- Majjhima Nikāya 22
Alagaddūpamasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Alagaddūpamasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).
SC 2Lúc bấy giờ, Tỷ-kheo tên là Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, khởi lên ác tà kiến như sau: “Theo như ta hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, khi thọ dụng những pháp được Thế Tôn gọi là chướng ngại pháp, thật sự không có chướng ngại gì”.
SC 3Một số đông Tỷ-kheo nghe như sau: “Tỷ-kheo tên Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, khởi lên ác tà kiến như sau: “Theo như ta hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, khi thọ dụng những pháp được Thế Tôn gọi là chướng ngại pháp, thật sự không có chướng ngại gì”. Rồi những Tỷ-kheo ấy đi đến chỗ Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, khi đến xong, liền nói với Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng như sau
SC 4—Này Hiền giả Ariṭṭha, có đúng sự thật rằng, Hiền giả khởi lên ác tà kiến như sau: “Theo như tôi hiểu … thật sự không có chướng ngại gì”?
SC 5—Thật sự là vậy, chư Hiền. Theo như tôi hiểu … không có chướng ngại gì.
SC 6Rồi những Tỷ-kheo ấy muốn Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng từ bỏ ác tà kiến ấy, liền cật vấn, nạn vấn lý do, thảo luận—“ Hiền giả Ariṭṭha, chớ nói như vậy, chớ xuyên tạc Thế Tôn. Xuyên tạc Thế Tôn là không tốt. Thế Tôn không có nói như vậy. Hiền giả Ariṭṭha, Thế Tôn đã dùng nhiều pháp môn thuyết chướng đạo pháp. Và những ai thọ dụng chúng tự đủ bị chướng ngại. Thế Tôn đã thuyết các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn. Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như khúc xương … Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như một miếng thịt … Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như bó đuốc cỏ khô … Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như hố than hừng … Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như cơn mộng … Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như vật dụng cho mượn … Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như trái cây … Thế Tôn đã thuyết các dục vọng được ví như lò thịt … Thế Tôn đã thuyết các dục vọng được ví như gậy nhọn … Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như đầu rắn, vui ít khổ nhiều, não nhiều và do vậy, nguy hiểm càng nhiều hơn”.
SC 7Tỷ-kheo Ariṭṭha xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, dầu được các Tỷ-kheo ấy cật vấn, chất vấn thảo luận, vẫn nói lên ác tà kiến ấy, cứng đầu, chấp chặt, nắm chặt tà kiến ấy: “Thật sự là vậy, theo như tôi hiểu, pháp Thế Tôn thuyết giảng … không có chướng ngại gì”.
SC 8Vì các Tỷ-kheo không thể làm cho Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, từ bỏ ác tà kiến ấy, nên họ đến chỗ Thế Tôn ở, khi đến xong, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, những Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn
SC 9—Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, khởi lên ác tà kiến như sau: “Theo tôi hiểu, pháp Thế Tôn thuyết giảng … không có chướng ngại gì”. Bạch Thế Tôn, chúng con nghe: “Tỷ-kheo tên Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng … không có chướng ngại gì”. Bạch Thế Tôn, rồi chúng con đi đến chỗ Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, khi đến xong, liền nói với Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng—“ Này Hiền giả Ariṭṭha, có đúng sự thật chăng? Hiền giả khởi lên ác tà kiến như sau: “Theo như tôi hiểu … thật sự không có chướng ngại gì”.
SC 10Bạch Thế Tôn, khi nghe nói vậy, Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, nói với chúng con như sau—“ Thật sự là vậy. Chư Hiền, theo như tôi hiểu … thật sự không có chướng ngại gì”.
SC 11Bạch Thế Tôn, chúng con muốn khiến Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, từ bỏ ác tà kiến ấy, liền cật vấn, nạn vấn lý do, thảo luận—“ Hiền giả Ariṭṭha, chớ nói như vậy! Chớ xuyên tạc Thế Tôn. Xuyên tạc Thế Tôn là không tốt. Thế Tôn không có nói như vậy, Hiền giả Ariṭṭha, Thế Tôn đã dùng nhiều pháp môn thuyết chướng đạo pháp. Và những ai thọ dụng chúng, tự đủ bị chướng ngại. Thế Tôn đã thuyết các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn. Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như khúc xương … Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như đầu rắn, vui ít, khổ nhiều, não nhiều, và do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn”.
SC 12Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, dầu được chúng con cật vấn, nạn vấn lý do, thảo luận, vẫn nói lên ác tà kiến ấy, cứng đầu, chấp chặt, nắm chặt tà kiến ấy: “Thật sự là vậy, theo tôi hiểu, pháp Thế Tôn thuyết giảng … không có chướng ngại gì”. Bạch Thế Tôn, vì chúng con không thể làm cho Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, từ bỏ ác tà kiến ấy, nên chúng con đến hỏi Thế Tôn ý nghĩa này.
SC 13Rồi Thế Tôn cho gọi một Tỷ-kheo khác
SC 14—Này Tỷ-kheo, hãy đi và nhân danh Ta gọi Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng rằng: “Hiền giả Ariṭṭha, bậc Ðạo Sư gọi Hiền giả”.
SC 15—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 16Tỷ-kheo ấy vâng lời Thế Tôn, đến chỗ Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, sau khi đến, liền nói với Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng
SC 17—Hiền giả Ariṭṭha, bậc Ðạo sư gọi Hiền giả.
—Thưa vâng, Hiền giả.
SC 18Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, đáp lời Tỷ-kheo ấy, đi đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, đang ngồi xuống một bên
SC 19—Này Ariṭṭha, có thật chăng, Ông khởi lên ác tà kiến như sau: “Theo như tôi hiểu … thật sự không có chướng ngại gì”?
SC 20—Thật sự là vậy, bạch Thế Tôn. Theo như con hiểu, thật sự không có chướng ngại gì.
SC 21—Này kẻ ngu si kia, sao Ông lại hiểu pháp Ta thuyết giảng như vậy? Này kẻ ngu si kia, có phải chăng, Ta đã dùng nhiều pháp môn thuyết chướng đạo pháp. Và những ai thọ dụng chúng tự đủ bị chướng ngại? Ta đã thuyết các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn. Ta đã thuyết các dục được ví như khúc xương … Ta đã thuyết các dục được ví như miếng thịt … được ví như bó đuốc cỏ khô … được ví như hố than hừng … được ví như cơn mộng … được ví như vật dụng cho mượn … được ví như trái cây … được ví như lò thịt … được ví như gậy nhọn … Ta đã thuyết các dục được ví như đầu rắn, vui ít, khổ nhiều, não nhiều, và do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn. Và này kẻ ngu si kia, không những Ông xuyên tạc Ta, vì Ông đã tự chấp thủ sai lạc, Ông tự phá hoại Ông và tạo nên nhiều tổn đức. Này kẻ ngu si kia, và như vậy sẽ đưa đến bất hạnh và đau khổ lâu dài cho Ông.
SC 22Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo
SC 23—Chư Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng này có thể khởi lên tia lửa sáng gì trong Pháp và Luật này không?
SC 24—Bạch Thế Tôn, làm sao có thể được! Không thể được, bạch Thế Tôn.
SC 25Ðược nói vậy, Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, im lặng, hổ thẹn, thụt vai, cúi đầu, lo âu, câm miệng. Rồi Thế Tôn, sau khi biết được Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng đang im lặng, hổ thẹn, thụt vai, cúi đầu, lo âu, câm miệng, bèn nói với Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng
SC 26—Này kẻ ngu si kia, người ta sẽ được biết Ông qua ác tà kiến của chính Ông. Ở đây, Ta sẽ hỏi các Tỷ-kheo.
SC 27Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo
SC 28—Chư Tỷ-kheo, các Ông có hiểu pháp Ta thuyết giảng, giống như Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng này, không những đã xuyên tạc Ta vì đã tự chấp thủ sai lạc, mà còn tự phá hoại mình và gây nên nhiều tổn đức?
SC 29—Bạch Thế Tôn, không. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn đã dùng nhiều pháp môn thuyết chướng đạo pháp; và những ai thọ dụng chúng, tự đủ bị chướng ngại. Thế Tôn đã thuyết các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn, Thế Tôn đã thuyết các dục ví như khúc xương … (như trên) … Thế Tôn đã thuyết các dục ví như đầu rắn, vui ít, khổ nhiều, não nhiều và do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn.
SC 30—Lành thay, chư Tỷ-kheo! Lành thay, chư Tỷ-kheo! Các Ông hiểu pháp Ta thuyết giảng như vậy. Chư Tỷ-kheo, Ta đã dùng nhiều pháp môn thuyết chướng đạo pháp, và những ai thọ dụng chúng, tự đủ bị chướng ngại. Ta đã thuyết các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, và do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn. Ta đã thuyết các dục ví như khúc xương … (như trên) … Ta đã thuyết các dục ví như đầu rắn, vui ít, khổ nhiều, não nhiều, và do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn. Nhưng Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, không những xuyên tạc Ta vì đã tự chấp thủ sai lạc mà còn tự phá hoại mình và tạo nên nhiều tổn đức, và như vậy sẽ đưa đến bất hạnh, đau khổ lâu ngày cho kẻ ngu si ấy.
SC 31Thật sự, này các Tỷ-kheo, sự kiện này không xảy ra, người ta có thể thọ dụng các dục ngoài các dục, ngoài các dục tưởng, ngoài các dục tầm.
SC 32Chư Tỷ-kheo, ở đây có một số người ngu si học pháp, như Kinh, Ứng tụng, Giải thuyết, Kệ tụng, Cảm hứng ngữ, Như thị ngữ, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, Phương quảng. Sau khi học các pháp này, họ không quán sát ý nghĩa những pháp ấy với trí tuệ. Những pháp ấy, vì ý nghĩa không được trí tuệ quán sát, nên không trở thành rõ ràng. Họ học các pháp chỉ vì lợi ích, muốn chỉ trích người khác, chỉ vì lợi ích, muốn khoái khẩu biện luận, và họ không đạt được mục tiêu mà sự học pháp hướng đến. Những pháp ấy vì nắm giữ sai lạc nên đưa họ đến bất hạnh, đau khổ lâu dài. Vì sao vậy? Này các Tỷ-kheo, vì nắm giữ sai lạc các pháp.
SC 33Chư Tỷ-kheo, ví như một người ưa muốn rắn nước, tìm cầu rắn nước, đi khắp chỗ để tìm rắn nước. Người đó thấy một con rắn nước lớn, và người đó bắt con rắn ấy ở lưng hay ở đuôi. Con rắn ấy có thể quay lại cắn người đó nơi tay, nơi cánh tay hay ở một phần nào khác của cơ thể, và người đó có thể do nhân này mà bị chết hay bị đau khổ gần như chết. Vì sao vậy? Chư Tỷ-kheo, vì nắm bắt con rắn một cách sai lạc. Cũng vậy này các Tỷ-kheo, ở đây, một số người ngu si học pháp … Chư Tỷ-kheo, vì sự chấp thủ các pháp sai lạc.
SC 34Ở đây, này các Tỷ-kheo, một số Thiện nam tử học pháp, như Kinh, Ứng tụng, Giải thuyết, Kệ tụng, Cảm hứng ngữ, Như thị ngữ, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, Phương quảng. Sau khi học các pháp này, họ quán sát ý nghĩa những pháp ấy với trí tuệ. Những pháp ấy, vì ý nghĩa được trí tuệ quán sát, nên trở thành rõ ràng. Họ học pháp không vì lợi ích, muốn chỉ trích người khác, không vì lợi ích, muốn khoái khẩu biện luận, và họ đạt được mục tiêu mà sự học pháp hướng đến. Những pháp ấy, vì khéo nắm giữ, nên đưa họ đến hạnh phúc, an lạc lâu dài. Vì sao vậy? Này các Tỷ-kheo, vì khéo nắm giữ các pháp.
SC 35Chư Tỷ-kheo, ví như một người ưa muốn rắn nước, tìm cầu rắn nước đi khắp chỗ để tìm rắn nước. Người đó thấy một con rắn nước lớn. Người đó có thể khéo đè con rắn nước với cây gậy có nạng. Sau khi khéo đè với cây gậy có nạng, người đó có thể khéo nắm giữ cổ rắn. Chư Tỷ-kheo, dầu cho con rắn nước ấy có thể cuốn thân nó xung quanh tay, hay cánh tay, hay một thân phần nào khác, người đó cũng không vì nhân duyên ấy đi đến chỗ chết hay đến sự đau khổ gần như chết. Vì sao vậy? Chư Tỷ-kheo, vì khéo nắm giữ con rắn nước vậy.
SC 36Cũng vậy, chư Tỷ-kheo, ở đây, một số Thiện nam tử học pháp … chư Tỷ-kheo, vì khéo nắm giữ các pháp vậy. Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy hiểu rõ ý nghĩa lời Ta thuyết giảng và thọ trì như vậy. Nếu có ai không hiểu rõ ý nghĩa lời Ta thuyết giảng thì ở nơi đây, các Ông hãy hỏi Ta hay hỏi những bậc Tỷ-kheo trí thức.
SC 37Chư Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng pháp cho các Ông, ví như chiếc bè để vượt qua, không phải để nắm giữ lấy. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.
SC 38—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 39Những Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn thuyết giảng như sau
SC 40—Này các Tỷ-kheo, ví như có người đang đi trên con đường lớn dài, đến một vùng nước rộng, bờ bên này nguy hiểm và hãi hùng, bờ bên kia an ổn và không kinh hãi, nhưng không có thuyền để vượt qua hay không có cầu bắc qua từ bờ này đến bờ kia. Người đó tự suy nghĩ: “Ðây là vùng nước rộng, bờ bên này nguy hiểm và hãi hùng, bờ bên kia an ổn và không kinh hãi, nhưng không có thuyền để vượt qua hay không có cầu bắc qua từ bờ này đến bờ kia. Nay ta hãy thâu góp cỏ, cây, nhánh, lá, cột lại thành chiếc bè, và dựa trên chiếc bè này, tinh tấn dùng tay chân, có thể vượt qua bờ bên kia một cách an toàn”. Chư Tỷ-kheo, rồi người đó thâu góp cỏ, cây, nhánh, lá cột lại thành chiếc bè, và nhờ chiếc bè này, tinh tấn dùng tay chân vượt qua bờ bên kia một cách an toàn. Khi qua bờ bên kia rồi, Người đó suy nghĩ: “Chiếc bè này lợi ích nhiều cho ta, nhờ chiếc bè này, ta tinh tấn dùng tay chân để vượt qua bờ bên kia một cách an toàn. Nay ta hãy đội chiếc bè này trên đầu hay vác nó trên vai, và đi đến chỗ nào ta muốn”. Chư Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Chư Tỷ-kheo, nếu người đó làm như vậy, thì có làm đúng với sở dụng của chiếc bè chăng?
—Bạch Thế Tôn, không.
SC 41—Chư Tỷ-kheo, người đó phải làm thế nào cho đúng sở dụng của chiếc bè? Ở đây, chư Tỷ-kheo, người đó sau khi vượt qua bờ bên kia, có thể suy nghĩ: “Chiếc bè này lợi ích nhiều cho ta. Nhờ chiếc bè này, ta tinh tấn dùng tay chân đã vượt qua bờ bên kia một cách an toàn. Nay ta hãy kéo chiếc bè này lên trên bờ đất khô, hay nhận chìm xuống nước, và đi đến chỗ nào ta muốn”. Chư Tỷ-kheo, làm như vậy, người đó làm đúng sở dụng chiếc bè ấy. Cũng vậy, này chư Tỷ-kheo, Ta thuyết pháp như chiếc bè để vượt qua, không phải để nắm giữ lấy.
SC 42Chư Tỷ-kheo, các Ông cần hiểu ví dụ cái bè. Chánh pháp còn phải bỏ đi, huống nữa là phi pháp.
SC 43Này các Tỷ-kheo, có sáu kiến xứ. Thế nào là sáu? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có kẻ vô văn phàm phu, không đi đến yết kiến các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không đi đến yết kiến các bậc Chơn nhơn, không thuần thục pháp các bậc Chơn nhơn, không tu tập pháp các bậc Chơn nhơn, xem sắc pháp: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”, xem cảm thọ: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”, xem tưởng: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”, xem các hành: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”, xem cái gì được thấy, được nghe, được cảm xúc, được ý thức, được đạt tới, được tìm cầu, được ý suy tư: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”, và bất cứ kiến xứ nào đều nói rằng: “Ðây là thế giới, đây là tự ngã, sau khi chết, tôi sẽ thường còn, thường hằng, thường trú, không biến chuyển, tôi sẽ trú như thế này cho đến mãi mãi”, xem như vậy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”.
SC 44Và này chư Tỷ-kheo, có vị Ða văn Thánh đệ tử đi đến yết kiến các bậc Thánh, thuần thục các pháp bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, đi đến yết kiến các bậc Chơn nhơn, thuần thục pháp các bậc Chơn nhơn, tu tập pháp các bậc Chơn nhơn, xem sắc pháp: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”, xem cảm thọ: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”, xem tưởng: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”, xem các hành: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”, xem cái gì được thấy, được nghe, được cảm xúc, được ý thức, được đạt tới, được tìm cầu, được ý suy tư: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”, và bất cứ kiến xứ nào đều nói rằng: “Ðây là thế giới, đây là tự ngã, sau khi chết tôi sẽ thường còn, thường hằng, thường trú, không biến chuyển, tôi sẽ trú như thế này cho đến mãi mãi”, xem như vậy là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”. Vị này do quán sát như vậy, đối với sự vật chẳng thật có nên không có lo âu, phiền muộn.
SC 45Ðược nghe nói vậy, một Tỷ-kheo khác bạch Thế Tôn
SC 46—Có thể có cái gì không thực có ở ngoài, có thể gây lo âu phiền muộn?
Thế Tôn đáp
SC 47—Có thể có, này Tỷ-kheo, ở đây, có người nghĩ như sau: “Cái gì chắc chắn đã là của tôi, nay chắc chắn không còn là của tôi. Cái gì chắc chắn có thể là của tôi, chắc chắn tôi không được cái ấy”. Người đó sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi đến bất tỉnh. Này Tỷ-kheo, như vậy, có cái không thực có ở ngoài, có thể gây lo âu, phiền muộn.
SC 48—Bạch Thế Tôn, có thể có cái gì không thực có ở ngoài, có thể không gây lo âu phiền muộn?
Thế Tôn đáp
SC 49—Có thể có, này Tỷ-kheo, ở đây, này Tỷ-kheo, có người không nghĩ như sau: “Cái gì chắc chắn đã là của tôi, nay chắc chắn không còn là của tôi. Cái gì chắc chắn có thể là của tôi, chắc chắn tôi không được cái ấy”. Người đó không sầu muộn, than vãn, khóc lóc, không đấm ngực, không đi đến bất tỉnh. Như vậy, này Tỷ-kheo, có cái không thực có ở ngoài, không gây lo âu phiền muộn.
SC 50—Bạch Thế Tôn, có thể có cái gì không thực có ở trong có thể gây ra lo âu phiền muộn?
Thế Tôn đáp
SC 51—Có thể có, này Tỷ-kheo, ở đây, này Tỷ-kheo, có người có (tà) kiến như sau: “Ðây là thế giới, đây là tự ngã, sau khi chết, tôi sẽ thường còn, thường hằng, thường trú không biến chuyển. Tôi sẽ trú như thế này cho đến mãi mãi”. Người này nghe Như Lai hay đệ tử Như Lai thuyết pháp để bạt trừ tất cả kiến xứ, cố chấp, thiên chấp, thiên kiến, tùy miên, sự tịnh chỉ mọi hành động, sự từ bỏ mọi sanh y, sự diệt trừ khát ái đưa đến ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn. Người đó có thể nghĩ như sau: “Chắc chắn ta sẽ bị đoạn diệt, chắc chắn ta sẽ bị hoại diệt, chắc chắn ta sẽ không tồn tại”. Người đó sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi đến bất tỉnh. Này Tỷ-kheo, như vậy là có cái không thực có ở trong có thể gây ra lo âu phiền muộn.
SC 52—Bạch Thế Tôn, có thể có cái gì không thực có ở trong, không gây ra lo âu, phiền muộn?
Thế Tôn đáp
SC 53—Có thể có, này Tỷ-kheo, ở đây, có người không có (tà) kiến như sau: “Ðây là thế giới, đây là tự ngã, sau khi chết, tôi sẽ thường còn, thường hằng, thường trú, không biến chuyển, tôi sẽ trú như thế này cho đến mãi mãi”. Người này nghe Như Lai hay đệ tử Như Lai thuyết pháp để bạt trừ tất cả kiến xứ, cố chấp, thiên chấp, thiên kiến, tùy miên, sự tịnh chi mọi hành động, sự từ bỏ mọi sanh y, sự diệt trừ khát ái để đưa đến ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn. Vị ấy không nghĩ như sau: “Chắc chắn ta sẽ bị đoạn diệt, chắc chắn ta sẽ bị hoại diệt, chắc chắn ta sẽ không tồn tại”. Vị ấy không sầu muộn, than vãn, khóc lóc; vị ấy không đấm ngực, không đi đến bất tỉnh. Này các Tỷ-kheo, như vậy là có cái không thực có ở trong, không gây ra lo âu, phiền muộn.
SC 54Này các Tỷ-kheo, các Ông có thể nắm giữ một vật sở hữu gì, và vật sở hữu được nắm giữ ấy sẽ thường còn, thường hằng, thường trú, không chuyển biến, có thể trú như thế này mãi mãi không? Chư Tỷ-kheo, các Ông có thể thấy một vật sở hữu nào được nắm giữ và vật sở hữu được nắm giữ ấy sẽ thường còn, thường hằng, thường trú, không chuyển biến, có thể trú như thế này mãi mãi không?
—Bạch Thế Tôn, không.
SC 55—Lành thay, này các Tỷ-kheo. Này các Tỷ-kheo, Ta cũng không thấy một vật sở hữu được nắm giữ nào, mà vật sở hữu được nắm giữ ấy sẽ thường còn, thường hằng, thường trú, không chuyển biến, có thể trú như thế này mãi mãi. Này các Tỷ-kheo, các Ông có thể chấp thủ Ngã luận thủ nào mà Ngã luận thủ ấy được chấp thủ như vậy lại không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không? Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy Ngã luận thủ nào mà Ngã luận thủ ấy được chấp thủ như vậy lại không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?
—Bạch Thế Tôn không.
SC 56—Lành thay, này các Tỷ-kheo. Này các Tỷ-kheo, Ta cũng không thấy Ngã luận thủ nào mà Ngã luận thủ ấy được chấp thủ như vậy lại không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não. Này các Tỷ-kheo, các Ông có kiến y nào, mà kiến y ấy được y chỉ như vậy lại không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không? Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy kiến y nào, mà kiến y ấy được y chỉ như vậy lại không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?
—Bạch Thế Tôn, không
SC 57—Lành thay, này các Tỷ-kheo! Này các Tỷ-kheo, Ta cũng không thấy một kiến y nào, mà kiến y ấy được y chỉ như vậy, lại không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não. Chư Tỷ-kheo, nếu có ngã thời có ngã sở thuộc của tôi không?
—Bạch Thế Tôn, có.
SC 58—Chư Tỷ-kheo, nếu có ngã sở thuộc, thời có ngã của tôi không?
—Bạch Thế Tôn, có.
SC 59—Chư Tỷ-kheo, nếu ngã và ngã sở thuộc không thể được chấp nhận là thường còn, thường hằng, thì kiến xứ này: “Ðây là thế giới, đây là tự ngã, sau khi chết tôi sẽ thành thường còn, thường hằng, thường trú, không biến chuyển, tôi sẽ trú như thế này cho đến mãi mãi”. Này các Tỷ-kheo, kiến xứ ấy là hoàn toàn, triệt để chẳng ngu si không?
SC 60—Bạch Thế Tôn, làm sao có thể hoàn toàn, triệt để chẳng ngu si được!
SC 61—Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Sắc là thường hay vô thường?
SC 62—Bạch Thế Tôn, vô thường.
SC 63—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Bạch Thế Tôn, khổ.
SC 64—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, thì có hợp lý chăng khi chánh quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
—Bạch Thế Tôn, không.
SC 65—Chư Tỷ-kheo, cảm thọ là thường hay vô thường?
SC 66—Bạch Thế Tôn, là vô thường.
SC 67—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
SC 68—Bạch Thế Tôn, là khổ.
SC 69—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại thì có hợp lý chăng khi chánh quán cái ấy là: “Cái này là của tôi … tự ngã của tôi”?
—Bạch Thế Tôn, không.
SC 70—Chư Tỷ-kheo, tưởng là thường hay vô thường?
SC 71—Bạch Thế Tôn, vô thường.
—Cái gì vô thường…?
—Bạch Thế Tôn, không.
SC 72—Chư Tỷ-kheo, các hành là thường hay vô thường … chư Tỷ-kheo, thức là thường hay vô thường?
SC 73—Bạch Thế Tôn, vô thường.
SC 74—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Bạch Thế Tôn, khổ.
SC 75- Cái gì vô thường, khổ thì có hợp lý chăng, khi chánh quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
—Bạch Thế Tôn, không.
SC 76—Do vậy, này các Tỷ-kheo, bất cứ các sắc pháp nào, quá khứ, tương lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả sắc pháp là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”, cần phải như thật quán với chánh trí tuệ. Bất cứ cảm thọ nào … Bất cứ tưởng nào … Bất cứ hành nào … Bất cứ thức nào, quá khứ, vị lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả thức là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”, cần phải như thật quán với chánh trí tuệ.
SC 77Chư Tỷ-kheo, nhờ thấy vậy, vị Ða văn Thánh đệ tử yểm ly đối với sắc, yểm ly đối với thọ, yểm ly đối với tưởng, yểm ly đối với hành, yểm ly đối với thức, do yểm ly nên ly tham, do ly tham, nên được giải thoát, trong sự giải thoát có trí khởi lên, biết được đã giải thoát. Vị ấy biết: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, không còn trở lui tại đây với một đời sống khác”.
SC 78Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là vị đã vất bỏ đi các chướng ngại vật, là vị đã lấp đầy các thông hào, là vị đã nhổ lên cột trụ, là vị đã mở tung các lề khóa, là bậc Thánh đã hạ cây cờ xuống, đã đặt gánh nặng xuống, không có gì hệ lụy.
SC 79Và thế nào là Tỷ-kheo đã vất bỏ đi các chướng ngại? Ở đây, này các Tỷ-kheo, là đã đoạn trừ vô minh, cắt tận gốc rễ, làm cho như cây ta-la bị chặt đầu, khiến không thể tái sanh trong tương lai, không có khả năng sanh khởi. Chư Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo đã vất bỏ đi các chướng ngại.
SC 80Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo đã lấp đầy các thông hào? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đã đoạn trừ tái sanh và sự luân chuyển sanh tử, đã cắt tận gốc rễ, làm cho như cây ta-la bị chặt đầu, khiến không thể tái sanh trong tương lai, không có khả năng sanh khởi. Chư Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo đã lấp đầy thông hào.
SC 81Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo đã nhổ lên cột trụ? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đã đoạn trừ khát ái, đã cắt tận gốc rễ, làm cho như cây ta-la bị chặt đầu, khiến không thể tái sanh trong tương lai, không có khả năng sanh khởi. Chư Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo đã nhổ lên cột trụ.
SC 82Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo đã mở tung các lề khóa? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đã đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, đã cắt tận gốc rễ, làm cho như cây ta-la bị chặt đầu, khiến không thể tái sanh trong tương lai, không có khả năng sanh khởi. Chư Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo đã mở tung các lề khóa.
SC 83Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo bậc Thánh, đã hạ cây cờ xuống, đã đặt gánh nặng xuống, không có gì hệ lụy? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đã đoạn trừ ngã mạn, đã cắt tận gốc rễ, làm cho như cây ta-la bị chặt đầu, khiến không thể tái sanh trong tương lai, không có khả năng sanh khởi. Chư Tỷ-kheo, như vậy là vị Tỷ-kheo bậc Thánh, đã hạ cây cờ xuống, đã đặt gánh nặng xuống, không có gì hệ lụy.
SC 84Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đã giải thoát như vậy, thì chư Thiên ở Ðế thích Thiên giới, Phạm thiên giới, Sanh chủ giới sẽ không tìm được dấu vết của Tỷ-kheo ấy, nếu nghĩ rằng: “Y ở đây, có thức của Như Lai”. Vì sao vậy? Chư Tỷ-kheo, Ta nói ngay ở hiện tại, một Như Lai không thể tìm thấy dấu vết”.
SC 85Chư Tỷ-kheo, Ta nói như vậy, thuyết như vậy, một số Sa-môn, Bà-la-môn xuyên tạc Ta một cách phi chơn, hồ đồ, hư vọng, không thực: “Sa-môn Gotama chủ trương chủ nghĩa hư vô, đề cao đoạn diệt, hủy diệt, sự tiêu diệt các hữu tình”. Nhưng này các Tỷ-kheo, Ta không là như vậy, Ta không nói như vậy, Ta không như các Sa-môn, Bà-la-môn ấy đã xuyên tạc một cách phi chơn, hồ đồ, hư vọng, không thật: “Sa-môn Gotama chủ trương chủ nghĩa hư vô, đề cao đoạn diệt, hủy diệt, sự tiêu diệt các hữu tình”.
SC 86Chư Tỷ-kheo, xưa cũng như nay, Ta chỉ nói lên sự khổ và sự diệt khổ. Chư Tỷ-kheo, nếu ở đây những người khác nhiếc mắng, phỉ báng, làm cho Như Lai tức giận, thì này các Tỷ-kheo, ở đây, Như Lai không có sân hận, không có bất mãn, tâm không phẫn nộ. Chư Tỷ-kheo, nếu ở đây, những người khác cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường Như Lai, thì này các Tỷ-kheo, ở đây Như Lai không có hoan hỷ, sung sướng, Tâm không thích thú. Chư Tỷ-kheo, nếu những người khác cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường Như Lai, thì này các Tỷ-kheo, ở đây Như Lai suy nghĩ: “Ðây là điều xưa kia đã từng biết rõ: ở đây là trách nhiệm Ta phải làm”.
SC 87Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu có những người khác nhiếc mắng, phỉ báng, làm cho các Ông tức giận, ở đây các Ông chớ có sân hận, bất mãn, tâm chớ khởi phẫn nộ. Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu có những người khác cung kính, tôn trọng, lễ bái cúng dường các Ông, thì ở đây, các Ông chớ có hoan hỷ, sung sướng, tâm sanh thích thú. Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu có những người khác cung kính, tôn trọng, lễ bái cúng dường các Ông, thì ở đây, các Ông hãy suy nghĩ: “Ðây là điều xưa kia đã từng biết rõ, đây là những trách nhiệm ta phải làm”.
SC 88Do vậy, này các Tỷ-kheo, cái gì không phải của các Ông, các Ông hãy từ bỏ. Các Ông từ bỏ, sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông. Chư Tỷ-kheo, cái gì không phải của các Ông? Chư Tỷ-kheo, sắc không phải của các Ông, hãy từ bỏ sắc. Các Ông từ bỏ sắc sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông. Chư Tỷ-kheo, thọ không phải của các Ông, hãy từ bỏ thọ. Các Ông từ bỏ thọ sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông. Chư Tỷ-kheo, tưởng không phải của các Ông, hãy từ bỏ tưởng. Các Ông từ bỏ tưởng sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông. Chư Tỷ-kheo, các hành không phải của các Ông, hãy từ bỏ các hành. Các Ông từ bỏ các hành sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông. Chư Tỷ-kheo, thức không phải của các Ông, hãy từ bỏ thức. Các Ông từ bỏ thức sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông.
SC 89Chư Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Trong rừng Jetavana này, nếu có người thâu lượm cỏ, cây, nhành, lá rồi đốt hay làm với chúng tùy theo ý muốn, các Ông có nghĩ chăng? Người ấy thâu lượm chúng ta, đốt chúng ta hay làm với chúng ta tùy theo ý muốn?
SC 90—Bạch Thế Tôn, không. Vì sao vậy? Bạch Thế Tôn, vì nó không phải tự ngã hay không phải sở thuộc của ngã.
SC 91—Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cái gì không phải của các Ông, các Ông hãy từ bỏ. Các Ông từ bỏ sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông. Chư Tỷ-kheo, và cái gì không phải của các Ông? Chư Tỷ-kheo, sắc không phải của các Ông, hãy từ bỏ sắc. Các Ông từ bỏ sắc sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông. Chư Tỷ-kheo, thọ … (như trên) … Chư Tỷ-kheo tưởng … (như trên) … Chư Tỷ-kheo, hành … Chư Tỷ-kheo, thức không phải của các Ông, hãy từ bỏ thức. Các Ông từ bỏ thức sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông.
SC 92Chư Tỷ-kheo, như vậy, pháp được Ta khéo giảng, làm cho tỏ lộ, làm cho khai thông, làm cho khai thị, được loại trừ các vải quấn cũ. Chư Tỷ-kheo, vì pháp được Ta khéo giảng, làm tỏ lộ, làm cho khai thông, làm cho khai thị, được loại trừ các vải quấn cũ, nên những vị Tỷ-kheo, là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, tu hành thành mãn, việc nên làm đã làm, gánh nặng đã đặt xuống, lý tưởng đã thành đạt, hữu kiết sử đã đoạn trừ, được giải thoát nhờ chánh trí, vòng luân chuyển (sanh tử) của những vị này không thể chỉ bày.
SC 93Chư Tỷ-kheo, như vậy, pháp được Ta khéo giảng … được loại trừ các vải quấn cũ. Chư Tỷ-kheo, vì pháp được Ta khéo giảng, được loại trừ các vải quấn cũ, nên những Tỷ-kheo nào đã đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, thì những vị này thành các vị hóa sanh, nhập diệt tại đây, không còn phải trở lui vào đời này nữa.
SC 94Chư Tỷ-kheo, như vậy, pháp được Ta khéo giảng … được loại trừ các vãi quấn cũ. Chư Tỷ-kheo, vì pháp được Ta khéo giảng … được loại trừ các vải quấn cũ, nên những Tỷ-kheo nào đã đoạn trừ ba kiết sử, đã làm cho muội lược tham sân si, thì tất cả những vị ấy thành bậc Nhất lai, chỉ đến đời này một lần nữa sẽ diệt tận khổ đau.
SC 95Chư Tỷ-kheo, như vậy, pháp được Ta khéo giảng … được loại trừ các vãi quấn cũ. Chư Tỷ-kheo, vì pháp được Ta khéo giảng … được loại trừ các vải quấn cũ, nên những Tỷ-kheo nào đoạn trừ ba kiết sử, thì tất cả những vị ấy trở thành bậc Dự lưu, không còn bị đọa lạc ác thú, quyết định hướng đến chánh giác.
SC 96Chư Tỷ-kheo, như vậy, pháp được Ta khéo giảng … được loại trừ các vải quấn cũ. Chư Tỷ-kheo, vì pháp được ta khéo giảng … được loại trừ các vải quấn cũ, nên những Tỷ-kheo nào là những vị tùy pháp hành, tùy tín hành, thì tất cả những vị này sẽ hướng về chánh giác.
SC 97Chư Tỷ-kheo, như vậy pháp được Ta khéo giảng … được loại trừ khỏi các vải quấn cũ. Chư Tỷ-kheo, vì pháp được Ta khéo giảng, làm cho tỏ lộ, làm cho khai thông, làm cho khai thị, được loại trừ các vải quấn cũ, nên những vị nào chỉ đủ lòng tin nơi Ta, chỉ đủ lòng thương mến đối với Ta, thì tất cả những vị ấy được hướng về chư Thiên.
SC 98Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Những Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 11–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
2. Kinh Ví Dụ Con Rắn Nước
Tena kho pana samayena ariṭṭhassa nāma bhikkhuno gaddhabādhipubbassa evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ hoti: “tathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi yathā yeme antarāyikā dhammā vuttā bhagavatā te paṭisevato nālaṁ antarāyāyā”ti.
Assosuṁ kho sambahulā bhikkhū: “ariṭṭhassa kira nāma bhikkhuno gaddhabādhipubbassa evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ: ‘tathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi yathā yeme antarāyikā dhammā vuttā bhagavatā te paṭisevato nālaṁ antarāyāyā’”ti. Atha kho te bhikkhū yena ariṭṭho bhikkhu gaddhabādhipubbo tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā ariṭṭhaṁ bhikkhuṁ gaddhabādhipubbaṁ etadavocuṁ: “saccaṁ kira te, āvuso ariṭṭha, evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ: ‘tathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi yathā yeme antarāyikā dhammā vuttā bhagavatā te paṭisevato nālaṁ antarāyāyā’”ti.
Now at that time a mendicant named Ariṭṭha, who had previously been a vulture trapper, had the following harmful misconception: “As I understand the Buddha’s teaching, the acts that he says are obstructions are not really obstructions for the one who performs them.”
Several mendicants heard this rumour. They went up to Ariṭṭha and said to him, “Is it really true, Reverend Ariṭṭha, that you have such a harmful misconception: ‘As I understand the Buddha’s teaching, the acts that he says are obstructions are not really obstructions for the one who performs them’?”
234. Tôi nghe như vầy – một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của Anāthapiṇḍika. Bấy giờ, có một tỳ khưu tên là Ariṭṭha, trước kia là người huấn luyện kên kên, đã khởi lên tà kiến như sau: “Theo như ta hiểu Pháp do Thế Tôn thuyết giảng, những pháp được Thế Tôn gọi là các chướng ngại pháp, khi thực hành chúng, không đủ để gây ra chướng ngại.” Nhiều tỳ khưu đã nghe rằng: “Tỳ khưu tên là Ariṭṭha, trước kia là người huấn luyện kên kên, đã khởi lên tà kiến như sau: ‘Theo như ta hiểu Pháp do Thế Tôn thuyết giảng, những pháp được Thế Tôn gọi là các chướng ngại pháp, khi thực hành chúng, không đủ để gây ra chướng ngại.’” Bấy giờ, các tỳ khưu ấy đi đến chỗ tỳ khưu Ariṭṭha, trước kia là người huấn luyện kên kên; sau khi đến, họ nói với tỳ khưu Ariṭṭha, trước kia là người huấn luyện kên kên, điều này: “Này hiền giả Ariṭṭha, có thật chăng hiền giả đã khởi lên tà kiến như sau: ‘Theo như ta hiểu Pháp do Thế Tôn thuyết giảng, những pháp được Thế Tôn gọi là các chướng ngại pháp, khi thực hành chúng, không đủ để gây ra chướng ngại’?” “Đúng vậy, chư hiền giả, theo như tôi hiểu Pháp do Thế Tôn thuyết giảng, những pháp được Thế Tôn gọi là các chướng ngại pháp, khi thực hành chúng, không đủ để gây ra chướng ngại.”
“Evaṁ byā kho ahaṁ, āvuso, bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi yathā yeme antarāyikā dhammā vuttā bhagavatā te paṭisevato nālaṁ antarāyāyā”ti.
Atha kho tepi bhikkhū ariṭṭhaṁ bhikkhuṁ gaddhabādhipubbaṁ etasmā pāpakā diṭṭhigatā vivecetukāmā samanuyuñjanti samanugāhanti samanubhāsanti: “mā hevaṁ, āvuso ariṭṭha, avaca, mā bhagavantaṁ abbhācikkhi; na hi sādhu bhagavato abbhakkhānaṁ, na hi bhagavā evaṁ vadeyya. Anekapariyāyenāvuso ariṭṭha, antarāyikā dhammā antarāyikā vuttā bhagavatā, alañca pana te paṭisevato antarāyāya. Appassādā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo. Aṭṭhikaṅkalūpamā kāmā vuttā bhagavatā … maṁsapesūpamā kāmā vuttā bhagavatā … tiṇukkūpamā kāmā vuttā bhagavatā … aṅgārakāsūpamā kāmā vuttā bhagavatā … supinakūpamā kāmā vuttā bhagavatā … yācitakūpamā kāmā vuttā bhagavatā … rukkhaphalūpamā kāmā vuttā bhagavatā … asisūnūpamā kāmā vuttā bhagavatā … sattisūlūpamā kāmā vuttā bhagavatā … sappasirūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo”ti.
Evampi kho ariṭṭho bhikkhu gaddhabādhipubbo tehi bhikkhūhi samanuyuñjiyamāno samanugāhiyamāno samanubhāsiyamāno tadeva pāpakaṁ diṭṭhigataṁ thāmasā parāmāsā abhinivissa voharati: “evaṁ byā kho ahaṁ, āvuso, bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi yathā yeme antarāyikā dhammā vuttā bhagavatā te paṭisevato nālaṁ antarāyāyā”ti.
“Indeed, reverends. As I understand the Buddha’s teaching, the acts that he says are obstructions are not really obstructions for the one who performs them.”
Then, wishing to dissuade Ariṭṭha from his view, the mendicants pursued, pressed, and grilled him, “Don’t say that, Ariṭṭha! Don’t misrepresent the Buddha, for misrepresentation of the Buddha is not good. And the Buddha would not say that. In many ways the Buddha has said that obstructive acts are obstructive, and that they really do obstruct the one who performs them. The Buddha says that sensual pleasures give little gratification and much suffering and distress, and they are all the more full of drawbacks. With the similes of a skeleton … a scrap of meat … a grass torch … a pit of glowing coals … a dream … borrowed goods … fruit on a tree … a butcher’s knife and chopping board … swords and spears … a cobra’s head, the Buddha says that sensual pleasures give little gratification and much suffering and distress, and they are all the more full of drawbacks.”
But even though the mendicants pursued, pressed, and grilled him in this way, Ariṭṭha obstinately stuck to his misconception and insisted on it.
Bấy giờ, các tỳ khưu ấy, vì muốn tỳ khưu Ariṭṭha, trước kia là người huấn luyện kên kên, từ bỏ tà kiến ấy, nên đã thẩm vấn, tra hỏi, và chất vấn: “Này hiền giả Ariṭṭha, đừng nói như vậy, đừng xuyên tạc Thế Tôn; vì xuyên tạc Thế Tôn là không tốt, Thế Tôn đã không nói như vậy. Này hiền giả Ariṭṭha, bằng nhiều phương cách, các chướng ngại pháp đã được Thế Tôn tuyên bố là chướng ngại, và chúng quả thật đủ để gây ra chướng ngại cho người thực hành. Các dục đã được Thế Tôn tuyên bố là ít vị ngọt, nhiều đau khổ, nhiều phiền não, sự nguy hiểm ở đây càng nhiều hơn. Các dục đã được Thế Tôn tuyên bố là ví như khúc xương... ví như miếng thịt... ví như bó đuốc cỏ... ví như hố than hừng... ví như giấc mộng... ví như đồ vay mượn... ví như trái cây... ví như lò mổ... ví như cọc nhọn... ví như đầu rắn, nhiều đau khổ, nhiều phiền não, sự nguy hiểm ở đây càng nhiều hơn.” Dù đã được các tỳ khưu ấy thẩm vấn, tra hỏi, và chất vấn như vậy, tỳ khưu Ariṭṭha, trước kia là người huấn luyện kên kên, vẫn ngoan cố, chấp chặt, và khăng khăng giữ lấy tà kiến ấy, nói rằng: “Đúng vậy, chư hiền giả, theo như tôi hiểu Pháp do Thế Tôn thuyết giảng, những pháp được Thế Tôn gọi là các chướng ngại pháp, khi thực hành chúng, không đủ để gây ra chướng ngại.”
Yato kho te bhikkhū nāsakkhiṁsu ariṭṭhaṁ bhikkhuṁ gaddhabādhipubbaṁ etasmā pāpakā diṭṭhigatā vivecetuṁ, atha kho te bhikkhū yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ: “ariṭṭhassa nāma, bhante, bhikkhuno gaddhabādhipubbassa evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ: ‘tathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi yathā yeme antarāyikā dhammā vuttā bhagavatā te paṭisevato nālaṁ antarāyāyā’ti. Assumha kho mayaṁ, bhante: ‘ariṭṭhassa kira nāma bhikkhuno gaddhabādhipubbassa evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ—tathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi yathā yeme antarāyikā dhammā vuttā bhagavatā te paṭisevato nālaṁ antarāyāyā’ti.
Atha kho mayaṁ, bhante, yena ariṭṭho bhikkhu gaddhabādhipubbo tenupasaṅkamimha; upasaṅkamitvā ariṭṭhaṁ bhikkhuṁ gaddhabādhipubbaṁ etadavocumha: ‘saccaṁ kira te, āvuso ariṭṭha, evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ—tathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi yathā yeme antarāyikā dhammā vuttā bhagavatā te paṭisevato nālaṁ antarāyāyā’ti?
When they weren’t able to dissuade Ariṭṭha from his view, the mendicants went to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened.
235. Khi các tỳ khưu ấy không thể làm cho tỳ khưu Ariṭṭha, trước kia là người huấn luyện kên kên, từ bỏ tà kiến ấy, bấy giờ họ đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, họ đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các tỳ khưu ấy bạch với Thế Tôn điều này: “Bạch Thế Tôn, tỳ khưu tên là Ariṭṭha, trước kia là người huấn luyện kên kên, đã khởi lên tà kiến như sau: ‘Theo như con hiểu Pháp do Thế Tôn thuyết giảng, những pháp được Thế Tôn gọi là các chướng ngại pháp, khi thực hành chúng, không đủ để gây ra chướng ngại.’ Bạch Thế Tôn, chúng con đã nghe rằng: ‘Tỳ khưu tên là Ariṭṭha, trước kia là người huấn luyện kên kên, đã khởi lên tà kiến như sau: “Theo như con hiểu Pháp do Thế Tôn thuyết giảng, những pháp được Thế Tôn gọi là các chướng ngại pháp, khi thực hành chúng, không đủ để gây ra chướng ngại.”’ Bấy giờ, bạch Thế Tôn, chúng con đi đến chỗ tỳ khưu Ariṭṭha, trước kia là người huấn luyện kên kên; sau khi đến, chúng con nói với tỳ khưu Ariṭṭha, trước kia là người huấn luyện kên kên, điều này: ‘Có thật chăng, này hiền giả Ariṭṭha, hiền giả đã khởi lên tà kiến như sau: “Theo như con hiểu Pháp do Thế Tôn thuyết giảng, những pháp được Thế Tôn gọi là các chướng ngại pháp, khi thực hành chúng, không đủ để gây ra chướng ngại”?’”
Evaṁ vutte, bhante, ariṭṭho bhikkhu gaddhabādhipubbo amhe etadavoca: ‘evaṁ byā kho ahaṁ, āvuso, bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi yathā yeme antarāyikā dhammā vuttā bhagavatā te paṭisevato nālaṁ antarāyāyā’ti. Atha kho mayaṁ, bhante, ariṭṭhaṁ bhikkhuṁ gaddhabādhipubbaṁ etasmā pāpakā diṭṭhigatā vivecetukāmā samanuyuñjimha samanugāhimha samanubhāsimha: ‘mā hevaṁ, āvuso ariṭṭha, avaca, mā bhagavantaṁ abbhācikkhi; na hi sādhu bhagavato abbhakkhānaṁ, na hi bhagavā evaṁ vadeyya. Anekapariyāyenāvuso ariṭṭha, antarāyikā dhammā antarāyikā vuttā bhagavatā, alañca pana te paṭisevato antarāyāya. Appassādā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo. Aṭṭhikaṅkalūpamā kāmā vuttā bhagavatā …pe… sappasirūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo’ti.
Evampi kho, bhante, ariṭṭho bhikkhu gaddhabādhipubbo amhehi samanuyuñjiyamāno samanugāhiyamāno samanubhāsiyamāno tadeva pāpakaṁ diṭṭhigataṁ thāmasā parāmāsā abhinivissa voharati: ‘evaṁ byā kho ahaṁ, āvuso, bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi yathā yeme antarāyikā dhammā vuttā bhagavatā te paṭisevato nālaṁ antarāyāyā’ti. Yato kho mayaṁ, bhante, nāsakkhimha ariṭṭhaṁ bhikkhuṁ gaddhabādhipubbaṁ etasmā pāpakā diṭṭhigatā vivecetuṁ, atha mayaṁ etamatthaṁ bhagavato ārocemā”ti.
Bạch Thế Tôn, khi được hỏi như vậy, Tỳ khưu Ariṭṭha, trước kia là người huấn luyện kên kên, đã nói với chúng con rằng: ‘Thưa chư hiền, tôi hiểu Pháp do Thế Tôn thuyết giảng như thế này: những pháp được Thế Tôn gọi là các chướng ngại pháp, khi thực hành chúng thì không đủ để gây ra chướng ngại.’ Bạch Thế Tôn, sau đó, chúng con, vì muốn Tỳ khưu Ariṭṭha, trước kia là người huấn luyện kên kên, từ bỏ tà kiến xấu xa ấy, đã gạn hỏi, thẩm vấn, và chất vấn rằng: ‘Này hiền giả Ariṭṭha, chớ có nói như vậy, chớ có xuyên tạc Thế Tôn. Việc xuyên tạc Thế Tôn là không tốt. Thế Tôn sẽ không nói như vậy. Này hiền giả Ariṭṭha, bằng nhiều phương tiện, các chướng ngại pháp đã được Thế Tôn tuyên bố là chướng ngại, và khi thực hành chúng thì đủ để gây ra chướng ngại. Các dục đã được Thế Tôn tuyên bố là ít vị ngọt, nhiều đau khổ, nhiều phiền não; ở đây, sự nguy hiểm là nhiều hơn. Các dục đã được Thế Tôn tuyên bố ví như bộ xương khô... ví như đầu rắn, nhiều đau khổ, nhiều phiền não; ở đây, sự nguy hiểm là nhiều hơn.’ Bạch Thế Tôn, dù đã được chúng con gạn hỏi, thẩm vấn, và chất vấn như vậy, Tỳ khưu Ariṭṭha, trước kia là người huấn luyện kên kên, vẫn cố chấp, bám víu, và khăng khăng giữ lấy tà kiến xấu xa ấy, và nói rằng: ‘Thưa chư hiền, tôi hiểu Pháp do Thế Tôn thuyết giảng như thế này: những pháp được Thế Tôn gọi là các chướng ngại pháp, khi thực hành chúng thì không đủ để gây ra chướng ngại.’ Bạch Thế Tôn, vì chúng con không thể làm cho Tỳ khưu Ariṭṭha, trước kia là người huấn luyện kên kên, từ bỏ tà kiến xấu xa ấy, nên chúng con đã trình báo việc này lên Thế Tôn.
Atha kho bhagavā aññataraṁ bhikkhuṁ āmantesi: “ehi tvaṁ, bhikkhu, mama vacanena ariṭṭhaṁ bhikkhuṁ gaddhabādhipubbaṁ āmantehi: ‘satthā taṁ, āvuso ariṭṭha, āmantetī’”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho so bhikkhu bhagavato paṭissutvā, yena ariṭṭho bhikkhu gaddhabādhipubbo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā ariṭṭhaṁ bhikkhuṁ gaddhabādhipubbaṁ etadavoca: “satthā taṁ, āvuso ariṭṭha, āmantetī”ti.
“Evamāvuso”ti kho ariṭṭho bhikkhu gaddhabādhipubbo tassa bhikkhuno paṭissutvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho ariṭṭhaṁ bhikkhuṁ gaddhabādhipubbaṁ bhagavā etadavoca:
“saccaṁ kira te, ariṭṭha, evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ: ‘tathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi yathā yeme antarāyikā dhammā vuttā bhagavatā te paṭisevato nālaṁ antarāyāyā’”ti?
So the Buddha addressed one of the monks, “Please, monk, in my name tell the mendicant Ariṭṭha, formerly a vulture trapper, that the Teacher summons him.”
“Yes, sir,” that monk replied. He went to Ariṭṭha and said to him, “Reverend Ariṭṭha, the Teacher summons you.”
“Yes, reverend,” Ariṭṭha replied. He went to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to him,
“Is it really true, Ariṭṭha, that you have such a harmful misconception: ‘As I understand the Buddha’s teaching, the acts that he says are obstructions are not really obstructions for the one who performs them’?”
236. Khi ấy, Thế Tôn gọi một Tỳ khưu và bảo: ‘Này Tỳ khưu, hãy đi, nhân danh Ta, hãy gọi Tỳ khưu Ariṭṭha, trước kia là người huấn luyện kên kên, và nói: ‘Hiền giả Ariṭṭha, Bậc Đạo Sư cho gọi hiền giả.’’ ‘Vâng, bạch Thế Tôn.’ Vị Tỳ khưu ấy vâng lời Thế Tôn, đi đến chỗ Tỳ khưu Ariṭṭha, trước kia là người huấn luyện kên kên; sau khi đến, vị ấy nói với Tỳ khưu Ariṭṭha, trước kia là người huấn luyện kên kên: ‘Hiền giả Ariṭṭha, Bậc Đạo Sư cho gọi hiền giả.’ ‘Vâng, thưa hiền giả.’ Tỳ khưu Ariṭṭha, trước kia là người huấn luyện kên kên, đáp lời vị Tỳ khưu ấy, rồi đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi Tỳ khưu Ariṭṭha, trước kia là người huấn luyện kên kên, đã ngồi xuống một bên, Thế Tôn nói với vị ấy rằng: ‘Này Ariṭṭha, có thật chăng một tà kiến xấu xa như thế này đã khởi lên nơi ngươi: ‘Tôi hiểu Pháp do Thế Tôn thuyết giảng như thế này: những pháp được Thế Tôn gọi là các chướng ngại pháp, khi thực hành chúng thì không đủ để gây ra chướng ngại.’?’
“Evaṁ byā kho ahaṁ, bhante, bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi: ‘yathā yeme antarāyikā dhammā vuttā bhagavatā te paṭisevato nālaṁ antarāyāyā’”ti.
“Kassa kho nāma tvaṁ, moghapurisa, mayā evaṁ dhammaṁ desitaṁ ājānāsi? Nanu mayā, moghapurisa, anekapariyāyena antarāyikā dhammā antarāyikā vuttā? Alañca pana te paṭisevato antarāyāya. Appassādā kāmā vuttā mayā, bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo. Aṭṭhikaṅkalūpamā kāmā vuttā mayā … maṁsapesūpamā kāmā vuttā mayā … tiṇukkūpamā kāmā vuttā mayā … aṅgārakāsūpamā kāmā vuttā mayā … supinakūpamā kāmā vuttā mayā … yācitakūpamā kāmā vuttā mayā … rukkhaphalūpamā kāmā vuttā mayā … asisūnūpamā kāmā vuttā mayā … sattisūlūpamā kāmā vuttā mayā … sappasirūpamā kāmā vuttā mayā, bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo. Atha ca pana tvaṁ, moghapurisa, attanā duggahitena amhe ceva abbhācikkhasi, attānañca khanasi, bahuñca apuññaṁ pasavasi. Tañhi te, moghapurisa, bhavissati dīgharattaṁ ahitāya dukkhāyā”ti.
“Indeed, sir. As I understand the Buddha’s teaching, the acts that he says are obstructions are not really obstructions for the one who performs them.”
“Futile man, who on earth have you ever known me to teach in that way? Haven’t I said in many ways that obstructive acts are obstructive, and that they really do obstruct the one who performs them? I’ve said that sensual pleasures give little gratification and much suffering and distress, and they are all the more full of drawbacks. With the similes of a skeleton … a scrap of meat … a grass torch … a pit of glowing coals … a dream … borrowed goods … fruit on a tree … a butcher’s knife and chopping board … swords and spears … a cobra’s head, I’ve said that sensual pleasures give little gratification and much suffering and distress, and they are all the more full of drawbacks. But still you misrepresent me by your wrong grasp, harm yourself, and brim with much wickedness. This will be for your lasting harm and suffering.”
‘Bạch Thế Tôn, quả thật con hiểu Pháp do Thế Tôn thuyết giảng như thế này: những pháp được Thế Tôn gọi là các chướng ngại pháp, khi thực hành chúng thì không đủ để gây ra chướng ngại.’ ‘Này kẻ ngu kia, ngươi đã nghe Ta thuyết giảng Pháp như vậy cho ai? Này kẻ ngu kia, chẳng phải Ta đã bằng nhiều phương tiện tuyên bố các chướng ngại pháp là chướng ngại hay sao? Và khi thực hành chúng thì đủ để gây ra chướng ngại. Chẳng phải Ta đã tuyên bố các dục là ít vị ngọt, nhiều đau khổ, nhiều phiền não; ở đây, sự nguy hiểm là nhiều hơn hay sao? Chẳng phải Ta đã tuyên bố các dục ví như bộ xương khô... ví như miếng thịt... ví như bó đuốc cỏ... ví như hố than hừng... ví như giấc mộng... ví như đồ vay mượn... ví như cây có quả... ví như cái thớt... ví như cây cọc nhọn... ví như đầu rắn, nhiều đau khổ, nhiều phiền não; ở đây, sự nguy hiểm là nhiều hơn hay sao? Thế mà, này kẻ ngu kia, do ngươi đã nắm giữ sai lạc, ngươi vừa xuyên tạc chúng Ta, vừa tự đào hố chôn mình, và còn tạo ra nhiều điều vô phước. Này kẻ ngu kia, điều đó sẽ đem lại cho ngươi sự bất hạnh và đau khổ trong một thời gian dài.’
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, api nāyaṁ ariṭṭho bhikkhu gaddhabādhipubbo usmīkatopi imasmiṁ dhammavinaye”ti?
“Kiñhi siyā, bhante; no hetaṁ, bhante”ti. Evaṁ vutte, ariṭṭho bhikkhu gaddhabādhipubbo tuṇhībhūto maṅkubhūto pattakkhandho adhomukho pajjhāyanto appaṭibhāno nisīdi.
Atha kho bhagavā ariṭṭhaṁ bhikkhuṁ gaddhabādhipubbaṁ tuṇhībhūtaṁ maṅkubhūtaṁ pattakkhandhaṁ adhomukhaṁ pajjhāyantaṁ appaṭibhānaṁ viditvā ariṭṭhaṁ bhikkhuṁ gaddhabādhipubbaṁ etadavoca: “paññāyissasi kho tvaṁ, moghapurisa, etena sakena pāpakena diṭṭhigatena. Idhāhaṁ bhikkhū paṭipucchissāmī”ti.
Then the Buddha said to the mendicants, “What do you think, mendicants? Has this mendicant Ariṭṭha kindled even a spark of ardor in this teaching and training?”
“How could that be, sir? No, sir.” When this was said, Ariṭṭha sat silent, dismayed, shoulders drooping, downcast, depressed, with nothing to say.
Knowing this, the Buddha said, “Futile man, you will be known by your own harmful misconception. I’ll question the mendicants about this.”
Khi ấy, Thế Tôn nói với các Tỳ khưu: ‘Này các Tỳ khưu, các ngươi nghĩ thế nào? Tỳ khưu Ariṭṭha này, trước kia là người huấn luyện kên kên, có được chút hơi ấm nào trong Pháp và Luật này không?’ ‘Làm sao có được, bạch Thế Tôn? Thưa không, bạch Thế Tôn.’ Khi được nói như vậy, Tỳ khưu Ariṭṭha, trước kia là người huấn luyện kên kên, ngồi im lặng, bối rối, vai rũ, cúi đầu, trầm ngâm, không thể đáp lời. Khi ấy, Thế Tôn, biết được Tỳ khưu Ariṭṭha, trước kia là người huấn luyện kên kên, đang im lặng, bối rối, vai rũ, cúi đầu, trầm ngâm, không thể đáp lời, liền nói với Tỳ khưu Ariṭṭha, trước kia là người huấn luyện kên kên: ‘Này kẻ ngu kia, ngươi sẽ được biết đến bởi chính tà kiến xấu xa này của ngươi. Bây giờ Ta sẽ hỏi các Tỳ khưu ở đây.’
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “tumhepi me, bhikkhave, evaṁ dhammaṁ desitaṁ ājānātha yathāyaṁ ariṭṭho bhikkhu gaddhabādhipubbo attanā duggahitena amhe ceva abbhācikkhati, attānañca khanati, bahuñca apuññaṁ pasavatī”ti?
“No hetaṁ, bhante. Anekapariyāyena hi no, bhante, antarāyikā dhammā antarāyikā vuttā bhagavatā; alañca pana te paṭisevato antarāyāya. Appassādā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo. Aṭṭhikaṅkalūpamā kāmā vuttā bhagavatā …pe… sappasirūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo”ti.
“Sādhu sādhu, bhikkhave, sādhu, kho me tumhe, bhikkhave, evaṁ dhammaṁ desitaṁ ājānātha. Anekapariyāyena hi kho, bhikkhave, antarāyikā dhammā vuttā mayā, alañca pana te paṭisevato antarāyāya.
Appassādā kāmā vuttā mayā, bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo. Aṭṭhikaṅkalūpamā kāmā vuttā mayā …pe… sappasirūpamā kāmā vuttā mayā, bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo. Atha ca panāyaṁ ariṭṭho bhikkhu gaddhabādhipubbo attanā duggahitena amhe ceva abbhācikkhati, attānañca khanati, bahuñca apuññaṁ pasavati. Tañhi tassa moghapurisassa bhavissati dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya. So vata, bhikkhave, aññatreva kāmehi aññatra kāmasaññāya aññatra kāmavitakkehi kāme paṭisevissatīti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Then the Buddha said to the mendicants, “Mendicants, do you understand my teaching as Ariṭṭha does, when he misrepresents me by his wrong grasp, harms himself, and brims with much wickedness?”
“No, sir. For in many ways the Buddha has told us that obstructive acts are obstructive, and that they really do obstruct the one who performs them. The Buddha has said that sensual pleasures give little gratification and much suffering and distress, and they are all the more full of drawbacks. With the similes of a skeleton … a cobra’s head, the Buddha has said that sensual pleasures give little gratification and much suffering and distress, and they are all the more full of drawbacks.”
“Good, good, mendicants! It’s good that you understand my teaching like this. For in many ways I have said that obstructive acts are obstructive …
I’ve said that sensual pleasures give little gratification and much suffering and distress, and they are all the more full of drawbacks. But still this Ariṭṭha misrepresents me by his wrong grasp, harms himself, and brims with much wickedness. This will be for his lasting harm and suffering. Truly, mendicants, it is quite impossible to perform sensual acts without sensual desires, sensual perceptions, and sensual thoughts.
237. Bấy giờ, Thế Tôn gọi các Tỳ khưu: "Này các Tỳ khưu, có phải các ngươi cũng hiểu Pháp do ta thuyết giảng giống như Tỳ khưu Ariṭṭha này, người trước kia làm nghề huấn luyện kên kên, do tự mình chấp thủ sai lầm mà đã xuyên tạc Như Lai, tự đào bới (chính mình), và tạo ra nhiều điều bất thiện không?" "Bạch Thế Tôn, không phải vậy. Bạch Thế Tôn, quả thật, bằng nhiều phương diện, các pháp chướng ngại đã được Thế Tôn nói là chướng ngại; và chúng quả thật đủ để gây ra chướng ngại cho người thực hành chúng. Các dục đã được Thế Tôn nói là ít vị ngọt, nhiều đau khổ, nhiều phiền não, sự nguy hiểm ở đây lại nhiều hơn. Các dục đã được Thế Tôn nói là ví như khúc xương khô... ví như đầu rắn, nhiều đau khổ, nhiều phiền não, sự nguy hiểm ở đây lại nhiều hơn." "Lành thay, lành thay, này các Tỳ khưu! Lành thay, này các Tỳ khưu, các ngươi đã hiểu Pháp do ta thuyết giảng như vậy. Này các Tỳ khưu, quả thật, bằng nhiều phương diện, các pháp chướng ngại đã được ta nói đến, và chúng quả thật đủ để gây ra chướng ngại cho người thực hành chúng. Các dục đã được ta nói là ít vị ngọt, nhiều đau khổ, nhiều phiền não, sự nguy hiểm ở đây lại nhiều hơn. Các dục đã được ta nói là ví như khúc xương khô... ví như đầu rắn, nhiều đau khổ, nhiều phiền não, sự nguy hiểm ở đây lại nhiều hơn. Thế nhưng, Tỳ khưu Ariṭṭha này, người trước kia làm nghề huấn luyện kên kên, do tự mình chấp thủ sai lầm mà đã xuyên tạc Như Lai, tự đào bới (chính mình), và tạo ra nhiều điều bất thiện. Điều ấy sẽ đem lại bất hạnh và đau khổ lâu dài cho kẻ ngu si ấy. Này các Tỳ khưu, việc một người có thể hưởng thụ các dục (vật chất) mà lại tách rời khỏi các dục (phiền não), tách rời khỏi tưởng về dục, tách rời khỏi tầm về dục — trường hợp này không thể xảy ra."
Idha, bhikkhave, ekacce moghapurisā dhammaṁ pariyāpuṇanti—suttaṁ, geyyaṁ, veyyākaraṇaṁ, gāthaṁ, udānaṁ, itivuttakaṁ, jātakaṁ, abbhutadhammaṁ, vedallaṁ. Te taṁ dhammaṁ pariyāpuṇitvā tesaṁ dhammānaṁ paññāya atthaṁ na upaparikkhanti. Tesaṁ te dhammā paññāya atthaṁ anupaparikkhataṁ na nijjhānaṁ khamanti. Te upārambhānisaṁsā ceva dhammaṁ pariyāpuṇanti itivādappamokkhānisaṁsā ca. Yassa catthāya dhammaṁ pariyāpuṇanti tañcassa atthaṁ nānubhonti. Tesaṁ te dhammā duggahitā dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya saṁvattanti. Taṁ kissa hetu? Duggahitattā, bhikkhave, dhammānaṁ.
Take a futile person who memorizes the teaching—statements, mixed prose & verse, discussions, verses, inspired exclamations, legends, stories of past lives, amazing stories, and elaborations. But they don’t examine the meaning of those teachings with wisdom, and so don’t come to an acceptance of them after deliberation. They memorize the teaching for the sake of finding fault and winning debates. They don’t realize the goal for which they memorized them. Because they’re wrongly grasped, those teachings lead to their lasting harm and suffering. Why is that? Because of their wrong grasp of the teachings.
238. Này các Tỳ khưu, ở đây, có những kẻ ngu si học tập Chánh pháp – Kinh, Ứng tụng, Ký thuyết, Kệ, Cảm hứng ngữ, Như thị ngữ, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, và Phương quảng. Sau khi học tập Chánh pháp ấy, họ không dùng trí tuệ để thẩm sát ý nghĩa của các pháp ấy. Vì không dùng trí tuệ để thẩm sát ý nghĩa, nên các pháp ấy không đưa đến sự kham nhẫn thẩm sát. Họ học tập Chánh pháp chỉ với lợi ích là để chỉ trích và với lợi ích là để thoát khỏi sự tranh luận. Và mục đích mà vì đó họ học tập Chánh pháp, thì họ lại không thể nghiệm được mục đích ấy. Đối với họ, các pháp ấy do bị chấp thủ sai lầm, nên sẽ đưa đến bất hạnh và đau khổ lâu dài. Vì sao vậy? Này các Tỳ khưu, vì đã chấp thủ sai lầm các pháp.
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso alagaddatthiko alagaddagavesī alagaddapariyesanaṁ caramāno. So passeyya mahantaṁ alagaddaṁ. Tamenaṁ bhoge vā naṅguṭṭhe vā gaṇheyya. Tassa so alagaddo paṭiparivattitvā hatthe vā bāhāya vā aññatarasmiṁ vā aṅgapaccaṅge ḍaṁseyya. So tatonidānaṁ maraṇaṁ vā nigaccheyya maraṇamattaṁ vā dukkhaṁ. Taṁ kissa hetu? Duggahitattā, bhikkhave, alagaddassa.
Evameva kho, bhikkhave, idhekacce moghapurisā dhammaṁ pariyāpuṇanti—suttaṁ, geyyaṁ, veyyākaraṇaṁ, gāthaṁ, udānaṁ, itivuttakaṁ, jātakaṁ, abbhutadhammaṁ, vedallaṁ. Te taṁ dhammaṁ pariyāpuṇitvā tesaṁ dhammānaṁ paññāya atthaṁ na upaparikkhanti. Tesaṁ te dhammā paññāya atthaṁ anupaparikkhataṁ na nijjhānaṁ khamanti. Te upārambhānisaṁsā ceva dhammaṁ pariyāpuṇanti itivādappamokkhānisaṁsā ca. Yassa catthāya dhammaṁ pariyāpuṇanti tañcassa atthaṁ nānubhonti. Tesaṁ te dhammā duggahitā dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya saṁvattanti. Taṁ kissa hetu? Duggahitattā, bhikkhave, dhammānaṁ.
Suppose there was a person in need of a cobra. And while wandering in search of a cobra they’d see a big cobra, and grasp it by the coil or the tail. But that cobra would twist back and bite them on the hand or the arm or other major or minor limb, resulting in death or deadly pain. Why is that? Because of their wrong grasp of the cobra.
In the same way, a futile person memorizes the teaching … and those teachings lead to their lasting harm and suffering. Why is that? Because of their wrong grasp of the teachings.
Này các Tỳ khưu, ví như một người đàn ông cần rắn, tìm rắn, đi lang thang để tìm rắn. Người ấy có thể thấy một con rắn lớn. Người ấy có thể bắt nó ở thân hoặc ở đuôi. Con rắn ấy có thể quay lại cắn vào tay, vào cánh tay, hay vào một trong các chi phần lớn nhỏ nào đó của người ấy. Do nhân duyên ấy, người ấy có thể đi đến chỗ chết hoặc chịu đau khổ gần như chết. Vì sao vậy? Này các Tỳ khưu, vì đã bắt rắn sai cách. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, ở đây, có những kẻ ngu si học tập Chánh pháp – Kinh, Ứng tụng, Ký thuyết, Kệ, Cảm hứng ngữ, Như thị ngữ, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, và Phương quảng. Sau khi học tập Chánh pháp ấy, họ không dùng trí tuệ để thẩm sát ý nghĩa của các pháp ấy. Vì không dùng trí tuệ để thẩm sát ý nghĩa, nên các pháp ấy không đưa đến sự kham nhẫn thẩm sát. Họ học tập Chánh pháp chỉ với lợi ích là để chỉ trích và với lợi ích là để thoát khỏi sự tranh luận. Và mục đích mà vì đó họ học tập Chánh pháp, thì họ lại không thể nghiệm được mục đích ấy. Đối với họ, các pháp ấy do bị chấp thủ sai lầm, nên sẽ đưa đến bất hạnh và đau khổ lâu dài. Vì sao vậy? Này các Tỳ khưu, vì đã chấp thủ sai lầm các pháp.
Idha pana, bhikkhave, ekacce kulaputtā dhammaṁ pariyāpuṇanti—suttaṁ, geyyaṁ, veyyākaraṇaṁ, gāthaṁ, udānaṁ, itivuttakaṁ, jātakaṁ, abbhutadhammaṁ, vedallaṁ. Te taṁ dhammaṁ pariyāpuṇitvā tesaṁ dhammānaṁ paññāya atthaṁ upaparikkhanti. Tesaṁ te dhammā paññāya atthaṁ upaparikkhataṁ nijjhānaṁ khamanti. Te na ceva upārambhānisaṁsā dhammaṁ pariyāpuṇanti na itivādappamokkhānisaṁsā ca. Yassa catthāya dhammaṁ pariyāpuṇanti tañcassa atthaṁ anubhonti. Tesaṁ te dhammā suggahitā dīgharattaṁ hitāya sukhāya saṁvattanti. Taṁ kissa hetu? Suggahitattā bhikkhave dhammānaṁ.
Now, take a gentleman who memorizes the teaching—statements, mixed prose & verse, discussions, verses, inspired exclamations, legends, stories of past lives, amazing stories, and elaborations. And once he’s memorized them, he examines their meaning with wisdom, and comes to an acceptance of them after deliberation. He doesn’t memorize the teaching for the sake of finding fault and winning debates. He realizes the goal for which he memorized them. Because they’re correctly grasped, those teachings lead to his lasting welfare and happiness. Why is that? Because of his correct grasp of the teachings.
239. Nhưng ở đây, này các Tỳ khưu, có những thiện nam tử học tập Chánh pháp – Kinh, Ứng tụng, Ký thuyết, Kệ, Cảm hứng ngữ, Như thị ngữ, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, và Phương quảng. Sau khi học tập Chánh pháp ấy, họ dùng trí tuệ để thẩm sát ý nghĩa của các pháp ấy. Vì dùng trí tuệ để thẩm sát ý nghĩa, nên các pháp ấy đưa đến sự kham nhẫn thẩm sát. Họ không học tập Chánh pháp với lợi ích là để chỉ trích, cũng không với lợi ích là để thoát khỏi sự tranh luận. Và mục đích mà vì đó họ học tập Chánh pháp, thì họ thể nghiệm được mục đích ấy. Đối với họ, các pháp ấy do được chấp thủ đúng đắn, nên sẽ đưa đến hạnh phúc và an lạc lâu dài. Vì sao vậy? Này các Tỳ khưu, vì đã chấp thủ đúng đắn các pháp.
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso alagaddatthiko alagaddagavesī alagaddapariyesanaṁ caramāno. So passeyya mahantaṁ alagaddaṁ. Tamenaṁ ajapadena daṇḍena suniggahitaṁ niggaṇheyya. Ajapadena daṇḍena suniggahitaṁ niggahitvā, gīvāya suggahitaṁ gaṇheyya. Kiñcāpi so, bhikkhave, alagaddo tassa purisassa hatthaṁ vā bāhaṁ vā aññataraṁ vā aṅgapaccaṅgaṁ bhogehi paliveṭheyya, atha kho so neva tatonidānaṁ maraṇaṁ vā nigaccheyya maraṇamattaṁ vā dukkhaṁ. Taṁ kissa hetu? Suggahitattā, bhikkhave, alagaddassa.
Evameva kho, bhikkhave, idhekacce kulaputtā dhammaṁ pariyāpuṇanti—suttaṁ, geyyaṁ, veyyākaraṇaṁ, gāthaṁ, udānaṁ, itivuttakaṁ, jātakaṁ, abbhutadhammaṁ, vedallaṁ. Te taṁ dhammaṁ pariyāpuṇitvā tesaṁ dhammānaṁ paññāya atthaṁ upaparikkhanti. Tesaṁ te dhammā paññāya atthaṁ upaparikkhataṁ nijjhānaṁ khamanti. Te na ceva upārambhānisaṁsā dhammaṁ pariyāpuṇanti, na itivādappamokkhānisaṁsā ca. Yassa catthāya dhammaṁ pariyāpuṇanti, tañcassa atthaṁ anubhonti. Tesaṁ te dhammā suggahitā dīgharattaṁ atthāya hitāya sukhāya saṁvattanti. Taṁ kissa hetu? Suggahitattā, bhikkhave, dhammānaṁ.
Tasmātiha, bhikkhave, yassa me bhāsitassa atthaṁ ājāneyyātha, tathā naṁ dhāreyyātha. Yassa ca pana me bhāsitassa atthaṁ na ājāneyyātha, ahaṁ vo tattha paṭipucchitabbo, ye vā panāssu viyattā bhikkhū.
Suppose there was a person in need of a cobra. And while wandering in search of a cobra they’d see a big cobra, and hold it down carefully with a cleft stick. Only then would they correctly grasp it by the neck. And even though that cobra might wrap its coils around that person’s hand or arm or some other major or minor limb, that wouldn’t result in death or deadly pain. Why is that? Because of their correct grasp of the cobra.
In the same way, a gentleman memorizes the teaching … and those teachings lead to his lasting welfare and happiness. Why is that? Because of his correct grasp of the teachings.
So, mendicants, when you understand what I’ve said, you should remember it accordingly. But if I’ve said anything that you don’t understand, you should ask me about it, or some competent mendicants.
“Này các Tỷ kheo, ví như một người đàn ông cần rắn, đi tìm rắn, trong khi lùng sục rắn. Người ấy có thể thấy một con rắn lớn. Người ấy có thể dùng một cây gậy có nạng chận nó xuống, đè nó xuống thật chặt. Sau khi đã dùng cây gậy có nạng đè nó xuống thật chặt, người ấy có thể nắm chặt cổ nó. Này các Tỷ kheo, dầu cho con rắn ấy có thể dùng thân của nó quấn lấy tay, hay cánh tay, hay bất cứ một chi phần nào của người ấy, nhưng người ấy sẽ không vì lý do đó mà phải chết hay chịu đau khổ gần như chết. Vì sao vậy? Này các Tỷ kheo, vì con rắn đã được bắt một cách khéo léo. Cũng vậy, này các Tỷ kheo, ở đây có một số thiện nam tử học Pháp: Kinh, Ứng tụng, Ký thuyết, Kệ ngôn, Cảm hứng ngữ, Như thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, và Phương quảng. Sau khi học Pháp ấy, họ dùng trí tuệ để thẩm sát ý nghĩa của các pháp ấy. Khi họ dùng trí tuệ thẩm sát ý nghĩa, các pháp ấy trở nên sáng tỏ. Họ không học Pháp với mục đích để chỉ trích, cũng không với mục đích để thoát khỏi sự chỉ trích. Và mục đích mà họ học Pháp, họ thể nghiệm được mục đích ấy. Đối với họ, các pháp ấy được khéo nắm giữ, sẽ đưa đến lợi ích, hạnh phúc lâu dài. Vì sao vậy? Này các Tỷ kheo, vì các pháp đã được nắm giữ một cách khéo léo. Vì vậy, này các Tỷ kheo, đối với những lời dạy của Ta mà các ngươi hiểu được ý nghĩa, hãy ghi nhớ nó như vậy. Còn đối với những lời dạy của Ta mà các ngươi không hiểu được ý nghĩa, thì về điều đó, các ngươi nên hỏi lại Ta, hoặc hỏi lại các vị Tỷ kheo có kinh nghiệm.”
Kullūpamaṁ vo, bhikkhave, dhammaṁ desessāmi nittharaṇatthāya, no gahaṇatthāya. Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasikarotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“Seyyathāpi, bhikkhave, puriso addhānamaggappaṭipanno. So passeyya mahantaṁ udakaṇṇavaṁ, orimaṁ tīraṁ sāsaṅkaṁ sappaṭibhayaṁ, pārimaṁ tīraṁ khemaṁ appaṭibhayaṁ; na cassa nāvā santāraṇī uttarasetu vā apārā pāraṁ gamanāya. Tassa evamassa: ‘ayaṁ kho mahāudakaṇṇavo, orimaṁ tīraṁ sāsaṅkaṁ sappaṭibhayaṁ, pārimaṁ tīraṁ khemaṁ appaṭibhayaṁ; natthi ca nāvā santāraṇī uttarasetu vā apārā pāraṁ gamanāya. Yannūnāhaṁ tiṇakaṭṭhasākhāpalāsaṁ saṅkaḍḍhitvā, kullaṁ bandhitvā, taṁ kullaṁ nissāya hatthehi ca pādehi ca vāyamamāno sotthinā pāraṁ uttareyyan’ti. Atha kho so, bhikkhave, puriso tiṇakaṭṭhasākhāpalāsaṁ saṅkaḍḍhitvā, kullaṁ bandhitvā taṁ kullaṁ nissāya hatthehi ca pādehi ca vāyamamāno sotthinā pāraṁ uttareyya. Tassa purisassa uttiṇṇassa pāraṅgatassa evamassa: ‘bahukāro kho me ayaṁ kullo; imāhaṁ kullaṁ nissāya hatthehi ca pādehi ca vāyamamāno sotthinā pāraṁ uttiṇṇo. Yannūnāhaṁ imaṁ kullaṁ sīse vā āropetvā khandhe vā uccāretvā yena kāmaṁ pakkameyyan’ti.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, api nu so puriso evaṅkārī tasmiṁ kulle kiccakārī assā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Kathaṅkārī ca so, bhikkhave, puriso tasmiṁ kulle kiccakārī assa? Idha, bhikkhave, tassa purisassa uttiṇṇassa pāraṅgatassa evamassa: ‘bahukāro kho me ayaṁ kullo; imāhaṁ kullaṁ nissāya hatthehi ca pādehi ca vāyamamāno sotthinā pāraṁ uttiṇṇo. Yannūnāhaṁ imaṁ kullaṁ thale vā ussādetvā udake vā opilāpetvā yena kāmaṁ pakkameyyan’ti. Evaṅkārī kho so, bhikkhave, puriso tasmiṁ kulle kiccakārī assa.
Evameva kho, bhikkhave, kullūpamo mayā dhammo desito nittharaṇatthāya, no gahaṇatthāya. Kullūpamaṁ vo, bhikkhave, dhammaṁ desitaṁ, ājānantehi dhammāpi vo pahātabbā pageva adhammā.
Mendicants, I will teach you a simile of the teaching as a raft: for crossing over, not for holding on. Listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:
“Suppose there was a person traveling along the road. They’d see a large deluge, whose near shore was dubious and perilous, while the far shore was a sanctuary free of peril. But there was no ferryboat or bridge for crossing over. They’d think, ‘Why don’t I gather grass, sticks, branches, and leaves and make a raft? Riding on the raft, and paddling with my hands and feet, I can safely reach the far shore.’ And so they’d do exactly that. And when they’d crossed over to the far shore, they’d think, ‘This raft has been very helpful to me. Riding on the raft, and paddling with my hands and feet, I have safely crossed over to the far shore. Why don’t I hoist it on my head or pick it up on my shoulder and go wherever I want?’
What do you think, mendicants? Would that person be doing what should be done with that raft?”
“No, sir.”
“And what, mendicants, should that person do with the raft? When they’d crossed over they should think, ‘This raft has been very helpful to me. … Why don’t I beach it on dry land or set it adrift on the water and go wherever I want?’ That’s what that person should do with the raft.
In the same way, I have taught a simile of the teaching as a raft: for crossing over, not for holding on. By understanding the simile of the raft, you will even give up the teachings, let alone what is not the teachings.
240. “Này các Tỷ kheo, Ta sẽ thuyết cho các ngươi một pháp môn ví như chiếc bè, để vượt qua, không phải để nắm giữ. Hãy lắng nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.” “Bạch Thế Tôn, vâng ạ.” Các Tỷ kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau: “Này các Tỷ kheo, ví như một người đi trên một đoạn đường dài. Người ấy có thể thấy một vùng nước lớn, bờ bên này đầy nguy hiểm và sợ hãi, bờ bên kia an ổn, không sợ hãi; nhưng không có thuyền để đưa qua, cũng không có cầu để đi từ bờ này sang bờ kia. Người ấy có thể nghĩ như sau: ‘Vùng nước này thật lớn, bờ bên này đầy nguy hiểm và sợ hãi, bờ bên kia an ổn, không sợ hãi; nhưng không có thuyền để đưa qua, cũng không có cầu để đi từ bờ này sang bờ kia. Hay là ta hãy thu gom cỏ, cây, cành và lá, kết lại thành một chiếc bè, rồi nương vào chiếc bè ấy, dùng tay và chân nỗ lực, an toàn vượt qua bờ bên kia.’ Và rồi, này các Tỷ kheo, người ấy thu gom cỏ, cây, cành và lá, kết lại thành một chiếc bè, rồi nương vào chiếc bè ấy, dùng tay và chân nỗ lực, an toàn vượt qua bờ bên kia. Sau khi đã vượt qua, đến bờ bên kia, người ấy có thể nghĩ như sau: ‘Chiếc bè này thật hữu ích cho ta; nương vào chiếc bè này, dùng tay và chân nỗ lực, ta đã an toàn vượt qua bờ bên kia. Hay là ta hãy đội chiếc bè này lên đầu, hoặc vác nó trên vai, rồi đi đến bất cứ nơi nào ta muốn.’ Này các Tỷ kheo, các ngươi nghĩ sao? Người ấy làm như vậy có phải là đã làm điều nên làm đối với chiếc bè ấy không?” “Bạch Thế Tôn, không phải vậy.” “Và người ấy phải làm thế nào, này các Tỷ kheo, mới là làm điều nên làm đối với chiếc bè ấy? Ở đây, này các Tỷ kheo, sau khi đã vượt qua, đến bờ bên kia, người ấy có thể nghĩ như sau: ‘Chiếc bè này thật hữu ích cho ta; nương vào chiếc bè này, dùng tay và chân nỗ lực, ta đã an toàn vượt qua bờ bên kia. Hay là ta hãy kéo chiếc bè này lên bờ, hoặc để nó trôi trên nước, rồi đi đến bất cứ nơi nào ta muốn.’ Này các Tỷ kheo, người ấy làm như vậy mới là đã làm điều nên làm đối với chiếc bè ấy. Cũng vậy, này các Tỷ kheo, Ta đã thuyết pháp môn ví như chiếc bè, để vượt qua, không phải để nắm giữ. Này các Tỷ kheo, các ngươi là những người hiểu rõ pháp môn ví như chiếc bè đã được thuyết giảng, ngay cả các pháp (thiện) cũng phải từ bỏ, huống chi là các phi pháp (bất thiện).”
Chayimāni, bhikkhave, diṭṭhiṭṭhānāni. Katamāni cha? Idha, bhikkhave, assutavā puthujjano ariyānaṁ adassāvī ariyadhammassa akovido ariyadhamme avinīto, sappurisānaṁ adassāvī sappurisadhammassa akovido sappurisadhamme avinīto, rūpaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati; vedanaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati; saññaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati; saṅkhāre ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati; yampi taṁ diṭṭhaṁ sutaṁ mutaṁ viññātaṁ pattaṁ pariyesitaṁ, anuvicaritaṁ manasā tampi ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati; yampi taṁ diṭṭhiṭṭhānaṁ—so loko so attā, so pecca bhavissāmi nicco dhuvo sassato avipariṇāmadhammo, sassatisamaṁ tatheva ṭhassāmīti—tampi ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati.
Sutavā ca kho, bhikkhave, ariyasāvako ariyānaṁ dassāvī ariyadhammassa kovido ariyadhamme suvinīto, sappurisānaṁ dassāvī sappurisadhammassa kovido sappurisadhamme suvinīto, rūpaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati; vedanaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati; saññaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati; saṅkhāre ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati; yampi taṁ diṭṭhaṁ sutaṁ mutaṁ viññātaṁ pattaṁ pariyesitaṁ, anuvicaritaṁ manasā, tampi ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati; yampi taṁ diṭṭhiṭṭhānaṁ—so loko so attā, so pecca bhavissāmi nicco dhuvo sassato avipariṇāmadhammo, sassatisamaṁ tatheva ṭhassāmīti—tampi ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati.
So evaṁ samanupassanto asati na paritassatī”ti.
Mendicants, there are these six grounds for views. What six? Take an unlearned ordinary person who has not seen the noble ones, and is neither skilled nor trained in the teaching of the noble ones. They’ve not seen true persons, and are neither skilled nor trained in the teaching of the true persons. They regard form as: ‘This is mine, I am this, this is my self.’ They also regard feeling … perception … choices … whatever is seen, heard, thought, known, attained, sought, and explored by the mind as: ‘This is mine, I am this, this is my self.’ And as for this ground for views: ‘The cosmos and the self are one and the same. After death I will be that, permanent, everlasting, eternal, imperishable, and will last forever and ever.’ They regard this also as: ‘This is mine, I am this, this is my self.’
But a learned noble disciple has seen the noble ones, and is skilled and trained in the teaching of the noble ones. They’ve seen true persons, and are skilled and trained in the teaching of the true persons. They regard form like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ They also regard feeling … perception … choices … whatever is seen, heard, thought, known, attained, sought, and explored by the mind like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ And the same for this ground for views: ‘The cosmos and the self are one and the same. After death I will be that, permanent, everlasting, eternal, imperishable, and will last forever and ever.’ They also regard like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’
Seeing in this way they’re not anxious about what doesn’t exist.”
241. Này các Tỳ khưu, có sáu trú xứ của tà kiến này. Thế nào là sáu? Này các Tỳ khưu, ở đây, kẻ phàm phu ít nghe, không được thấy các bậc Thánh, không thuần thục Thánh pháp, không tu tập Thánh pháp; không được thấy các bậc chân nhân, không thuần thục pháp của bậc chân nhân, không tu tập pháp của bậc chân nhân; người ấy quán sắc: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’; quán thọ: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’; quán tưởng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’; quán các hành: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’; và đối với những gì được thấy, được nghe, được cảm nhận, được nhận thức, được đạt đến, được tìm cầu, được ý suy tư, người ấy cũng quán rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’; và đối với trú xứ của tà kiến này: ‘Cái gì là thế giới, cái ấy là tự ngã; sau khi chết, tôi sẽ là thường còn, bền vững, vĩnh cửu, không bị biến hoại, tôi sẽ tồn tại mãi mãi giống như sự vĩnh cửu’, người ấy cũng quán rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’. Và này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử có nghe nhiều, được thấy các bậc Thánh, thuần thục Thánh pháp, tu tập Thánh pháp; được thấy các bậc chân nhân, thuần thục pháp của bậc chân nhân, tu tập pháp của bậc chân nhân; vị ấy quán sắc: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi’; quán thọ: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi’; quán tưởng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi’; quán các hành: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi’; và đối với những gì được thấy, được nghe, được cảm nhận, được nhận thức, được đạt đến, được tìm cầu, được ý suy tư, vị ấy cũng quán rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi’; và đối với trú xứ của tà kiến này: ‘Cái gì là thế giới, cái ấy là tự ngã; sau khi chết, tôi sẽ là thường còn, bền vững, vĩnh cửu, không bị biến hoại, tôi sẽ tồn tại mãi mãi giống như sự vĩnh cửu’, vị ấy cũng quán rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi’. Vị ấy, do quán như vậy, không bị lo âu sầu muộn về cái không có thật’.
Evaṁ vutte, aññataro bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca: “siyā nu kho, bhante, bahiddhā asati paritassanā”ti?
“Siyā, bhikkhū”ti—bhagavā avoca. “Idha bhikkhu ekaccassa evaṁ hoti: ‘ahu vata me, taṁ vata me natthi; siyā vata me, taṁ vatāhaṁ na labhāmī’ti. So socati kilamati paridevati urattāḷiṁ kandati sammohaṁ āpajjati. Evaṁ kho, bhikkhu, bahiddhā asati paritassanā hotī”ti.
When he said this, one of the mendicants said to the Buddha, “Sir, can there be anxiety about what doesn’t exist externally?”
“There can, mendicant,” said the Buddha. “It’s when someone thinks, ‘Oh, it once was mine but is mine no more. Oh, it could be mine but I do not get it.’ They sorrow and wail and lament, beating their breast and falling into confusion. That’s how there is anxiety about what doesn’t exist externally.”
242. Khi được nói như vậy, một Tỳ khưu bạch với đức Thế Tôn: ‘Bạch Thế Tôn, có thể có sự lo âu sầu muộn về cái không có thật ở bên ngoài không?’ – ‘Có thể có, này Tỳ khưu,’ đức Thế Tôn đáp. ‘Ở đây, này Tỳ khưu, có người khởi lên ý nghĩ như sau: ‘Than ôi, trước kia ta đã có cái ấy; than ôi, bây giờ ta không có cái ấy. Mong sao ta có được cái ấy; than ôi, ta không thể có được cái ấy.’ Người ấy sầu muộn, mệt mỏi, than khóc, đấm ngực khóc lóc, đi đến mê loạn. Này Tỳ khưu, như vậy là có sự lo âu sầu muộn về cái không có thật ở bên ngoài.’
“Siyā pana, bhante, bahiddhā asati aparitassanā”ti?
“Siyā, bhikkhū”ti—bhagavā avoca. “Idha bhikkhu ekaccassa na evaṁ hoti: ‘ahu vata me, taṁ vata me natthi; siyā vata me, taṁ vatāhaṁ na labhāmī’ti. So na socati na kilamati na paridevati na urattāḷiṁ kandati na sammohaṁ āpajjati. Evaṁ kho, bhikkhu, bahiddhā asati aparitassanā hotī”ti.
“But can there be no anxiety about what doesn’t exist externally?”
“There can, mendicant,” said the Buddha. “It’s when someone doesn’t think, ‘Oh, it once was mine but is mine no more. Oh, it could be mine but I do not get it.’ They don’t sorrow and wail and lament, beating their breast and falling into confusion. That’s how there is no anxiety about what doesn’t exist externally.”
‘Bạch Thế Tôn, có thể có sự không lo âu sầu muộn về cái không có thật ở bên ngoài không?’ – ‘Có thể có, này Tỳ khưu,’ đức Thế Tôn đáp. ‘Ở đây, này Tỳ khưu, có người không khởi lên ý nghĩ như sau: ‘Than ôi, trước kia ta đã có cái ấy; than ôi, bây giờ ta không có cái ấy. Mong sao ta có được cái ấy; than ôi, ta không thể có được cái ấy.’ Người ấy không sầu muộn, không mệt mỏi, không than khóc, không đấm ngực khóc lóc, không đi đến mê loạn. Này Tỳ khưu, như vậy là có sự không lo âu sầu muộn về cái không có thật ở bên ngoài.’
“Siyā nu kho, bhante, ajjhattaṁ asati paritassanā”ti?
“Siyā, bhikkhū”ti—bhagavā avoca. “Idha, bhikkhu, ekaccassa evaṁ diṭṭhi hoti: ‘so loko so attā, so pecca bhavissāmi nicco dhuvo sassato avipariṇāmadhammo, sassatisamaṁ tatheva ṭhassāmī’ti. So suṇāti tathāgatassa vā tathāgatasāvakassa vā sabbesaṁ diṭṭhiṭṭhānādhiṭṭhānapariyuṭṭhānābhinivesānusayānaṁ samugghātāya sabbasaṅkhārasamathāya sabbūpadhipaṭinissaggāya taṇhākkhayāya virāgāya nirodhāya nibbānāya dhammaṁ desentassa. Tassa evaṁ hoti: ‘ucchijjissāmi nāmassu, vinassissāmi nāmassu, nassu nāma bhavissāmī’ti. So socati kilamati paridevati urattāḷiṁ kandati sammohaṁ āpajjati. Evaṁ kho, bhikkhu, ajjhattaṁ asati paritassanā hotī”ti.
“But can there be anxiety about what doesn’t exist internally?”
“There can, mendicant,” said the Buddha. “It’s when someone has such a view: ‘The cosmos and the self are one and the same. After death I will be that, permanent, everlasting, eternal, imperishable, and will last forever and ever.’ They hear the Realized One or their disciple teaching Dhamma for the uprooting of all grounds, fixations, obsessions, insistences, and underlying tendencies regarding views; for the stilling of all activities, the letting go of all attachments, the ending of craving, fading away, cessation, extinguishment. They think, ‘Whoa, I’m going to be annihilated and destroyed! I won’t even exist any more!’ They sorrow and wail and lament, beating their breast and falling into confusion. That’s how there is anxiety about what doesn’t exist internally.”
‘Bạch Thế Tôn, có thể có sự lo âu sầu muộn về cái không có thật ở bên trong không?’ – ‘Có thể có, này Tỳ khưu,’ đức Thế Tôn đáp. ‘Ở đây, này Tỳ khưu, có người có tà kiến như sau: ‘Cái gì là thế giới, cái ấy là tự ngã; sau khi chết, tôi sẽ là thường còn, bền vững, vĩnh cửu, không bị biến hoại, tôi sẽ tồn tại mãi mãi giống như sự vĩnh cửu.’ Người ấy nghe đức Như Lai hoặc đệ tử của Như Lai thuyết pháp để nhổ bật tất cả các trú xứ, chấp thủ, thiên kiến, cố chấp, tùy miên của tà kiến; để làm lắng dịu tất cả các hành; để từ bỏ tất cả các sanh y; để đoạn tận ái; để ly tham, để đoạn diệt, để đạt đến Niết-bàn. Người ấy khởi lên ý nghĩ: ‘Chắc chắn ta sẽ bị đoạn diệt! Chắc chắn ta sẽ bị hủy diệt! Chắc chắn ta sẽ không còn tồn tại!’ Người ấy sầu muộn, mệt mỏi, than khóc, đấm ngực khóc lóc, đi đến mê loạn. Này Tỳ khưu, như vậy là có sự lo âu sầu muộn về cái không có thật ở bên trong.’
“Siyā pana, bhante, ajjhattaṁ asati aparitassanā”ti?
“Siyā, bhikkhū”ti bhagavā avoca. “Idha, bhikkhu, ekaccassa na evaṁ diṭṭhi hoti: ‘so loko so attā, so pecca bhavissāmi nicco dhuvo sassato avipariṇāmadhammo, sassatisamaṁ tatheva ṭhassāmī’ti. So suṇāti tathāgatassa vā tathāgatasāvakassa vā sabbesaṁ diṭṭhiṭṭhānādhiṭṭhānapariyuṭṭhānābhinivesānusayānaṁ samugghātāya sabbasaṅkhārasamathāya sabbūpadhipaṭinissaggāya taṇhākkhayāya virāgāya nirodhāya nibbānāya dhammaṁ desentassa. Tassa na evaṁ hoti: ‘ucchijjissāmi nāmassu, vinassissāmi nāmassu, nassu nāma bhavissāmī’ti. So na socati na kilamati na paridevati na urattāḷiṁ kandati na sammohaṁ āpajjati. Evaṁ kho, bhikkhu, ajjhattaṁ asati aparitassanā hoti.
“But can there be no anxiety about what doesn’t exist internally?”
“There can,” said the Buddha. “It’s when someone doesn’t have such a view: ‘The cosmos and the self are one and the same. After death I will be that, permanent, everlasting, eternal, imperishable, and will last forever and ever.’ They hear the Realized One or their disciple teaching Dhamma for the uprooting of all grounds, fixations, obsessions, insistences, and underlying tendencies regarding views; for the stilling of all activities, the letting go of all attachments, the ending of craving, fading away, cessation, extinguishment. They don’t think, ‘Whoa, I’m going to be annihilated and destroyed! I won’t even exist any more!’ They don’t sorrow and wail and lament, beating their breast and falling into confusion. That’s how there is no anxiety about what doesn’t exist internally.
‘Bạch Thế Tôn, có thể có sự không lo âu sầu muộn về cái không có thật ở bên trong không?’ – ‘Có thể có, này Tỳ khưu,’ đức Thế Tôn đáp. ‘Ở đây, này Tỳ khưu, có người không có tà kiến như sau: ‘Cái gì là thế giới, cái ấy là tự ngã; sau khi chết, tôi sẽ là thường còn, bền vững, vĩnh cửu, không bị biến hoại, tôi sẽ tồn tại mãi mãi giống như sự vĩnh cửu.’ Người ấy nghe đức Như Lai hoặc đệ tử của Như Lai thuyết pháp để nhổ bật tất cả các trú xứ, chấp thủ, thiên kiến, cố chấp, tùy miên của tà kiến; để làm lắng dịu tất cả các hành; để từ bỏ tất cả các sanh y; để đoạn tận ái; để ly tham, để đoạn diệt, để đạt đến Niết-bàn. Người ấy không khởi lên ý nghĩ: ‘Chắc chắn ta sẽ bị đoạn diệt! Chắc chắn ta sẽ bị hủy diệt! Chắc chắn ta sẽ không còn tồn tại!’ Người ấy không sầu muộn, không mệt mỏi, không than khóc, không đấm ngực khóc lóc, không đi đến mê loạn. Này Tỳ khưu, như vậy là có sự không lo âu sầu muộn về cái không có thật ở bên trong.’
Taṁ, bhikkhave, pariggahaṁ pariggaṇheyyātha, yvāssa pariggaho nicco dhuvo sassato avipariṇāmadhammo, sassatisamaṁ tatheva tiṭṭheyya. Passatha no tumhe, bhikkhave, taṁ pariggahaṁ yvāssa pariggaho nicco dhuvo sassato avipariṇāmadhammo, sassatisamaṁ tatheva tiṭṭheyyā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sādhu, bhikkhave. Ahampi kho taṁ, bhikkhave, pariggahaṁ na samanupassāmi yvāssa pariggaho nicco dhuvo sassato avipariṇāmadhammo sassatisamaṁ tatheva tiṭṭheyya.
Mendicants, it would make sense to be possessive about something that’s permanent, everlasting, eternal, imperishable, and will last forever and ever. But do you see any such possession?”
“No, sir.”
“Good, mendicants! I also can’t see any such possession.
243. “Này các tỳ khưu, các ông nên nắm giữ vật sở hữu ấy, là vật sở hữu thường còn, bền vững, vĩnh cửu, có bản chất không biến đổi, và sẽ tồn tại y như thế mãi mãi. Này các tỳ khưu, các ông có thấy vật sở hữu nào là vật sở hữu thường còn, bền vững, vĩnh cửu, có bản chất không biến đổi, và sẽ tồn tại y như thế mãi mãi không?” “Bạch Thế Tôn, không có việc ấy.” “Lành thay, này các tỳ khưu. Này các tỳ khưu, Ta cũng không thấy vật sở hữu nào là vật sở hữu thường còn, bền vững, vĩnh cửu, có bản chất không biến đổi, và sẽ tồn tại y như thế mãi mãi.
Taṁ, bhikkhave, attavādupādānaṁ upādiyetha, yaṁsa attavādupādānaṁ upādiyato na uppajjeyyuṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā. Passatha no tumhe, bhikkhave, taṁ attavādupādānaṁ yaṁsa attavādupādānaṁ upādiyato na uppajjeyyuṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sādhu, bhikkhave. Ahampi kho taṁ, bhikkhave, attavādupādānaṁ na samanupassāmi yaṁsa attavādupādānaṁ upādiyato na uppajjeyyuṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā.
It would make sense to grasp at a theory of self that didn’t give rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. But do you see any such theory of self?”
“No, sir.”
“Good, mendicants! I also can’t see any such theory of self.
“Này các tỳ khưu, các ông nên chấp thủ vào sự chấp thủ ngã luận ấy, là sự chấp thủ ngã luận mà khi chấp thủ vào thì sầu, bi, khổ, ưu, não không khởi lên. Này các tỳ khưu, các ông có thấy sự chấp thủ ngã luận nào mà khi chấp thủ vào thì sầu, bi, khổ, ưu, não không khởi lên không?” “Bạch Thế Tôn, không có việc ấy.” “Lành thay, này các tỳ khưu. Này các tỳ khưu, Ta cũng không thấy sự chấp thủ ngã luận nào mà khi chấp thủ vào thì sầu, bi, khổ, ưu, não không khởi lên.
Taṁ, bhikkhave, diṭṭhinissayaṁ nissayetha yaṁsa diṭṭhinissayaṁ nissayato na uppajjeyyuṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā. Passatha no tumhe, bhikkhave, taṁ diṭṭhinissayaṁ yaṁsa diṭṭhinissayaṁ nissayato na uppajjeyyuṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sādhu, bhikkhave. Ahampi kho taṁ, bhikkhave, diṭṭhinissayaṁ na samanupassāmi yaṁsa diṭṭhinissayaṁ nissayato na uppajjeyyuṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā.
It would make sense to rely on a view that didn’t give rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. But do you see any such view to rely on?”
“No, sir.”
“Good, mendicants! I also can’t see any such view to rely on.
“Này các tỳ khưu, các ông nên nương tựa vào nơi nương tựa của tà kiến ấy, là nơi nương tựa của tà kiến mà khi nương tựa vào thì sầu, bi, khổ, ưu, não không khởi lên. Này các tỳ khưu, các ông có thấy nơi nương tựa của tà kiến nào mà khi nương tựa vào thì sầu, bi, khổ, ưu, não không khởi lên không?” “Bạch Thế Tôn, không có việc ấy.” “Lành thay, này các tỳ khưu. Này các tỳ khưu, Ta cũng không thấy nơi nương tựa của tà kiến nào mà khi nương tựa vào thì sầu, bi, khổ, ưu, não không khởi lên.”
Attani vā, bhikkhave, sati ‘attaniyaṁ me’ti assā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
Mendicants, were a self to exist, would there be the thought, ‘Belonging to my self’?”
“Yes, sir.”
244. “Này các tỳ khưu, khi có tự ngã, có phải sẽ có ‘cái thuộc về tự ngã của ta’ không?”
“Attaniye vā, bhikkhave, sati ‘attā me’ti assā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Were what belongs to a self to exist, would there be the thought, ‘My self’?”
“Yes, sir.”
“Này các tỳ khưu, khi có ‘cái thuộc về tự ngã’, có phải sẽ có ‘tự ngã của ta’ không?” “Bạch Thế Tôn, đúng là như vậy.”
“Attani ca, bhikkhave, attaniye ca saccato thetato anupalabbhamāne, yampi taṁ diṭṭhiṭṭhānaṁ: ‘so loko so attā, so pecca bhavissāmi nicco dhuvo sassato avipariṇāmadhammo, sassatisamaṁ tatheva ṭhassāmī’ti—nanāyaṁ, bhikkhave, kevalo paripūro bāladhammo”ti?
“But since a self and what belongs to a self are not found as a genuine fact, is not the following a totally foolish teaching: ‘The cosmos and the self are one and the same. After death I will be that, permanent, everlasting, eternal, imperishable, and will last forever and ever’?”
“Này các tỳ khưu, khi tự ngã và cái thuộc về tự ngã không thể được tìm thấy một cách chân thật và vững chắc, thì nơi trú của tà kiến này: ‘Thế giới ấy là tự ngã ấy, sau khi chết ta sẽ trở thành thường còn, bền vững, vĩnh cửu, có bản chất không biến đổi, và ta sẽ tồn tại y như thế mãi mãi’ – này các tỳ khưu, đây há chẳng phải là một giáo lý hoàn toàn và trọn vẹn của kẻ ngu sao?”
“Kiñhi no siyā, bhante, kevalo hi, bhante, paripūro bāladhammo”ti.
“How could it not, sir? It’s a totally foolish teaching.”
“Bạch Thế Tôn, làm sao lại không phải chứ? Bạch Thế Tôn, đó quả thật là một giáo lý hoàn toàn và trọn vẹn của kẻ ngu.”
“Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“What do you think, mendicants? Is form permanent or impermanent?”
“Này các tỳ khưu, các ông nghĩ thế nào, sắc là thường còn hay vô thường?”
“Aniccaṁ, bhante”.
“Impermanent, sir.”
“Bạch Thế Tôn, là vô thường.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
“Và cái gì vô thường, cái ấy là khổ hay là lạc?”
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Suffering, sir.”
“Bạch Thế Tôn, là khổ.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ—etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā”ti?
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”
“Và cái gì vô thường, là khổ, có bản chất biến đổi, có thích hợp để xem xét rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ không?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
“Bạch Thế Tôn, không có việc ấy.”
“Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, vedanā …pe… saññā … saṅkhārā … viññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“What do you think, mendicants? Is feeling … perception … choices … consciousness permanent or impermanent?”
“Này các tỳ khưu, các ông nghĩ thế nào, thọ... tưởng... các hành... thức là thường còn hay vô thường?”
“Aniccaṁ, bhante”.
“Impermanent, sir.”
“Bạch Thế Tôn, là vô thường.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
“Và cái gì vô thường, cái ấy là khổ hay là lạc?”
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Suffering, sir.”
“Bạch Thế Tôn, là khổ.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ—etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā”ti?
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”
“Và cái gì vô thường, là khổ, có bản chất biến đổi, có thích hợp để xem xét rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ không?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
“Bạch Thế Tôn, không có việc ấy.”
“Tasmātiha, bhikkhave, yaṁ kiñci rūpaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ, ajjhattaṁ vā bahiddhā vā, oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā, hīnaṁ vā paṇītaṁ vā, yaṁ dūre santike vā, sabbaṁ rūpaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti—evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ. Yā kāci vedanā …pe… yā kāci saññā … ye keci saṅkhārā … yaṁ kiñci viññāṇaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ, ajjhattaṁ vā bahiddhā vā, oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā, hīnaṁ vā paṇītaṁ vā, yaṁ dūre santike vā, sabbaṁ viññāṇaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti—evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ.
“So, mendicants, you should truly see any kind of form at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: <em>all</em> form—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ You should truly see any kind of feeling … perception … choices … consciousness at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: <em>all</em> consciousness—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’
“Do đó, này các tỳ khưu, bất cứ sắc nào, dù là quá khứ, vị lai, hay hiện tại, bên trong hay bên ngoài, thô hay tế, thấp kém hay cao thượng, xa hay gần, tất cả sắc nên được thấy như thật bằng chánh trí tuệ rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi.’ Bất cứ thọ nào... bất cứ tưởng nào... bất cứ các hành nào... bất cứ thức nào, dù là quá khứ, vị lai, hay hiện tại, bên trong hay bên ngoài, thô hay tế, thấp kém hay cao thượng, xa hay gần, tất cả thức nên được thấy như thật bằng chánh trí tuệ rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi.’”
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako rūpasmiṁ nibbindati, vedanāya nibbindati, saññāya nibbindati, saṅkhāresu nibbindati, viññāṇasmiṁ nibbindati, nibbidā virajjati, virāgā vimuccati, vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, bhikkhu ukkhittapaligho itipi, saṅkiṇṇaparikkho itipi, abbūḷhesiko itipi, niraggaḷo itipi, ariyo pannaddhajo pannabhāro visaṁyutto itipi.
Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with form, feeling, perception, choices, and consciousness. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed.
They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’
Such a mendicant is one who is called ‘one who has lifted the cross-bar’, ‘one who has filled in the moat’, ‘one who has pulled up the pillar’, ‘one who is unimpeded’, and also ‘a noble one with banner lowered and burden dropped, detached’.
245. “Thấy như vậy, này các tỳ khưu, vị Thánh đệ tử có học thức trở nên nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối với tưởng, nhàm chán đối với các hành, nhàm chán đối với thức. Do nhàm chán nên ly tham, do ly tham nên được giải thoát. Trong sự giải thoát, trí tuệ khởi lên rằng: ‘Đã được giải thoát.’ Vị ấy biết rõ: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa.’ Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu này được gọi là người đã nhấc then cài, cũng được gọi là người đã lấp hào rãnh, cũng được gọi là người đã nhổ cột trụ, cũng được gọi là người không có thanh chắn, cũng được gọi là bậc Thánh đã hạ cờ, đã đặt gánh nặng xuống, đã được giải thoát khỏi các ràng buộc.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu ukkhittapaligho hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhuno avijjā pahīnā hoti, ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā, āyatiṁ anuppādadhammā. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu ukkhittapaligho hoti.
And how has a mendicant raised the cross-bar? It’s when a mendicant has given up ignorance, cut it off at the root, made it like a palm stump, obliterated it, so it’s unable to arise in the future. That’s how a mendicant has lifted the cross-bar.
“Và này các tỳ khưu, thế nào là vị tỳ khưu đã nhấc then cài? Này các tỳ khưu, ở đây, vô minh của vị tỳ khưu đã được đoạn trừ, đã được cắt đứt tận gốc, đã được làm cho như thân cây ta-la, đã được làm cho không còn hiện hữu, có bản chất không sanh khởi trong tương lai. Này các tỳ khưu, như vậy là vị tỳ khưu đã nhấc then cài.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu saṅkiṇṇaparikkho hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhuno ponobbhaviko jātisaṁsāro pahīno hoti, ucchinnamūlo tālāvatthukato anabhāvaṅkato, āyatiṁ anuppādadhammo. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu saṅkiṇṇaparikkho hoti.
And how has a mendicant filled in the moat? It’s when a mendicant has given up transmigrating through births in future lives, cut it off at the root, made it like a palm stump, obliterated it, so it’s unable to arise in the future. That’s how a mendicant has filled in the moat.
“Và này các tỳ khưu, thế nào là vị tỳ khưu đã lấp hào rãnh? Này các tỳ khưu, ở đây, sự luân hồi sanh tử dẫn đến tái sanh của vị tỳ khưu đã được đoạn trừ, đã được cắt đứt tận gốc, đã được làm cho như thân cây ta-la, đã được làm cho không còn hiện hữu, có bản chất không sanh khởi trong tương lai. Này các tỳ khưu, như vậy là vị tỳ khưu đã lấp hào rãnh.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu abbūḷhesiko hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhuno taṇhā pahīnā hoti, ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā, āyatiṁ anuppādadhammā. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu abbūḷhesiko hoti.
And how has a mendicant pulled up the pillar? It’s when a mendicant has given up craving, cut it off at the root, made it like a palm stump, obliterated it, so it’s unable to arise in the future. That’s how a mendicant has pulled up the pillar.
Này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu đã nhổ lên cột trụ? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu đã đoạn tận ái dục, đã được cắt đứt tận gốc rễ, được làm cho như thân cây tala bị chặt ngọn, được làm cho không còn hiện hữu, có đặc tính không sanh khởi trong tương lai. Này các Tỳ khưu, như vậy là vị Tỳ khưu đã nhổ lên cột trụ.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu niraggaḷo hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhuno pañca orambhāgiyāni saṁyojanāni pahīnāni honti, ucchinnamūlāni tālāvatthukatāni anabhāvaṅkatāni, āyatiṁ anuppādadhammāni. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu niraggaḷo hoti.
And how is a mendicant unimpeded? It’s when a mendicant has given up the five lower fetters, cut them off at the root, made them like a palm stump, obliterated them, so they’re unable to arise in the future. That’s how a mendicant is unimpeded.
Này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu không còn thanh chắn? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu đã đoạn tận năm hạ phần kiết sử, đã được cắt đứt tận gốc rễ, được làm cho như thân cây tala bị chặt ngọn, được làm cho không còn hiện hữu, có đặc tính không sanh khởi trong tương lai. Này các Tỳ khưu, như vậy là vị Tỳ khưu không còn thanh chắn.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu ariyo pannaddhajo pannabhāro visaṁyutto hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhuno asmimāno pahīno hoti, ucchinnamūlo tālāvatthukato anabhāvaṅkato, āyatiṁ anuppādadhammo. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu ariyo pannaddhajo pannabhāro visaṁyutto hoti.
And how is a mendicant a noble one with with banner lowered and burden dropped, detached? It’s when a mendicant has given up the conceit ‘I am’, cut it off at the root, made it like a palm stump, obliterated it, so it’s unable to arise in the future. That’s how a mendicant is a noble one with banner lowered and burden dropped, detached.
Này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu là bậc Thánh, đã hạ cờ, đã đặt gánh nặng xuống, đã được giải thoát? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu đã đoạn tận ngã mạn, đã được cắt đứt tận gốc rễ, được làm cho như thân cây tala bị chặt ngọn, được làm cho không còn hiện hữu, có đặc tính không sanh khởi trong tương lai. Này các Tỳ khưu, như vậy là vị Tỳ khưu là bậc Thánh, đã hạ cờ, đã đặt gánh nặng xuống, đã được giải thoát.
Evaṁ vimuttacittaṁ kho, bhikkhave, bhikkhuṁ saindā devā sabrahmakā sapajāpatikā anvesaṁ nādhigacchanti: ‘idaṁ nissitaṁ tathāgatassa viññāṇan’ti. Taṁ kissa hetu? Diṭṭhevāhaṁ, bhikkhave, dhamme tathāgataṁ ananuvijjoti vadāmi.
Evaṁvādiṁ kho maṁ, bhikkhave, evamakkhāyiṁ eke samaṇabrāhmaṇā asatā tucchā musā abhūtena abbhācikkhanti: ‘venayiko samaṇo gotamo, sato sattassa ucchedaṁ vināsaṁ vibhavaṁ paññāpetī’ti. Yathā cāhaṁ na, bhikkhave, yathā cāhaṁ na vadāmi, tathā maṁ te bhonto samaṇabrāhmaṇā asatā tucchā musā abhūtena abbhācikkhanti: ‘venayiko samaṇo gotamo, sato sattassa ucchedaṁ vināsaṁ vibhavaṁ paññāpetī’ti. Pubbe cāhaṁ, bhikkhave, etarahi ca dukkhañceva paññāpemi, dukkhassa ca nirodhaṁ. Tatra ce, bhikkhave, pare tathāgataṁ akkosanti paribhāsanti rosenti vihesenti, tatra, bhikkhave, tathāgatassa na hoti āghāto na appaccayo na cetaso anabhiraddhi.
When a mendicant’s mind was freed like this, the gods together with Indra, the Divinity, and the Progenitor, search as they may, will not discover: ‘This is the basis of that realized one’s consciousness.’ Why is that? Because even in this very life that realized one is not found, I say.
Though I state and assert this, certain ascetics and brahmins misrepresent me with the incorrect, hollow, false, untruthful claim: ‘The ascetic Gotama is an exterminator. He advocates the annihilation, eradication, and nonexistence of an existing being.’ They misrepresent me as what I am not, and saying what I do not say. In the past, as today, what I describe is suffering and the cessation of suffering. This being so, if others abuse, attack, harass, and trouble the Realized One, he doesn’t get resentful, bitter, and emotionally exasperated.
246. Này các Tỳ khưu, đối với vị Tỳ khưu có tâm giải thoát như vậy, các vị trời cùng với Thiên chủ, Phạm thiên, và Chúa tể chúng sanh dù tìm kiếm cũng không thể tìm ra: ‘Đây là thức của Như Lai nương tựa.’ Vì sao vậy? Này các Tỳ khưu, Ta nói rằng Như Lai không thể tìm thấy dấu vết ngay trong hiện tại. Này các Tỳ khưu, vì Ta nói như vậy, tuyên bố như vậy, nên một số Sa-môn, Bà-la-môn đã vu khống Ta một cách không có thật, trống rỗng, dối trá, không đúng sự thật rằng: ‘Sa-môn Gotama là người theo thuyết đoạn diệt, Ngài chủ trương sự cắt đứt, sự hủy hoại, sự không tồn tại của một chúng sanh hiện hữu.’ Này các Tỳ khưu, như Ta không phải là người như vậy, như Ta không nói như vậy, các Sa-môn, Bà-la-môn ấy đã vu khống Ta một cách không có thật, trống rỗng, dối trá, không đúng sự thật rằng: ‘Sa-môn Gotama là người theo thuyết đoạn diệt, Ngài chủ trương sự cắt đứt, sự hủy hoại, sự không tồn tại của một chúng sanh hiện hữu.’ Này các Tỳ khưu, cả xưa và nay, Ta chỉ trình bày về khổ và sự diệt khổ. Này các Tỳ khưu, trong trường hợp ấy, nếu những người khác mắng nhiếc, phỉ báng, quấy rầy, làm phiền não Như Lai, thì này các Tỳ khưu, ở Như Lai không có sự tức giận, không có sự bất mãn, không có sự không hài lòng trong tâm.
Tatra ce, bhikkhave, pare tathāgataṁ sakkaronti garuṁ karonti mānenti pūjenti, tatra, bhikkhave, tathāgatassa na hoti ānando na somanassaṁ na cetaso uppilāvitattaṁ. Tatra ce, bhikkhave, pare vā tathāgataṁ sakkaronti garuṁ karonti mānenti pūjenti, tatra, bhikkhave, tathāgatassa evaṁ hoti: ‘yaṁ kho idaṁ pubbe pariññātaṁ tattha me evarūpā kārā karīyantī’ti.
Tasmātiha, bhikkhave, tumhe cepi pare akkoseyyuṁ paribhāseyyuṁ roseyyuṁ viheseyyuṁ, tatra tumhe hi na āghāto na appaccayo na cetaso anabhiraddhi karaṇīyā. Tasmātiha, bhikkhave, tumhe cepi pare sakkareyyuṁ garuṁ kareyyuṁ māneyyuṁ pūjeyyuṁ, tatra tumhehi na ānando na somanassaṁ na cetaso uppilāvitattaṁ karaṇīyaṁ. Tasmātiha, bhikkhave, tumhe cepi pare sakkareyyuṁ garuṁ kareyyuṁ māneyyuṁ pūjeyyuṁ, tatra tumhākaṁ evamassa: ‘yaṁ kho idaṁ pubbe pariññātaṁ, tattha me evarūpā kārā karīyantī’ti.
Or if others honor, respect, revere, or venerate him, he doesn’t get thrilled, elated, and emotionally excited. If they praise him, he just thinks, ‘They do such things for me regarding what in the past was completely understood.’
So, mendicants, if others abuse, attack, harass, and trouble you, don’t make yourselves resentful, bitter, and emotionally exasperated. Or if others honor, respect, revere, or venerate you, don’t make yourselves thrilled, elated, and emotionally excited. If they praise you, just think, ‘They do such things for us regarding what in the past was completely understood.’
Này các Tỳ khưu, trong trường hợp ấy, nếu những người khác cúng dường, tôn trọng, quý mến, đảnh lễ Như Lai, thì này các Tỳ khưu, ở Như Lai không có sự vui thích, không có sự hân hoan, không có sự phấn chấn trong tâm. Này các Tỳ khưu, trong trường hợp ấy, nếu những người khác cúng dường, tôn trọng, quý mến, đảnh lễ Như Lai, thì này các Tỳ khưu, ở Như Lai có suy nghĩ như sau: ‘Đối với những gì đã được liễu tri từ trước, họ đang thực hiện những hành vi như vậy đối với chúng.’ Do đó, này các Tỳ khưu, nếu những người khác mắng nhiếc, phỉ báng, quấy rầy, làm phiền não các ngươi, thì ở các ngươi không nên có sự tức giận, không có sự bất mãn, không có sự không hài lòng trong tâm. Do đó, này các Tỳ khưu, nếu những người khác cúng dường, tôn trọng, quý mến, đảnh lễ các ngươi, thì ở các ngươi không nên có sự vui thích, không có sự hân hoan, không có sự phấn chấn trong tâm. Do đó, này các Tỳ khưu, nếu những người khác cúng dường, tôn trọng, quý mến, đảnh lễ các ngươi, thì các ngươi nên có suy nghĩ như sau: ‘Đối với những gì đã được liễu tri từ trước, họ đang thực hiện những hành vi như vậy đối với chúng.’
Tasmātiha, bhikkhave, yaṁ na tumhākaṁ taṁ pajahatha; taṁ vo pahīnaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya bhavissati.
Kiñca, bhikkhave, na tumhākaṁ? Rūpaṁ, bhikkhave, na tumhākaṁ, taṁ pajahatha; taṁ vo pahīnaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya bhavissati.
Vedanā, bhikkhave, na tumhākaṁ, taṁ pajahatha; sā vo pahīnā dīgharattaṁ hitāya sukhāya bhavissati. Saññā, bhikkhave, na tumhākaṁ, taṁ pajahatha; sā vo pahīnā dīgharattaṁ hitāya sukhāya bhavissati. Saṅkhārā, bhikkhave, na tumhākaṁ, te pajahatha; te vo pahīnā dīgharattaṁ hitāya sukhāya bhavissanti. Viññāṇaṁ, bhikkhave, na tumhākaṁ, taṁ pajahatha; taṁ vo pahīnaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya bhavissati.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, yaṁ imasmiṁ jetavane tiṇakaṭṭhasākhāpalāsaṁ, taṁ jano hareyya vā daheyya vā yathāpaccayaṁ vā kareyya. Api nu tumhākaṁ evamassa: ‘amhe jano harati vā dahati vā yathāpaccayaṁ vā karotī’”ti?
“No hetaṁ, bhante”. “Taṁ kissa hetu”? “Na hi no etaṁ, bhante, attā vā attaniyaṁ vā”ti.
“Evameva kho, bhikkhave, yaṁ na tumhākaṁ taṁ pajahatha; taṁ vo pahīnaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya bhavissati. Kiñca, bhikkhave, na tumhākaṁ? Rūpaṁ, bhikkhave, na tumhākaṁ, taṁ pajahatha; taṁ vo pahīnaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya bhavissati. Vedanā, bhikkhave …pe… saññā, bhikkhave … saṅkhārā, bhikkhave …pe… viññāṇaṁ, bhikkhave, na tumhākaṁ, taṁ pajahatha; taṁ vo pahīnaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya bhavissati.
So, mendicants, give up what isn’t yours. Giving it up will be for your lasting welfare and happiness.
And what isn’t yours? Form isn’t yours: give it up. Giving it up will be for your lasting welfare and happiness.
Feeling … perception … choices … consciousness isn’t yours: give it up. Giving it up will be for your lasting welfare and happiness.
What do you think, mendicants? Suppose a person was to carry off the grass, sticks, branches, and leaves in this Jeta’s Grove, or burn them, or do what they want with them. Would you think, ‘This person is carrying us off, burning us, or doing what they want with us’?”
“No, sir. Why is that? Because to us that’s neither self nor belonging to self.”
“In the same way, mendicants, give up what isn’t yours. Giving it up will be for your lasting welfare and happiness. And what isn’t yours? Form … feeling … perception … choices … consciousness isn’t yours: give it up. Giving it up will be for your lasting welfare and happiness.
247. Do đó, này các Tỳ khưu, những gì không phải của các ngươi, hãy từ bỏ nó; việc các ngươi từ bỏ nó sẽ mang lại lợi ích và an lạc lâu dài. Và này các Tỳ khưu, cái gì không phải của các ngươi? Này các Tỳ khưu, sắc không phải của các ngươi, hãy từ bỏ nó; việc các ngươi từ bỏ nó sẽ mang lại lợi ích và an lạc lâu dài. Này các Tỳ khưu, thọ không phải của các ngươi, hãy từ bỏ nó; việc các ngươi từ bỏ nó sẽ mang lại lợi ích và an lạc lâu dài. Này các Tỳ khưu, tưởng không phải của các ngươi, hãy từ bỏ nó; việc các ngươi từ bỏ nó sẽ mang lại lợi ích và an lạc lâu dài. Này các Tỳ khưu, các hành không phải của các ngươi, hãy từ bỏ chúng; việc các ngươi từ bỏ chúng sẽ mang lại lợi ích và an lạc lâu dài. Này các Tỳ khưu, thức không phải của các ngươi, hãy từ bỏ nó; việc các ngươi từ bỏ nó sẽ mang lại lợi ích và an lạc lâu dài. Này các Tỳ khưu, các ngươi nghĩ thế nào? Nếu có người mang đi, đốt, hoặc làm bất cứ điều gì theo ý muốn đối với cỏ, củi, cành, và lá trong khu vườn Jetavana này, liệu các ngươi có suy nghĩ rằng: ‘Người ta đang mang chúng tôi đi, đốt chúng tôi, hoặc làm bất cứ điều gì theo ý muốn đối với chúng tôi’ không?” “Bạch Thế Tôn, không ạ.” “Vì sao vậy?” “Bạch Thế Tôn, vì những thứ ấy không phải là tự ngã của chúng con, cũng không phải là những gì thuộc về tự ngã của chúng con.” “Cũng vậy, này các Tỳ khưu, những gì không phải của các ngươi, hãy từ bỏ nó; việc các ngươi từ bỏ nó sẽ mang lại lợi ích và an lạc lâu dài. Và này các Tỳ khưu, cái gì không phải của các ngươi? Này các Tỳ khưu, sắc không phải của các ngươi, hãy từ bỏ nó; việc các ngươi từ bỏ nó sẽ mang lại lợi ích và an lạc lâu dài. Này các Tỳ khưu, thọ... tưởng... các hành... Này các Tỳ khưu, thức không phải của các ngươi, hãy từ bỏ nó; việc các ngươi từ bỏ nó sẽ mang lại lợi ích và an lạc lâu dài.
Evaṁ svākkhāto, bhikkhave, mayā dhammo uttāno vivaṭo pakāsito chinnapilotiko. Evaṁ svākkhāte, bhikkhave, mayā dhamme uttāne vivaṭe pakāsite chinnapilotike ye te bhikkhū arahanto khīṇāsavā vusitavanto katakaraṇīyā ohitabhārā anuppattasadatthā parikkhīṇabhavasaṁyojanā sammadaññāvimuttā, vaṭṭaṁ tesaṁ natthi paññāpanāya.
Evaṁ svākkhāto, bhikkhave, mayā dhammo uttāno vivaṭo pakāsito chinnapilotiko. Evaṁ svākkhāte, bhikkhave, mayā dhamme uttāne vivaṭe pakāsite chinnapilotike yesaṁ bhikkhūnaṁ pañcorambhāgiyāni saṁyojanāni pahīnāni, sabbe te opapātikā, tattha parinibbāyino, anāvattidhammā tasmā lokā.
Evaṁ svākkhāto, bhikkhave, mayā dhammo uttāno vivaṭo pakāsito chinnapilotiko. Evaṁ svākkhāte, bhikkhave, mayā dhamme uttāne vivaṭe pakāsite chinnapilotike yesaṁ bhikkhūnaṁ tīṇi saṁyojanāni pahīnāni, rāgadosamohā tanubhūtā, sabbe te sakadāgāmino, sakideva imaṁ lokaṁ āgantvā dukkhassantaṁ karissanti.
Evaṁ svākkhāto, bhikkhave, mayā dhammo uttāno vivaṭo pakāsito chinnapilotiko. Evaṁ svākkhāte, bhikkhave, mayā dhamme uttāne vivaṭe pakāsite chinnapilotike yesaṁ bhikkhūnaṁ tīṇi saṁyojanāni pahīnāni, sabbe te sotāpannā, avinipātadhammā, niyatā sambodhiparāyanā.
Evaṁ svākkhāto, bhikkhave, mayā dhammo uttāno vivaṭo pakāsito chinnapilotiko. Evaṁ svākkhāte, bhikkhave, mayā dhamme uttāne vivaṭe pakāsite chinnapilotike ye te bhikkhū dhammānusārino saddhānusārino sabbe te sambodhiparāyanā.
Evaṁ svākkhāto, bhikkhave, mayā dhammo uttāno vivaṭo pakāsito chinnapilotiko. Evaṁ svākkhāte, bhikkhave, mayā dhamme uttāne vivaṭe pakāsite chinnapilotike yesaṁ mayi saddhāmattaṁ pemamattaṁ sabbe te saggaparāyanā”ti.
The teaching well-explained thus by me is clarified, revealed, illuminated, and stripped of patchwork. In this teaching thus well-explained, for those mendicants who are perfected, who have ended the defilements, completed the spiritual journey, done what had to be done, laid down the burden, achieved their heart’s goal, utterly ended the fetter of continued existence, and are rightly freed through enlightenment, there is no cycle of rebirths to be found. …
In this teaching thus well-explained, those mendicants who have given up the five lower fetters are all reborn spontaneously. They are extinguished there, and are not liable to return from that world. …
In this teaching thus well-explained, those mendicants who, having given up three fetters, and weakened greed, hate, and delusion, are all once-returners. They come back to this world once only, then make an end of suffering. …
In this teaching thus well-explained, those mendicants who have ended three fetters are all stream-enterers, not liable to be reborn in the underworld, assured, destined for awakening. …
In this teaching thus well-explained, those mendicants who are followers of teachings or followers by faith are all are assured, destined for awakening.
The teaching well-explained thus by me is clarified, revealed, illuminated, and stripped of patchwork. In this teaching thus well-explained, those who have a degree of faith and love for me are all bound for heaven.”
248. Này các Tỳ khưu, Pháp đã được Ta khéo thuyết giảng như thế, được làm cho hiển lộ, được mở ra, được trình bày, không còn mảnh vải che đậy. Này các Tỳ khưu, khi Pháp đã được Ta khéo thuyết giảng như thế, được làm cho hiển lộ, được mở ra, được trình bày, không còn mảnh vải che đậy, thì đối với những vị Tỳ khưu là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc, đã sống đời phạm hạnh, việc cần làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích tối hậu, đã đoạn tận hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí, thì không còn vòng luân hồi để có thể được nêu rõ. Này các Tỳ khưu, Pháp đã được Ta khéo thuyết giảng như thế, được làm cho hiển lộ, được mở ra, được trình bày, không còn mảnh vải che đậy. Này các Tỳ khưu, khi Pháp đã được Ta khéo thuyết giảng như thế, được làm cho hiển lộ, được mở ra, được trình bày, không còn mảnh vải che đậy, thì những vị Tỳ khưu nào đã đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, tất cả các vị ấy đều là bậc hóa sanh, sẽ nhập Niết-bàn tại cõi ấy, không còn trở lại thế gian này nữa. Này các Tỳ khưu, Pháp đã được Ta khéo thuyết giảng như thế, được làm cho hiển lộ, được mở ra, được trình bày, không còn mảnh vải che đậy. Này các Tỳ khưu, khi Pháp đã được Ta khéo thuyết giảng như thế, được làm cho hiển lộ, được mở ra, được trình bày, không còn mảnh vải che đậy, thì những vị Tỳ khưu nào đã đoạn trừ ba kiết sử, tham sân si đã được làm cho muội lược, tất cả các vị ấy đều là bậc Nhất lai, chỉ trở lại thế gian này một lần nữa rồi chấm dứt khổ đau. Này các Tỳ khưu, Pháp đã được Ta khéo thuyết giảng như thế, được làm cho hiển lộ, được mở ra, được trình bày, không còn mảnh vải che đậy. Này các Tỳ khưu, khi Pháp đã được Ta khéo thuyết giảng như thế, được làm cho hiển lộ, được mở ra, được trình bày, không còn mảnh vải che đậy, thì những vị Tỳ khưu nào đã đoạn trừ ba kiết sử, tất cả các vị ấy đều là bậc Dự lưu, không còn bị rơi vào đọa xứ, chắc chắn hướng đến giác ngộ. Này các Tỳ khưu, Pháp đã được Ta khéo thuyết giảng như thế, được làm cho hiển lộ, được mở ra, được trình bày, không còn mảnh vải che đậy. Này các Tỳ khưu, khi Pháp đã được Ta khéo thuyết giảng như thế, được làm cho hiển lộ, được mở ra, được trình bày, không còn mảnh vải che đậy, thì những vị Tỳ khưu nào là bậc Tùy Pháp hành, Tùy Tín hành, tất cả các vị ấy đều hướng đến giác ngộ. Này các Tỳ khưu, Pháp đã được Ta khéo thuyết giảng như thế, được làm cho hiển lộ, được mở ra, được trình bày, không còn mảnh vải che đậy. Này các Tỳ khưu, khi Pháp đã được Ta khéo thuyết giảng như thế, được làm cho hiển lộ, được mở ra, được trình bày, không còn mảnh vải che đậy, thì những vị nào chỉ có niềm tin, chỉ có lòng thương mến đối với Ta, tất cả các vị ấy đều hướng đến cõi trời.
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
Thế Tôn đã thuyết như vậy. Các vị Tỳ khưu ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Alagaddūpamasuttaṁ niṭṭhitaṁ dutiyaṁ.
Kinh Ví Dụ Con Rắn Nước, bài thứ hai, đã chấm dứt.