- Majjhima Nikāya 20
Vitakkasaṇṭhānasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Vitakkasaṇṭhānasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc). Tại đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Chư Tỷ-kheo”. “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”, các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn thuyết giảng như sau
SC 2—Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo muốn thực tu tăng thượng tâm cần phải thường thường tác ý năm tướng. Thế nào là năm?
SC 3Ở đây, Tỷ-kheo y cứ tướng nào, tác ý tướng nào, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si sanh khởi, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải tác ý một tướng khác liên hệ đến thiện, không phải tướng kia. Nhờ tác ý một tướng khác liên hệ đến thiện, không phải tướng kia, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh. Chư Tỷ-kheo, ví như một người thợ mộc thiện xảo hay đệ tử một người thợ mộc, dùng một cái nêm nhỏ đánh bật ra, đánh tung ra, đánh văng ra một cái nêm khác; chư Tỷ-kheo, cũng vậy, khi một Tỷ-kheo y cứ một tướng nào, tác ý một tướng nào, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si sanh khởi, thời này chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải tác ý một tướng khác liên hệ đến thiện, không phải tướng kia. Nhờ tác ý một tướng khác liên hệ đến thiện, khác với tướng kia, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.
SC 4Chư Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ấy khi tác ý một tướng khác với tướng kia, liên hệ đến thiện, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si vẫn khởi lên, thời này chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải quán sát các nguy hiểm của những tầm ấy: “Ðây là những tầm bất thiện, đây là những tầm có tội, đây là những tầm có khổ báo”. Nhờ quán sát các nguy hiểm của những tầm ấy, các bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh. Chư Tỷ-kheo, ví như một người đàn bà hay người đàn ông trẻ tuổi, trong tuổi thanh xuân, tánh ưa trang sức nếu một xác rắn, hay xác chó, hay xác người được quàng vào cổ, người ấy phải lo âu, xấu hổ, ghê tởm. Chư Tỷ-kheo, cũng vậy, nếu Tỷ-kheo ấy nhờ quán sát … nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.
SC 5Chư Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ấy trong khi quán sát các nguy hiểm của những tầm ấy, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si vẫn khởi lên, thời này chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải không ức niệm, không tác ý những tầm ấy. Nhờ không ức niệm, không tác ý các tầm ấy, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh. Chư Tỷ-kheo, ví như một người có mắt, không muốn thấy các sắc pháp nằm trong tầm mắt của mình, người ấy nhắm mắt lại hay ngó qua một bên. Chư Tỷ-kheo, cũng vậy, nếu Tỷ-kheo ấy, trong khi không ức niệm, không tác ý … được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.
SC 6Chư Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ấy trong khi không ức niệm, không tác ý các tầm ấy, các ác, bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si vẫn khởi lên. Chư Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ấy cần phải tác ý đến hành tướng các tầm và sự an trú các tầm ấy. Nhờ tác ý đến hành tướng các tầm và sự an trú các tầm ấy, các ác, bất thiện tầm liên hệ đến dục … được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh. Ví như một người đang đi mau, suy nghĩ: “Tại sao ta lại đi mau? Ta hãy đi chậm lại”. Trong khi đi chậm, người ấy suy nghĩ: “Tại sao ta lại đi chậm? Ta hãy dừng lại”. Trong khi dừng lại, người ấy suy nghĩ: “Tại sao Ta lại dừng lại? Ta hãy ngồi xuống”. Trong khi ngồi, người ấy suy nghĩ: “Tại sao ta lại ngồi? Ta hãy nằm xuống”. Chư Tỷ-kheo, như vậy người ấy bỏ dần các cử chỉ thô cứng nhất và làm theo các cử chỉ tế nhị nhất. Chư Tỷ-kheo, cũng vậy, nếu Tỷ-kheo ấy tác ý đến … (như trên) … được an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.
SC 7Chư Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ấy trong khi tác ý đến hành tướng các tầm và sự an trú các tầm, các ác, bất thiện tầm liên hệ … đến si vẫn khởi lên, thời chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy phải nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm. Nhờ nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục … liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong … được an trú, an tịnh nhất tâm, định tĩnh. Ví như một người lực sĩ nắm lấy đầu một người ốm yếu, hay nắm lấy vai, có thể chế ngự, nhiếp phục, và đánh bại. Chư Tỷ-kheo, cũng vậy, nếu Tỷ-kheo ấy trong khi tác ý hành tướng các tầm và sự an trú các tầm ấy, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si vẫn khởi lên, thời chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy phải nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm. Nhờ nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ trừ diệt chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.
SC 8Chư Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo, trong khi y cứ tướng nào, tác ý tướng nào, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si sanh khởi. Tỷ-kheo ấy tác ý một tướng khác, liên hệ đến thiện, khác với tướng kia, các ác, bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được diệt trừ, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.
SC 9Tỷ-kheo ấy, nhờ quán sát sự nguy hiểm các tầm ấy, các ác, bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.
SC 10Tỷ-kheo ấy, nhờ không ức niệm, không tác ý các tầm ấy, các ác, bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.
SC 11Tỷ-kheo ấy tác ý hành tướng các tầm và an trú các tầm, các ác, bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.
SC 12Tỷ-kheo ấy nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm, các ác, bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.
SC 13Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là đã an trú trong đạo tầm pháp môn. Vị ấy có thể tác ý đến tầm nào vị ấy muốn, có thể không tác ý đến tầm nào vị ấy không muốn; vị ấy đã đoạn trừ khát ái, đã giải thoát các kiết sử, khéo chinh phục kiêu mạn, đã chấm dứt khổ đau.
SC 14Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 27–09-2003 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
10. Kinh An Trú Tầm
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
216. Tôi nghe như vầy – một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Tại đó, Thế Tôn gọi các Tỳ khưu: “Này các Tỳ khưu”. “Bạch Thế Tôn”, các Tỳ khưu ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói điều này:
“Adhicittamanuyuttena, bhikkhave, bhikkhunā pañca nimittāni kālena kālaṁ manasi kātabbāni. Katamāni pañca?
Idha, bhikkhave, bhikkhuno yaṁ nimittaṁ āgamma yaṁ nimittaṁ manasikaroto uppajjanti pāpakā akusalā vitakkā chandūpasaṁhitāpi dosūpasaṁhitāpi mohūpasaṁhitāpi, tena, bhikkhave, bhikkhunā tamhā nimittā aññaṁ nimittaṁ manasi kātabbaṁ kusalūpasaṁhitaṁ. Tassa tamhā nimittā aññaṁ nimittaṁ manasikaroto kusalūpasaṁhitaṁ ye pāpakā akusalā vitakkā chandūpasaṁhitāpi dosūpasaṁhitāpi mohūpasaṁhitāpi te pahīyanti te abbhatthaṁ gacchanti. Tesaṁ pahānā ajjhattameva cittaṁ santiṭṭhati sannisīdati ekodi hoti samādhiyati. Seyyathāpi, bhikkhave, dakkho palagaṇḍo vā palagaṇḍantevāsī vā sukhumāya āṇiyā oḷārikaṁ āṇiṁ abhinihaneyya abhinīhareyya abhinivatteyya; evameva kho, bhikkhave, bhikkhuno yaṁ nimittaṁ āgamma yaṁ nimittaṁ manasikaroto uppajjanti pāpakā akusalā vitakkā chandūpasaṁhitāpi dosūpasaṁhitāpi mohūpasaṁhitāpi, tena, bhikkhave, bhikkhunā tamhā nimittā aññaṁ nimittaṁ manasi kātabbaṁ kusalūpasaṁhitaṁ. Tassa tamhā nimittā aññaṁ nimittaṁ manasikaroto kusalūpasaṁhitaṁ ye pāpakā akusalā vitakkā chandūpasaṁhitāpi dosūpasaṁhitāpi mohūpasaṁhitāpi te pahīyanti te abbhatthaṁ gacchanti. Tesaṁ pahānā ajjhattameva cittaṁ santiṭṭhati sannisīdati ekodi hoti samādhiyati.
“Mendicants, a mendicant committed to the higher mind should focus on five subjects from time to time. What five?
Take a mendicant who is focusing on some subject that gives rise to bad, unskillful thoughts connected with desire, hate, and delusion. That mendicant should focus on some other subject connected with the skillful. As they do so, those bad thoughts are given up and come to an end. Their mind becomes stilled internally; it settles, unifies, and becomes immersed in samādhi. It’s like a deft mason or their apprentice who’d knock out or extract a large peg with a finer peg. In the same way, a mendicant … should focus on some other basis of meditation connected with the skillful …
Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu chuyên tâm vào tăng thượng tâm nên thỉnh thoảng tác ý đến năm tướng. Năm tướng ấy là gì? Này các tỳ khưu, ở đây, khi vị tỳ khưu y cứ vào một tướng nào, tác ý đến một tướng nào, mà các tư duy bất thiện xấu ác có liên quan đến tham, có liên quan đến sân, có liên quan đến si được sanh khởi, thì này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên tác ý đến một tướng khác có liên quan đến thiện thay vì tướng ấy. Khi vị ấy tác ý đến một tướng khác có liên quan đến thiện thay vì tướng ấy, thì các tư duy bất thiện xấu ác có liên quan đến tham, có liên quan đến sân, có liên quan đến si được từ bỏ, đi đến chỗ chấm dứt. Do sự từ bỏ các tư duy ấy, nội tâm được an trú, lắng dịu, chuyên nhất, và định tĩnh. Này các tỳ khưu, ví như người thợ mộc lành nghề hay người học việc của thợ mộc dùng cái nêm nhỏ để đánh bật, để lấy ra, để loại bỏ cái nêm lớn; tương tự như thế, này các tỳ khưu, khi vị tỳ khưu y cứ vào một tướng nào, tác ý đến một tướng nào, mà các tư duy bất thiện xấu ác có liên quan đến tham, có liên quan đến sân, có liên quan đến si được sanh khởi, thì này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên tác ý đến một tướng khác có liên quan đến thiện thay vì tướng ấy. Khi vị ấy tác ý đến một tướng khác có liên quan đến thiện thay vì tướng ấy, thì các tư duy bất thiện xấu ác có liên quan đến tham, có liên quan đến sân, có liên quan đến si được từ bỏ, đi đến chỗ chấm dứt. Do sự từ bỏ các tư duy ấy, nội tâm được an trú, lắng dịu, chuyên nhất, và định tĩnh.
Tassa ce, bhikkhave, bhikkhuno tamhā nimittā aññaṁ nimittaṁ manasikaroto kusalūpasaṁhitaṁ uppajjanteva pāpakā akusalā vitakkā chandūpasaṁhitāpi dosūpasaṁhitāpi mohūpasaṁhitāpi, tena, bhikkhave, bhikkhunā tesaṁ vitakkānaṁ ādīnavo upaparikkhitabbo: ‘itipime vitakkā akusalā, itipime vitakkā sāvajjā, itipime vitakkā dukkhavipākā’ti. Tassa tesaṁ vitakkānaṁ ādīnavaṁ upaparikkhato ye pāpakā akusalā vitakkā chandūpasaṁhitāpi dosūpasaṁhitāpi mohūpasaṁhitāpi te pahīyanti te abbhatthaṁ gacchanti. Tesaṁ pahānā ajjhattameva cittaṁ santiṭṭhati sannisīdati ekodi hoti samādhiyati. Seyyathāpi, bhikkhave, itthī vā puriso vā daharo yuvā maṇḍanakajātiko ahikuṇapena vā kukkurakuṇapena vā manussakuṇapena vā kaṇṭhe āsattena aṭṭiyeyya harāyeyya jiguccheyya; evameva kho, bhikkhave, tassa ce bhikkhuno tamhāpi nimittā aññaṁ nimittaṁ manasikaroto kusalūpasaṁhitaṁ uppajjanteva pāpakā akusalā vitakkā chandūpasaṁhitāpi dosūpasaṁhitāpi mohūpasaṁhitāpi, tena, bhikkhave, bhikkhunā tesaṁ vitakkānaṁ ādīnavo upaparikkhitabbo: ‘itipime vitakkā akusalā, itipime vitakkā sāvajjā, itipime vitakkā dukkhavipākā’ti. Tassa tesaṁ vitakkānaṁ ādīnavaṁ upaparikkhato ye pāpakā akusalā vitakkā chandūpasaṁhitāpi dosūpasaṁhitāpi mohūpasaṁhitāpi te pahīyanti te abbhatthaṁ gacchanti. Tesaṁ pahānā ajjhattameva cittaṁ santiṭṭhati sannisīdati ekodi hoti samādhiyati.
Now, suppose that mendicant is focusing on some other subject connected with the skillful, but bad, unskillful thoughts connected with desire, hate, and delusion keep coming up. They should examine the drawbacks of those thoughts: ‘So these thoughts are unskillful, they’re blameworthy, and they result in suffering.’ As they do so, those bad thoughts are given up and come to an end. Their mind becomes stilled internally; it settles, unifies, and becomes immersed in samādhi. Suppose there was a woman or man who was young, youthful, and fond of adornments. If the carcass of a snake or a dog or a human were hung around their neck, they’d be horrified, repelled, and disgusted. In the same way, a mendicant … should examine the drawbacks of those thoughts …
217. Này các tỳ khưu, nếu trong khi vị tỳ khưu ấy đang tác ý đến một tướng khác có liên quan đến thiện thay vì tướng ấy, mà các tư duy bất thiện xấu ác có liên quan đến tham, có liên quan đến sân, có liên quan đến si vẫn cứ sanh khởi, thì này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên quán xét sự nguy hại của các tư duy ấy rằng: ‘Quả thật, các tư duy này là bất thiện; quả thật, các tư duy này là có tội lỗi; quả thật, các tư duy này có kết quả là đau khổ.’ Khi vị ấy quán xét sự nguy hại của các tư duy ấy, thì các tư duy bất thiện xấu ác có liên quan đến tham, có liên quan đến sân, có liên quan đến si được từ bỏ, đi đến chỗ chấm dứt. Do sự từ bỏ các tư duy ấy, nội tâm được an trú, lắng dịu, chuyên nhất, và định tĩnh. Này các tỳ khưu, ví như người nữ hay người nam, trẻ trung, thanh xuân, thích trang điểm, sẽ cảm thấy lo lắng, hổ thẹn, và ghê tởm nếu có xác rắn, hoặc xác chó, hoặc xác người bị cột vào cổ; tương tự như thế, này các tỳ khưu, nếu trong khi vị tỳ khưu ấy đang tác ý đến một tướng khác có liên quan đến thiện thay vì tướng ấy, mà các tư duy bất thiện xấu ác có liên quan đến tham, có liên quan đến sân, có liên quan đến si vẫn cứ sanh khởi, thì này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên quán xét sự nguy hại của các tư duy ấy rằng: ‘Quả thật, các tư duy này là bất thiện; quả thật, các tư duy này là có tội lỗi; quả thật, các tư duy này có kết quả là đau khổ.’ Khi vị ấy quán xét sự nguy hại của các tư duy ấy, thì các tư duy bất thiện xấu ác có liên quan đến tham, có liên quan đến sân, có liên quan đến si được từ bỏ, đi đến chỗ chấm dứt. Do sự từ bỏ các tư duy ấy, nội tâm được an trú, lắng dịu, chuyên nhất, và định tĩnh.
Tassa ce, bhikkhave, bhikkhuno tesampi vitakkānaṁ ādīnavaṁ upaparikkhato uppajjanteva pāpakā akusalā vitakkā chandūpasaṁhitāpi dosūpasaṁhitāpi mohūpasaṁhitāpi, tena, bhikkhave, bhikkhunā tesaṁ vitakkānaṁ asatiamanasikāro āpajjitabbo. Tassa tesaṁ vitakkānaṁ asatiamanasikāraṁ āpajjato ye pāpakā akusalā vitakkā chandūpasaṁhitāpi dosūpasaṁhitāpi mohūpasaṁhitāpi te pahīyanti te abbhatthaṁ gacchanti. Tesaṁ pahānā ajjhattameva cittaṁ santiṭṭhati sannisīdati ekodi hoti samādhiyati. Seyyathāpi, bhikkhave, cakkhumā puriso āpāthagatānaṁ rūpānaṁ adassanakāmo assa; so nimīleyya vā aññena vā apalokeyya; evameva kho, bhikkhave, tassa ce bhikkhuno tesampi vitakkānaṁ ādīnavaṁ upaparikkhato uppajjanteva pāpakā akusalā vitakkā chandūpasaṁhitāpi dosūpasaṁhitāpi mohūpasaṁhitāpi, te pahīyanti te abbhatthaṁ gacchanti. Tesaṁ pahānā ajjhattameva cittaṁ santiṭṭhati sannisīdati ekodi hoti samādhiyati.
Now, suppose that mendicant is examining the drawbacks of those thoughts, but bad, unskillful thoughts connected with desire, hate, and delusion keep coming up. They should try to forget and ignore them. As they do so, those bad thoughts are given up and come to an end. Their mind becomes stilled internally; it settles, unifies, and becomes immersed in samādhi. Suppose there was a person with clear eyes, and some undesirable sights came into their range of vision. They’d just close their eyes or look away. In the same way, a mendicant … those bad thoughts are given up and come to an end …
218. Này các tỳ khưu, nếu trong khi vị tỳ khưu ấy đang quán xét sự nguy hại của các tư duy ấy, mà các tư duy bất thiện xấu ác có liên quan đến tham, có liên quan đến sân, có liên quan đến si vẫn cứ sanh khởi, thì này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên thực hành việc không nhớ nghĩ, không tác ý đến các tư duy ấy. Khi vị ấy thực hành việc không nhớ nghĩ, không tác ý đến các tư duy ấy, thì các tư duy bất thiện xấu ác có liên quan đến tham, có liên quan đến sân, có liên quan đến si được từ bỏ, đi đến chỗ chấm dứt. Do sự từ bỏ các tư duy ấy, nội tâm được an trú, lắng dịu, chuyên nhất, và định tĩnh. Này các tỳ khưu, ví như người có mắt sáng không muốn nhìn thấy các sắc pháp đi vào tầm mắt; người ấy có thể nhắm mắt lại hoặc nhìn đi nơi khác. Tương tự như thế, này các tỳ khưu, nếu trong khi vị tỳ khưu ấy đang quán xét sự nguy hại của các tư duy ấy, mà các tư duy bất thiện xấu ác có liên quan đến tham, có liên quan đến sân, có liên quan đến si vẫn cứ sanh khởi, thì các tư duy ấy được từ bỏ, đi đến chỗ chấm dứt. Do sự từ bỏ các tư duy ấy, nội tâm được an trú, lắng dịu, chuyên nhất, và định tĩnh.
Tassa ce, bhikkhave, bhikkhuno tesampi vitakkānaṁ asatiamanasikāraṁ āpajjato uppajjanteva pāpakā akusalā vitakkā chandūpasaṁhitāpi dosūpasaṁhitāpi mohūpasaṁhitāpi, tena, bhikkhave, bhikkhunā tesaṁ vitakkānaṁ vitakkasaṅkhārasaṇṭhānaṁ manasikātabbaṁ. Tassa tesaṁ vitakkānaṁ vitakkasaṅkhārasaṇṭhānaṁ manasikaroto ye pāpakā akusalā vitakkā chandūpasaṁhitāpi dosūpasaṁhitāpi mohūpasaṁhitāpi te pahīyanti te abbhatthaṁ gacchanti. Tesaṁ pahānā ajjhattameva cittaṁ santiṭṭhati sannisīdati ekodi hoti samādhiyati. Seyyathāpi, bhikkhave, puriso sīghaṁ gaccheyya. Tassa evamassa: ‘kiṁ nu kho ahaṁ sīghaṁ gacchāmi? Yannūnāhaṁ saṇikaṁ gaccheyyan’ti. So saṇikaṁ gaccheyya. Tassa evamassa: ‘kiṁ nu kho ahaṁ saṇikaṁ gacchāmi? Yannūnāhaṁ tiṭṭheyyan’ti. So tiṭṭheyya. Tassa evamassa: ‘kiṁ nu kho ahaṁ ṭhito? Yannūnāhaṁ nisīdeyyan’ti. So nisīdeyya. Tassa evamassa: ‘kiṁ nu kho ahaṁ nisinno? Yannūnāhaṁ nipajjeyyan’ti. So nipajjeyya. Evañhi so, bhikkhave, puriso oḷārikaṁ oḷārikaṁ iriyāpathaṁ abhinivajjetvā sukhumaṁ sukhumaṁ iriyāpathaṁ kappeyya.
Evameva kho, bhikkhave, tassa ce bhikkhuno tesampi vitakkānaṁ asatiamanasikāraṁ āpajjato uppajjanteva pāpakā akusalā vitakkā chandūpasaṁhitāpi dosūpasaṁhitāpi mohūpasaṁhitāpi te pahīyanti te abbhatthaṁ gacchanti. Tesaṁ pahānā ajjhattameva cittaṁ santiṭṭhati sannisīdati ekodi hoti samādhiyati.
Now, suppose that mendicant is ignoring and forgetting about those thoughts, but bad, unskillful thoughts connected with desire, hate, and delusion keep coming up. They should focus on stopping the formation of those thoughts. As they do so, those bad thoughts are given up and come to an end. Their mind becomes stilled internally; it settles, unifies, and becomes immersed in samādhi. Suppose there was a person walking quickly. They’d think: ‘Why am I walking so quickly? Why don’t I slow down?’ So they’d slow down. They’d think: ‘Why am I walking slowly? Why don’t I stand still?’ So they’d stand still. They’d think: ‘Why am I standing still? Why don’t I sit down?’ So they’d sit down. They’d think: ‘Why am I sitting? Why don’t I lie down?’ So they’d lie down. And so that person would shun successively coarser postures and adopt more subtle ones.
In the same way, a mendicant … those thoughts are given up and come to an end …
219. Này các Tỳ khưu, nếu vị Tỳ khưu ấy, trong khi không nhớ nghĩ, không tác ý đến các tầm ấy, mà các tầm ác, bất thiện liên hệ đến tham, liên hệ đến sân, liên hệ đến si vẫn khởi lên, thì này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu ấy nên tác ý đến nền tảng của sự tạo tác các tầm ấy. Khi vị ấy tác ý đến nền tảng của sự tạo tác các tầm ấy, thì các tầm ác, bất thiện liên hệ đến tham, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được đoạn trừ, chúng đi đến chỗ chấm dứt. Do sự đoạn trừ chúng, tâm an trú, lắng xuống, trở nên nhất tâm, được định tĩnh ngay trong nội tâm. Này các Tỳ khưu, ví như một người đang đi nhanh. Người ấy có thể suy nghĩ như sau: ‘Tại sao ta lại đi nhanh? Hay là ta nên đi chậm lại.’ Rồi người ấy đi chậm lại. Người ấy có thể suy nghĩ như sau: ‘Tại sao ta lại đi chậm? Hay là ta nên đứng lại.’ Rồi người ấy đứng lại. Người ấy có thể suy nghĩ như sau: ‘Tại sao ta lại đứng? Hay là ta nên ngồi xuống.’ Rồi người ấy ngồi xuống. Người ấy có thể suy nghĩ như sau: ‘Tại sao ta lại ngồi? Hay là ta nên nằm xuống.’ Rồi người ấy nằm xuống. Này các Tỳ khưu, như vậy người ấy đã từ bỏ oai nghi thô thiển hơn để thực hành oai nghi vi tế hơn. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, nếu vị Tỳ khưu ấy, trong khi không nhớ nghĩ, không tác ý đến các tầm ấy, mà các tầm ác, bất thiện liên hệ đến tham, liên hệ đến sân, liên hệ đến si vẫn khởi lên, thì chúng được đoạn trừ, chúng đi đến chỗ chấm dứt. Do sự đoạn trừ chúng, tâm an trú, lắng xuống, trở nên nhất tâm, được định tĩnh ngay trong nội tâm.
Tassa ce, bhikkhave, bhikkhuno tesampi vitakkānaṁ vitakkasaṅkhārasaṇṭhānaṁ manasikaroto uppajjanteva pāpakā akusalā vitakkā chandūpasaṁhitāpi dosūpasaṁhitāpi mohūpasaṁhitāpi. Tena, bhikkhave, bhikkhunā dantebhidantamādhāya jivhāya tāluṁ āhacca cetasā cittaṁ abhiniggaṇhitabbaṁ abhinippīḷetabbaṁ abhisantāpetabbaṁ. Tassa dantebhidantamādhāya jivhāya tāluṁ āhacca cetasā cittaṁ abhiniggaṇhato abhinippīḷayato abhisantāpayato ye pāpakā akusalā vitakkā chandūpasaṁhitāpi dosūpasaṁhitāpi mohūpasaṁhitāpi te pahīyanti te abbhatthaṁ gacchanti. Tesaṁ pahānā ajjhattameva cittaṁ santiṭṭhati sannisīdati ekodi hoti samādhiyati. Seyyathāpi, bhikkhave, balavā puriso dubbalataraṁ purisaṁ sīse vā gale vā khandhe vā gahetvā abhiniggaṇheyya abhinippīḷeyya abhisantāpeyya; evameva kho, bhikkhave, tassa ce bhikkhuno tesampi vitakkānaṁ vitakkasaṅkhārasaṇṭhānaṁ manasikaroto uppajjanteva pāpakā akusalā vitakkā chandūpasaṁhitāpi dosūpasaṁhitāpi mohūpasaṁhitāpi. Tena, bhikkhave, bhikkhunā dantebhidantamādhāya jivhāya tāluṁ āhacca cetasā cittaṁ abhiniggaṇhitabbaṁ abhinippīḷetabbaṁ abhisantāpetabbaṁ. Tassa dantebhidantamādhāya jivhāya tāluṁ āhacca cetasā cittaṁ abhiniggaṇhato abhinippīḷayato abhisantāpayato ye pāpakā akusalā vitakkā chandūpasaṁhitāpi dosūpasaṁhitāpi mohūpasaṁhitāpi te pahīyanti te abbhatthaṁ gacchanti. Tesaṁ pahānā ajjhattameva cittaṁ santiṭṭhati sannisīdati ekodi hoti samādhiyati.
Now, suppose that mendicant is focusing on stopping the formation of those thoughts, but bad, unskillful thoughts connected with desire, hate, and delusion keep coming up. With teeth clenched and tongue pressed against the roof of the mouth, they should squeeze, squash, and crush mind with mind. As they do so, those bad thoughts are given up and come to an end. Their mind becomes stilled internally; it settles, unifies, and becomes immersed in samādhi. It’s like a strong man who grabs a weaker man by the head or throat or shoulder and squeezes, squashes, and crushes them. In the same way, a mendicant … with teeth clenched and tongue pressed against the roof of the mouth, should squeeze, squash, and crush mind with mind. As they do so, those bad thoughts are given up and come to an end. Their mind becomes stilled internally; it settles, unifies, and becomes immersed in samādhi.
220. Này các Tỳ khưu, nếu vị Tỳ khưu ấy, trong khi tác ý đến nền tảng của sự tạo tác các tầm ấy, mà các tầm ác, bất thiện liên hệ đến tham, liên hệ đến sân, liên hệ đến si vẫn khởi lên, thì này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu ấy nên nghiến răng, lưỡi chạm vào vòm miệng, dùng tâm để đàn áp, đè nén, làm khổ não tâm. Khi vị ấy nghiến răng, lưỡi chạm vào vòm miệng, dùng tâm để đàn áp, đè nén, làm khổ não tâm, thì các tầm ác, bất thiện liên hệ đến tham, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được đoạn trừ, chúng đi đến chỗ chấm dứt. Do sự đoạn trừ chúng, tâm an trú, lắng xuống, trở nên nhất tâm, được định tĩnh ngay trong nội tâm. Này các Tỳ khưu, ví như một người đàn ông khỏe mạnh nắm lấy một người đàn ông yếu hơn ở đầu, hoặc ở cổ, hoặc ở vai rồi đàn áp, đè nén, làm cho khổ não; cũng vậy, này các Tỳ khưu, nếu vị Tỳ khưu ấy, trong khi tác ý đến nền tảng của sự tạo tác các tầm ấy, mà các tầm ác, bất thiện liên hệ đến tham, liên hệ đến sân, liên hệ đến si vẫn khởi lên, thì này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu ấy nên nghiến răng, lưỡi chạm vào vòm miệng, dùng tâm để đàn áp, đè nén, làm khổ não tâm. Khi vị ấy nghiến răng, lưỡi chạm vào vòm miệng, dùng tâm để đàn áp, đè nén, làm khổ não tâm, thì các tầm ác, bất thiện liên hệ đến tham, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được đoạn trừ, chúng đi đến chỗ chấm dứt. Do sự đoạn trừ chúng, tâm an trú, lắng xuống, trở nên nhất tâm, được định tĩnh ngay trong nội tâm.
Yato kho, bhikkhave, bhikkhuno yaṁ nimittaṁ āgamma yaṁ nimittaṁ manasikaroto uppajjanti pāpakā akusalā vitakkā chandūpasaṁhitāpi dosūpasaṁhitāpi mohūpasaṁhitāpi, tassa tamhā nimittā aññaṁ nimittaṁ manasikaroto kusalūpasaṁhitaṁ ye pāpakā akusalā vitakkā chandūpasaṁhitāpi dosūpasaṁhitāpi mohūpasaṁhitāpi te pahīyanti te abbhatthaṁ gacchanti. Tesaṁ pahānā ajjhattameva cittaṁ santiṭṭhati sannisīdati ekodi hoti samādhiyati. Tesampi vitakkānaṁ ādīnavaṁ upaparikkhato ye pāpakā akusalā vitakkā chandūpasaṁhitāpi dosūpasaṁhitāpi mohūpasaṁhitāpi te pahīyanti te abbhatthaṁ gacchanti. Tesaṁ pahānā ajjhattameva cittaṁ santiṭṭhati sannisīdati ekodi hoti samādhiyati. Tesampi vitakkānaṁ asatiamanasikāraṁ āpajjato ye pāpakā akusalā vitakkā chandūpasaṁhitāpi dosūpasaṁhitāpi mohūpasaṁhitāpi te pahīyanti te abbhatthaṁ gacchanti. Tesaṁ pahānā ajjhattameva cittaṁ santiṭṭhati sannisīdati ekodi hoti samādhiyati. Tesampi vitakkānaṁ vitakkasaṅkhārasaṇṭhānaṁ manasikaroto ye pāpakā akusalā vitakkā chandūpasaṁhitāpi dosūpasaṁhitāpi mohūpasaṁhitāpi te pahīyanti te abbhatthaṁ gacchanti. Tesaṁ pahānā ajjhattameva cittaṁ santiṭṭhati sannisīdati ekodi hoti samādhiyati. Dantebhidantamādhāya jivhāya tāluṁ āhacca cetasā cittaṁ abhiniggaṇhato abhinippīḷayato abhisantāpayato ye pāpakā akusalā vitakkā chandūpasaṁhitāpi dosūpasaṁhitāpi mohūpasaṁhitāpi te pahīyanti te abbhatthaṁ gacchanti. Tesaṁ pahānā ajjhattameva cittaṁ santiṭṭhati sannisīdati ekodi hoti samādhiyati. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, bhikkhu vasī vitakkapariyāyapathesu. Yaṁ vitakkaṁ ākaṅkhissati taṁ vitakkaṁ vitakkessati, yaṁ vitakkaṁ nākaṅkhissati na taṁ vitakkaṁ vitakkessati. Acchecchi taṇhaṁ, vivattayi saṁyojanaṁ, sammā mānābhisamayā antamakāsi dukkhassā”ti.
Now, take the mendicant who is focusing on some subject that gives rise to bad, unskillful thoughts connected with desire, hate, and delusion. They focus on some other subject connected with the skillful … They examine the drawbacks of those thoughts … They try to forget and ignore about those thoughts … They focus on stopping the formation of those thoughts … With teeth clenched and tongue pressed against the roof of the mouth, they squeeze, squash, and crush mind with mind. When they succeed in each of these things, those bad thoughts are given up and come to an end. Their mind becomes stilled internally; it settles, unifies, and becomes immersed in samādhi. This is called a mendicant who is a master of the ways of thought. They will think what they want to think, and they won’t think what they don’t want to think. They’ve cut off craving, cast off the fetters, and by rightly comprehending conceit have made an end of suffering.”
221. Này các Tỳ khưu, khi một vị Tỳ khưu, do nương vào một tướng nào đó, do tác ý đến một tướng nào đó, mà khởi lên các tư duy bất thiện, xấu xa, có liên quan đến tham, có liên quan đến sân, có liên quan đến si, thì vị ấy, từ tướng ấy, nên tác ý đến một tướng khác có liên quan đến thiện. Khi vị ấy tác ý đến một tướng khác có liên quan đến thiện, thì các tư duy bất thiện, xấu xa, có liên quan đến tham, có liên quan đến sân, có liên quan đến si liền được đoạn trừ, đi đến hoại diệt. Do sự đoạn trừ chúng, nội tâm được an trú, lắng dịu, nhất tâm, và định tĩnh. Vị ấy cũng nên quán xét sự nguy hại của các tư duy ấy. Khi vị ấy quán xét sự nguy hại của các tư duy ấy, thì các tư duy bất thiện, xấu xa, có liên quan đến tham, có liên quan đến sân, có liên quan đến si liền được đoạn trừ, đi đến hoại diệt. Do sự đoạn trừ chúng, nội tâm được an trú, lắng dịu, nhất tâm, và định tĩnh. Vị ấy cũng nên đi đến chỗ không nhớ, không tác ý đến các tư duy ấy. Khi vị ấy đi đến chỗ không nhớ, không tác ý đến các tư duy ấy, thì các tư duy bất thiện, xấu xa, có liên quan đến tham, có liên quan đến sân, có liên quan đến si liền được đoạn trừ, đi đến hoại diệt. Do sự đoạn trừ chúng, nội tâm được an trú, lắng dịu, nhất tâm, và định tĩnh. Vị ấy cũng nên tác ý đến sự an tịnh hành tướng của các tư duy ấy. Khi vị ấy tác ý đến sự an tịnh hành tướng của các tư duy ấy, thì các tư duy bất thiện, xấu xa, có liên quan đến tham, có liên quan đến sân, có liên quan đến si liền được đoạn trừ, đi đến hoại diệt. Do sự đoạn trừ chúng, nội tâm được an trú, lắng dịu, nhất tâm, và định tĩnh. Vị ấy nên nghiến răng, ép lưỡi lên nóc họng, dùng tâm chế ngự, nhiếp phục, và đả phá tâm. Khi vị ấy nghiến răng, ép lưỡi lên nóc họng, dùng tâm chế ngự, nhiếp phục, và đả phá tâm, thì các tư duy bất thiện, xấu xa, có liên quan đến tham, có liên quan đến sân, có liên quan đến si liền được đoạn trừ, đi đến hoại diệt. Do sự đoạn trừ chúng, nội tâm được an trú, lắng dịu, nhất tâm, và định tĩnh. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu này được gọi là người làm chủ các đường lối của tư duy. Vị ấy muốn tư duy về điều gì thì sẽ tư duy về điều đó; không muốn tư duy về điều gì thì sẽ không tư duy về điều đó. Vị ấy đã cắt đứt ái dục, đã tháo bỏ kiết sử, do chánh quán thông kiêu mạn, đã chấm dứt khổ đau.
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
Thế Tôn đã thuyết như vậy. Các Tỳ khưu ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Vitakkasaṇṭhānasuttaṁ niṭṭhitaṁ dasamaṁ.
Kinh An Tịnh Tư Duy, kinh thứ mười, đã chấm dứt.
Sīhanādavaggo niṭṭhito dutiyo.
Tassuddānaṁ
Phẩm Tiếng Rống Sư Tử, phẩm thứ hai, đã chấm dứt.
Cūḷasīhanādalomahaṁsavaro, Mahācūḷadukkhakkhandhaanumānikasuttaṁ; Khilapatthamadhupiṇḍikadvidhāvitakka, Pañcanimittakathā puna vaggo.
Tiểu kinh Sư Tử Rống và kinh Lông Tóc Dựng Ngược (Đại kinh Sư Tử Rống) là những kinh ưu hạng, kinh Đại Khổ Uẩn, kinh Tiểu Khổ Uẩn, và kinh Suy Xét; kinh Hoang Vu, kinh Rừng Rậm, kinh Cục Mật, kinh Song Tầm, và lại nữa là lời dạy về năm tướng – đó là phẩm kinh.