- Majjhima Nikāya 19
Dvedhāvitakkasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Dvedhāvitakkasutta
Tôi nghe như vầy:
SC 1Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc). Tại đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Chư Tỷ-kheo”.:” Thưa vâng”, các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn thuyết giảng như sau
SC 2—Chư Tỷ-kheo, trước khi Ta giác ngộ, khi chưa thành Chánh Giác và còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau: “Ta sống suy tư và chia hai suy tầm”. Chư Tỷ-kheo, phàm có dục tầm nào, sân tầm nào, hại tầm nào, Ta phân thành phần thứ nhất; phàm có ly dục tầm nào, vô sân tầm nào, vô hại tầm nào, Ta phân thành phần thứ hai.
SC 3Chư Tỷ-kheo, rồi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Khi dục tầm khởi lên, Ta tuệ tri: “Dục tầm này khởi lên nơi Ta, và dục tầm này đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai, diệt trí tuệ, dự phần vào phiền não, không đưa đến Niết-bàn”. Chư Tỷ-kheo, khi Ta suy tư: “Dục tầm này đưa đến tự hại”, dục tầm được biến mất, Chư Tỷ-kheo, khi Ta suy tư: “Dục tầm đưa đến hại người”, dục tầm được biến mất. Chư Tỷ-kheo, khi Ta suy tư: “Dục tầm đưa đến hại cả hai”, dục tầm được biến mất. Chư Tỷ-kheo, khi Ta suy tư: “Dục tầm diệt trí tuệ, dự phần vào phiền não, không đưa đến Niết-bàn”, dục tầm được biến mất. Chư Tỷ-kheo, như vậy Ta tiếp tục trừ bỏ, xả ly và đoạn tận dục tầm.
SC 4Chư Tỷ-kheo, trong khi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, sân tầm khởi lên … (như trên) … hại tầm khởi lên. Ta tuệ tri: “Hại tầm này khởi lên nơi Ta, và hại tầm này đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai, diệt trí tuệ, dự phần vào phiền não, không đưa đến Niết-bàn”. Chư Tỷ-kheo, khi Ta suy tư: “Hại tầm này đưa đến tự hại” … “Hại tầm diệt trí tuệ, dự phần vào phiền não, không đưa đến Niết-bàn”, hại tầm biến mất. Chư Tỷ-kheo, như vậy Ta tiếp tục trừ bỏ, xả ly và đoạn tận hại tầm.
SC 5Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo suy tư, quán sát nhiều vấn đề gì, thời tâm sanh khuynh hướng đối với vấn đề ấy. Chư Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo suy tư, quán sát nhiều về dục tầm, vị ấy từ bỏ ly dục tầm. Khi tâm đã nặng về dục tầm, thời tâm vị ấy có khuynh hướng về dục tầm. Chư Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo suy tư quán sát nhiều về sân tầm … (như trên) … về hại tầm, vị ấy từ bỏ vô hại tầm. Khi tâm đã đặt nặng về hại tầm thời tâm vị ấy có khuynh hướng về hại tầm.
SC 6Chư Tỷ-kheo, ví như vào cuối tháng mùa mưa, về mùa thu, khi lúa đã trổ hạt, một người mục đồng chăn giữ bò, cầm roi đánh các con bò bên này, đánh bên kia, chế ngự chúng, ngăn chận chúng. Vì sao vậy? Chư Tỷ-kheo, vì người mục đồng thấy do nhân duyên này, đưa đến sự chết, sự tù tội, sự đánh đập hay sự trách móc. Chư Tỷ-kheo, cũng vậy, Ta đã thấy sự nguy hại, sự hạ liệt, sự uế nhiễm của các pháp bất thiện, và thấy sự viễn ly, sự lợi ích, sự thanh tịnh của các thiện pháp.
SC 7Chư Tỷ-kheo, trong khi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, khi ly dục tầm khởi lên, Ta tuệ tri như vầy: “Ly dục tầm này khởi lên nơi Ta và ly dục tầm này không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai, tăng trưởng trí tuệ, không dự phần vào phiền não, đưa đến Niết-bàn”. Chư Tỷ-kheo, nếu ban đêm Ta suy tư, quán sát (về ly dục tầm) không phải từ nhân duyên ấy Ta thấy sợ hãi. Chư Tỷ-kheo, nếu ban ngày Ta suy tư, quán sát (về ly dục tầm), không phải từ nhân duyên ấy Ta thấy sợ hãi. Chư Tỷ-kheo, nếu ban đêm, ban ngày, Ta suy tư, quán sát (về ly dục tầm), không phải từ nhân duyên ấy Ta thấy sợ hãi. Và Ta suy tư, quán sát quá lâu, thân Ta có thể mệt mỏi; khi thân mệt mỏi thì tâm bị dao động; khi tâm bị dao động thì tâm rất khó được định tĩnh. Chư Tỷ-kheo, rồi tự nội thân Ta trấn an tâm, trấn tịnh tâm, khiến được nhất tâm, khiến thành định tĩnh. Vì sao vậy? Vì để tâm Ta khỏi dao động.
SC 8Chư Tỷ-kheo, trong khi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, khi vô sân tầm khởi lên … (như trên) … vô hại tầm khởi lên. Ta tuệ tri như vậy: “Vô hại tầm này khởi lên nơi Ta và vô hại tầm này không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai, tăng trưởng trí tuệ, không dự phần vào phiền não, đưa đến Niết-bàn”. Chư Tỷ-kheo, nếu ban đêm … không phải từ nhân duyên ấy, mà Ta thấy sợ hãi. Và nếu Ta suy tư, quán sát quá lâu, thân Ta có thể mệt mỏi; khi thân mệt mỏi thì tâm bị dao động, khi tâm bị dao động, tâm rất khó được định tĩnh. Chư Tỷ-kheo, rồi tự nội thân Ta trấn an tâm, trấn tịnh tâm, khiến được nhất tâm, khiến thành định tĩnh. Vì sao vậy? Vì để tâm Ta khỏi dao động.
SC 9Chư Tỷ-kheo, nếu vị Tỷ-kheo suy tư, quán sát nhiều về vấn đề gì thời tâm sanh khuynh hướng đối với vấn đề ấy. Chư Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo suy tư, quán sát nhiều về ly dục tầm, vị ấy từ bỏ dục tầm. Khi tâm đã đặt nặng về ly dục tầm, tâm vị ấy có khuynh hướng về ly dục tầm. Chư Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo suy tư, quán sát nhiều về vô sân tầm … (như trên) … nếu Tỷ-kheo suy tư, quán sát nhiều về bất hại tầm, vị ấy từ bỏ hại tầm. Khi tâm đã đặt nặng về bất hại tầm, thời tâm vị ấy có khuynh hướng về bất hại tầm.
SC 10Chư Tỷ-kheo, ví như vào cuối tháng hè, khi tất cả lúa gạo đã cất vào kho thóc, một người mục đồng chăn giữ các con bò. Khi người mục đồng ở dưới gốc cây hay ở ngoài trời, người ấy có thể nghĩ đến có việc cần phải làm, và người ấy nghĩ: “Ðây là những con bò”. Chư Tỷ-kheo, cũng vậy ở đây, có việc cần phải làm, và Ta nghĩ: “Ðây là những pháp”.
SC 11Chư Tỷ-kheo, Ta phát tâm dõng mãnh, tinh tấn, không có tiêu cực, niệm không tán loạn được an trú, thân được khinh an, không có cuồng nhiệt, tâm được định tĩnh nhất tâm.
SC 12Chư Tỷ-kheo, Ta ly dục, ly ác, bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Diệt tầm và tứ, Ta chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, Ta chứng và an trú Thiền thứ ba. Xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, Ta chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.
SC 13Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến túc mạng trí. Ta nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Ta nhớ rằng: “Tại chỗ kia, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, các món ăn như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, Ta được sanh ra tại chỗ này. Tại chỗ này, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, các món ăn như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ này, Ta được sanh ra ở đây”. Như vậy Ta nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết.
SC 14Chư Tỷ-kheo, trong đêm canh đầu Ta chứng được minh thứ nhất, vô minh diệt, minh sanh; bóng tối diệt, ánh sáng sanh, trong khi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
SC 15Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến sanh tử trí về chúng sanh. Ta với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, thấy sự sống và sự chết của chúng sanh. Ta tuệ tri rằng, chúng sanh người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Những chúng sanh làm những ác hạnh về thân, ác hạnh về lời nói, ác hạnh về ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sanh nào thành tựu những thiện hạnh về thân, thành tựu những thiện hạnh về lời nói, thành tựu những thiện hạnh về ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến, những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, cõi Trời, trên đời này. Như vậy với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, Ta thấy sự sống chết của chúng sanh. Ta tuệ tri rằng, chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ.
SC 16Chư Tỷ-kheo, trong đêm canh giữa, Ta chứng được minh thứ hai, vô minh diệt, minh sanh; bóng tối diệt, ánh sáng sanh, trong khi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
SC 17Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến lậu tận trí. Ta thắng tri như thật: “Ðây là khổ”, thắng tri như thật: “Ðây là nguyên nhân của khổ”, thắng tri như thật: “Ðây là khổ diệt”, thắng tri như thật: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”, thắng tri như thật: “Ðây là những lậu hoặc”, thắng tri như thật: “Ðây là nguyên nhân các lậu hoặc”, thắng tri như thật: “Ðây là các lậu hoặc diệt”, thắng tri như thật: “Ðây là con đường đưa đến các lậu hoặc diệt”.
SC 18Nhờ biết như vậy, nhờ thấy như vậy, tâm của Ta thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên trí hiểu biết: Ta đã giải thoát. Ta đã thắng tri: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
SC 19Chư Tỷ-kheo, trong đêm canh ba, Ta chứng được minh thứ ba, vô minh diệt, minh sanh; bóng tối diệt, ánh sáng sanh, trong khi Ta sống không phóng dật nhiệt tâm tinh cần.
SC 20Chư Tỷ-kheo, giống như trong khu rừng rậm rạp có một hồ nước lớn thâm sâu, và một đoàn nai lớn sống gần một bên. Có một người đến, không muốn chúng được lợi ích, không muốn chúng được hạnh phúc, không muốn chúng được an ổn khỏi các ách nạn. Nếu có con đường nào được yên ổn, được an toàn, đưa đến hoan hỷ, người ấy sẽ chận đóng con đường này lại, sẽ mở con đường nguy hiểm, sẽ đặt con mồi đực, sẽ đặt con mồi cái. Chư Tỷ-kheo, như vậy, sau một thời gian đoàn nai lớn ấy gặp ách nạn và hao mòn dần. Chư Tỷ-kheo, có một người đến, muốn đoàn nai ấy được lợi ích, muốn chúng được hạnh phúc, muốn chúng được an ổn khỏi các ách nạn. Nếu có con đường nào được yên ổn, được an toàn, người ấy sẽ mở con đường này, sẽ đóng con đường nguy hiểm lại, sẽ đem con mồi đực đi, sẽ hủy bỏ con mồi cái. Chư Tỷ-kheo, như vậy đoàn nai lớn ấy sau một thời gian sẽ được tăng trưởng, hưng thịnh, thành mãn.
SC 21Chư Tỷ-kheo, Ta nói ví dụ ấy để giải thích ý nghĩa như sau: Chư Tỷ-kheo, hồ nước lớn, thâm sâu chỉ cho các dục. Chư Tỷ-kheo, đoàn nai lớn chỉ cho các loài hữu tình. Chư Tỷ-kheo, con người không muốn chúng được lợi ích, không muốn chúng được hạnh phúc, không muốn chúng được an ổn khỏi các ách nạn chỉ cho ác ma. Chư Tỷ-kheo, con đường nguy hiểm chỉ cho con đường tà đạo có tám ngành, tức là tà tri kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định. Chư Tỷ-kheo, con mồi đực chỉ cho hỷ và tham. Chư Tỷ-kheo, con mồi cái chỉ cho vô minh. Chư Tỷ-kheo, còn người muốn chúng được lợi ích, muốn chúng được hạnh phúc, muốn chúng được an ổn khỏi các ách nạn chỉ cho Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Con đường yên ổn, an toàn, đưa đến hoan hỷ chỉ cho con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định.
SC 22Chư Tỷ-kheo, như vậy Ta mở con đường yên ổn, an toàn, đưa đến hoan hỷ, Ta đóng con đường nguy hiểm, Ta mang đi con mồi đực, Ta hủy bỏ con mồi cái. Chư Tỷ-kheo, những gì vị Ðạo Sư cần phải làm cho các đệ tử vì lòng thương tưởng họ, những điều ấy Ta đã làm, vì lòng thương tưởng các Người. Chư Tỷ-kheo, đây là các gốc cây, đây là các chỗ trống. Hãy Thiền định, chớ có phóng dật, chớ có hối tiếc về sau. Ðó là lời giáo huấn của Ta.
SC 23Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 11–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
9. Kinh Song Tầm
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
206. Tôi nghe như vầy – một thời, đức Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Tại đó, đức Thế Tôn đã gọi các vị tỳ khưu: – ‘Này các tỳ khưu.’ – ‘Bạch Thế Tôn,’ các vị tỳ khưu ấy đã vâng đáp đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn đã nói điều này:
“Pubbeva me, bhikkhave, sambodhā anabhisambuddhassa bodhisattasseva sato etadahosi: ‘yannūnāhaṁ dvidhā katvā dvidhā katvā vitakke vihareyyan’ti. So kho ahaṁ, bhikkhave, yo cāyaṁ kāmavitakko yo ca byāpādavitakko yo ca vihiṁsāvitakko—imaṁ ekaṁ bhāgamakāsiṁ; yo cāyaṁ nekkhammavitakko yo ca abyāpādavitakko yo ca avihiṁsāvitakko—imaṁ dutiyaṁ bhāgamakāsiṁ.
“Mendicants, before my awakening—when I was still unawakened but intent on awakening—I thought: ‘Why don’t I meditate by continually dividing my thoughts into two classes?’ So I assigned sensual, malicious, and cruel thoughts to one class. And I assigned thoughts of renunciation, good will, and harmlessness to the second class.
‘Này các tỳ khưu, trước khi giác ngộ, khi ta còn là vị Bồ-tát chưa giác ngộ, ta đã có suy nghĩ này: ‘Hay là ta hãy phân chia các tầm (suy nghĩ) thành hai loại, hai loại mà trú.’ Này các tỳ khưu, ta đã làm như sau: những tầm nào là dục tầm, sân tầm, và hại tầm – ta xếp thành một loại; những tầm nào là ly dục tầm, vô sân tầm, và vô hại tầm – ta xếp thành loại thứ hai.
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, evaṁ appamattassa ātāpino pahitattassa viharato uppajjati kāmavitakko. So evaṁ pajānāmi: ‘uppanno kho me ayaṁ kāmavitakko. So ca kho attabyābādhāyapi saṁvattati, parabyābādhāyapi saṁvattati, ubhayabyābādhāyapi saṁvattati, paññānirodhiko vighātapakkhiko anibbānasaṁvattaniko’. ‘Attabyābādhāya saṁvattatī’tipi me, bhikkhave, paṭisañcikkhato abbhatthaṁ gacchati; ‘parabyābādhāya saṁvattatī’tipi me, bhikkhave, paṭisañcikkhato abbhatthaṁ gacchati; ‘ubhayabyābādhāya saṁvattatī’tipi me, bhikkhave, paṭisañcikkhato abbhatthaṁ gacchati; ‘paññānirodhiko vighātapakkhiko anibbānasaṁvattaniko’tipi me, bhikkhave, paṭisañcikkhato abbhatthaṁ gacchati. So kho ahaṁ, bhikkhave, uppannuppannaṁ kāmavitakkaṁ pajahameva vinodameva byantameva naṁ akāsiṁ.
Then, as I meditated—diligent, keen, and resolute—a sensual thought arose. I understood: ‘This sensual thought has arisen in me. It leads to hurting myself, hurting others, and hurting both. It blocks wisdom, it’s on the side of distress, and it doesn’t lead to extinguishment.’ When I reflected that it leads to hurting myself, it went away. When I reflected that it leads to hurting others, it went away. When I reflected that it leads to hurting both, it went away. When I reflected that it blocks wisdom, it’s on the side of distress, and it doesn’t lead to extinguishment, it went away. So I gave up, dispelled, and eliminated any sensual thoughts that arose.
207. Này các tỳ khưu, trong khi Ta đang sống không buông lung, nhiệt tâm, quyết chí như vậy, tầm về dục khởi lên. Ta biết như sau: ‘Tầm về dục này đã khởi lên nơi Ta. Và nó đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; nó làm trí tuệ diệt, thuộc phe phiền não, không đưa đến Niết Bàn.’ Này các tỳ khưu, khi Ta suy xét: ‘Nó đưa đến tự hại,’ thì nó đi đến biến mất. Này các tỳ khưu, khi Ta suy xét: ‘Nó đưa đến hại người,’ thì nó đi đến biến mất. Này các tỳ khưu, khi Ta suy xét: ‘Nó đưa đến hại cả hai,’ thì nó đi đến biến mất. Này các tỳ khưu, khi Ta suy xét: ‘Nó làm trí tuệ diệt, thuộc phe phiền não, không đưa đến Niết Bàn,’ thì nó đi đến biến mất. Này các tỳ khưu, Ta đã từ bỏ, loại trừ, chấm dứt tầm về dục mỗi khi nó khởi lên.
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, evaṁ appamattassa ātāpino pahitattassa viharato uppajjati byāpādavitakko …pe… uppajjati vihiṁsāvitakko. So evaṁ pajānāmi: ‘uppanno kho me ayaṁ vihiṁsāvitakko. So ca kho attabyābādhāyapi saṁvattati, parabyābādhāyapi saṁvattati, ubhayabyābādhāyapi saṁvattati, paññānirodhiko vighātapakkhiko anibbānasaṁvattaniko’. ‘Attabyābādhāya saṁvattatī’tipi me, bhikkhave, paṭisañcikkhato abbhatthaṁ gacchati; ‘parabyābādhāya saṁvattatī’tipi me, bhikkhave, paṭisañcikkhato abbhatthaṁ gacchati; ‘ubhayabyābādhāya saṁvattatī’tipi me, bhikkhave, paṭisañcikkhato abbhatthaṁ gacchati; ‘paññānirodhiko vighātapakkhiko anibbānasaṁvattaniko’tipi me, bhikkhave, paṭisañcikkhato abbhatthaṁ gacchati. So kho ahaṁ, bhikkhave, uppannuppannaṁ vihiṁsāvitakkaṁ pajahameva vinodameva byantameva naṁ akāsiṁ.
Yaññadeva, bhikkhave, bhikkhu bahulamanuvitakketi anuvicāreti, tathā tathā nati hoti cetaso. Kāmavitakkañce, bhikkhave, bhikkhu bahulamanuvitakketi anuvicāreti, pahāsi nekkhammavitakkaṁ, kāmavitakkaṁ bahulamakāsi, tassa taṁ kāmavitakkāya cittaṁ namati. Byāpādavitakkañce, bhikkhave …pe… vihiṁsāvitakkañce, bhikkhave, bhikkhu bahulamanuvitakketi anuvicāreti, pahāsi avihiṁsāvitakkaṁ, vihiṁsāvitakkaṁ bahulamakāsi, tassa taṁ vihiṁsāvitakkāya cittaṁ namati.
Seyyathāpi, bhikkhave, vassānaṁ pacchime māse saradasamaye kiṭṭhasambādhe gopālako gāvo rakkheyya. So tā gāvo tato tato daṇḍena ākoṭeyya paṭikoṭeyya sannirundheyya sannivāreyya. Taṁ kissa hetu?
Then, as I meditated—diligent, keen, and resolute—a malicious thought arose … a cruel thought arose. I understood: ‘This cruel thought has arisen in me. It leads to hurting myself, hurting others, and hurting both. It blocks wisdom, it’s on the side of distress, and it doesn’t lead to extinguishment.’ When I reflected that it leads to hurting myself … hurting others … hurting both, it went away. When I reflected that it blocks wisdom, it’s on the side of distress, and it doesn’t lead to extinguishment, it went away. So I gave up, dispelled, and eliminated any cruel thoughts that arose.
Whatever a mendicant frequently thinks about and considers becomes their heart’s inclination. If they often think about and consider sensual thoughts, they’ve given up the thought of renunciation to cultivate sensual thought. Their mind inclines to sensual thoughts. If they often think about and consider malicious thoughts … their mind inclines to malicious thoughts. If they often think about and consider cruel thoughts … their mind inclines to cruel thoughts.
Suppose it’s the last month of the rainy season, in autumn, when the crops grow closely together, and a cowherd must take care of the cattle. He’d tap and poke them with his staff on this side and that to keep them in check. Why is that?
208. Này các tỳ khưu, trong khi Ta đang sống không buông lung, nhiệt tâm, quyết chí như vậy, tầm về sân khởi lên... tầm về hại khởi lên. Ta biết như sau: ‘Tầm về hại này đã khởi lên nơi Ta. Và nó đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; nó làm trí tuệ diệt, thuộc phe phiền não, không đưa đến Niết Bàn.’ Này các tỳ khưu, khi Ta suy xét: ‘Nó đưa đến tự hại,’ thì nó đi đến biến mất. Này các tỳ khưu, khi Ta suy xét: ‘Nó đưa đến hại người,’ thì nó đi đến biến mất. Này các tỳ khưu, khi Ta suy xét: ‘Nó đưa đến hại cả hai,’ thì nó đi đến biến mất. Này các tỳ khưu, khi Ta suy xét: ‘Nó làm trí tuệ diệt, thuộc phe phiền não, không đưa đến Niết Bàn,’ thì nó đi đến biến mất. Này các tỳ khưu, Ta đã từ bỏ, loại trừ, chấm dứt tầm về hại mỗi khi nó khởi lên.
Evameva kho ahaṁ, bhikkhave, addasaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ ādīnavaṁ okāraṁ saṅkilesaṁ, kusalānaṁ dhammānaṁ nekkhamme ānisaṁsaṁ vodānapakkhaṁ.
In the same way, I saw that unskillful qualities have the drawbacks of sordidness and corruption, and that skillful qualities have the benefit and cleansing power of renunciation.
Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu tầm và tứ nhiều về điều gì, thì tâm vị ấy nghiêng về điều đó. Này các tỳ khưu, nếu vị tỳ khưu tầm và tứ nhiều về tầm dục, vị ấy từ bỏ tầm xuất ly, làm cho tầm dục trở nên nhiều, tâm vị ấy nghiêng về tầm dục. Này các tỳ khưu, nếu vị tỳ khưu tầm và tứ nhiều về tầm sân... Này các tỳ khưu, nếu vị tỳ khưu tầm và tứ nhiều về tầm hại, vị ấy từ bỏ tầm bất hại, làm cho tầm hại trở nên nhiều, tâm vị ấy nghiêng về tầm hại. Này các tỳ khưu, ví như vào tháng cuối mùa mưa, vào mùa thu, khi lúa chín mọc chen chúc, người chăn bò sẽ chăn giữ đàn bò của mình. Người ấy sẽ dùng gậy mà đánh, mà đập, mà ngăn, mà chặn chúng từ phía này phía kia. Vì sao vậy? Này các tỳ khưu, người chăn bò ấy thấy rằng do nhân duyên đó mà có thể bị giết, bị trói, bị phạt, hay bị khiển trách. Cũng vậy, này các tỳ khưu, Ta đã thấy sự nguy hiểm, sự hèn hạ, sự ô nhiễm của các pháp bất thiện, và lợi ích, khía cạnh thanh tịnh trong sự xuất ly của các pháp thiện.
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, evaṁ appamattassa ātāpino pahitattassa viharato uppajjati nekkhammavitakko. So evaṁ pajānāmi: ‘uppanno kho me ayaṁ nekkhammavitakko. So ca kho nevattabyābādhāya saṁvattati, na parabyābādhāya saṁvattati, na ubhayabyābādhāya saṁvattati, paññāvuddhiko avighātapakkhiko nibbānasaṁvattaniko’. Rattiñcepi naṁ, bhikkhave, anuvitakkeyyaṁ anuvicāreyyaṁ, neva tatonidānaṁ bhayaṁ samanupassāmi. Divasañcepi naṁ, bhikkhave, anuvitakkeyyaṁ anuvicāreyyaṁ, neva tatonidānaṁ bhayaṁ samanupassāmi. Rattindivañcepi naṁ, bhikkhave, anuvitakkeyyaṁ anuvicāreyyaṁ, neva tatonidānaṁ bhayaṁ samanupassāmi. Api ca kho me aticiraṁ anuvitakkayato anuvicārayato kāyo kilameyya.
Then, as I meditated—diligent, keen, and resolute—a thought of renunciation arose. I understood: ‘This thought of renunciation has arisen in me. It doesn’t lead to hurting myself, hurting others, or hurting both. It nourishes wisdom, it’s on the side of freedom from distress, and it leads to extinguishment.’ If I were to keep on thinking and considering this all night … all day … all night and day, I see no danger that would come from that. Still, thinking and considering for too long would tire my body.
209. Này các tỳ khưu, trong khi Ta đang sống không buông lung, nhiệt tâm, quyết chí như vậy, tầm về xuất ly khởi lên. Ta biết như sau: ‘Tầm về xuất ly này đã khởi lên nơi Ta. Và nó không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai; nó làm trí tuệ tăng trưởng, không thuộc phe phiền não, đưa đến Niết Bàn.’ Này các tỳ khưu, dù cho Ta có tầm và tứ về nó suốt đêm, Ta cũng không thấy có sự nguy hiểm nào từ đó. Này các tỳ khưu, dù cho Ta có tầm và tứ về nó suốt ngày, Ta cũng không thấy có sự nguy hiểm nào từ đó. Này các tỳ khưu, dù cho Ta có tầm và tứ về nó suốt ngày đêm, Ta cũng không thấy có sự nguy hiểm nào từ đó. Nhưng nếu Ta tầm và tứ quá lâu, thân Ta sẽ mệt mỏi. Khi thân mệt mỏi, tâm sẽ bị dao động. Khi tâm dao động, tâm sẽ xa rời định. Này các tỳ khưu, Ta đã an trú tâm vào bên trong, làm cho nó lắng xuống, nhất tâm, và định tĩnh. Vì sao vậy? ‘Mong rằng tâm ta không bị dao động.’
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, evaṁ appamattassa ātāpino pahitattassa viharato uppajjati abyāpādavitakko …pe… uppajjati avihiṁsāvitakko. So evaṁ pajānāmi: ‘uppanno kho me ayaṁ avihiṁsāvitakko. So ca kho nevattabyābādhāya saṁvattati, na parabyābādhāya saṁvattati, na ubhayabyābādhāya saṁvattati, paññāvuddhiko avighātapakkhiko nibbānasaṁvattaniko’. Rattiñcepi naṁ, bhikkhave, anuvitakkeyyaṁ anuvicāreyyaṁ, neva tatonidānaṁ bhayaṁ samanupassāmi. Divasañcepi naṁ, bhikkhave, anuvitakkeyyaṁ anuvicāreyyaṁ, neva tatonidānaṁ bhayaṁ samanupassāmi. Rattindivañcepi naṁ, bhikkhave, anuvitakkeyyaṁ anuvicāreyyaṁ, neva tatonidānaṁ bhayaṁ samanupassāmi. Api ca kho me aticiraṁ anuvitakkayato anuvicārayato kāyo kilameyya. Kāye kilante cittaṁ ūhaññeyya. Ūhate citte ārā cittaṁ samādhimhāti. So kho ahaṁ, bhikkhave, ajjhattameva cittaṁ saṇṭhapemi, sannisādemi, ekodiṁ karomi samādahāmi. Taṁ kissa hetu? ‘Mā me cittaṁ ūhaññī’ti.
Then, as I meditated—diligent, keen, and resolute—a thought of good will arose … a thought of harmlessness arose. I understood: ‘This thought of harmlessness has arisen in me. It doesn’t lead to hurting myself, hurting others, or hurting both. It nourishes wisdom, it’s on the side of freedom from distress, and it leads to extinguishment.’ If I were to keep on thinking and considering this all night … all day … all night and day, I see no danger that would come from that. Still, thinking and considering for too long would tire my body. And when the body is tired, the mind is stressed. And when the mind is stressed, it’s far from immersion. So I stilled, settled, unified, and immersed my mind internally. Why is that? So that my mind would not be stressed.
210. Này các Tỷ kheo, trong khi Ta sống không dể duôi, nhiệt tâm, quyết chí như vậy, tư duy vô sân khởi lên... tư duy bất hại khởi lên. Ta biết như sau: ‘Tư duy bất hại này đã khởi lên trong ta. Và nó không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai; nó làm tăng trưởng trí tuệ, thuộc phe không phiền não, đưa đến Niết-bàn’. Này các Tỷ kheo, dù cho Ta có suy tầm, có tứ sát về nó suốt đêm, Ta cũng không thấy có sự nguy hiểm nào từ đó. Dù cho Ta có suy tầm, có tứ sát về nó suốt ngày, Ta cũng không thấy có sự nguy hiểm nào từ đó. Dù cho Ta có suy tầm, có tứ sát về nó suốt ngày đêm, Ta cũng không thấy có sự nguy hiểm nào từ đó. Nhưng này, do Ta suy tầm và tứ sát quá lâu, thân có thể mệt mỏi. Khi thân mệt mỏi, tâm có thể bị dao động. Khi tâm dao động, tâm sẽ xa rời định. Này các Tỷ kheo, do vậy, Ta đã an trú tâm, làm cho lắng dịu tâm, làm cho nhất tâm, và định tâm ngay trong nội tại. Vì lý do gì? ‘Mong rằng tâm của Ta không bị dao động’.
Yaññadeva, bhikkhave, bhikkhu bahulamanuvitakketi anuvicāreti, tathā tathā nati hoti cetaso. Nekkhammavitakkañce, bhikkhave, bhikkhu bahulamanuvitakketi anuvicāreti, pahāsi kāmavitakkaṁ, nekkhammavitakkaṁ bahulamakāsi, tassaṁ taṁ nekkhammavitakkāya cittaṁ namati. Abyāpādavitakkañce, bhikkhave …pe… avihiṁsāvitakkañce, bhikkhave, bhikkhu bahulamanuvitakketi anuvicāreti, pahāsi vihiṁsāvitakkaṁ, avihiṁsāvitakkaṁ bahulamakāsi, tassa taṁ avihiṁsāvitakkāya cittaṁ namati.
Seyyathāpi, bhikkhave, gimhānaṁ pacchime māse sabbasassesu gāmantasambhatesu gopālako gāvo rakkheyya, tassa rukkhamūlagatassa vā abbhokāsagatassa vā satikaraṇīyameva hoti: ‘etā gāvo’ti. Evamevaṁ kho, bhikkhave, satikaraṇīyameva ahosi: ‘ete dhammā’ti.
Whatever a mendicant frequently thinks about and considers becomes their heart’s inclination. If they often think about and consider thoughts of renunciation, they’ve given up sensual thought to cultivate the thought of renunciation. Their mind inclines to thoughts of renunciation. If they often think about and consider thoughts of good will … their mind inclines to thoughts of good will. If they often think about and consider thoughts of harmlessness … their mind inclines to thoughts of harmlessness.
Suppose it’s the last month of summer, when all the crops have been gathered within a village, and a cowherd must take care of the cattle. While at the root of a tree or in the open he need only be mindful that the cattle are there. In the same way I needed only to be mindful that those things were there.
Này các Tỷ kheo, vị Tỷ kheo suy tầm và tứ sát nhiều về điều gì, tâm của vị ấy sẽ nghiêng về điều đó. Này các Tỷ kheo, nếu vị Tỷ kheo suy tầm và tứ sát nhiều về tư duy xuất ly, vị ấy từ bỏ tư duy về dục, thực hành nhiều về tư duy xuất ly, tâm của vị ấy nghiêng về tư duy xuất ly. Này các Tỷ kheo, nếu về tư duy vô sân... Này các Tỷ kheo, nếu vị Tỷ kheo suy tầm và tứ sát nhiều về tư duy bất hại, vị ấy từ bỏ tư duy hãm hại, thực hành nhiều về tư duy bất hại, tâm của vị ấy nghiêng về tư duy bất hại. Này các Tỷ kheo, ví như vào tháng cuối của mùa hạ, khi tất cả mùa màng đã được thu hoạch về gần làng, người chăn bò trong khi chăn dắt đàn bò, dù ở dưới gốc cây hay ở ngoài trời, chỉ cần ghi nhớ rằng: ‘Kia là đàn bò’. Cũng vậy, này các Tỷ kheo, chỉ cần ghi nhớ rằng: ‘Đây là các pháp’.
Āraddhaṁ kho pana me, bhikkhave, vīriyaṁ ahosi asallīnaṁ, upaṭṭhitā sati asammuṭṭhā, passaddho kāyo asāraddho, samāhitaṁ cittaṁ ekaggaṁ.
So kho ahaṁ, bhikkhave, vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja vihāsiṁ.
Vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja vihāsiṁ.
Pītiyā ca virāgā upekkhako ca vihāsiṁ sato ca sampajāno, sukhañca kāyena paṭisaṁvedesiṁ, yaṁ taṁ ariyā ācikkhanti ‘upekkhako satimā sukhavihārī’ti, tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja vihāsiṁ.
Sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja vihāsiṁ.
My energy was roused up and unflagging, my mindfulness was established and lucid, my body was tranquil and undisturbed, and my mind was immersed and unified in samādhi.
Quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, I entered and remained in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected.
As the placing of the mind and keeping it connected were stilled, I entered and remained in the second absorption, which has the rapture and bliss born of immersion, with internal clarity and mind at one, without placing the mind and keeping it connected.
And with the fading away of rapture, I entered and remained in the third absorption, where I meditated with equanimity, mindful and aware, experiencing for themselves the bliss of which the noble ones declare, ‘Equanimous and mindful, one meditates in bliss.’
With the giving up of pleasure and pain, and the disappearance of former happiness and sadness, I entered and remained in the fourth absorption, without pleasure or pain, with pure equanimity and mindfulness.
211. Này các Tỷ kheo, khi ấy, tinh tấn của Ta được khởi động, không thối chuyển; niệm được thiết lập, không quên lãng; thân được khinh an, không bồn chồn; tâm được định tĩnh, nhất tâm. Này các Tỷ kheo, Ta ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Do làm cho tầm và tứ lắng dịu, Ta chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, nội tĩnh nhất tâm, không tầm không tứ. Do ly hỷ, Ta trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là ‘xả niệm lạc trú’, Ta chứng và trú thiền thứ ba. Do xả lạc, xả khổ, diệt trừ hỷ ưu đã có từ trước, Ta chứng và trú thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh.
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte pubbenivāsānussatiñāṇāya cittaṁ abhininnāmesiṁ. So anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarāmi. Seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ …pe… iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarāmi.
Ayaṁ kho me, bhikkhave, rattiyā paṭhame yāme paṭhamā vijjā adhigatā; avijjā vihatā vijjā uppannā; tamo vihato āloko uppanno; yathā taṁ appamattassa ātāpino pahitattassa viharato.
When my mind had immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—I extended it toward recollection of past lives. I recollected many kinds of past lives, with features and details.
This was the first knowledge, which I achieved in the first watch of the night. Ignorance was banished and knowledge arose; darkness was banished and light arose, as happens for a meditator who is diligent, keen, and resolute.
212. Khi tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu uế, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, không dao động như vậy, Ta hướng tâm đến túc mạng minh. Ta nhớ lại nhiều đời sống quá khứ. Nghĩa là, một đời... với các nét đại cương và các chi tiết, Ta nhớ lại nhiều đời sống quá khứ. Này các Tỷ kheo, đó là minh thứ nhất Ta đã chứng được vào canh đầu của đêm; vô minh đã được diệt trừ, minh đã sanh khởi; bóng tối đã được diệt trừ, ánh sáng đã sanh khởi; như vậy xảy ra cho người sống không dể duôi, nhiệt tâm, quyết chí.
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte sattānaṁ cutūpapātañāṇāya cittaṁ abhininnāmesiṁ. So dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passāmi cavamāne upapajjamāne …pe… ime vata bhonto sattā kāyaduccaritena samannāgatā …pe… iti dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passāmi cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate, yathākammūpage satte pajānāmi.
Ayaṁ kho me, bhikkhave, rattiyā majjhime yāme dutiyā vijjā adhigatā; avijjā vihatā vijjā uppannā; tamo vihato āloko uppanno; yathā taṁ appamattassa ātāpino pahitattassa viharato.
When my mind had become immersed in samādhi like this, I extended it toward knowledge of the death and rebirth of sentient beings. With clairvoyance that is purified and superhuman, I saw sentient beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in a good place or a bad place. I understood how sentient beings pass on according to their deeds.
This was the second knowledge, which I achieved in the middle watch of the night. Ignorance was banished and knowledge arose; darkness was banished and light arose, as happens for a meditator who is diligent, keen, and resolute.
213. Khi tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu uế, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, không dao động như vậy, Ta hướng tâm đến thiên nhãn minh. Với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, Ta thấy các chúng sanh đang chết đi và sanh lại... Này các hiền giả, các chúng sanh này do thành tựu thân ác hành... Với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, Ta thấy các chúng sanh chết đi và sanh lại, hèn hạ và cao sang, xinh đẹp và xấu xí, may mắn và bất hạnh, Ta biết rõ chúng sanh tùy theo hạnh nghiệp của họ. Này các Tỷ kheo, đó là minh thứ hai Ta đã chứng được vào canh giữa của đêm; vô minh đã được diệt trừ, minh đã sanh khởi; bóng tối đã được diệt trừ, ánh sáng đã sanh khởi; như vậy xảy ra cho người sống không dể duôi, nhiệt tâm, quyết chí.
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte āsavānaṁ khayañāṇāya cittaṁ abhininnāmesiṁ. So ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ abbhaññāsiṁ, ‘ayaṁ dukkhasamudayo’ti yathābhūtaṁ abbhaññāsiṁ, ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti yathābhūtaṁ abbhaññāsiṁ, ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ abbhaññāsiṁ.
‘Ime āsavā’ti yathābhūtaṁ abbhaññāsiṁ, ‘ayaṁ āsavasamudayo’ti yathābhūtaṁ abbhaññāsiṁ, ‘ayaṁ āsavanirodho’ti yathābhūtaṁ abbhaññāsiṁ, ‘ayaṁ āsavanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ abbhaññāsiṁ. Tassa me evaṁ jānato evaṁ passato kāmāsavāpi cittaṁ vimuccittha, bhavāsavāpi cittaṁ vimuccittha, avijjāsavāpi cittaṁ vimuccittha, vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ ahosi: ‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti abbhaññāsiṁ.
Ayaṁ kho me, bhikkhave, rattiyā pacchime yāme tatiyā vijjā adhigatā; avijjā vihatā vijjā uppannā; tamo vihato āloko uppanno; yathā taṁ appamattassa ātāpino pahitattassa viharato.
When my mind had become immersed in samādhi like this, I extended it toward knowledge of the ending of defilements. I truly understood: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering.’
I truly understood: ‘These are defilements’ … ‘This is the origin of defilements’ … ‘This is the cessation of defilements’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of defilements.’ Knowing and seeing like this, my mind was freed from the defilements of sensuality, desire to be reborn, and ignorance. I understood: ‘Rebirth is ended; the spiritual journey has been completed; what had to be done has been done; there is nothing further for this place.’
This was the third knowledge, which I achieved in the last watch of the night. Ignorance was banished and knowledge arose; darkness was banished and light arose, as happens for a meditator who is diligent, keen, and resolute.
214. Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu uế, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, đạt đến trạng thái bất động như vậy, Ta đã hướng tâm đến Lậu tận trí. Ta đã thắng tri như thật: ‘Đây là khổ’. Ta đã thắng tri như thật: ‘Đây là khổ tập’. Ta đã thắng tri như thật: ‘Đây là khổ diệt’. Ta đã thắng tri như thật: ‘Đây là con đường đưa đến khổ diệt’. Ta đã thắng tri như thật: ‘Đây là các lậu hoặc’. Ta đã thắng tri như thật: ‘Đây là sự phát sanh của các lậu hoặc’. Ta đã thắng tri như thật: ‘Đây là sự đoạn diệt của các lậu hoặc’. Ta đã thắng tri như thật: ‘Đây là con đường đưa đến sự đoạn diệt của các lậu hoặc’. Đối với Ta, người biết như vậy, thấy như vậy, tâm đã giải thoát khỏi dục lậu, tâm đã giải thoát khỏi hữu lậu, tâm đã giải thoát khỏi vô minh lậu. Khi đã giải thoát, trí khởi lên rằng: ‘Đã được giải thoát’. Ta đã thắng tri: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa’. Này các Tỳ khưu, đây là minh thứ ba đã được Ta chứng đắc vào canh cuối của đêm; vô minh đã bị diệt trừ, minh đã sanh khởi; bóng tối đã bị diệt trừ, ánh sáng đã sanh khởi; cũng như đối với người sống không dể duôi, nhiệt tâm, tinh cần.
Seyyathāpi, bhikkhave, araññe pavane mahantaṁ ninnaṁ pallalaṁ. Tamenaṁ mahāmigasaṅgho upanissāya vihareyya. Tassa kocideva puriso uppajjeyya anatthakāmo ahitakāmo ayogakkhemakāmo. So yvāssa maggo khemo sovatthiko pītigamanīyo taṁ maggaṁ pidaheyya, vivareyya kummaggaṁ, odaheyya okacaraṁ, ṭhapeyya okacārikaṁ. Evañhi so, bhikkhave, mahāmigasaṅgho aparena samayena anayabyasanaṁ āpajjeyya. Tasseva kho pana, bhikkhave, mahato migasaṅghassa kocideva puriso uppajjeyya atthakāmo hitakāmo yogakkhemakāmo. So yvāssa maggo khemo sovatthiko pītigamanīyo taṁ maggaṁ vivareyya, pidaheyya kummaggaṁ, ūhaneyya okacaraṁ, nāseyya okacārikaṁ. Evañhi so, bhikkhave, mahāmigasaṅgho aparena samayena vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjeyya.
Suppose that in a forested wilderness there was an expanse of low-lying marshes, and a large herd of deer lived nearby. Then along comes a person who wants to harm, injure, and threaten them. They close off the safe, secure path that leads to happiness, and open the wrong path. There they plant domesticated male and female deer as decoys so that, in due course, that herd of deer would fall to ruin and disaster. Then along comes a person who wants to help keep the herd of deer safe. They open up the safe, secure path that leads to happiness, and close off the wrong path. They get rid of the decoys so that, in due course, that herd of deer would grow, increase, and mature.
215. Này các Tỳ khưu, ví như trong một khu rừng vắng có một cái ao lớn trũng sâu. Một đàn nai lớn nương vào đó mà sống. Rồi có một người nào đó xuất hiện, mong muốn điều bất lợi, điều không lợi ích, điều không an ổn cho chúng. Người ấy bèn đóng con đường an ổn, an toàn, dễ đi, và mở ra con đường xấu, đặt con nai đực làm mồi nhử, đặt con nai cái làm mồi nhử. Này các Tỳ khưu, như vậy, sau một thời gian, đàn nai lớn ấy sẽ gặp phải tai họa, hoạn nạn. Lại nữa, này các Tỳ khưu, đối với đàn nai lớn ấy, có một người nào đó xuất hiện, mong muốn điều lợi, điều lợi ích, điều an ổn cho chúng. Người ấy bèn mở con đường an ổn, an toàn, dễ đi, và đóng con đường xấu, dẹp bỏ con nai đực làm mồi nhử, dẹp bỏ con nai cái làm mồi nhử. Này các Tỳ khưu, như vậy, sau một thời gian, đàn nai lớn ấy sẽ được tăng trưởng, phát triển, đông đúc.
Upamā kho me ayaṁ, bhikkhave, katā atthassa viññāpanāya. Ayaṁ cevettha attho—mahantaṁ ninnaṁ pallalanti kho, bhikkhave, kāmānametaṁ adhivacanaṁ. Mahāmigasaṅghoti kho, bhikkhave, sattānametaṁ adhivacanaṁ. Puriso anatthakāmo ahitakāmo ayogakkhemakāmoti kho, bhikkhave, mārassetaṁ pāpimato adhivacanaṁ. Kummaggoti kho, bhikkhave, aṭṭhaṅgikassetaṁ micchāmaggassa adhivacanaṁ, seyyathidaṁ—micchādiṭṭhiyā micchāsaṅkappassa micchāvācāya micchākammantassa micchāājīvassa micchāvāyāmassa micchāsatiyā micchāsamādhissa. Okacaroti kho, bhikkhave, nandīrāgassetaṁ adhivacanaṁ. Okacārikāti kho, bhikkhave, avijjāyetaṁ adhivacanaṁ. Puriso atthakāmo hitakāmo yogakkhemakāmoti kho, bhikkhave, tathāgatassetaṁ adhivacanaṁ arahato sammāsambuddhassa. Khemo maggo sovatthiko pītigamanīyoti kho, bhikkhave, ariyassetaṁ aṭṭhaṅgikassa maggassa adhivacanaṁ, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhiyā sammāsaṅkappassa sammāvācāya sammākammantassa sammāājīvassa sammāvāyāmassa sammāsatiyā sammāsamādhissa.
I’ve made up this simile to make a point. And this is what it means. ‘An expanse of low-lying marshes’ is a term for sensual pleasures. ‘A large herd of deer’ is a term for sentient beings. ‘A person who wants to harm, injure, and threaten them’ is a term for Māra the Wicked. ‘The wrong path’ is a term for the wrong eightfold path, that is, wrong view, wrong purpose, wrong speech, wrong action, wrong livelihood, wrong effort, wrong mindfulness, and wrong immersion. ‘A domesticated male deer’ is a term for greed and relishing. ‘A domesticated female deer’ is a term for ignorance. ‘A person who wants to help keep the herd of deer safe’ is a term for the Realized One, the perfected one, the fully awakened Buddha. ‘The safe, secure path that leads to happiness’ is a term for the noble eightfold path, that is: right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion.
Này các Tỳ khưu, ví dụ này được Ta đưa ra để làm rõ ý nghĩa. Và đây là ý nghĩa của nó: Này các Tỳ khưu, ‘cái ao lớn trũng sâu’ là tên gọi của các dục. Này các Tỳ khưu, ‘đàn nai lớn’ là tên gọi của chúng sanh. Này các Tỳ khưu, ‘người mong muốn điều bất lợi, điều không lợi ích, điều không an ổn’ là tên gọi của Ác ma. Này các Tỳ khưu, ‘con đường xấu’ là tên gọi của Bát tà đạo, tức là: tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định. Này các Tỳ khưu, ‘con nai đực mồi nhử’ là tên gọi của hỷ tham. Này các Tỳ khưu, ‘con nai cái mồi nhử’ là tên gọi của vô minh. Này các Tỳ khưu, ‘người mong muốn điều lợi, điều lợi ích, điều an ổn’ là tên gọi của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Này các Tỳ khưu, ‘con đường an ổn, an toàn, dễ đi’ là tên gọi của Bát chánh đạo, tức là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
Iti kho, bhikkhave, vivaṭo mayā khemo maggo sovatthiko pītigamanīyo, pihito kummaggo, ūhato okacaro, nāsitā okacārikā.
Yaṁ, bhikkhave, satthārā karaṇīyaṁ sāvakānaṁ hitesinā anukampakena anukampaṁ upādāya, kataṁ vo taṁ mayā. Etāni, bhikkhave, rukkhamūlāni, etāni suññāgārāni; jhāyatha, bhikkhave, mā pamādattha; mā pacchā vippaṭisārino ahuvattha. Ayaṁ vo amhākaṁ anusāsanī”ti.
So, mendicants, I have opened up the safe, secure path to happiness and closed off the wrong path. And I have got rid of the male and female decoys.
Out of sympathy, I’ve done what a teacher should do who wants what’s best for their disciples. Here are these roots of trees, and here are these empty huts. Practice absorption, mendicants! Don’t be negligent! Don’t regret it later! This is my instruction to you.”
Này các Tỳ khưu, như vậy, con đường an ổn, an toàn, dễ đi đã được Ta mở ra; con đường xấu đã được đóng lại; con nai đực mồi nhử đã được dẹp bỏ; con nai cái mồi nhử đã bị tiêu diệt. Này các Tỳ khưu, việc gì bậc Đạo sư, vì lòng thương tưởng, tìm cầu lợi ích cho các đệ tử, cần phải làm do lòng từ mẫn, việc ấy đã được Ta làm cho các ngươi. Này các Tỳ khưu, đây là những gốc cây, đây là những ngôi nhà trống; này các Tỳ khưu, hãy thiền định, chớ có dể duôi; chớ để sau này phải hối hận. Đây là lời giáo huấn của chúng ta cho các ngươi.
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
Thế Tôn đã thuyết như vậy. Các Tỳ khưu ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Dvedhāvitakkasuttaṁ niṭṭhitaṁ navamaṁ.
Kinh Song Tầm, thứ chín, đã kết thúc.