiểu được Pháp này?’ Này các Tỳ khưu, Ta lại suy nghĩ: ‘Vị Uddaka con của Rāma này là bậc hiền trí, thông minh, có tuệ, từ lâu đã là người ít bụi trong mắt. Ta nên thuyết Pháp cho Uddaka con của Rāma trước tiên. Vị ấy sẽ nhanh chóng hiểu được Pháp này.’ Bấy giờ, này các Tỳ khưu, một vị thiên nhân đến gần Ta và nói: ‘Bạch Thế Tôn, Uddaka con của Rāma đã mệnh chung đêm qua.’ Tri kiến cũng khởi lên nơi Ta: ‘Uddaka con của Rāma đã mệnh chung đêm qua.’ Này các Tỳ khưu, Ta suy nghĩ: ‘Uddaka con của Rāma đã bị một tổn thất lớn. Nếu vị ấy được nghe Pháp này, chắc chắn đã nhanh chóng hiểu được.’”
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, etadahosi: ‘kassa nu kho ahaṁ paṭhamaṁ dhammaṁ deseyyaṁ; ko imaṁ dhammaṁ khippameva ājānissatī’ti?
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, etadahosi: ‘bahukārā kho me pañcavaggiyā bhikkhū, ye maṁ padhānapahitattaṁ upaṭṭhahiṁsu. Yannūnāhaṁ pañcavaggiyānaṁ bhikkhūnaṁ paṭhamaṁ dhammaṁ deseyyan’ti.
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, etadahosi: ‘kahaṁ nu kho etarahi pañcavaggiyā bhikkhū viharantī’ti? Addasaṁ kho ahaṁ, bhikkhave, dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena pañcavaggiye bhikkhū bārāṇasiyaṁ viharante isipatane migadāye. Atha khvāhaṁ, bhikkhave, uruvelāyaṁ yathābhirantaṁ viharitvā yena bārāṇasī tena cārikaṁ pakkamiṁ.
Then I thought, ‘Who should I teach first of all? Who will quickly understand this teaching?’
Then it occurred to me, ‘The group of five mendicants were very helpful to me. They looked after me during my time of resolute striving. Why don’t I teach them first of all?’
Then I thought, ‘Where are the group of five mendicants staying these days?’ With clairvoyance that is purified and superhuman I saw that the group of five mendicants were staying near Varanasi in the deer park at Isipatana. So, when I had stayed in Uruvelā as long as I pleased, I set out for Varanasi.
“Này các Tỳ khưu, Ta suy nghĩ thế này: ‘Ta nên thuyết Pháp cho ai trước tiên? Ai sẽ nhanh chóng hiểu được Pháp này?’ Này các Tỳ khưu, Ta lại suy nghĩ: ‘Năm vị Tỳ khưu thuộc nhóm năm người đã giúp đỡ Ta rất nhiều, họ đã hầu hạ Ta khi Ta đang tinh cần nỗ lực. Ta nên thuyết Pháp cho nhóm năm vị Tỳ khưu trước tiên.’ Này các Tỳ khưu, Ta lại suy nghĩ: ‘Nhóm năm vị Tỳ khưu hiện đang ở đâu?’ Này các Tỳ khưu, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, Ta thấy nhóm năm vị Tỳ khưu đang ở tại Isipatana, trong Vườn Lộc Uyển, gần Bārāṇasī. Bấy giờ, này các Tỳ khưu, sau khi ở Uruvelā tùy thích, Ta lên đường du hành đến Bārāṇasī.”
Addasā kho maṁ, bhikkhave, upako ājīvako antarā ca gayaṁ antarā ca bodhiṁ addhānamaggappaṭipannaṁ. Disvāna maṁ etadavoca: ‘vippasannāni kho te, āvuso, indriyāni, parisuddho chavivaṇṇo pariyodāto. Kaṁsi tvaṁ, āvuso, uddissa pabbajito, ko vā te satthā, kassa vā tvaṁ dhammaṁ rocesī’ti?
Evaṁ vutte, ahaṁ, bhikkhave, upakaṁ ājīvakaṁ gāthāhi ajjhabhāsiṁ:
While I was traveling along the road between Gayā and Bodhgaya, the Ājīvaka ascetic Upaka saw me and said, ‘Reverend, your faculties are so very clear, and your complexion is pure and bright. In whose name have you gone forth, reverend? Who is your Teacher? Whose teaching do you believe in?’
I replied to Upaka in verse:
285. “Này các Tỳ khưu, lữ sĩ Ājīvaka tên là Upaka đã thấy Ta đang đi trên con đường dài giữa Gayā và cây Bồ-đề. Sau khi thấy, ông ta nói với Ta rằng: ‘Này hiền hữu, các căn của ngài thật trong sáng, màu da của ngài thật thanh tịnh, rạng rỡ! Này hiền hữu, ngài đã xuất gia vì ai, ai là thầy của ngài, và ngài ưa thích Pháp của ai?’ Này các Tỳ khưu, khi được hỏi như vậy, Ta đã trả lời lữ sĩ Ājīvaka bằng những bài kệ:”
‘Sabbābhibhū sabbavidūhamasmi, Sabbesu dhammesu anūpalitto; Sabbañjaho taṇhākkhaye vimutto, Sayaṁ abhiññāya kamuddiseyyaṁ.
‘I am the vanquisher of all, the knower of all, unsullied in the midst of all things. I’ve given up all, freed through the ending of craving. Since I know for myself, whose follower should I be?
“‘Ta là bậc chinh phục tất cả, biết tất cả, không bị ô nhiễm trong mọi pháp; Ta đã từ bỏ tất cả, được giải thoát trong sự đoạn tận ái dục. Tự mình chứng ngộ, ta biết chỉ ai làm thầy?’”
Na me ācariyo atthi, sadiso me na vijjati; Sadevakasmiṁ lokasmiṁ, natthi me paṭipuggalo.
I have no tutor. There is no one like me. In the world with its gods, I have no rival.
“‘Ta không có thầy, không ai sánh bằng Ta; trong thế giới cùng với chư thiên, không có ai đối thủ của Ta.’”
Ahañhi arahā loke, ahaṁ satthā anuttaro; Ekomhi sammāsambuddho, sītibhūtosmi nibbuto.
For in this world, I am the perfected one; I am the supreme Teacher. I alone am fully awakened, cooled, quenched.
“‘Ta quả là bậc A-la-hán trong đời, Ta là bậc Đạo sư vô thượng; Ta là bậc Chánh Đẳng Giác duy nhất, đã trở nên thanh lương, đã tịch tịnh.’”
Dhammacakkaṁ pavattetuṁ, Gacchāmi kāsinaṁ puraṁ; Andhībhūtasmiṁ lokasmiṁ, Āhañchaṁ amatadundubhin’ti.
I am going to the city of Kāsi to roll forth the Wheel of Dhamma. In this world that is so blind, I’ll beat the drum of freedom from death!’
‘Để chuyển Pháp luân, Ta đi đến thành của xứ Kāsi; trong thế gian bị mù quáng, Ta sẽ đánh trống bất tử.’
‘Yathā kho tvaṁ, āvuso, paṭijānāsi, arahasi anantajino’ti.
‘According to what you claim, reverend, you ought to be the Infinite Victor.’
‘Này hiền hữu, theo như điều ngài đã xác nhận, ngài xứng đáng là bậc Vô Thượng Chiến Thắng!’
‘Mādisā ve jinā honti, ye pattā āsavakkhayaṁ; Jitā me pāpakā dhammā, tasmāhamupaka jino’ti.
‘The victors are those who, like me, have reached the ending of defilements. I have conquered bad qualities, Upaka—that’s why I’m a victor.’
‘Những bậc chiến thắng thực sự là những người như Ta, những vị đã đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc. Ta đã chiến thắng các pháp ác, vì thế, này Upaka, Ta là bậc Chiến Thắng.’
Evaṁ vutte, bhikkhave, upako ājīvako ‘hupeyyapāvuso’ti vatvā sīsaṁ okampetvā ummaggaṁ gahetvā pakkāmi.
When I had spoken, Upaka said: ‘If you say so, reverend.’ Shaking his head, he took a wrong turn and left.
“Này các Tỳ khưu, khi được nói như vậy, tà sư lõa thể Upaka đã nói: ‘Có thể như vậy, hiền hữu’, rồi lắc đầu, đi theo một con đường khác và rời khỏi nơi ấy.
Atha khvāhaṁ, bhikkhave, anupubbena cārikaṁ caramāno yena bārāṇasī isipatanaṁ migadāyo yena pañcavaggiyā bhikkhū tenupasaṅkamiṁ. Addasaṁsu kho maṁ, bhikkhave, pañcavaggiyā bhikkhū dūrato āgacchantaṁ. Disvāna aññamaññaṁ saṇṭhapesuṁ: ‘ayaṁ kho, āvuso, samaṇo gotamo āgacchati bāhulliko padhānavibbhanto āvatto bāhullāya. So neva abhivādetabbo, na paccuṭṭhātabbo; nāssa pattacīvaraṁ paṭiggahetabbaṁ. Api ca kho āsanaṁ ṭhapetabbaṁ, sace ākaṅkhissati nisīdissatī’ti. Yathā yathā kho ahaṁ, bhikkhave, upasaṅkamiṁ tathā tathā pañcavaggiyā bhikkhū nāsakkhiṁsu sakāya katikāya saṇṭhātuṁ. Appekacce maṁ paccuggantvā pattacīvaraṁ paṭiggahesuṁ, appekacce āsanaṁ paññapesuṁ, appekacce pādodakaṁ upaṭṭhapesuṁ. Api ca kho maṁ nāmena ca āvusovādena ca samudācaranti.
Traveling stage by stage, I arrived at Varanasi, and went to see the group of five mendicants in the deer park at Isipatana. The group of five mendicants saw me coming off in the distance and stopped each other, saying, ‘Here comes the ascetic Gotama. He’s so indulgent; he strayed from the struggle and returned to indulgence. We shouldn’t bow to him or rise for him or receive his bowl and robe. But we can set out a seat; he can sit if he likes.’ Yet as I drew closer, the group of five mendicants were unable to stop themselves per their own agreement. Some came out to greet me and receive my bowl and robe, some spread out a seat, while others set out water for washing my feet. But they still addressed me by name and as ‘reverend’.
286. “Rồi, này các Tỳ khưu, Ta tuần tự du hành, đã đi đến Bārāṇasī, đến Isipatana, Migadāya, nơi có nhóm năm vị Tỳ khưu. Này các Tỳ khưu, nhóm năm vị Tỳ khưu đã nhìn thấy Ta đang đi đến từ xa. Sau khi nhìn thấy, họ đã cùng nhau thỏa thuận: ‘Này hiền hữu, sa-môn Gotama này đang đi đến, ngài là người sống trong sự sung túc, đã từ bỏ tinh tấn, đã quay về với đời sống sung túc. Không nên đảnh lễ ngài, không nên đứng dậy đón chào, không nên nhận lấy y bát của ngài. Tuy nhiên, nên chuẩn bị một chỗ ngồi, nếu ngài muốn, ngài sẽ ngồi xuống.’ Khi Ta càng đến gần, này các Tỳ khưu, nhóm năm vị Tỳ khưu càng không thể giữ được thỏa thuận của mình. Một số vị đã ra đón và nhận lấy y bát của Ta, một số vị đã chuẩn bị chỗ ngồi, một số vị đã đặt nước rửa chân. Tuy nhiên, họ đã gọi Ta bằng tên và bằng từ ‘hiền hữu’.
Evaṁ vutte, ahaṁ, bhikkhave, pañcavaggiye bhikkhū etadavocaṁ: ‘mā, bhikkhave, tathāgataṁ nāmena ca āvusovādena ca samudācaratha. Arahaṁ, bhikkhave, tathāgato sammāsambuddho. Odahatha, bhikkhave, sotaṁ, amatamadhigataṁ, ahamanusāsāmi, ahaṁ dhammaṁ desemi. Yathānusiṭṭhaṁ tathā paṭipajjamānā nacirasseva—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā’ti.
Evaṁ vutte, bhikkhave, pañcavaggiyā bhikkhū maṁ etadavocuṁ: ‘tāyapi kho tvaṁ, āvuso gotama, iriyāya tāya paṭipadāya tāya dukkarakārikāya nājjhagamā uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesaṁ, kiṁ pana tvaṁ etarahi bāhulliko padhānavibbhanto āvatto bāhullāya adhigamissasi uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesan’ti?
Evaṁ vutte, ahaṁ, bhikkhave, pañcavaggiye bhikkhū etadavocaṁ: ‘na, bhikkhave, tathāgato bāhulliko, na padhānavibbhanto, na āvatto bāhullāya. Arahaṁ, bhikkhave, tathāgato sammāsambuddho. Odahatha, bhikkhave, sotaṁ, amatamadhigataṁ, ahamanusāsāmi, ahaṁ dhammaṁ desemi. Yathānusiṭṭhaṁ tathā paṭipajjamānā nacirasseva—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā’ti.
Dutiyampi kho, bhikkhave, pañcavaggiyā bhikkhū maṁ etadavocuṁ: ‘tāyapi kho tvaṁ, āvuso gotama, iriyāya tāya paṭipadāya tāya dukkarakārikāya nājjhagamā uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesaṁ, kiṁ pana tvaṁ etarahi bāhulliko padhānavibbhanto āvatto bāhullāya adhigamissasi uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesan’ti?
Dutiyampi kho ahaṁ, bhikkhave, pañcavaggiye bhikkhū etadavocaṁ: ‘na, bhikkhave, tathāgato bāhulliko …pe… upasampajja viharissathā’ti.
Tatiyampi kho, bhikkhave, pañcavaggiyā bhikkhū maṁ etadavocuṁ: ‘tāyapi kho tvaṁ, āvuso gotama, iriyāya tāya paṭipadāya tāya dukkarakārikāya nājjhagamā uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesaṁ, kiṁ pana tvaṁ etarahi bāhulliko padhānavibbhanto āvatto bāhullāya adhigamissasi uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesan’ti?
So I said to them, ‘Mendicants, don’t address me by name and as “reverend”. The Realized One is perfected, a fully awakened Buddha. Listen up, mendicants: I have achieved freedom from death! I shall instruct you, I will teach you the Dhamma. By practicing as instructed you will soon realize the supreme culmination of the spiritual path in this very life. You will live having achieved with your own insight the goal for which gentlemen rightly go forth from the lay life to homelessness.’
But they said to me, ‘Reverend Gotama, even by that conduct, that practice, that grueling work you did not achieve any superhuman distinction in knowledge and vision worthy of the noble ones. How could you have achieved such a state now that you’ve become indulgent, strayed from the struggle and returned to indulgence?’
So I said to them, ‘The Realized One has not become indulgent, strayed from the struggle and returned to indulgence. The Realized One is perfected, a fully awakened Buddha. Listen up, mendicants: I have achieved freedom from death! I shall instruct you, I will teach you the Dhamma. By practicing as instructed you will soon realize the supreme culmination of the spiritual path in this very life.’
But for a second time they said to me, ‘Reverend Gotama … you’ve returned to indulgence.’
So for a second time I said to them, ‘The Realized One has not become indulgent …’
But for a third time they said to me, ‘Reverend Gotama, even by that conduct, that practice, that grueling work you did not achieve any superhuman distinction in knowledge and vision worthy of the noble ones. How could you have achieved such a state now that you’ve become indulgent, strayed from the struggle and returned to indulgence?’
“Khi được nói như vậy, này các Tỳ khưu, Ta đã nói với nhóm năm vị Tỳ khưu rằng: ‘Này các Tỳ khưu, chớ gọi Như Lai bằng tên và bằng từ ‘hiền hữu’. Này các Tỳ khưu, Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Này các Tỳ khưu, hãy lắng tai nghe, bất tử đã được chứng đắc, Ta sẽ giáo huấn, Ta sẽ thuyết Pháp. Khi thực hành theo lời giáo huấn, không bao lâu các thiện nam tử vì mục đích ấy mà đã chân chánh từ bỏ gia đình, sống đời không gia đình, các ngươi sẽ tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại mục đích tối thượng của phạm hạnh, sự kết thúc của phạm hạnh.’ Khi được nói như vậy, này các Tỳ khưu, nhóm năm vị Tỳ khưu đã nói với Ta rằng: ‘Này hiền hữu Gotama, với oai nghi ấy, với pháp hành ấy, với khổ hạnh ấy, ngài đã không chứng đắc được pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng bậc Thánh, huống nữa là bây giờ ngài sống trong sự sung túc, đã từ bỏ tinh tấn, đã quay về với đời sống sung túc, làm sao có thể chứng đắc được pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng bậc Thánh?’ Khi được nói như vậy, này các Tỳ khưu, Ta đã nói với nhóm năm vị Tỳ khưu rằng: ‘Này các Tỳ khưu, Như Lai không sống trong sự sung túc, không từ bỏ tinh tấn, không quay về với đời sống sung túc. Này các Tỳ khưu, Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Hãy lắng tai nghe, này các Tỳ khưu, bất tử đã được chứng đắc, Ta sẽ giáo huấn, Ta sẽ thuyết Pháp. Khi thực hành theo lời giáo huấn, không bao lâu các thiện nam tử vì mục đích ấy mà đã chân chánh từ bỏ gia đình, sống đời không gia đình, các ngươi sẽ tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại mục đích tối thượng của phạm hạnh, sự kết thúc của phạm hạnh.’ Lần thứ hai, này các Tỳ khưu, nhóm năm vị Tỳ khưu đã nói với Ta rằng: ‘Này hiền hữu Gotama, với oai nghi ấy, với pháp hành ấy, với khổ hạnh ấy, ngài đã không chứng đắc được pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng bậc Thánh, huống nữa là bây giờ ngài sống trong sự sung túc, đã từ bỏ tinh tấn, đã quay về với đời sống sung túc, làm sao có thể chứng đắc được pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng bậc Thánh?’ Lần thứ hai, này các Tỳ khưu, Ta đã nói với nhóm năm vị Tỳ khưu rằng: ‘Này các Tỳ khưu, Như Lai không sống trong sự sung túc... an trú.’ Lần thứ ba, này các Tỳ khưu, nhóm năm vị Tỳ khưu đã nói với Ta rằng: ‘Này hiền hữu Gotama, với oai nghi ấy, với pháp hành ấy, với khổ hạnh ấy, ngài đã không chứng đắc được pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng bậc Thánh, huống nữa là bây giờ ngài sống trong sự sung túc, đã từ bỏ tinh tấn, đã quay về với đời sống sung túc, làm sao có thể chứng đắc được pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng bậc Thánh?’
Evaṁ vutte, ahaṁ, bhikkhave, pañcavaggiye bhikkhū etadavocaṁ: ‘abhijānātha me no tumhe, bhikkhave, ito pubbe evarūpaṁ pabhāvitametan’ti?
‘No hetaṁ, bhante’.
‘Arahaṁ, bhikkhave, tathāgato sammāsambuddho. Odahatha, bhikkhave, sotaṁ, amatamadhigataṁ, ahamanusāsāmi, ahaṁ dhammaṁ desemi. Yathānusiṭṭhaṁ tathā paṭipajjamānā nacirasseva—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā’ti.
So I said to them, ‘Mendicants, have you ever known me to speak like this before?’
‘No sir, we have not.’
‘The Realized One is perfected, a fully awakened Buddha. Listen up, mendicants: I have achieved freedom from death! I shall instruct you, I will teach you the Dhamma. By practicing as instructed you will soon realize the supreme culmination of the spiritual path in this very life. You will live having achieved with your own insight the goal for which gentlemen rightly go forth from the lay life to homelessness.’
“Khi được nói như vậy, này các Tỳ khưu, Ta đã nói với nhóm năm vị Tỳ khưu rằng: ‘Này các Tỳ khưu, các ngươi có nhớ rằng trước đây Ta đã từng nói lời như thế này chưa?’ ‘Thưa không, bạch Thế Tôn.’ ‘Này các Tỳ khưu, Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Hãy lắng tai nghe, này các Tỳ khưu, bất tử đã được chứng đắc, Ta sẽ giáo huấn, Ta sẽ thuyết Pháp. Khi thực hành theo lời giáo huấn, không bao lâu các thiện nam tử vì mục đích ấy mà đã chân chánh từ bỏ gia đình, sống đời không gia đình, các ngươi sẽ tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại mục đích tối thượng của phạm hạnh, sự kết thúc của phạm hạnh.’
Asakkhiṁ kho ahaṁ, bhikkhave, pañcavaggiye bhikkhū saññāpetuṁ. Dvepi sudaṁ, bhikkhave, bhikkhū ovadāmi, tayo bhikkhū piṇḍāya caranti. Yaṁ tayo bhikkhū piṇḍāya caritvā āharanti tena chabbaggiyā yāpema. Tayopi sudaṁ, bhikkhave, bhikkhū ovadāmi, dve bhikkhū piṇḍāya caranti. Yaṁ dve bhikkhū piṇḍāya caritvā āharanti tena chabbaggiyā yāpema.
Atha kho, bhikkhave, pañcavaggiyā bhikkhū mayā evaṁ ovadiyamānā evaṁ anusāsiyamānā attanā jātidhammā samānā jātidhamme ādīnavaṁ viditvā ajātaṁ anuttaraṁ yogakkhemaṁ nibbānaṁ pariyesamānā ajātaṁ anuttaraṁ yogakkhemaṁ nibbānaṁ ajjhagamaṁsu, attanā jarādhammā samānā jarādhamme ādīnavaṁ viditvā ajaraṁ anuttaraṁ yogakkhemaṁ nibbānaṁ pariyesamānā ajaraṁ anuttaraṁ yogakkhemaṁ nibbānaṁ ajjhagamaṁsu, attanā byādhidhammā samānā …pe… attanā maraṇadhammā samānā … attanā sokadhammā samānā … attanā saṅkilesadhammā samānā saṅkilesadhamme ādīnavaṁ viditvā asaṅkiliṭṭhaṁ anuttaraṁ yogakkhemaṁ nibbānaṁ pariyesamānā asaṅkiliṭṭhaṁ anuttaraṁ yogakkhemaṁ nibbānaṁ ajjhagamaṁsu. Ñāṇañca pana nesaṁ dassanaṁ udapādi: ‘akuppā no vimutti, ayamantimā jāti, natthi dāni punabbhavo’ti.
I was able to persuade the group of five mendicants. Then sometimes I advised two mendicants, while the other three went for alms. Then those three would feed all six of us with what they brought back. Sometimes I advised three mendicants, while the other two went for alms. Then those two would feed all six of us with what they brought back.
As the group of five mendicants were being advised and instructed by me like this, being themselves liable to be reborn, understanding the drawbacks in being liable to be reborn, they sought that which is free of rebirth, the supreme sanctuary from the yoke, extinguishment—and they found it. Being themselves liable to grow old, fall sick, die, sorrow, and become corrupted, understanding the drawbacks in these things, they sought that which is free of old age, sickness, death, sorrow, and corruption, the supreme sanctuary from the yoke, extinguishment—and they found it. Knowledge and vision arose in them: ‘Our freedom is unshakable; this is our last rebirth; now there’ll be no more future lives.’
“Này các Tỳ khưu, Ta đã có thể làm cho nhóm năm vị Tỳ khưu hiểu được. Này các Tỳ khưu, khi Ta thuyết giảng cho hai vị Tỳ khưu, thì ba vị đi khất thực. Vật thực mà ba vị Tỳ khưu đi khất thực mang về, sáu người chúng ta dùng để sống qua ngày. Này các Tỳ khưu, khi Ta thuyết giảng cho ba vị Tỳ khưu, thì hai vị đi khất thực. Vật thực mà hai vị Tỳ khưu đi khất thực mang về, sáu người chúng ta dùng để sống qua ngày. Này các Tỳ khưu, khi nhóm năm vị Tỳ khưu được Ta thuyết giảng như vậy, được Ta giáo huấn như vậy, tự mình có bản chất phải sanh, sau khi thấy được sự nguy hiểm trong các pháp có bản chất phải sanh, trong khi tìm cầu trạng thái không sanh, vô thượng, an ổn khỏi các ách縛, tức là Niết Bàn, đã chứng ngộ được trạng thái không sanh, vô thượng, an ổn khỏi các ách縛, tức là Niết Bàn. Tự mình có bản chất phải già, sau khi thấy được sự nguy hiểm trong các pháp có bản chất phải già, trong khi tìm cầu trạng thái không già, vô thượng, an ổn khỏi các ách縛, tức là Niết Bàn, đã chứng ngộ được trạng thái không già, vô thượng, an ổn khỏi các ách縛, tức là Niết Bàn. Tự mình có bản chất phải bệnh... Tự mình có bản chất phải chết... Tự mình có bản chất sầu muộn... Tự mình có bản chất ô nhiễm, sau khi thấy được sự nguy hiểm trong các pháp có bản chất ô nhiễm, trong khi tìm cầu trạng thái không ô nhiễm, vô thượng, an ổn khỏi các ách縛, tức là Niết Bàn, đã chứng ngộ được trạng thái không ô nhiễm, vô thượng, an ổn khỏi các ách縛, tức là Niết Bàn. Và tri kiến đã khởi lên nơi các vị ấy: ‘Sự giải thoát của chúng ta là bất động, đây là kiếp sống cuối cùng, nay không còn tái sanh nữa.’”
Pañcime, bhikkhave, kāmaguṇā. Katame pañca? Cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā, sotaviññeyyā saddā …pe… ghānaviññeyyā gandhā … jivhāviññeyyā rasā … kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā. Ime kho, bhikkhave, pañca kāmaguṇā.
Ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā ime pañca kāmaguṇe gathitā mucchitā ajjhopannā anādīnavadassāvino anissaraṇapaññā paribhuñjanti, te evamassu veditabbā: ‘anayamāpannā byasanamāpannā yathākāmakaraṇīyā pāpimato’.
Seyyathāpi, bhikkhave, āraññako mago baddho pāsarāsiṁ adhisayeyya. So evamassa veditabbo: ‘anayamāpanno byasanamāpanno yathākāmakaraṇīyo luddassa. Āgacchante ca pana ludde yena kāmaṁ na pakkamissatī’ti.
Evameva kho, bhikkhave, ye hi keci samaṇā vā brāhmaṇā vā ime pañca kāmaguṇe gathitā mucchitā ajjhopannā anādīnavadassāvino anissaraṇapaññā paribhuñjanti, te evamassu veditabbā: ‘anayamāpannā byasanamāpannā yathākāmakaraṇīyā pāpimato’.
Ye ca kho keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā ime pañca kāmaguṇe agathitā amucchitā anajjhopannā ādīnavadassāvino nissaraṇapaññā paribhuñjanti, te evamassu veditabbā: ‘na anayamāpannā na byasanamāpannā na yathākāmakaraṇīyā pāpimato’.
Mendicants, there are these five kinds of sensual stimulation. What five? Sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. Sounds known by the ear … Smells known by the nose … Tastes known by the tongue … Touches known by the body, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. These are the five kinds of sensual stimulation.
There are ascetics and brahmins who enjoy these five kinds of sensual stimulation tied, infatuated, attached, blind to the drawbacks, and not understanding the escape. You should understand that they have met with calamity and disaster, and the Wicked One can do with them what he wants.
Suppose a deer in the wilderness was lying caught on a pile of snares. You’d know that it has met with calamity and disaster, and the hunter can do with them what he wants. And when the hunter comes, it cannot flee where it wants.
In the same way, there are ascetics and brahmins who enjoy these five kinds of sensual stimulation tied, infatuated, attached, blind to the drawbacks, and not understanding the escape. You should understand that they have met with calamity and disaster, and the Wicked One can do with them what he wants.
There are ascetics and brahmins who enjoy these five kinds of sensual stimulation without being tied, infatuated, or attached, seeing the drawbacks, and understanding the escape. You should understand that they haven’t met with calamity and disaster, and the Wicked One cannot do what he wants with them.
287. “Này các Tỳ khưu, có năm loại dục trưởng dưỡng này. Thế nào là năm? Các sắc pháp khả ái, khả hỷ, khả ý, dễ thương, liên hệ đến dục, hấp dẫn, được nhận biết qua mắt; các âm thanh được nhận biết qua tai... các hương được nhận biết qua mũi... các vị được nhận biết qua lưỡi... các vật xúc chạm khả ái, khả hỷ, khả ý, dễ thương, liên hệ đến dục, hấp dẫn, được nhận biết qua thân. Này các Tỳ khưu, đây là năm loại dục trưởng dưỡng. Này các Tỳ khưu, bất cứ Sa-môn hay Bà-la-môn nào thọ hưởng năm loại dục trưởng dưỡng này trong khi bị trói buộc, say đắm, chìm ngập, không thấy sự nguy hiểm, không có trí tuệ về sự thoát ly, họ cần được hiểu như sau: ‘Đã gặp bất hạnh, đã gặp tai họa, bị Ác Ma tùy ý sử dụng.’ Ví như, này các Tỳ khưu, một con nai rừng bị trói, nằm trên một đống bẫy rập. Nó cần được hiểu như sau: ‘Đã gặp bất hạnh, đã gặp tai họa, bị người thợ săn tùy ý sử dụng. Và khi người thợ săn đến, nó sẽ không thể đi đến nơi nó muốn.’ Cũng vậy, này các Tỳ khưu, bất cứ Sa-môn hay Bà-la-môn nào thọ hưởng năm loại dục trưởng dưỡng này trong khi bị trói buộc, say đắm, chìm ngập, không thấy sự nguy hiểm, không có trí tuệ về sự thoát ly, họ cần được hiểu như sau: ‘Đã gặp bất hạnh, đã gặp tai họa, bị Ác Ma tùy ý sử dụng.’ Và này các Tỳ khưu, bất cứ Sa-môn hay Bà-la-môn nào thọ hưởng năm loại dục trưởng dưỡng này trong khi không bị trói buộc, không say đắm, không chìm ngập, thấy được sự nguy hiểm, có trí tuệ về sự thoát ly, họ cần được hiểu như sau: ‘Không gặp bất hạnh, không gặp tai họa, không bị Ác Ma tùy ý sử dụng.’”
Seyyathāpi, bhikkhave, āraññako mago abaddho pāsarāsiṁ adhisayeyya. So evamassa veditabbo: ‘na anayamāpanno na byasanamāpanno na yathākāmakaraṇīyo luddassa. Āgacchante ca pana ludde yena kāmaṁ pakkamissatī’ti.
Evameva kho, bhikkhave, ye hi keci samaṇā vā brāhmaṇā vā ime pañca kāmaguṇe agathitā amucchitā anajjhopannā ādīnavadassāvino nissaraṇapaññā paribhuñjanti, te evamassu veditabbā: ‘na anayamāpannā na byasanamāpannā na yathākāmakaraṇīyā pāpimato’.
Suppose a deer in the wilderness was lying on a pile of snares without being caught. You’d know that it hasn’t met with calamity and disaster, and the hunter cannot do what he wants with them. And when the hunter comes, it can flee where it wants.
In the same way, there are ascetics and brahmins who enjoy these five kinds of sensual stimulation without being tied, infatuated, or attached, seeing the drawbacks, and understanding the escape. You should understand that they haven’t met with calamity and disaster, and the Wicked One cannot do what he wants with them.
“Ví như, này các Tỳ khưu, một con nai rừng không bị trói, nằm trên một đống bẫy rập. Nó cần được hiểu như sau: ‘Không gặp bất hạnh, không gặp tai họa, không bị người thợ săn tùy ý sử dụng. Và khi người thợ săn đến, nó sẽ có thể đi đến nơi nó muốn.’ Cũng vậy, này các Tỳ khưu, bất cứ Sa-môn hay Bà-la-môn nào thọ hưởng năm loại dục trưởng dưỡng này trong khi không bị trói buộc, không say đắm, không chìm ngập, thấy được sự nguy hiểm, có trí tuệ về sự thoát ly, họ cần được hiểu như sau: ‘Không gặp bất hạnh, không gặp tai họa, không bị Ác Ma tùy ý sử dụng.’”
Seyyathāpi, bhikkhave, āraññako mago araññe pavane caramāno vissattho gacchati, vissattho tiṭṭhati, vissattho nisīdati, vissattho seyyaṁ kappeti. Taṁ kissa hetu? Anāpāthagato, bhikkhave, luddassa.
Evameva kho, bhikkhave, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, bhikkhu andhamakāsi māraṁ apadaṁ, vadhitvā māracakkhuṁ adassanaṁ gato pāpimato.
Suppose there was a wild deer wandering in the forest that walked, stood, sat, and laid down in confidence. Why is that? Because it’s out of the hunter’s range.
In the same way, a mendicant, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected. This is called a mendicant who has blinded Māra, put out his eyes without a trace, and gone where the Wicked One cannot see.
“Ví như, này các Tỳ khưu, một con nai rừng đi lại trong rừng, trong chốn hoang dã, nó đi lại một cách tin tưởng, đứng một cách tin tưởng, ngồi một cách tin tưởng, nằm một cách tin tưởng. Vì sao vậy? Này các Tỳ khưu, vì nó ở ngoài tầm của người thợ săn. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu này được gọi là: đã làm cho Ác Ma bị mù, không còn dấu vết, đã phá hủy con mắt của Ác Ma, đã đi vào nơi Ác Ma không thể thấy.”
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Ayaṁ vuccati, bhikkhave …pe… pāpimato.
Furthermore, as the placing of the mind and keeping it connected are stilled, a mendicant enters and remains in the second absorption, which has the rapture and bliss born of immersion, with internal clarity and mind at one, without placing the mind and keeping it connected. This is called a mendicant who has blinded Māra …
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu làm cho tầm và tứ lắng dịu, chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu này được gọi là... đã đi vào nơi Ác Ma không thể thấy.”
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharati, sato ca sampajāno, sukhañca kāyena paṭisaṁvedeti yaṁ taṁ ariyā ācikkhanti ‘upekkhako satimā sukhavihārī’ti tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Ayaṁ vuccati, bhikkhave …pe… pāpimato.
Furthermore, with the fading away of rapture, a mendicant enters and remains in the third absorption, where they meditate with equanimity, mindful and aware, experiencing for themselves the bliss of which the noble ones declare, ‘Equanimous and mindful, one meditates in bliss.’ This is called a mendicant who has blinded Māra …
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu ly hỷ, trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là ‘xả niệm lạc trú,’ chứng và trú thiền thứ ba. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu này được gọi là... đã đi vào nơi Ác Ma không thể thấy.”
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Ayaṁ vuccati, bhikkhave …pe… pāpimato.
Furthermore, with the giving up of pleasure and pain and the disappearance of former happiness and sadness, a mendicant enters and remains in the fourth absorption, without pleasure or pain, with pure equanimity and mindfulness. This is called a mendicant who has blinded Māra …
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu xả lạc, xả khổ, chấm dứt hỷ và ưu đã có từ trước, chứng và trú thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu này được gọi là... đã đi vào nơi Ác Ma không thể thấy.”
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharati. Ayaṁ vuccati, bhikkhave …pe… pāpimato.
Furthermore, a mendicant, going totally beyond perceptions of form, with the disappearance of perceptions of impingement, not focusing on perceptions of diversity, aware that ‘space is infinite’, enters and remains in the dimension of infinite space. This is called a mendicant who has blinded Māra …
Này các Tỳ khưu, lại nữa, vị Tỳ khưu do hoàn toàn vượt qua các sắc tưởng, do chấm dứt các đối ngại tưởng, do không tác ý đến các tưởng sai biệt, nghĩ rằng: ‘Hư không là vô biên,’ chứng và trú Không Vô Biên Xứ. Này các Tỳ khưu, vị này được gọi là... cho đến... kẻ ác ma.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja viharati. Ayaṁ vuccati, bhikkhave …pe… pāpimato.
Furthermore, a mendicant, going totally beyond the dimension of infinite space, aware that ‘consciousness is infinite’, enters and remains in the dimension of infinite consciousness. This is called a mendicant who has blinded Māra …
Này các Tỳ khưu, lại nữa, vị Tỳ khưu do hoàn toàn vượt qua Không Vô Biên Xứ, nghĩ rằng: ‘Thức là vô biên,’ chứng và trú Thức Vô Biên Xứ. Này các Tỳ khưu, vị này được gọi là... cho đến... kẻ ác ma.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati. Ayaṁ vuccati, bhikkhave …pe… pāpimato.
Furthermore, a mendicant, going totally beyond the dimension of infinite consciousness, aware that ‘there is nothing at all’, enters and remains in the dimension of nothingness. This is called a mendicant who has blinded Māra …
Này các Tỳ khưu, lại nữa, vị Tỳ khưu do hoàn toàn vượt qua Thức Vô Biên Xứ, nghĩ rằng: ‘Không có gì cả,’ chứng và trú Vô Sở Hữu Xứ. Này các Tỳ khưu, vị này được gọi là... cho đến... kẻ ác ma.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṁ upasampajja viharati. Ayaṁ vuccati, bhikkhave …pe… pāpimato.
Furthermore, a mendicant, going totally beyond the dimension of nothingness, enters and remains in the dimension of neither perception nor non-perception. This is called a mendicant who has blinded Māra …
Này các Tỳ khưu, lại nữa, vị Tỳ khưu do hoàn toàn vượt qua Vô Sở Hữu Xứ, chứng và trú Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Này các Tỳ khưu, vị này được gọi là... cho đến... kẻ ác ma.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja viharati, paññāya cassa disvā āsavā parikkhīṇā honti. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, bhikkhu andhamakāsi māraṁ apadaṁ, vadhitvā māracakkhuṁ adassanaṁ gato pāpimato. Tiṇṇo loke visattikaṁ vissattho gacchati, vissattho tiṭṭhati, vissattho nisīdati, vissattho seyyaṁ kappeti. Taṁ kissa hetu? Anāpāthagato, bhikkhave, pāpimato”ti.
Furthermore, a mendicant, going totally beyond the dimension of neither perception nor non-perception, enters and remains in the cessation of perception and feeling. And, having seen with wisdom, their defilements come to an end. This is called a mendicant who has blinded Māra, put out his eyes without a trace, and gone where the Wicked One cannot see. They’ve crossed over clinging to the world. And they walk, stand, sit, and lie down in confidence. Why is that? Because they’re out of the Wicked One’s range.”
Này các Tỳ khưu, lại nữa, vị Tỳ khưu do hoàn toàn vượt qua Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, chứng và trú Diệt Thọ Tưởng Định, và sau khi thấy bằng trí tuệ, các lậu hoặc của vị ấy được đoạn tận. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu này được gọi là đã làm cho Ma vương bị mù, không còn dấu vết, đã hủy diệt mắt của Ma vương, đã đi đến chỗ kẻ ác ma không thấy được. Vị ấy đã vượt qua sự dính mắc trong đời. Vị ấy đi không sợ hãi, đứng không sợ hãi, ngồi không sợ hãi, nằm không sợ hãi. Do vì sao vậy? Này các Tỳ khưu, vì vị ấy đã đi ra ngoài tầm của kẻ ác ma.
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
Thế Tôn đã thuyết giảng như vậy. Các tỳ-khưu ấy hoan hỷ, tán dương lời Thế Tôn dạy.
Pāsarāsisuttaṁ niṭṭhitaṁ chaṭṭhaṁ.
Kinh Pāsarāsi (Đống Bẫy Sập), kinh thứ sáu, kết thúc.