- Majjhima Nikāya 17
Vanapatthasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Vanapatthasutta
Tôi nghe như vầy:
SC 1Một thời, Thế Tôn ở Sāvatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc). Ở đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. “Bạch Thế Tôn”, các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau: “Chư Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Người pháp môn về khu rừng. Hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng”.:” Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Những Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn thuyết giảng như sau
SC 2—Chư Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo sống tại một khu rừng nào. Tỷ-kheo sống tại khu rừng này, các niệm chưa được an trú không được an trú, tâm tư chưa được định tĩnh không được định tĩnh, các lậu hoặc chưa được hoàn toàn đoạn trừ không được hoàn toàn đoạn trừ, vô thượng an ổn khỏi các ách phược chưa được chứng đạt không được chứng đạt, và những vật dụng này cần thiết cho đời sống mà một người xuất gia cần phải sắm đủ, như y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, y dược trị bệnh, những vật dụng này kiếm được một cách khó khăn. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải suy nghĩ: “Ta sống tại khu rừng này. Khi ta sống tại khu rừng này, các niệm chưa được an trú không được an trú, tâm tư chưa được định tĩnh không được định tĩnh, các lậu hoặc chưa được hoàn toàn đoạn trừ không được hoàn toàn đoạn trừ, vô thượng an ổn khỏi các ách phược chưa được chứng đạt không được chứng đạt, và những vật dụng cần thiết cho đời sống mà một vị xuất gia cần phải sắm đủ, như y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, những vật dụng này kiếm được một cách khó khăn”. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy phải từ bỏ ngôi rừng ấy, không được ở lại, ngay lúc ban ngày hay lúc ban đêm.
SC 3Chư Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo sống tại một khu rừng nào. Tỷ-kheo sống tại khu rừng này, các niệm chưa được an trú không được an trú, tâm tư chưa được định tĩnh không được định tĩnh, các lậu hoặc chưa được hoàn toàn đoạn trừ không được hoàn toàn đoạn trừ, vô thượng an ổn khỏi các ách phược chưa được chứng đạt không được chứng đạt, và những vật dụng cần thiết cho đời sống mà một người xuất gia cần phải sắm đủ, như y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, những vật dụng này kiếm được một cách không khó khăn. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải suy nghĩ như sau: “Ta sống tại khu rừng này. Khi ta sống tại khu rừng này, các niệm chưa được an trú không được an trú … những vật dụng này kiếm được một cách không khó khăn. Nhưng không phải vì y phục mà ta xuất gia, từ bỏ gia đình sống không gia đình, không phải vì đồ ăn khất thực … không phải vì sàng tọa … không phải vì dược phẩm trị bệnh mà ta xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Nhưng trong khi ta ở tại khu rừng này, các niệm chưa được an trú không được an trú … vô thượng an ổn khỏi các ách phược chưa được chứng đạt không được chứng đạt”. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy chỉ với suy tính này, phải từ bỏ ngôi rừng ấy, không được ở lại.
SC 4Chư Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo sống tại một khu rừng nào. Tỷ-kheo sống tại khu rừng này, các niệm chưa được an trú được an trú, tâm tư chưa được định tĩnh được định tĩnh; các lậu hoặc chưa được hoàn toàn đoạn trừ được hoàn toàn đoạn trừ, vô thượng an ổn khỏi các ách phược chưa được chứng đạt được chứng đạt, nhưng những vật dụng cần thiết cho đời sống một người xuất gia cần phải sắm đủ, như y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, những vật này kiếm được một cách khó khăn. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải suy nghĩ như sau: “Ta sống tại khu rừng này. Khi ta sống tại khu rừng này, các niệm chưa được an trú được an trú … vô thượng an ổn khỏi các ách phược chưa được chứng đạt được chứng đạt … những vật dụng này kiếm được một cách khó khăn. Nhưng không phải vì y phục mà ta xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, không phải vì món ăn khất thực … không phải vì sàng tọa … không phải vì dược phẩm trị bệnh mà ta xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Nhưng trong khi ta ở tại khu rừng này, các niệm chưa được an trú được an trú … vô thượng an ổn khỏi các ách phược chưa được chứng đạt được chứng đạt”. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy chỉ với suy tính này, phải ở lại khu rừng ấy, không được bỏ đi.
SC 5Chư Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo sống tại một khu rừng nào. Tỷ-kheo sống tại khu rừng này, các niệm chưa được an trú được an trú … vô thượng an ổn khỏi các ách phược chưa được chứng đạt được chứng đạt. Và những vật dụng cần thiết … kiếm được một cách không khó khăn. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải suy nghĩ như sau: “Ta sống tại khu rừng này. Khi ta sống tại khu rừng này, các niệm chưa được an trú được an trú … vô thượng an ổn khỏi các ách phược chưa chứng đạt được chứng đạt, và những vật dụng này cần thiết … kiếm được một cách không khó khăn”. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy phải ở lại khu rừng cho đến trọn đời, không được rời bỏ.
SC 6Chư Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo sống tại một làng nào …
SC 7Chư Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo sống tại một thị trấn nào …
SC 8Chư Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo sống tại một đô thị nào …
SC 9Chư Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo sống tại một quốc gia nào …
SC 10Chư Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo sống gần một người nào. Tỷ-kheo sống gần người này, các niệm chưa được an trú không được an trú … không được chứng đạt, và những vật dụng này cần thiết … kiếm được một cách khó khăn. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải suy nghĩ như sau: “Ta sống gần người này. Khi ta sống gần người này, các niệm chưa được an trú không được an trú … không được chứng đạt, và những vật dụng này cần thiết … kiếm được một cách khó khăn”. Chư Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ấy ngay trong phần đêm ấy hay ngay trong phần ngày ấy, không phải xin phép, cần phải bỏ ngay người ấy mà đi, không cần theo sát người ấy.
SC 11Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống gần một người nào. Tỷ-kheo sống gần người ấy, các niệm chưa được an trú không được an trú … không được chứng đạt. Nhưng những vật dụng này cần thiết … kiếm được một cách không khó khăn. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải suy tư như sau: “Ta sống gần người này. Khi ta sống gần người này, các niệm chưa được an trú không được an trú … không được chứng đạt. Nhưng những vật dụng này cần thiết … kiếm được một cách không khó khăn. Nhưng không phải vì y phục mà ta xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình … không phải vì đồ ăn khất thực … không phải vì sàng tọa … không phải vì dược phẩm trị bệnh mà ta xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Và khi ta sống gần người này, các niệm chưa được an trú không được an trú … không được chứng đạt”. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy, chỉ với ước tính này, cần phải bỏ người ấy mà đi, không có xin phép, không có theo sát.
SC 12Chư Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo sống gần một người nào. Tỷ-kheo sống gần người ấy, các niệm chưa được an trú được an trú … được chứng đạt. Những vật dụng này cần thiết … kiếm được một cách khó khăn. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải suy tư như sau: “Ta sống gần người này. Khi ta sống gần người này, các niệm chưa được an trú được an trú … được chứng đạt. Những vật dụng này cần thiết … kiếm được một cách khó khăn. Nhưng không phải vì y phục mà ta xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình … không phải vì đồ ăn khất thực … không phải vì sàng tọa … không phải vì dược phẩm trị bệnh mà ta xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Và khi ta sống gần người này, các niệm chưa được an trú được an trú … vô thượng an ổn khỏi các ách phược chưa được chứng đạt được chứng đạt”. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy, chỉ với suy tính này, cần phải theo sát người ấy, không được bỏ đi.
SC 13Chư Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo sống gần một người nào. Tỷ-kheo sống gần người ấy, các niệm chưa được an trú được an trú, tâm không định tĩnh được định tĩnh, các lậu hoặc chưa được hoàn toàn đoạn trừ được hoàn toàn đoạn trừ, vô thượng an ổn khỏi các ách phược chưa được chứng đạt được chứng đạt, và những vật dụng cần thiết cho đời sống mà một người xuất gia cần phải sắm đủ, như y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, những vật dụng này kiếm được một cách không khó khăn. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải suy tư như sau: “Ta sống gần người này. Khi ta sống gần người này, các niệm chưa được an trú được an trú, tâm chưa được định tĩnh được định tĩnh, các lậu hoặc chưa được hoàn toàn đoạn trừ được hoàn toàn đoạn trừ, và vô thượng an ổn, khỏi ách phược chưa được thành đạt được thành đạt. Và những vật dụng cần thiết cho đời sống mà một vị xuất gia cần phải sắm đủ, như y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, những vật dụng này kiếm được một cách dễ dàng”. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy phải trọn đời theo sát người này, không được bỏ đi, dầu cho có bị xua đuổi.
SC 14Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Những Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 10–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
7. Kinh Rừng Rậm
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“vanapatthapariyāyaṁ vo, bhikkhave, desessāmi, taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasikarotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
“Mendicants, I will teach you an exposition about jungle thickets. Listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:
190. Tôi nghe như vầy: Một thời, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī, trong vườn Jeta của trưởng giả Anāthapiṇḍika. Khi ấy, Đức Thế Tôn gọi các vị tỳ khưu: 'Này các tỳ khưu'. Các vị tỳ khưu ấy vâng đáp Đức Thế Tôn: 'Bạch Thế Tôn'. Đức Thế Tôn đã nói điều này: 'Này các tỳ khưu, Ta sẽ thuyết giảng cho các con bài kinh về khu rừng. Các con hãy lắng nghe, hãy khéo tác ý, Ta sẽ nói'. Các vị tỳ khưu ấy vâng đáp Đức Thế Tôn: 'Thưa vâng, bạch Thế Tôn'. Đức Thế Tôn đã nói điều này:
“Idha, bhikkhave, bhikkhu aññataraṁ vanapatthaṁ upanissāya viharati. Tassa taṁ vanapatthaṁ upanissāya viharato anupaṭṭhitā ceva sati na upaṭṭhāti, asamāhitañca cittaṁ na samādhiyati, aparikkhīṇā ca āsavā na parikkhayaṁ gacchanti, ananuppattañca anuttaraṁ yogakkhemaṁ nānupāpuṇāti. Ye ca kho ime pabbajitena jīvitaparikkhārā samudānetabbā—cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārā—te kasirena samudāgacchanti. Tena, bhikkhave, bhikkhunā iti paṭisañcikkhitabbaṁ: ‘ahaṁ kho imaṁ vanapatthaṁ upanissāya viharāmi, tassa me imaṁ vanapatthaṁ upanissāya viharato anupaṭṭhitā ceva sati na upaṭṭhāti, asamāhitañca cittaṁ na samādhiyati, aparikkhīṇā ca āsavā na parikkhayaṁ gacchanti, ananuppattañca anuttaraṁ yogakkhemaṁ nānupāpuṇāmi. Ye ca kho ime pabbajitena jīvitaparikkhārā samudānetabbā—cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārā—te kasirena samudāgacchantī’ti. Tena, bhikkhave, bhikkhunā rattibhāgaṁ vā divasabhāgaṁ vā tamhā vanapatthā pakkamitabbaṁ, na vatthabbaṁ.
“Mendicants, take the case of a mendicant who lives close by a jungle thicket. As they do so, their mindfulness does not become established, their mind does not become immersed in samādhi, their defilements do not come to an end, and they do not arrive at the supreme sanctuary from the yoke. And the necessities of life that a renunciate requires—robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick—are hard to come by. That mendicant should reflect: ‘While living close by this jungle thicket, my mindfulness does not become established, my mind does not become immersed in samādhi, my defilements do not come to an end, and I do not arrive at the supreme sanctuary from the yoke. And the necessities of life that a renunciate requires—robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick—are hard to come by.’ That mendicant should leave that jungle thicket that very time of night or day; they should not stay there.
191. Này các tỳ khưu, ở đây, có vị tỳ khưu sống nương vào một khu rừng nào đó. Đối với vị ấy, trong khi sống nương vào khu rừng ấy, niệm chưa được an lập thì không được an lập, tâm chưa được định tĩnh thì không được định tĩnh, các lậu hoặc chưa được đoạn tận thì không đi đến đoạn tận, và vị ấy không chứng đạt được sự an ổn vô thượng khỏi các ách縛 mà chưa chứng đạt. Và những vật dụng cần thiết cho đời sống của bậc xuất gia cần phải tìm kiếm – tức là y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh – chúng có được một cách khó khăn. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên suy xét như vầy: 'Ta đang sống nương vào khu rừng này. Đối với ta, trong khi sống nương vào khu rừng này, niệm chưa được an lập thì không được an lập, tâm chưa được định tĩnh thì không được định tĩnh, các lậu hoặc chưa được đoạn tận thì không đi đến đoạn tận, và ta không chứng đạt được sự an ổn vô thượng khỏi các ách縛 mà chưa chứng đạt. Và những vật dụng cần thiết cho đời sống của bậc xuất gia cần phải tìm kiếm – tức là y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh – chúng có được một cách khó khăn'. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy, hoặc ban đêm hoặc ban ngày, nên rời khỏi khu rừng ấy, không nên ở lại.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu aññataraṁ vanapatthaṁ upanissāya viharati. Tassa taṁ vanapatthaṁ upanissāya viharato anupaṭṭhitā ceva sati na upaṭṭhāti, asamāhitañca cittaṁ na samādhiyati, aparikkhīṇā ca āsavā na parikkhayaṁ gacchanti, ananuppattañca anuttaraṁ yogakkhemaṁ nānupāpuṇāti. Ye ca kho ime pabbajitena jīvitaparikkhārā samudānetabbā—cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārā—te appakasirena samudāgacchanti. Tena, bhikkhave, bhikkhunā iti paṭisañcikkhitabbaṁ: ‘ahaṁ kho imaṁ vanapatthaṁ upanissāya viharāmi. Tassa me imaṁ vanapatthaṁ upanissāya viharato anupaṭṭhitā ceva sati na upaṭṭhāti asamāhitañca cittaṁ na samādhiyati, aparikkhīṇā ca āsavā na parikkhayaṁ gacchanti, ananuppattañca anuttaraṁ yogakkhemaṁ nānupāpuṇāmi. Ye ca kho ime pabbajitena jīvitaparikkhārā samudānetabbā—cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārā—te appakasirena samudāgacchanti. Na kho panāhaṁ cīvarahetu agārasmā anagāriyaṁ pabbajito na piṇḍapātahetu …pe… na senāsanahetu …pe… na gilānappaccayabhesajjaparikkhārahetu agārasmā anagāriyaṁ pabbajito. Atha ca pana me imaṁ vanapatthaṁ upanissāya viharato anupaṭṭhitā ceva sati na upaṭṭhāti, asamāhitañca cittaṁ na samādhiyati, aparikkhīṇā ca āsavā na parikkhayaṁ gacchanti, ananuppattañca anuttaraṁ yogakkhemaṁ nānupāpuṇāmī’ti. Tena, bhikkhave, bhikkhunā saṅkhāpi tamhā vanapatthā pakkamitabbaṁ, na vatthabbaṁ.
Take another case of a mendicant who lives close by a jungle thicket. Their mindfulness does not become established … But the necessities of life are easy to come by. That mendicant should reflect: ‘While living close by this jungle thicket, my mindfulness does not become established … But the necessities of life are easy to come by. But I didn’t go forth from the lay life to homelessness for the sake of a robe, almsfood, lodgings, or medicines and supplies for the sick. Moreover, while living close by this jungle thicket, my mindfulness does not become established …’ That mendicant should, after appraisal, leave that jungle thicket; they should not stay there.
192. Lại nữa, này các tỳ khưu, ở đây, có vị tỳ khưu sống nương vào một khu rừng nào đó. Đối với vị ấy, trong khi sống nương vào khu rừng ấy, niệm chưa được an lập thì không được an lập, tâm chưa được định tĩnh thì không được định tĩnh, các lậu hoặc chưa được đoạn tận thì không đi đến đoạn tận, và vị ấy không chứng đạt được sự an ổn vô thượng khỏi các ách縛 mà chưa chứng đạt. Và những vật dụng cần thiết cho đời sống của bậc xuất gia cần phải tìm kiếm – tức là y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh – chúng có được một cách không khó khăn. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên suy xét như vầy: 'Ta đang sống nương vào khu rừng này. Đối với ta, trong khi sống nương vào khu rừng này, niệm chưa được an lập thì không được an lập, tâm chưa được định tĩnh thì không được định tĩnh, các lậu hoặc chưa được đoạn tận thì không đi đến đoạn tận, và ta không chứng đạt được sự an ổn vô thượng khỏi các ách縛 mà chưa chứng đạt. Và những vật dụng cần thiết cho đời sống của bậc xuất gia cần phải tìm kiếm – tức là y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh – chúng có được một cách không khó khăn. Tuy nhiên, ta xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình không phải vì y phục, không phải vì vật thực khất thực ... không phải vì sàng tọa ... không phải vì dược phẩm trị bệnh. Thế nhưng, đối với ta, trong khi sống nương vào khu rừng này, niệm chưa được an lập thì không được an lập, tâm chưa được định tĩnh thì không được định tĩnh, các lậu hoặc chưa được đoạn tận thì không đi đến đoạn tận, và ta không chứng đạt được sự an ổn vô thượng khỏi các ách縛 mà chưa chứng đạt'. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy, sau khi đã cân nhắc, cũng nên rời khỏi khu rừng ấy, không nên ở lại.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu aññataraṁ vanapatthaṁ upanissāya viharati. Tassa taṁ vanapatthaṁ upanissāya viharato anupaṭṭhitā ceva sati upaṭṭhāti, asamāhitañca cittaṁ samādhiyati, aparikkhīṇā ca āsavā parikkhayaṁ gacchanti, ananuppattañca anuttaraṁ yogakkhemaṁ anupāpuṇāti. Ye ca kho ime pabbajitena jīvitaparikkhārā samudānetabbā—cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārā, te kasirena samudāgacchanti. Tena, bhikkhave, bhikkhunā iti paṭisañcikkhitabbaṁ: ‘ahaṁ kho imaṁ vanapatthaṁ upanissāya viharāmi. Tassa me imaṁ vanapatthaṁ upanissāya viharato anupaṭṭhitā ceva sati upaṭṭhāti asamāhitañca cittaṁ samādhiyati, aparikkhīṇā ca āsavā parikkhayaṁ gacchanti, ananuppattañca anuttaraṁ yogakkhemaṁ anupāpuṇāmi. Ye ca kho ime pabbajitena jīvitaparikkhārā samudānetabbā—cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārā—te kasirena samudāgacchanti. Na kho panāhaṁ cīvarahetu agārasmā anagāriyaṁ pabbajito, na piṇḍapātahetu …pe… na senāsanahetu …pe… na gilānappaccayabhesajjaparikkhārahetu agārasmā anagāriyaṁ pabbajito. Atha ca pana me imaṁ vanapatthaṁ upanissāya viharato anupaṭṭhitā ceva sati upaṭṭhāti, asamāhitañca cittaṁ samādhiyati, aparikkhīṇā ca āsavā parikkhayaṁ gacchanti, ananuppattañca anuttaraṁ yogakkhemaṁ anupāpuṇāmī’ti. Tena, bhikkhave, bhikkhunā saṅkhāpi tasmiṁ vanapatthe vatthabbaṁ, na pakkamitabbaṁ.
Take another case of a mendicant who lives close by a jungle thicket. As they do so, their mindfulness becomes established, their mind becomes immersed in samādhi, their defilements come to an end, and they arrive at the supreme sanctuary from the yoke. But the necessities of life that a renunciate requires—robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick—are hard to come by. That mendicant should reflect: ‘While living close by this jungle thicket, my mindfulness becomes established … But the necessities of life are hard to come by. But I didn’t go forth from the lay life to homelessness for the sake of a robe, almsfood, lodgings, or medicines and supplies for the sick. Moreover, while living close by this jungle thicket, my mindfulness becomes established …’ That mendicant should, after appraisal, stay in that jungle thicket; they should not leave.
193. “Lại nữa, này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu sống nương vào một khu rừng nào đó. Trong khi vị ấy sống nương vào khu rừng ấy, niệm chưa được an lập liền được an lập, tâm chưa được định tĩnh liền được định tĩnh, các lậu hoặc chưa được đoạn tận liền đi đến đoạn tận, và vị ấy đạt đến sự an ổn vô thượng khỏi các ách縛 mà chưa từng đạt đến. Và những vật dụng cần thiết cho đời sống của người xuất gia này – tức là y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh – lại được thu hoạch một cách khó khăn. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu ấy nên suy xét như sau: ‘Ta đang sống nương vào khu rừng này. Trong khi ta sống nương vào khu rừng này, niệm chưa được an lập liền được an lập, tâm chưa được định tĩnh liền được định tĩnh, các lậu hoặc chưa được đoạn tận liền đi đến đoạn tận, và ta đạt đến sự an ổn vô thượng khỏi các ách縛 mà chưa từng đạt đến. Và những vật dụng cần thiết cho đời sống của người xuất gia này – tức là y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh – lại được thu hoạch một cách khó khăn. Nhưng ta xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình không phải vì lý do y phục, không phải vì lý do vật thực khất thực ... không phải vì lý do sàng tọa ... không phải vì lý do dược phẩm trị bệnh mà ta xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Hơn nữa, trong khi ta sống nương vào khu rừng này, niệm chưa được an lập liền được an lập, tâm chưa được định tĩnh liền được định tĩnh, các lậu hoặc chưa được đoạn tận liền đi đến đoạn tận, và ta đạt đến sự an ổn vô thượng khỏi các ách縛 mà chưa từng đạt đến.’ Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu ấy, sau khi suy xét, nên ở lại trong khu rừng ấy, không nên rời đi.”
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu aññataraṁ vanapatthaṁ upanissāya viharati. Tassa taṁ vanapatthaṁ upanissāya viharato anupaṭṭhitā ceva sati upaṭṭhāti, asamāhitañca cittaṁ samādhiyati, aparikkhīṇā ca āsavā parikkhayaṁ gacchanti, ananuppattañca anuttaraṁ yogakkhemaṁ anupāpuṇāti. Ye ca kho ime pabbajitena jīvitaparikkhārā samudānetabbā—cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārā—te appakasirena samudāgacchanti. Tena, bhikkhave, bhikkhunā iti paṭisañcikkhitabbaṁ: ‘ahaṁ kho imaṁ vanapatthaṁ upanissāya viharāmi. Tassa me imaṁ vanapatthaṁ upanissāya viharato anupaṭṭhitā ceva sati upaṭṭhāti asamāhitañca cittaṁ samādhiyati, aparikkhīṇā ca āsavā parikkhayaṁ gacchanti, ananuppattañca anuttaraṁ yogakkhemaṁ anupāpuṇāmi. Ye ca kho ime pabbajitena jīvitaparikkhārā samudānetabbā—cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārā—te appakasirena samudāgacchantī’ti. Tena, bhikkhave, bhikkhunā yāvajīvampi tasmiṁ vanapatthe vatthabbaṁ, na pakkamitabbaṁ.
Take another case of a mendicant who lives close by a jungle thicket. Their mindfulness becomes established … And the necessities of life are easy to come by. That mendicant should reflect: ‘While living close by this jungle thicket, my mindfulness becomes established … And the necessities of life are easy to come by.’ That mendicant should stay in that jungle thicket for the rest of their life; they should not leave.
194. “Lại nữa, này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu sống nương vào một khu rừng nào đó. Trong khi vị ấy sống nương vào khu rừng ấy, niệm chưa được an lập liền được an lập, tâm chưa được định tĩnh liền được định tĩnh, các lậu hoặc chưa được đoạn tận liền đi đến đoạn tận, và vị ấy đạt đến sự an ổn vô thượng khỏi các ách縛 mà chưa từng đạt đến. Và những vật dụng cần thiết cho đời sống của người xuất gia này – tức là y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh – lại được thu hoạch một cách không khó khăn. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu ấy nên suy xét như sau: ‘Ta đang sống nương vào khu rừng này. Trong khi ta sống nương vào khu rừng này, niệm chưa được an lập liền được an lập, tâm chưa được định tĩnh liền được định tĩnh, các lậu hoặc chưa được đoạn tận liền đi đến đoạn tận, và ta đạt đến sự an ổn vô thượng khỏi các ách縛 mà chưa từng đạt đến. Và những vật dụng cần thiết cho đời sống của người xuất gia này – tức là y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh – lại được thu hoạch một cách không khó khăn.’ Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu ấy nên ở lại trong khu rừng ấy suốt đời, không nên rời đi.”
Idha, bhikkhave, bhikkhu aññataraṁ gāmaṁ upanissāya viharati …pe… aññataraṁ nigamaṁ upanissāya viharati …pe… aññataraṁ nagaraṁ upanissāya viharati …pe… aññataraṁ janapadaṁ upanissāya viharati …pe… aññataraṁ puggalaṁ upanissāya viharati. Tassa taṁ puggalaṁ upanissāya viharato anupaṭṭhitā ceva sati na upaṭṭhāti, asamāhitañca cittaṁ na samādhiyati, aparikkhīṇā ca āsavā na parikkhayaṁ gacchanti, ananuppattañca anuttaraṁ yogakkhemaṁ nānupāpuṇāti. Ye ca kho ime pabbajitena jīvitaparikkhārā samudānetabbā—cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārā—te kasirena samudāgacchanti. Tena, bhikkhave, bhikkhunā iti paṭisañcikkhitabbaṁ: ‘ahaṁ kho imaṁ puggalaṁ upanissāya viharāmi. Tassa me imaṁ puggalaṁ upanissāya viharato anupaṭṭhitā ceva sati na upaṭṭhāti, asamāhitañca cittaṁ na samādhiyati, aparikkhīṇā ca āsavā na parikkhayaṁ gacchanti, ananuppattañca anuttaraṁ yogakkhemaṁ nānupāpuṇāmi. Ye ca kho ime pabbajitena jīvitaparikkhārā samudānetabbā—cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārā—te kasirena samudāgacchantī’ti. Tena, bhikkhave, bhikkhunā rattibhāgaṁ vā divasabhāgaṁ vā so puggalo anāpucchā pakkamitabbaṁ, nānubandhitabbo.
Take the case of a mendicant who lives supported by a village … town … city … country … an individual. As they do so, their mindfulness does not become established, their mind does not become immersed in samādhi, their defilements do not come to an end, and they do not arrive at the supreme sanctuary from the yoke. And the necessities of life that a renunciate requires—robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick—are hard to come by. That mendicant should reflect: ‘… my mindfulness does not become established … And the necessities of life are hard to come by.’ That mendicant should leave that individual at any time of the day or night, without taking leave; they should not follow them. …
195. “Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu sống nương vào một ngôi làng nào đó ... vân vân ... sống nương vào một thị trấn nào đó ... vân vân ... sống nương vào một thành phố nào đó ... vân vân ... sống nương vào một xứ nào đó ... vân vân ... sống nương vào một người nào đó. Trong khi vị ấy sống nương vào người ấy, niệm chưa được an lập không được an lập, tâm chưa được định tĩnh không được định tĩnh, các lậu hoặc chưa được đoạn tận không đi đến đoạn tận, và vị ấy không đạt đến sự an ổn vô thượng khỏi các ách縛 mà chưa từng đạt đến. Và những vật dụng cần thiết cho đời sống của người xuất gia này – tức là y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh – lại được thu hoạch một cách khó khăn. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu ấy nên suy xét như sau: ‘Ta đang sống nương vào người này. Trong khi ta sống nương vào người này, niệm chưa được an lập không được an lập, tâm chưa được định tĩnh không được định tĩnh, các lậu hoặc chưa được đoạn tận không đi đến đoạn tận, và ta không đạt đến sự an ổn vô thượng khỏi các ách縛 mà chưa từng đạt đến. Và những vật dụng cần thiết cho đời sống của người xuất gia này – tức là y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh – lại được thu hoạch một cách khó khăn.’ Này các Tỳ khưu, dù là ban đêm hay ban ngày, vị Tỳ khưu ấy nên rời đi mà không cần xin phép người đó, không nên quyến luyến.”
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu aññataraṁ puggalaṁ upanissāya viharati. Tassa taṁ puggalaṁ upanissāya viharato anupaṭṭhitā ceva sati na upaṭṭhāti, asamāhitañca cittaṁ na samādhiyati, aparikkhīṇā ca āsavā na parikkhayaṁ gacchanti, ananuppattañca anuttaraṁ yogakkhemaṁ nānupāpuṇāti. Ye ca kho ime pabbajitena jīvitaparikkhārā samudānetabbā—cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārā, te appakasirena samudāgacchanti. Tena, bhikkhave, bhikkhunā iti paṭisañcikkhitabbaṁ: ‘ahaṁ kho imaṁ puggalaṁ upanissāya viharāmi. Tassa me imaṁ puggalaṁ upanissāya viharato anupaṭṭhitā ceva sati na upaṭṭhāti, asamāhitañca cittaṁ na samādhiyati, aparikkhīṇā ca āsavā na parikkhayaṁ gacchanti, ananuppattañca anuttaraṁ yogakkhemaṁ nānupāpuṇāmi. Ye ca kho ime pabbajitena jīvitaparikkhārā samudānetabbā—cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārā—te appakasirena samudāgacchanti. Na kho panāhaṁ cīvarahetu agārasmā anagāriyaṁ pabbajito, na piṇḍapātahetu …pe… na senāsanahetu …pe… na gilānappaccayabhesajjaparikkhārahetu agārasmā anagāriyaṁ pabbajito. Atha ca pana me imaṁ puggalaṁ upanissāya viharato anupaṭṭhitā ceva sati na upaṭṭhāti, asamāhitañca cittaṁ na samādhiyati, aparikkhīṇā ca āsavā na parikkhayaṁ gacchanti, ananuppattañca anuttaraṁ yogakkhemaṁ nānupāpuṇāmī’ti. Tena, bhikkhave, bhikkhunā saṅkhāpi so puggalo āpucchā pakkamitabbaṁ, nānubandhitabbo.
Take another case of a mendicant who lives supported by an individual. Their mindfulness does not become established … But the necessities of life are easy to come by. That mendicant should reflect: ‘… my mindfulness does not become established … But the necessities of life are easy to come by.’ … That mendicant should, after appraisal, leave that individual having taken leave; they should not follow them. …
196. “Này các tỳ khưu, lại nữa, ở đây, vị tỳ khưu sống nương tựa vào một người nào đó. Trong khi vị ấy sống nương tựa vào người ấy, niệm chưa được thiết lập cũng không được thiết lập, tâm chưa được định tĩnh cũng không được định tĩnh, các lậu hoặc chưa được đoạn tận cũng không đi đến đoạn tận, và sự an ổn khỏi các ách nạn vô thượng chưa đạt được cũng không đạt được. Tuy nhiên, những vật dụng cần thiết cho đời sống của người xuất gia này – y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh – lại có được một cách dễ dàng. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên suy xét như sau: ‘Ta đang sống nương tựa vào người này. Trong khi ta sống nương tựa vào người này, niệm chưa được thiết lập cũng không được thiết lập, tâm chưa được định tĩnh cũng không được định tĩnh, các lậu hoặc chưa được đoạn tận cũng không đi đến đoạn tận, và sự an ổn khỏi các ách nạn vô thượng chưa đạt được ta cũng không đạt được. Tuy nhiên, những vật dụng cần thiết cho đời sống của người xuất gia này – y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh – lại có được một cách dễ dàng. Nhưng ta xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, không phải vì y phục, không phải vì vật thực khất thực, không phải vì sàng tọa, không phải vì dược phẩm trị bệnh. Hơn nữa, trong khi ta sống nương tựa vào người này, niệm chưa được thiết lập cũng không được thiết lập, tâm chưa được định tĩnh cũng không được định tĩnh, các lậu hoặc chưa được đoạn tận cũng không đi đến đoạn tận, và sự an ổn khỏi các ách nạn vô thượng chưa đạt được ta cũng không đạt được.’ Này các tỳ khưu, sau khi đã suy xét, vị tỳ khưu ấy nên xin phép người kia rồi ra đi, không nên tiếp tục nương tựa.”
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu aññataraṁ puggalaṁ upanissāya viharati. Tassa taṁ puggalaṁ upanissāya viharato anupaṭṭhitā ceva sati upaṭṭhāti, asamāhitañca cittaṁ samādhiyati, aparikkhīṇā ca āsavā parikkhayaṁ gacchanti, ananuppattañca anuttaraṁ yogakkhemaṁ anupāpuṇāti. Ye ca kho ime pabbajitena jīvitaparikkhārā samudānetabbā—cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārā—te kasirena samudāgacchanti. Tena, bhikkhave, bhikkhunā iti paṭisañcikkhitabbaṁ: ‘ahaṁ kho imaṁ puggalaṁ upanissāya viharāmi. Tassa me imaṁ puggalaṁ upanissāya viharato anupaṭṭhitā ceva sati upaṭṭhāti, asamāhitañca cittaṁ samādhiyati, aparikkhīṇā ca āsavā parikkhayaṁ gacchanti, ananuppattañca anuttaraṁ yogakkhemaṁ anupāpuṇāmi. Ye ca kho ime pabbajitena jīvitaparikkhārā samudānetabbā—cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārā—te kasirena samudāgacchanti. Na kho panāhaṁ cīvarahetu agārasmā anagāriyaṁ pabbajito, na piṇḍapātahetu …pe… na senāsanahetu …pe… na gilānappaccayabhesajjaparikkhārahetu agārasmā anagāriyaṁ pabbajito. Atha ca pana me imaṁ puggalaṁ upanissāya viharato anupaṭṭhitā ceva sati upaṭṭhāti, asamāhitañca cittaṁ samādhiyati, aparikkhīṇā ca āsavā parikkhayaṁ gacchanti, ananuppattañca anuttaraṁ yogakkhemaṁ anupāpuṇāmī’ti. Tena, bhikkhave, bhikkhunā saṅkhāpi so puggalo anubandhitabbo, na pakkamitabbaṁ.
Take another case of a mendicant who lives supported by an individual. Their mindfulness becomes established … But the necessities of life are hard to come by. That mendicant should reflect: ‘… my mindfulness becomes established … But the necessities of life are hard to come by.’ … That mendicant should, after appraisal, follow that individual; they should not leave.
197. “Này các tỳ khưu, lại nữa, ở đây, vị tỳ khưu sống nương tựa vào một người nào đó. Trong khi vị ấy sống nương tựa vào người ấy, niệm chưa được thiết lập cũng được thiết lập, tâm chưa được định tĩnh cũng được định tĩnh, các lậu hoặc chưa được đoạn tận cũng đi đến đoạn tận, và sự an ổn khỏi các ách nạn vô thượng chưa đạt được cũng đạt được. Tuy nhiên, những vật dụng cần thiết cho đời sống của người xuất gia này – y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh – lại có được một cách khó khăn. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên suy xét như sau: ‘Ta đang sống nương tựa vào người này. Trong khi ta sống nương tựa vào người này, niệm chưa được thiết lập cũng được thiết lập, tâm chưa được định tĩnh cũng được định tĩnh, các lậu hoặc chưa được đoạn tận cũng đi đến đoạn tận, và sự an ổn khỏi các ách nạn vô thượng chưa đạt được ta cũng đạt được. Tuy nhiên, những vật dụng cần thiết cho đời sống của người xuất gia này – y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh – lại có được một cách khó khăn. Nhưng ta xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, không phải vì y phục, không phải vì vật thực khất thực, không phải vì sàng tọa, không phải vì dược phẩm trị bệnh. Hơn nữa, trong khi ta sống nương tựa vào người này, niệm chưa được thiết lập cũng được thiết lập, tâm chưa được định tĩnh cũng được định tĩnh, các lậu hoặc chưa được đoạn tận cũng đi đến đoạn tận, và sự an ổn khỏi các ách nạn vô thượng chưa đạt được ta cũng đạt được.’ Này các tỳ khưu, sau khi đã suy xét, vị tỳ khưu ấy nên tiếp tục nương tựa vào người kia, không nên ra đi.”
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu aññataraṁ puggalaṁ upanissāya viharati. Tassa taṁ puggalaṁ upanissāya viharato anupaṭṭhitā ceva sati upaṭṭhāti, asamāhitañca cittaṁ samādhiyati, aparikkhīṇā ca āsavā parikkhayaṁ gacchanti, ananuppattañca anuttaraṁ yogakkhemaṁ anupāpuṇāti. Ye ca kho ime pabbajitena jīvitaparikkhārā samudānetabbā—cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārā—te appakasirena samudāgacchanti. Tena, bhikkhave, bhikkhunā iti paṭisañcikkhitabbaṁ: ‘ahaṁ kho imaṁ puggalaṁ upanissāya viharāmi. Tassa me imaṁ puggalaṁ upanissāya viharato anupaṭṭhitā ceva sati upaṭṭhāti, asamāhitañca cittaṁ samādhiyati, aparikkhīṇā ca āsavā parikkhayaṁ gacchanti, ananuppattañca anuttaraṁ yogakkhemaṁ anupāpuṇāmi. Ye ca kho ime pabbajitena jīvitaparikkhārā samudānetabbā—cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārā—te appakasirena samudāgacchantī’ti. Tena, bhikkhave, bhikkhunā yāvajīvampi so puggalo anubandhitabbo, na pakkamitabbaṁ, api panujjamānenapī”ti.
Take another case of a mendicant who lives supported by an individual. As they do so, their mindfulness becomes established, their mind becomes immersed in samādhi, their defilements come to an end, and they arrive at the supreme sanctuary from the yoke. And the necessities of life that a renunciate requires—robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick—are easy to come by. That mendicant should reflect: ‘While living supported by this individual, my mindfulness becomes established … And the necessities of life are easy to come by.’ That mendicant should follow that individual for the rest of their life; they should not leave them, even if driven away.”
198. “Này các tỳ khưu, lại nữa, ở đây, vị tỳ khưu sống nương tựa vào một người nào đó. Trong khi vị ấy sống nương tựa vào người ấy, niệm chưa được thiết lập cũng được thiết lập, tâm chưa được định tĩnh cũng được định tĩnh, các lậu hoặc chưa được đoạn tận cũng đi đến đoạn tận, và sự an ổn khỏi các ách nạn vô thượng chưa đạt được cũng đạt được. Và những vật dụng cần thiết cho đời sống của người xuất gia này – y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh – lại có được một cách dễ dàng. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên suy xét như sau: ‘Ta đang sống nương tựa vào người này. Trong khi ta sống nương tựa vào người này, niệm chưa được thiết lập cũng được thiết lập, tâm chưa được định tĩnh cũng được định tĩnh, các lậu hoặc chưa được đoạn tận cũng đi đến đoạn tận, và sự an ổn khỏi các ách nạn vô thượng chưa đạt được ta cũng đạt được. Và những vật dụng cần thiết cho đời sống của người xuất gia này – y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh – lại có được một cách dễ dàng.’ Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên tiếp tục nương tựa vào người kia cho đến trọn đời, không nên ra đi, ngay cả khi bị đuổi đi.”
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
Thế Tôn đã thuyết giảng như vậy. Các vị tỳ khưu ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Vanapatthasuttaṁ niṭṭhitaṁ sattamaṁ.
Kinh Rừng Cây, bài kinh thứ bảy, đã chấm dứt.