- Majjhima Nikāya 23
Vammikasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Vammikasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi, tại Jetavana, vườn ông Anāthapiṇḍika. Lúc bấy giờ, Tôn giả Kumāra Kassapa trú tại Andhavana.
SC 2Rồi một vị Thiên, đêm đã gần tàn, với hào quang rực rỡ chiếu sáng toàn thể Andhavana, đến chỗ Tôn giả Kumāra Kassapa ở, sau khi đến, bèn đứng một bên. Sau khi đứng một bên, vị Thiên ấy nói với Tôn giả Kumāra Kassapa:
SC 3“Tỷ-kheo, Tỷ-kheo! Gò mối này ban đêm phun khói, ban ngày chiếu sáng.
SC 4“Một Bà-la-môn nói như sau: “Này kẻ trí, hãy cầm gươm và đào lên”. Người có trí cầm gươm đào lên, thấy một then cửa: “Thưa Tôn giả, một then cửa”.
SC 5“Vị Bà-la-môn nói: “Này kẻ trí, hãy lấy then cửa lên, cầm gươm đào thêm”. Người có trí cầm gươm đào lên, thấy con nhái: “Thưa Tôn giả, một con nhái”.
SC 6“Vị Bà-la-môn nói: “Này kẻ trí, hãy đem con nhái lên, cầm gươm đào thêm”. Người có trí cầm gươm đào lên, thấy con đường hai ngã: “Thưa Tôn giả, một con đường hai ngã”.
SC 7“Vị Bà-la-môn nói: “Này kẻ trí hãy lấy con đường hai ngã lên, cầm gươm đào thêm”. Người có trí cầm gươm đào lên, thấy một đồ lọc sữa: “Thưa Tôn giả, một đồ lọc sữa”.
SC 8“Vị Bà-la-môn nói: “Hãy lấy đồ lọc sữa lên, cầm gươm đào thêm”. Người có trí cầm gươm đào lên, thấy một con rùa: “Thưa Tôn giả, một con rùa”.
SC 9“Vị Bà-la-môn nói: “Này kẻ trí, hãy lấy con rùa lên, cầm gươm đào thêm”. Người có trí cầm gươm đào lên, thấy một con dao phay: “Thưa Tôn giả, một con dao phay”.
SC 10“Vị Bà-la-môn nói: “Này kẻ trí, hãy lấy con dao phay lên, cầm gươm đào thêm”. Người có trí cầm gươm đào lên, thấy một miếng thịt: “Thưa Tôn giả một miếng thịt”.
SC 11“Vị Bà-la-môn nói: “Này kẻ trí, hãy lấy miếng thịt lên, cầm gươm đào thêm”. Người có trí cầm gươm đào lên, thấy con rắn hổ: “Thưa Tôn giả, con rắn hổ”.
SC 12“Vị Bà-la-môn nói: “Hãy để con rắn hổ yên, chớ đụng chạm con rắn hổ, hãy đảnh lễ con rắn hổ”.
SC 13“Này Tỷ-kheo, hãy đến chỗ Thế Tôn ở và hỏi những câu hỏi ấy. Thế Tôn trả lời Tôn giả như thế nào, hãy như vậy thọ trì. Này Tỷ-kheo, Ta không thấy ai trên cõi đời, với chư Thiên, các Ma vương, với Phạm thiên, các chúng Sa-môn và Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người có thể hướng tâm để trả lời những câu hỏi ấy, trừ Như Lai, đệ tử Như Lai hay những ai đã được nghe hai vị này”.
SC 14Vị Thiên ấy nói như vậy. Sau khi nói xong như vậy, vị ấy biến mất ở nơi đây.
SC 15Rồi Tôn giả Kumāra Kassapa, sau khi đêm ấy đã mãn, đến tại chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến xong, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Kumāra Kassapa bạch Thế Tôn
SC 16—Bạch Thế Tôn, đêm nay, một vị Thiên, đêm đã gần tàn, với hào quang rực rỡ chiếu sáng toàn thể Andhavana, đến chỗ con ở, sau khi đến liền đứng một bên. Khi đứng một bên, vị Thiên ấy nói với con: “Tỷ-kheo, Tỷ-kheo! Gò mối này, ban đêm phun khói, ban ngày chiếu sáng. Một vị Bà-la-môn nói như sau: “Này kẻ trí, hãy cầm gươm đào lên”. Người có trí cầm gươm, đào lên thấy một then cửa … (như trên) … đệ tử Như Lai hay những ai đã được nghe hai vị này”. Bạch Thế Tôn, vị Thiên ấy nói như vậy, nói xong liền biến mất tại chỗ ấy.
SC 17Bạch Thế Tôn, gò mối là gì, cái gì phun khói ban đêm, cái gì chiếu sáng ban ngày, ai là Bà-la-môn, ai là người có trí, cái gì là cây gươm, cái gì là đào lên, cái gì là then cửa, cái gì là con nhái, cái gì là con đường hai ngã, cái gì là đồ lọc sữa, cái gì là con rùa, cái gì là con dao phay, cái gì là miếng thịt, cái gì là con rắn hổ?
SC 18—Này Tỷ-kheo, gò mối là đồng nghĩa với cái thân do bốn đại thành, do cha mẹ sanh, nhờ cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, phấn toái, đoạn tuyệt, hoại diệt.
SC 19Này Tỷ-kheo, cái gì thuộc về công việc ban ngày, ban đêm suy tầm, suy nghĩ, như vậy là ban đêm phun khói.
SC 20Này Tỷ-kheo, cái gì sau khi suy tầm, suy tư ban đêm, ban ngày đem ra thực hành, về thân, về lời nói, về ý, như vậy là ban ngày chói sáng.
SC 21Này Tỷ-kheo, Bà-la-môn là đồng nghĩa với Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Này Tỷ-kheo, người có trí là đồng nghĩa với Tỷ-kheo hữu học. Này Tỷ-kheo, cái gươm là đồng nghĩa với trí tuệ của bậc Thánh. Này Tỷ-kheo, đào lên là đồng nghĩa với tinh tấn, tinh cần.
SC 22Này Tỷ-kheo, cái then cửa là đồng nghĩa với vô minh; đem then cửa lên là từ bỏ vô minh này; kẻ có trí, cầm gươm đào lên là ý nghĩa này.
SC 23Này Tỷ-kheo, con nhái là đồng nghĩa với phẫn nộ hiềm hận; đem con nhái lên là từ bỏ phẫn nộ hiềm hận này; kẻ có trí cầm gươm đào lên là ý nghĩa này.
SC 24Này Tỷ-kheo, con đường hai ngã là đồng nghĩa với nghi hoặc; đem con đường hai ngã lên là từ bỏ nghi hoặc này; kẻ có trí cầm gươm đào lên là ý nghĩa này.
SC 25Này Tỷ-kheo, đồ lọc sữa là đồng nghĩa với năm triền cái: dục tham triền cái, sân triền cái, hôn trầm thụy miên triền cái, trạo cử hối quá triền cái, nghi hoặc triền cái; đem đồ lọc sữa lên là từ bỏ năm triền cái này; kẻ có trí cầm gươm đào lên là ý nghĩa này.
SC 26Này Tỷ-kheo, con rùa là đồng nghĩa với năm thủ uẩn, tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn; đem con rùa lên là từ bỏ năm thủ uẩn này; kẻ có trí cầm gươm đào lên là ý nghĩa này.
SC 27Này Tỷ-kheo, con dao phay là đồng nghĩa với năm dục trưởng dưỡng, tức là các sắc do mắt nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích lòng dục, hấp dẫn. Các tiếng do tai nhận thức … Các hương do mũi nhận thức … Các vị do lưỡi nhận thức … Các xúc do thân cảm xúc, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích lòng dục, hấp dẫn; lấy con dao phay lên là từ bỏ năm dục trưởng dưỡng này, kẻ có trí, cầm gươm đào lên là ý nghĩa này.
SC 28Này Tỷ-kheo, miếng thịt là đồng nghĩa với hỷ tham; lấy miếng thịt lên là từ bỏ hỷ tham này; kẻ có trí, cầm gươm đào lên là ý nghĩa này.
SC 29Này Tỷ-kheo, con rắn hổ là đồng nghĩa với vị Tỷ-kheo đã diệt trừ các lậu hoặc; hãy để con rắn hổ yên, chớ đụng chạm con rắn hổ, hãy đảnh lễ con rắn hổ, là ý nghĩa này.
SC 30Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 11–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
3. Kinh Gò Mối
Atha kho aññatarā devatā abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṁ andhavanaṁ obhāsetvā yenāyasmā kumārakassapo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhitā kho sā devatā āyasmantaṁ kumārakassapaṁ etadavoca:
“Bhikkhu bhikkhu, ayaṁ vammiko rattiṁ dhūmāyati, divā pajjalati. Brāhmaṇo evamāha: ‘abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyā’ti.
Then, late at night, a glorious deity, lighting up the entire Dark Forest, went up to Kassapa the Prince, stood to one side, and said:
“Monk, monk! This termite mound fumes by night and flames by day. The brahmin said, ‘Dig, clever one, having picked up the sword!’
249. Tôi nghe như vầy. Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Bấy giờ, Tôn giả Kumārakassapa đang trú ở rừng Andhavana. Rồi một vị thiên nhân, khi đêm đã gần tàn, với dung sắc thù thắng, chiếu sáng toàn bộ rừng Andhavana, đi đến chỗ Tôn giả Kumārakassapa; sau khi đến, vị ấy đứng một bên. Đứng một bên, vị thiên nhân ấy nói với Tôn giả Kumārakassapa điều này:
Abhikkhaṇanto sumedho satthaṁ ādāya addasa laṅgiṁ ‘laṅgī, bhadante’ti. Brāhmaṇo evamāha: ‘ukkhipa laṅgiṁ; abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyā’ti.
Abhikkhaṇanto sumedho satthaṁ ādāya addasa uddhumāyikaṁ. ‘Uddhumāyikā, bhadante’ti. Brāhmaṇo evamāha: ‘ukkhipa uddhumāyikaṁ; abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyā’ti.
Abhikkhaṇanto sumedho satthaṁ ādāya addasa dvidhāpathaṁ. ‘Dvidhāpatho, bhadante’ti. Brāhmaṇo evamāha: ‘ukkhipa dvidhāpathaṁ; abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyā’ti.
Abhikkhaṇanto sumedho satthaṁ ādāya addasa caṅgavāraṁ. ‘Caṅgavāro, bhadante’ti. Brāhmaṇo evamāha: ‘ukkhipa caṅgavāraṁ; abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyā’ti.
Abhikkhaṇanto sumedho satthaṁ ādāya addasa kummaṁ. ‘Kummo, bhadante’ti. Brāhmaṇo evamāha: ‘ukkhipa kummaṁ; abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyā’ti.
Abhikkhaṇanto sumedho satthaṁ ādāya addasa asisūnaṁ. ‘Asisūnā, bhadante’ti. Brāhmaṇo evamāha: ‘ukkhipa asisūnaṁ; abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyā’ti.
Abhikkhaṇanto sumedho satthaṁ ādāya addasa maṁsapesiṁ. ‘Maṁsapesi, bhadante’ti. Brāhmaṇo evamāha: ‘ukkhipa maṁsapesiṁ; abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyā’ti.
Abhikkhaṇanto sumedho satthaṁ ādāya addasa nāgaṁ. ‘Nāgo, bhadante’ti. Brāhmaṇo evamāha: ‘tiṭṭhatu nāgo, mā nāgaṁ ghaṭṭesi; namo karohi nāgassā’ti.
Picking up the sword and digging, the clever one saw a sticking point: ‘A sticking point, sir!’ The brahmin said, ‘Throw out the sticking point! Dig, clever one, having picked up the sword!’
Picking up the sword and digging, the clever one saw a bullfrog: ‘A bullfrog, sir!’ The brahmin said, ‘Throw out the bullfrog! Dig, clever one, having picked up the sword!’
Picking up the sword and digging, the clever one saw a forked path: ‘A forked path, sir!’ The brahmin said, ‘Throw out the forked path! Dig, clever one, having picked up the sword!’
Picking up the sword and digging, the clever one saw a filter of ash: ‘A filter of ash, sir!’ The brahmin said, ‘Throw out the filter of ash! Dig, clever one, having picked up the sword!’
Picking up the sword and digging, the clever one saw a tortoise: ‘A tortoise, sir!’ The brahmin said, ‘Throw out the tortoise! Dig, clever one, having taken up the sword!’
Picking up the sword and digging, the clever one saw a butcher’s knife and chopping board: ‘A butcher’s knife and chopping board, sir!’ The brahmin said, ‘Throw out the butcher’s knife and chopping board! Dig, clever one, having picked up the sword!’
Picking up the sword and digging, the clever one saw a scrap of meat: ‘A scrap of meat, sir!’ The brahmin said, ‘Throw out the scrap of meat! Dig, clever one, having picked up the sword!’
Picking up the sword and digging, the clever one saw a king cobra: ‘A king cobra, sir!’ The brahmin said, ‘Leave the king cobra! Do not disturb the cobra! Worship the cobra!’
“Này Tỳ khưu, này Tỳ khưu, gò mối này ban đêm thì bốc khói, ban ngày thì bừng cháy. Vị Bà-la-môn nói thế này: ‘Này người trí, hãy lấy gươm mà đào!’ Người trí lấy gươm đào và thấy cái then cài, liền nói: ‘Thưa ngài, là cái then cài.’ Vị Bà-la-môn nói: ‘Hãy vứt cái then cài đi; này người trí, hãy lấy gươm mà đào!’ Người trí lấy gươm đào và thấy con cóc, liền nói: ‘Thưa ngài, là con cóc.’ Vị Bà-la-môn nói: ‘Hãy vứt con cóc đi; này người trí, hãy lấy gươm mà đào!’ Người trí lấy gươm đào và thấy ngã hai, liền nói: ‘Thưa ngài, là ngã hai.’ Vị Bà-la-môn nói: ‘Hãy vứt ngã hai đi; này người trí, hãy lấy gươm mà đào!’ Người trí lấy gươm đào và thấy cái sàng, liền nói: ‘Thưa ngài, là cái sàng.’ Vị Bà-la-môn nói: ‘Hãy vứt cái sàng đi; này người trí, hãy lấy gươm mà đào!’ Người trí lấy gươm đào và thấy con rùa, liền nói: ‘Thưa ngài, là con rùa.’ Vị Bà-la-môn nói: ‘Hãy vứt con rùa đi; này người trí, hãy lấy gươm mà đào!’ Người trí lấy gươm đào và thấy dao và thớt, liền nói: ‘Thưa ngài, là dao và thớt.’ Vị Bà-la-môn nói: ‘Hãy vứt dao và thớt đi; này người trí, hãy lấy gươm mà đào!’ Người trí lấy gươm đào và thấy miếng thịt, liền nói: ‘Thưa ngài, là miếng thịt.’ Vị Bà-la-môn nói: ‘Hãy vứt miếng thịt đi; này người trí, hãy lấy gươm mà đào!’ Người trí lấy gươm đào và thấy con rắn Naga, liền nói: ‘Thưa ngài, là con rắn Naga.’ Vị Bà-la-môn nói: ‘Hãy để con rắn Naga ở yên, đừng đụng đến nó; hãy đảnh lễ con rắn Naga.’”
Ime kho tvaṁ, bhikkhu, pañhe bhagavantaṁ upasaṅkamitvā puccheyyāsi, yathā ca te bhagavā byākaroti tathā naṁ dhāreyyāsi. Nāhaṁ taṁ, bhikkhu, passāmi sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya, yo imesaṁ pañhānaṁ veyyākaraṇena cittaṁ ārādheyya aññatra tathāgatena vā, tathāgatasāvakena vā, ito vā pana sutvā”ti—
Idamavoca sā devatā. Idaṁ vatvā tatthevantaradhāyi.
Mendicant, go to the Buddha and ask him about this riddle. You should remember it in line with his answer. I don’t see anyone in this world—with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, its gods and humans—who could provide a satisfying answer to this riddle except the Realized One or his disciple or someone who has heard it from them.”
That is what that deity said before vanishing right there.
“Này Tỳ khưu, thầy hãy đến gần Thế Tôn và hỏi những câu hỏi này. Thế Tôn giải đáp cho thầy như thế nào, thầy hãy ghi nhớ như vậy. Này Tỳ khưu, trong thế giới này với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài người, ta không thấy một ai có thể làm cho tâm hài lòng bằng cách giải đáp những câu hỏi này, ngoại trừ Như Lai, hoặc đệ tử của Như Lai, hoặc người đã nghe từ các vị ấy.” Vị thiên nhân ấy đã nói như vậy. Sau khi nói xong, vị ấy liền biến mất tại chỗ.
Atha kho āyasmā kumārakassapo tassā rattiyā accayena yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā kumārakassapo bhagavantaṁ etadavoca: “imaṁ, bhante, rattiṁ aññatarā devatā abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṁ andhavanaṁ obhāsetvā yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhitā kho, bhante, sā devatā maṁ etadavoca: ‘bhikkhu bhikkhu, ayaṁ vammiko rattiṁ dhūmāyati, divā pajjalati. Brāhmaṇo evamāha: “abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyā”ti. Abhikkhaṇanto sumedho satthaṁ ādāya …pe… ito vā pana sutvā’ti.
Idamavoca, bhante, sā devatā. Idaṁ vatvā tatthevantaradhāyi. Ko nu kho, bhante, vammiko, kā rattiṁ dhūmāyanā, kā divā pajjalanā, ko brāhmaṇo, ko sumedho, kiṁ satthaṁ, kiṁ abhikkhaṇaṁ, kā laṅgī, kā uddhumāyikā, ko dvidhāpatho, kiṁ caṅgavāraṁ, ko kummo, kā asisūnā, kā maṁsapesi, ko nāgo”ti?
Then, when the night had passed, Kassapa the Prince went to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened. Then he asked:
“Sir, what is the termite mound? What is the fuming by night and flaming by day? Who is the brahmin, and who the clever one? What are the sword, the digging, the sticking point, the bullfrog, the forked path, the filter of ash, the tortoise, the butcher’s knife and chopping board, and the scrap of meat? And what is the king cobra?”
250. Khi ấy, tôn giả Kumārakassapa, sau khi đêm ấy đã mãn, đã đi đến nơi đức Thế Tôn ngự; sau khi đến, đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Trong khi ngồi một bên, tôn giả Kumārakassapa đã bạch với đức Thế Tôn điều này: ‘Bạch ngài, đêm nay, có một vị thiên nhân, vào lúc đêm đã gần tàn, với dung sắc thù thắng, làm cho toàn thể khu rừng Andhavana được tỏa sáng, đã đi đến nơi con ngự; sau khi đến, đã đứng một bên. Bạch ngài, trong khi đứng một bên, vị thiên nhân ấy đã nói với con điều này: ‘Này tỳ khưu, này tỳ khưu, cái gò mối này ban đêm thì bốc khói, ban ngày thì bốc cháy.’ Vị Bà-la-môn đã nói như vầy: ‘Này người có trí tuệ tốt, hãy lấy khí giới mà đào lên.’ Người có trí tuệ tốt, sau khi lấy khí giới và đào lên... v.v... hoặc là sau khi nghe từ đây. Bạch ngài, vị thiên nhân ấy đã nói điều này. Sau khi nói điều này, vị ấy đã biến mất ngay tại chỗ. ‘Bạch ngài, thế nào là gò mối? Thế nào là ban đêm bốc khói? Thế nào là ban ngày bốc cháy? Ai là vị Bà-la-môn? Ai là người có trí tuệ tốt? Cái gì là khí giới? Cái gì là đào lên? Cái gì là cái then cài? Cái gì là con cóc? Cái gì là ngã hai đường? Cái gì là cái rây lọc? Con gì là con rùa? Cái gì là con dao và cái thớt? Cái gì là miếng thịt? Con gì là con rắn chúa?’
“‘Vammiko’ti kho, bhikkhu, imassetaṁ cātumahābhūtikassa kāyassa adhivacanaṁ, mātāpettikasambhavassa odanakummāsūpacayassa aniccucchādanaparimaddanabhedanaviddhaṁsanadhammassa.
“Mendicant, ‘termite mound’ is a term for this body made up of the four principal states, produced by mother and father, built up from rice and porridge, liable to impermanence, to wearing away and erosion, to breaking up and destruction.
251. ‘Này tỳ khưu, ‘gò mối’ chính là tên gọi của thân này, được tạo thành từ bốn đại hiển, do cha mẹ sinh ra, được nuôi dưỡng bằng cơm cháo, có bản chất vô thường, cần được xoa bóp, nắn bóp, tan rã, và hủy hoại.
Yaṁ kho, bhikkhu, divā kammante ārabbha rattiṁ anuvitakketi anuvicāreti—ayaṁ rattiṁ dhūmāyanā. Yaṁ kho, bhikkhu, rattiṁ anuvitakketvā anuvicāretvā divā kammante payojeti kāyena vācāya manasā—ayaṁ divā pajjalanā.
Thinking and considering all night about what you did during the day—this is the fuming at night. The work you apply yourself to during the day by body, speech, and mind after thinking about it all night—this is the flaming by day.
Này tỳ khưu, việc mà liên quan đến các công việc ban ngày, người ấy suy tầm và suy tứ vào ban đêm – đây là ban đêm bốc khói. Này tỳ khưu, việc mà sau khi đã suy tầm và suy tứ vào ban đêm, người ấy thực hiện các công việc vào ban ngày bằng thân, bằng lời, bằng ý – đây là ban ngày bốc cháy.
‘Brāhmaṇo’ti kho, bhikkhu, tathāgatassetaṁ adhivacanaṁ arahato sammāsambuddhassa. ‘Sumedho’ti kho, bhikkhu, sekkhassetaṁ bhikkhuno adhivacanaṁ.
‘Brahmin’ is a term for the Realized One, the perfected one, the fully awakened Buddha. ‘Clever one’ is a term for the trainee mendicant.
Này tỳ khưu, ‘Bà-la-môn’ chính là tên gọi của Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác. Này tỳ khưu, ‘người có trí tuệ tốt’ chính là tên gọi của vị tỳ khưu hữu học.
‘Satthan’ti kho, bhikkhu, ariyāyetaṁ paññāya adhivacanaṁ. ‘Abhikkhaṇan’ti kho, bhikkhu, vīriyārambhassetaṁ adhivacanaṁ.
‘Sword’ is a term for noble wisdom. ‘Digging’ is a term for rousing energy.
Này tỳ khưu, ‘khí giới’ chính là tên gọi của trí tuệ bậc Thánh. Này tỳ khưu, ‘đào lên’ chính là tên gọi của sự khởi sự tinh tấn.
‘Laṅgī’ti kho, bhikkhu, avijjāyetaṁ adhivacanaṁ. Ukkhipa laṅgiṁ, pajaha avijjaṁ; abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyāti ayametassa attho.
‘Sticking point’ is a term for ignorance. ‘Throw out the sticking point’ means ‘give up ignorance, dig, clever one, having picked up the sword.’
Này tỳ khưu, ‘then cài’ chính là tên gọi của vô minh. ‘Hãy nhấc then cài lên, hãy từ bỏ vô minh; này người có trí tuệ tốt, hãy lấy khí giới mà đào lên,’ đây chính là ý nghĩa của điều ấy.
‘Uddhumāyikā’ti kho, bhikkhu, kodhūpāyāsassetaṁ adhivacanaṁ. Ukkhipa uddhumāyikaṁ, pajaha kodhūpāyāsaṁ; abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyāti ayametassa attho.
‘Bullfrog’ is a term for anger and distress. ‘Throw out the bullfrog’ means ‘give up anger and distress’ …
Này tỳ khưu, ‘con cóc’ chính là tên gọi của sự phẫn nộ và phiền muộn. ‘Hãy nhấc con cóc lên, hãy từ bỏ sự phẫn nộ và phiền muộn; này người có trí tuệ tốt, hãy lấy khí giới mà đào lên,’ đây chính là ý nghĩa của điều ấy.
‘Dvidhāpatho’ti kho, bhikkhu, vicikicchāyetaṁ adhivacanaṁ. Ukkhipa dvidhāpathaṁ, pajaha vicikicchaṁ; abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyāti ayametassa attho.
‘A forked path’ is a term for doubt. ‘Throw out the forked path’ means ‘give up doubt’ …
Này tỳ khưu, ‘ngã hai đường’ chính là tên gọi của sự hoài nghi. ‘Hãy nhấc ngã hai đường lên, hãy từ bỏ sự hoài nghi; này người có trí tuệ tốt, hãy lấy khí giới mà đào lên,’ đây chính là ý nghĩa của điều ấy.
‘Caṅgavāran’ti kho, bhikkhu, pañcannetaṁ nīvaraṇānaṁ adhivacanaṁ, seyyathidaṁ—kāmacchandanīvaraṇassa, byāpādanīvaraṇassa, thinamiddhanīvaraṇassa, uddhaccakukkuccanīvaraṇassa, vicikicchānīvaraṇassa. Ukkhipa caṅgavāraṁ, pajaha pañca nīvaraṇe; abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyāti ayametassa attho.
‘A filter of ash’ is a term for the five hindrances, that is: the hindrances of sensual desire, ill will, dullness and drowsiness, restlessness and remorse, and doubt. ‘Throw out the filter of ash’ means ‘give up the five hindrances’ …
Này tỳ khưu, ‘cái rây lọc’ chính là tên gọi của năm triền cái, tức là: triền cái tham dục, triền cái sân hận, triền cái hôn trầm-thụy miên, triền cái trạo cử-hối quá, triền cái hoài nghi. ‘Hãy nhấc cái rây lọc lên, hãy từ bỏ năm triền cái; này người có trí tuệ tốt, hãy lấy khí giới mà đào lên,’ đây chính là ý nghĩa của điều ấy.
‘Kummo’ti kho, bhikkhu, pañcannetaṁ upādānakkhandhānaṁ adhivacanaṁ, seyyathidaṁ—rūpupādānakkhandhassa, vedanupādānakkhandhassa, saññupādānakkhandhassa, saṅkhārupādānakkhandhassa, viññāṇupādānakkhandhassa. Ukkhipa kummaṁ, pajaha pañcupādānakkhandhe; abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyāti ayametassa attho.
‘Tortoise’ is a term for the five grasping aggregates, that is: form, feeling, perception, choices, and consciousness. ‘Throw out the tortoise’ means ‘give up the five grasping aggregates’ …
Này tỳ khưu, ‘con rùa’ chính là tên gọi của năm thủ uẩn, tức là: sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, và thức thủ uẩn. ‘Hãy nhấc con rùa lên, hãy từ bỏ năm thủ uẩn; này người có trí tuệ tốt, hãy lấy khí giới mà đào lên,’ đây chính là ý nghĩa của điều ấy.
‘Asisūnā’ti kho, bhikkhu, pañcannetaṁ kāmaguṇānaṁ adhivacanaṁ—cakkhuviññeyyānaṁ rūpānaṁ iṭṭhānaṁ kantānaṁ manāpānaṁ piyarūpānaṁ kāmūpasaṁhitānaṁ rajanīyānaṁ, sotaviññeyyānaṁ saddānaṁ …pe… ghānaviññeyyānaṁ gandhānaṁ …pe… jivhāviññeyyānaṁ rasānaṁ …pe… kāyaviññeyyānaṁ phoṭṭhabbānaṁ iṭṭhānaṁ kantānaṁ manāpānaṁ piyarūpānaṁ kāmūpasaṁhitānaṁ rajanīyānaṁ. Ukkhipa asisūnaṁ, pajaha pañca kāmaguṇe; abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyāti ayametassa attho.
‘Butcher’s knife and chopping board’ is a term for the five kinds of sensual stimulation. Sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. Sounds known by the ear … Smells known by the nose … Tastes known by the tongue … Touches known by the body, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. ‘Throw out the butcher’s knife and chopping board’ means ‘give up the five kinds of sensual stimulation’ …
Này tỳ khưu, ‘con dao và cái thớt’ chính là tên gọi của năm dục trưởng dưỡng: các sắc được nhận biết qua mắt, khả ái, khả hỷ, khả ý, có hình thức đáng yêu, liên hệ đến dục, và quyến rũ; các tiếng được nhận biết qua tai... v.v... các mùi được nhận biết qua mũi... v.v... các vị được nhận biết qua lưỡi... v.v... các vật xúc chạm được nhận biết qua thân, khả ái, khả hỷ, khả ý, có hình thức đáng yêu, liên hệ đến dục, và quyến rũ. ‘Hãy nhấc con dao và cái thớt lên, hãy từ bỏ năm dục trưởng dưỡng; này người có trí tuệ tốt, hãy lấy khí giới mà đào lên,’ đây chính là ý nghĩa của điều ấy.
‘Maṁsapesī’ti kho, bhikkhu, nandīrāgassetaṁ adhivacanaṁ. Ukkhipa maṁsapesiṁ, pajaha nandīrāgaṁ; abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyāti ayametassa attho.
‘Scrap of meat’ is a term for greed and relishing. ‘Throw out the scrap of meat’ means ‘give up greed and relishing’ …
Này tỳ khưu, ‘miếng thịt’ chính là tên gọi của hỷ tham. ‘Hãy nhấc miếng thịt lên, hãy từ bỏ hỷ tham; này người có trí tuệ tốt, hãy lấy khí giới mà đào lên,’ đây chính là ý nghĩa của điều ấy.
‘Nāgo’ti kho, bhikkhu, khīṇāsavassetaṁ bhikkhuno adhivacanaṁ. Tiṭṭhatu nāgo, mā nāgaṁ ghaṭṭesi; namo karohi nāgassāti ayametassa attho”ti.
‘King cobra’ is a term for a mendicant who has ended the defilements. This is the meaning of: ‘Leave the king cobra! Do not disturb the cobra! Worship the cobra!’”
Này tỳ khưu, ‘rắn chúa’ chính là tên gọi của vị tỳ khưu đã tận diệt các lậu hoặc. ‘Hãy để cho rắn chúa được yên, đừng động đến rắn chúa; hãy đảnh lễ rắn chúa,’ đây chính là ý nghĩa của điều ấy.’
Idamavoca bhagavā. Attamano āyasmā kumārakassapo bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
That is what the Buddha said. Satisfied, Venerable Kassapa the Prince approved what the Buddha said.
Đức Thế Tôn đã nói điều này. Tôn giả Kumārakassapa, với tâm hoan hỷ, đã vui mừng về lời dạy của đức Thế Tôn.
Vammikasuttaṁ niṭṭhitaṁ tatiyaṁ.
Kinh Gò Mối, kinh thứ ba, đã kết thúc.