- Majjhima Nikāya 16
Cetokhilasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Cetokhilasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời, Thế Tôn ở Sāvatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc). Ở đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này chư Tỷ-kheo”.:” Thưa vâng, bạch Thế Tôn”, các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn thuyết giảng như sau
SC 2—Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào chưa diệt trừ năm tâm hoang vu, chưa đoạn tận năm tâm triền phược, vị ấy có thể lớn mạnh, trưởng thành, hưng thịnh trong Pháp và Luật này, sự kiện này không xảy ra.
SC 3Thế nào là năm tâm hoang vu chưa được đoạn trừ? Chư Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo nghi ngờ bậc Ðạo Sư, do dự, không quyết đoán, không có tịnh tín. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào nghi ngờ bậc Ðạo Sư, do dự, không quyết đoán, không có tịnh tín, thời tâm vị này không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ nhất chưa được diệt trừ.
SC 4Và lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào nghi ngờ Pháp, do dự, không quyết đoán, không có tịnh tín … (như trên) … Nếu tâm của ai không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ hai chưa được diệt trừ.
SC 5Và lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào nghi ngờ Tăng, do dự, không quyết đoán, không có tịnh tín … (như trên) … Nếu tâm của ai không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ ba chưa được diệt trừ.
SC 6Và lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào nghi ngờ các học pháp, do dự, không quyết đoán, không có tịnh tín … (như trên) … Nếu tâm của ai không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì; tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ tư chưa được diệt trừ.
SC 7Và lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo phẫn nộ đối với các đồng phạm hạnh, không có hoan hỷ, tâm tư chống đối, cứng rắn. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào phẫn nộ đối với các vị đồng phạm hạnh, không có hoan hỷ, tâm tư chống đối, cứng rắn, thời tâm của vị này không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ năm chưa được diệt trừ.
SC 8Như vậy là năm tâm hoang vu chưa được diệt trừ.
SC 9Thế nào là năm tâm triền phược chưa được đoạn tận? Chư Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo, đối với những dục, không phải không tham ái, không phải không dục cầu, không phải không ái luyến, không phải không khao khát, không phải không nhiệt tình, không phải không khát ái. Chư Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo nào đối với những dục, không phải không tham ái … không phải không khát ái, tâm của vị ấy không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm triền phược thứ nhất chưa được đoạn tận.
SC 10Và lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào đối với tự thân không phải không tham ái … (như trên) … như vậy là tâm triền phược thứ hai chưa được đoạn tận.
SC 11Và lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào đối với các sắc pháp không phải không tham ái … (như trên) … như vậy là tâm triền phược thứ ba chưa được đoạn tận.
SC 12Và lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào ăn cho đến thỏa thê, cho đến bụng chứa đầy, sống thiên nặng về khoái lạc về sàng tọa, khoái lạc về ngủ nghỉ, khoái lạc về thụy miên. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào ăn cho đến thỏa thê cho đến bụng chứa đầy … (như trên) … như vậy là tâm triền phược thứ tư chưa được đoạn tận.
SC 13Và lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào sống phạm hạnh với mong cầu được sanh thiên giới với ý nghĩ: “Ta với giới này, với hạnh này, với khổ hạnh này hay với phạm hạnh này sẽ được sanh làm chư Thiên này hay chư Thiên khác”. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào sống phạm hạnh … (như trên) … như vậy là tâm triền phược thứ năm chưa được đoạn tận.
SC 14Như vậy là năm tâm triền phược chưa được đoạn tận.
SC 15Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào chưa diệt trừ năm tâm hoang vu này, chưa đoạn tận năm tâm triền phược này, vị ấy có thể lớn mạnh trưởng thành, hưng thịnh trong Pháp và Luật này, sự kiện này không xảy ra.
SC 16Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào đã diệt trừ năm tâm hoang vu, đã đoạn tận năm tâm triền phược, vị ấy có thể lớn mạnh, trưởng thành, hưng thịnh trong Pháp và Luật này, sự kiện này có xảy ra.
SC 17Thế nào là năm tâm hoang vu đã được diệt trừ? Chư Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo không nghi ngờ bậc Ðạo Sư, không do dự, quyết đoán, tịnh tín. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào không nghi ngờ bậc Ðạo Sư, không do dự, quyết đoán, tịnh tín, thời tâm vị này hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ nhất đã được diệt trừ.
SC 18Và lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào không nghi ngờ Pháp, không do dự, quyết đoán, tịnh tín … (như trên) … Nếu tâm của ai hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ hai đã được diệt trừ.
SC 19Và lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào không nghi ngờ Tăng, không do dự, quyết đoán, tịnh tín … (như trên) … Nếu tâm của ai hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ ba đã được diệt trừ.
SC 20Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào không nghi ngờ học pháp, không do dự, quyết đoán, tịnh tín, thời tâm vị này hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ tư đã được diệt trừ.
SC 21Và lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào không phẫn nộ đối với các vị đồng phạm hạnh, hoan hỷ, tâm tư không chống đối, cứng rắn. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không phẫn nộ đối với các vị đồng phạm hạnh, hoan hỷ, tâm tư không chống đối, cứng rắn, thời tâm vị này hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai hướng về nỗ lực, chuyên cần kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ năm đã được diệt trừ.
SC 22Như vậy là năm tâm hoang vu đã được diệt trừ.
SC 23Thế nào là năm tâm triền phược đã được đoạn tận?
SC 24Chư Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo đối với những dục không có tham ái, không có dục cầu, không có ái luyến, không có khao khát, không có nhiệt tình, không có khát ái. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào đối với những dục không có tham ái, không có dục cầu, không có ái luyến, không có khao khát, không có nhiệt tình, không có khát ái, tâm vị ấy hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm triền phược thứ nhất đã được đoạn tận.
SC 25Và lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào đối với tự thân không có tham ái … (như trên) … như vậy là tâm triền phược thứ hai đã được đoạn tận.
SC 26Và lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào đối với các sắc pháp không có tham ái … (như trên) … như vậy là tâm triền phược thứ ba đã được đoạn tận.
SC 27Và lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào không ăn cho đến thỏa thê, cho đến bụng chứa đầy, sống không thiên nặng về khoái lạc sàng tọa, khoái lạc về ngủ nghĩ, khoái lạc về thụy miên … (như trên) … như vậy là tâm triền phược thứ tư đã được đoạn tận.
SC 28Và lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào sống phạm hạnh, không mong cầu được sanh thiên giới với ý nghĩ: “Ta với giới này, với hạnh này, với khổ hạnh này, hay với phạm hạnh này, sẽ được sanh làm chư Thiên này hay chư Thiên khác”. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào sống phạm hạnh, không mong cầu được sanh thiên giới với ý nghĩ: “Ta với giới này, với hạnh này, với khổ hạnh này, hay với phạm hạnh này, sẽ được sanh làm chư Thiên này hay chư Thiên khác”, tâm vị ấy hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm triền phược thứ năm đã được đoạn tận.
SC 29Như vậy là năm tâm triền phược đã được đoạn tận.
SC 30Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào đã đoạn tận năm tâm triền phược này, thời vị ấy có thể lớn mạnh, trưởng thành, hưng thịnh trong Pháp và Luật này, sự kiện này có xảy ra.
SC 31Vị này tu tập như ý túc câu hữu với dục Thiền định, tinh cần hành; tu tập như ý túc câu hữu với tinh tấn Thiền định, tinh cần hành; tu tập như ý túc câu hữu với tâm Thiền định, tinh cần hành; tu tập như ý túc câu hữu với tư duy Thiền định, tinh cần hành; với nỗ lực là thứ năm.
SC 32Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào đầy đủ mười lăm pháp kể cả nỗ lực, thời có đủ khả năng để phá vỡ, có đủ khả năng để chánh giác, có đủ khả năng để đạt thành vô thượng an ổn khỏi các ách phược.
SC 33Chư Tỷ-kheo, như có khoảng tám, mười hay mười hai cái trứng của con gà mái, những trứng này được con gà mái khéo ấp, ngồi lên trên, khéo ấp nóng, khéo ấp dưỡng, thời dầu cho con gà mái không khởi lên sự mong ước: “Mong rằng những con gà con của ta, sau khi đâm thủng vỏ trứng với móng chân nhọn của chúng, hay với mỏ của chúng, có thể thoát ra một cách yên ổn”, những con gà con ấy, sau khi đâm thủng vỏ trứng với móng chân nhọn của chúng hay với mỏ của chúng, có khả năng thoát ra một cách yên ổn. Chư Tỷ-kheo, cũng vậy, Tỷ-kheo đầy đủ mười lăm pháp, kể cả nỗ lực, thời có đủ khả năng để phá vỡ, có đủ khả năng để chánh giác, có đủ khả năng để đạt thành vô thượng an ổn khỏi các ách phược.
SC 34Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 10–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
6. Kinh Tâm Hoang Vu
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
185. Tôi nghe như vầy. Một thời, Thế Tôn trú tại Sāvatthī, ở Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Tại đấy, Thế Tôn gọi các vị tỳ khưu: ‘Này các tỳ khưu.’ ‘Bạch Thế Tôn,’ các vị tỳ khưu ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
“Yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhuno pañca cetokhilā appahīnā, pañca cetasovinibandhā asamucchinnā, so vatimasmiṁ dhammavinaye vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjissatīti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
“Mendicants, when a mendicant has not given up five kinds of hard-heartedness and severed five shackles of the heart, it’s not possible for them to achieve growth, improvement, or maturity in this teaching and training.
Này các tỳ khưu, bất kỳ vị tỳ khưu nào chưa đoạn trừ năm sự hoang vu của tâm, chưa cắt đứt năm sự trói buộc của tâm, vị ấy sẽ đạt đến sự tăng trưởng, phát triển, lớn mạnh trong Pháp và Luật này – trường hợp này không thể xảy ra.
Katamāssa pañca cetokhilā appahīnā honti? Idha, bhikkhave, bhikkhu satthari kaṅkhati vicikicchati nādhimuccati na sampasīdati. Yo so, bhikkhave, bhikkhu satthari kaṅkhati vicikicchati nādhimuccati na sampasīdati tassa cittaṁ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya. Yassa cittaṁ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya, evamassāyaṁ paṭhamo cetokhilo appahīno hoti.
What are the five kinds of hard-heartedness they haven’t given up? Firstly, a mendicant has doubts about the Teacher. They’re uncertain, undecided, and lacking confidence. This being so, their mind doesn’t incline toward keenness, commitment, persistence, and striving. This is the first kind of hard-heartedness they haven’t given up.
Năm sự hoang vu của tâm chưa được từ bỏ của vị ấy là những gì? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu đối với bậc Đạo Sư thì hoài nghi, phân vân, không quyết đoán, không có niềm tin trong sạch. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu nào đối với bậc Đạo Sư thì hoài nghi, phân vân, không quyết đoán, không có niềm tin trong sạch, tâm của vị ấy không hướng đến sự tinh cần, sự nỗ lực, sự kiên trì, sự tinh tấn. Tâm của người nào không hướng đến sự tinh cần, sự nỗ lực, sự kiên trì, sự tinh tấn, như vậy, đây là sự hoang vu của tâm thứ nhất chưa được từ bỏ của vị ấy.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu dhamme kaṅkhati vicikicchati nādhimuccati na sampasīdati …pe… evamassāyaṁ dutiyo cetokhilo appahīno hoti.
Furthermore, a mendicant has doubts about the teaching … This is the second kind of hard-heartedness.
Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu đối với Pháp thì hoài nghi, phân vân, không quyết đoán, không có niềm tin trong sạch... v.v... như vậy, đây là sự hoang vu của tâm thứ hai chưa được từ bỏ của vị ấy.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu saṅghe kaṅkhati vicikicchati nādhimuccati na sampasīdati …pe… evamassāyaṁ tatiyo cetokhilo appahīno hoti.
They have doubts about the Saṅgha … This is the third kind of hard-heartedness.
Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu đối với Tăng thì hoài nghi, phân vân, không quyết đoán, không có niềm tin trong sạch... v.v... như vậy, đây là sự hoang vu của tâm thứ ba chưa được từ bỏ của vị ấy.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu sikkhāya kaṅkhati vicikicchati nādhimuccati na sampasīdati. Yo so, bhikkhave, bhikkhu sikkhāya kaṅkhati vicikicchati nādhimuccati na sampasīdati, tassa cittaṁ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya. Yassa cittaṁ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya, evamassāyaṁ catuttho cetokhilo appahīno hoti.
They have doubts about the training … This is the fourth kind of hard-heartedness.
Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu đối với học giới thì hoài nghi, phân vân, không quyết đoán, không có niềm tin trong sạch. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu nào đối với học giới thì hoài nghi, phân vân, không quyết đoán, không có niềm tin trong sạch, tâm của vị ấy không hướng đến sự tinh cần, sự nỗ lực, sự kiên trì, sự tinh tấn. Tâm của người nào không hướng đến sự tinh cần, sự nỗ lực, sự kiên trì, sự tinh tấn, như vậy, đây là sự hoang vu của tâm thứ tư chưa được từ bỏ của vị ấy.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu sabrahmacārīsu kupito hoti anattamano āhatacitto khilajāto. Yo so, bhikkhave, bhikkhu sabrahmacārīsu kupito hoti anattamano āhatacitto khilajāto, tassa cittaṁ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya. Yassa cittaṁ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya, evamassāyaṁ pañcamo cetokhilo appahīno hoti. Imāssa pañca cetokhilā appahīnā honti.
Furthermore, a mendicant is angry and upset with their spiritual companions, resentful and closed off. This being so, their mind doesn’t incline toward keenness, commitment, persistence, and striving. This is the fifth kind of hard-heartedness they haven’t given up. These are the five kinds of hard-heartedness they haven’t given up.
Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu đối với các bạn đồng phạm hạnh thì tức giận, không hoan hỷ, có tâm bị tổn thương, trở nên chai cứng. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu nào đối với các bạn đồng phạm hạnh thì tức giận, không hoan hỷ, có tâm bị tổn thương, trở nên chai cứng, tâm của vị ấy không hướng đến sự tinh cần, sự nỗ lực, sự kiên trì, sự tinh tấn. Tâm của người nào không hướng đến sự tinh cần, sự nỗ lực, sự kiên trì, sự tinh tấn, như vậy, đây là sự hoang vu của tâm thứ năm chưa được từ bỏ của vị ấy. Năm sự hoang vu của tâm này chưa được từ bỏ của vị ấy.
Katamāssa pañca cetasovinibandhā asamucchinnā honti? Idha, bhikkhave, bhikkhu kāme avītarāgo hoti avigatacchando avigatapemo avigatapipāso avigatapariḷāho avigatataṇho. Yo so, bhikkhave, bhikkhu kāme avītarāgo hoti avigatacchando avigatapemo avigatapipāso avigatapariḷāho avigatataṇho, tassa cittaṁ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya. Yassa cittaṁ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya, evamassāyaṁ paṭhamo cetasovinibandho asamucchinno hoti.
What are the five shackles of the heart they haven’t severed? Firstly, a mendicant isn’t free of greed, desire, fondness, thirst, passion, and craving for sensual pleasures. This being so, their mind doesn’t incline toward keenness, commitment, persistence, and striving. This is the first shackle of the heart they haven’t severed.
186. Năm sự trói buộc của tâm chưa được cắt đứt của vị ấy là những gì? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu đối với các dục thì chưa ly tham, chưa dứt bỏ ước muốn, chưa dứt bỏ yêu thương, chưa dứt bỏ khao khát, chưa dứt bỏ sự thiêu đốt, chưa dứt bỏ ái dục. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu nào đối với các dục thì chưa ly tham, chưa dứt bỏ ước muốn, chưa dứt bỏ yêu thương, chưa dứt bỏ khao khát, chưa dứt bỏ sự thiêu đốt, chưa dứt bỏ ái dục, tâm của vị ấy không hướng đến sự tinh cần, sự nỗ lực, sự kiên trì, sự tinh tấn. Tâm của người nào không hướng đến sự tinh cần, sự nỗ lực, sự kiên trì, sự tinh tấn, như vậy, đây là sự trói buộc của tâm thứ nhất chưa được cắt đứt của vị ấy.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu kāye avītarāgo hoti …pe… evamassāyaṁ dutiyo cetasovinibandho asamucchinno hoti.
Furthermore, a mendicant isn’t free of greed for the body … This is the second shackle of the heart.
Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu đối với thân thì chưa ly tham... v.v... như vậy, đây là sự trói buộc của tâm thứ hai chưa được cắt đứt của vị ấy.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu rūpe avītarāgo hoti …pe… evamassāyaṁ tatiyo cetasovinibandho asamucchinno hoti.
Furthermore, a mendicant isn’t free of greed for form … This is the third shackle of the heart.
Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu đối với sắc thì chưa ly tham... v.v... như vậy, đây là sự trói buộc của tâm thứ ba chưa được cắt đứt của vị ấy.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu yāvadatthaṁ udarāvadehakaṁ bhuñjitvā seyyasukhaṁ passasukhaṁ middhasukhaṁ anuyutto viharati. Yo so, bhikkhave, bhikkhu yāvadatthaṁ udarāvadehakaṁ bhuñjitvā seyyasukhaṁ passasukhaṁ middhasukhaṁ anuyutto viharati, tassa cittaṁ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya. Yassa cittaṁ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya, evamassāyaṁ catuttho cetasovinibandho asamucchinno hoti.
They eat as much as they like until their belly is full, then indulge in the pleasures of sleeping, lying down, and drowsing … This is the fourth heart shackle.
Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu sau khi ăn no bụng thỏa thích, sống chuyên tâm vào lạc thú của việc nằm, lạc thú của việc trở mình, lạc thú của việc ngủ. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu nào sau khi ăn no bụng thỏa thích, sống chuyên tâm vào lạc thú của việc nằm, lạc thú của việc trở mình, lạc thú của việc ngủ, tâm của vị ấy không hướng đến sự tinh cần, sự nỗ lực, sự kiên trì, sự tinh tấn. Tâm của người nào không hướng đến sự tinh cần, sự nỗ lực, sự kiên trì, sự tinh tấn, như vậy, đây là sự trói buộc của tâm thứ tư chưa được cắt đứt của vị ấy.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu aññataraṁ devanikāyaṁ paṇidhāya brahmacariyaṁ carati: ‘imināhaṁ sīlena vā vatena vā tapena vā brahmacariyena vā devo vā bhavissāmi devaññataro vā’ti. Yo so, bhikkhave, bhikkhu aññataraṁ devanikāyaṁ paṇidhāya brahmacariyaṁ carati: ‘imināhaṁ sīlena vā vatena vā tapena vā brahmacariyena vā devo vā bhavissāmi devaññataro vā’ti, tassa cittaṁ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya. Yassa cittaṁ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya, evamassāyaṁ pañcamo cetasovinibandho asamucchinno hoti. Imāssa pañca cetasovinibandhā asamucchinnā honti.
They lead the spiritual life hoping to be reborn in one of the orders of gods, thinking: ‘By this precept or observance or fervent austerity or spiritual practice, may I become one of the gods!’ This being so, their mind doesn’t incline toward keenness, commitment, persistence, and striving. This is the fifth shackle of the heart they haven’t severed. These are the five shackles of the heart they haven’t severed.
Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu thực hành phạm hạnh với ước nguyện đến một cõi trời nào đó: ‘Với giới này, hoặc với hạnh này, hoặc với khổ hạnh này, hoặc với phạm hạnh này, ta sẽ trở thành một vị trời hoặc một trong các vị trời.’ Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu nào thực hành phạm hạnh với ước nguyện đến một cõi trời nào đó: ‘Với giới này, hoặc với hạnh này, hoặc với khổ hạnh này, hoặc với phạm hạnh này, ta sẽ trở thành một vị trời hoặc một trong các vị trời,’ tâm của vị ấy không hướng đến sự tinh cần, sự nỗ lực, sự kiên trì, sự tinh tấn. Tâm của người nào không hướng đến sự tinh cần, sự nỗ lực, sự kiên trì, sự tinh tấn, như vậy, đây là sự trói buộc của tâm thứ năm chưa được cắt đứt của vị ấy. Năm sự trói buộc của tâm này chưa được cắt đứt của vị ấy.
Yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhuno ime pañca cetokhilā appahīnā, ime pañca cetasovinibandhā asamucchinnā, so vatimasmiṁ dhammavinaye vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjissatīti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
When a mendicant has not given up these five kinds of hard-heartedness and severed these five shackles of the heart, it’s not possible for them to achieve growth, improvement, or maturity in this teaching and training.
Này các Tỳ khưu, đối với bất kỳ vị Tỳ khưu nào mà năm sự hoang vu của tâm này chưa được từ bỏ, năm sự trói buộc của tâm này chưa được cắt đứt, rằng vị ấy sẽ đạt đến sự tăng trưởng, sự phát triển, sự lớn mạnh trong Pháp và Luật này – điều ấy không thể xảy ra.
Yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhuno pañca cetokhilā pahīnā, pañca cetasovinibandhā susamucchinnā, so vatimasmiṁ dhammavinaye vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjissatīti—ṭhānametaṁ vijjati.
When a mendicant has given up these five kinds of hard-heartedness and severed these five shackles of the heart, it is possible for them to achieve growth, improvement, and maturity in this teaching and training.
187. Này các Tỳ khưu, đối với bất kỳ vị Tỳ khưu nào mà năm sự hoang vu của tâm đã được từ bỏ, năm sự trói buộc của tâm đã được cắt đứt hoàn toàn, rằng vị ấy sẽ đạt đến sự tăng trưởng, sự phát triển, sự lớn mạnh trong Pháp và Luật này – điều ấy có thể xảy ra.
Katamāssa pañca cetokhilā pahīnā honti? Idha, bhikkhave, bhikkhu satthari na kaṅkhati na vicikicchati adhimuccati sampasīdati. Yo so, bhikkhave, bhikkhu satthari na kaṅkhati na vicikicchati adhimuccati sampasīdati, tassa cittaṁ namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya. Yassa cittaṁ namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya, evamassāyaṁ paṭhamo cetokhilo pahīno hoti.
What are the five kinds of hard-heartedness they’ve given up? Firstly, a mendicant has no doubts about the Teacher. They’re not uncertain, undecided, or lacking confidence. This being so, their mind inclines toward keenness, commitment, persistence, and striving. This is the first kind of hard-heartedness they’ve given up.
Năm sự hoang vu của tâm đã được từ bỏ của vị ấy là những gì? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu đối với bậc Đạo Sư thì không hoài nghi, không phân vân, có sự quyết đoán, có niềm tin trong sạch. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu nào đối với bậc Đạo Sư thì không hoài nghi, không phân vân, có sự quyết đoán, có niềm tin trong sạch, tâm của vị ấy hướng đến sự tinh cần, sự nỗ lực, sự kiên trì, sự tinh tấn. Tâm của người nào hướng đến sự tinh cần, sự nỗ lực, sự kiên trì, sự tinh tấn, như vậy, đây là sự hoang vu của tâm thứ nhất đã được từ bỏ của vị ấy.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu dhamme na kaṅkhati na vicikicchati adhimuccati sampasīdati …pe… evamassāyaṁ dutiyo cetokhilo pahīno hoti.
Furthermore, a mendicant has no doubts about the teaching …
Này các tỳ khưu, lại nữa, vị tỳ khưu đối với Pháp không còn hoài nghi, không còn do dự, có lòng tin tưởng, có lòng tịnh tín... v.v... Như vậy, đối với vị ấy, tâm hoang vu thứ hai này đã được đoạn trừ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu saṅghe na kaṅkhati na vicikicchati adhimuccati sampasīdati …pe… evamassāyaṁ tatiyo cetokhilo pahīno hoti.
They have no doubts about the Saṅgha …
Này các tỳ khưu, lại nữa, vị tỳ khưu đối với Tăng không còn hoài nghi, không còn do dự, có lòng tin tưởng, có lòng tịnh tín... v.v... Như vậy, đối với vị ấy, tâm hoang vu thứ ba này đã được đoạn trừ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu sikkhāya na kaṅkhati na vicikicchati adhimuccati sampasīdati …pe… evamassāyaṁ catuttho cetokhilo pahīno hoti.
They have no doubts about the training …
Này các tỳ khưu, lại nữa, vị tỳ khưu đối với học giới không còn hoài nghi, không còn do dự, có lòng tin tưởng, có lòng tịnh tín... v.v... Như vậy, đối với vị ấy, tâm hoang vu thứ tư này đã được đoạn trừ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu sabrahmacārīsu na kupito hoti na anattamano anāhatacitto akhilajāto. Yo so, bhikkhave, bhikkhu sabrahmacārīsu na kupito hoti na anattamano anāhatacitto akhilajāto, tassa cittaṁ namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya. Yassa cittaṁ namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya, evamassāyaṁ pañcamo cetokhilo pahīno hoti. Imāssa pañca cetokhilā pahīnā honti.
They’re not angry and upset with their spiritual companions, not resentful or closed off. This being so, their mind inclines toward keenness, commitment, persistence, and striving. This is the fifth kind of hard-heartedness they’ve given up. These are the five kinds of hard-heartedness they’ve given up.
Này các tỳ khưu, lại nữa, vị tỳ khưu đối với các vị đồng phạm hạnh không tức giận, không bất mãn, tâm không bị tổn thương, không trở nên chai cứng. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nào đối với các vị đồng phạm hạnh không tức giận, không bất mãn, tâm không bị tổn thương, không trở nên chai cứng, tâm của vị ấy hướng về sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự kiên trì, sự tinh tấn. Khi tâm hướng về sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự kiên trì, sự tinh tấn, như vậy, đối với vị ấy, tâm hoang vu thứ năm này đã được đoạn trừ. Đối với vị ấy, năm tâm hoang vu này đã được đoạn trừ.
Katamāssa pañca cetasovinibandhā susamucchinnā honti? Idha, bhikkhave, bhikkhu kāme vītarāgo hoti vigatacchando vigatapemo vigatapipāso vigatapariḷāho vigatataṇho. Yo so, bhikkhave, bhikkhu kāme vītarāgo hoti vigatacchando vigatapemo vigatapipāso vigatapariḷāho vigatataṇho, tassa cittaṁ namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya. Yassa cittaṁ namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya, evamassāyaṁ paṭhamo cetasovinibandho susamucchinno hoti.
What are the five shackles of the heart they’ve severed? Firstly, a mendicant is rid of greed, desire, fondness, thirst, passion, and craving for sensual pleasures. This being so, their mind inclines toward keenness, commitment, persistence, and striving. This is the first shackle of the heart they’ve severed.
188. Năm sự trói buộc của tâm nào đã được vị ấy đoạn tận? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu đối với các dục đã ly tham, đã ly dục, đã ly ái, đã hết khao khát, đã hết nhiệt não, đã hết ái dục. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nào đối với các dục đã ly tham, đã ly dục, đã ly ái, đã hết khao khát, đã hết nhiệt não, đã hết ái dục, tâm của vị ấy hướng về sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự kiên trì, sự tinh tấn. Khi tâm hướng về sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự kiên trì, sự tinh tấn, như vậy, đối với vị ấy, sự trói buộc của tâm thứ nhất này đã được đoạn tận.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu kāye vītarāgo hoti …pe…
rūpe vītarāgo hoti …pe…
na yāvadatthaṁ udarāvadehakaṁ bhuñjitvā seyyasukhaṁ passasukhaṁ middhasukhaṁ anuyutto viharati. Yo so, bhikkhave, bhikkhu na yāvadatthaṁ udarāvadehakaṁ bhuñjitvā seyyasukhaṁ passasukhaṁ middhasukhaṁ anuyutto viharati, tassa cittaṁ namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya. Yassa cittaṁ namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya, evamassāyaṁ catuttho cetasovinibandho susamucchinno hoti.
Furthermore, a mendicant is rid of greed for the body …
They’re rid of greed for form …
They don’t eat as much as they like until their belly is full, then indulge in the pleasures of sleeping, lying down, and drowsing …
Này các tỳ khưu, lại nữa, vị tỳ khưu đối với thân đã ly tham... v.v... đối với sắc đã ly tham... v.v... không ăn cho đến khi đầy bụng, thỏa thích, rồi sống chuyên tâm vào lạc thú nằm dài, lạc thú nằm nghiêng, lạc thú ngủ nghỉ. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nào không ăn cho đến khi đầy bụng, thỏa thích, rồi sống chuyên tâm vào lạc thú nằm dài, lạc thú nằm nghiêng, lạc thú ngủ nghỉ, tâm của vị ấy hướng về sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự kiên trì, sự tinh tấn. Khi tâm hướng về sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự kiên trì, sự tinh tấn, như vậy, đối với vị ấy, sự trói buộc của tâm thứ tư này đã được đoạn tận.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu na aññataraṁ devanikāyaṁ paṇidhāya brahmacariyaṁ carati: ‘imināhaṁ sīlena vā vatena vā tapena vā brahmacariyena vā devo vā bhavissāmi devaññataro vā’ti. Yo so, bhikkhave, bhikkhu na aññataraṁ devanikāyaṁ paṇidhāya brahmacariyaṁ carati: ‘imināhaṁ sīlena vā vatena vā tapena vā brahmacariyena vā devo vā bhavissāmi devaññataro vā’ti, tassa cittaṁ namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya. Yassa cittaṁ namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya, evamassāyaṁ pañcamo cetasovinibandho susamucchinno hoti. Imāssa pañca cetasovinibandhā susamucchinnā honti.
They don’t lead the spiritual life hoping to be reborn in one of the orders of gods, thinking: ‘By this precept or observance or fervent austerity or spiritual practice, may I become one of the gods!’ This being so, their mind inclines toward keenness, commitment, persistence, and striving. This is the fifth shackle of the heart they’ve severed. These are the five shackles of the heart they’ve severed.
Này các tỳ khưu, lại nữa, vị tỳ khưu không thực hành phạm hạnh với mong cầu được sanh vào một cõi trời nào đó rằng: ‘Với giới này, hoặc với hạnh này, hoặc với khổ hạnh này, hoặc với phạm hạnh này, ta sẽ trở thành một vị trời hay một vị trời nào khác’. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nào không thực hành phạm hạnh với mong cầu được sanh vào một cõi trời nào đó rằng: ‘Với giới này, hoặc với hạnh này, hoặc với khổ hạnh này, hoặc với phạm hạnh này, ta sẽ trở thành một vị trời hay một vị trời nào khác’, tâm của vị ấy hướng về sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự kiên trì, sự tinh tấn. Khi tâm hướng về sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự kiên trì, sự tinh tấn, như vậy, đối với vị ấy, sự trói buộc của tâm thứ năm này đã được đoạn tận. Đối với vị ấy, năm sự trói buộc của tâm này đã được đoạn tận.
Yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhuno ime pañca cetokhilā pahīnā, ime pañca cetasovinibandhā susamucchinnā, so vatimasmiṁ dhammavinaye vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjissatīti—ṭhānametaṁ vijjati.
When a mendicant has given up these five kinds of hard-heartedness and severed these five shackles of the heart, it is possible for them to achieve growth, improvement, or maturity in this teaching and training.
Này các tỳ khưu, bất kỳ vị tỳ khưu nào đã đoạn trừ năm tâm hoang vu này, đã đoạn tận năm sự trói buộc của tâm này, vị ấy chắc chắn sẽ đạt đến sự tăng trưởng, sự phát triển, sự lớn mạnh trong Pháp và Luật này – trường hợp này có thể xảy ra.
So chandasamādhipadhānasaṅkhārasamannāgataṁ iddhipādaṁ bhāveti, vīriyasamādhipadhānasaṅkhārasamannāgataṁ iddhipādaṁ bhāveti, cittasamādhipadhānasaṅkhārasamannāgataṁ iddhipādaṁ bhāveti, vīmaṁsāsamādhipadhānasaṅkhārasamannāgataṁ iddhipādaṁ bhāveti, ussoḷhīyeva pañcamī. Sa kho so, bhikkhave, evaṁ ussoḷhipannarasaṅgasamannāgato bhikkhu bhabbo abhinibbidāya, bhabbo sambodhāya, bhabbo anuttarassa yogakkhemassa adhigamāya. Seyyathāpi, bhikkhave, kukkuṭiyā aṇḍāni aṭṭha vā dasa vā dvādasa vā. Tānassu kukkuṭiyā sammā adhisayitāni sammā pariseditāni sammā paribhāvitāni. Kiñcāpi tassā kukkuṭiyā na evaṁ icchā uppajjeyya: ‘aho vatime kukkuṭapotakā pādanakhasikhāya vā mukhatuṇḍakena vā aṇḍakosaṁ padāletvā sotthinā abhinibbhijjeyyun’ti. Atha kho bhabbāva te kukkuṭapotakā pādanakhasikhāya vā mukhatuṇḍakena vā aṇḍakosaṁ padāletvā sotthinā abhinibbhijjituṁ.
Evameva kho, bhikkhave, evaṁ ussoḷhipannarasaṅgasamannāgato bhikkhu bhabbo abhinibbidāya, bhabbo sambodhāya, bhabbo anuttarassa yogakkhemassa adhigamāyā”ti.
They develop the basis of psychic power that has immersion due to enthusiasm, and active effort … the basis of psychic power that has immersion due to energy, and active effort … the basis of psychic power that has immersion due to mental development, and active effort … the basis of psychic power that has immersion due to inquiry, and active effort. And the fifth is sheer vigor. A mendicant who possesses these fifteen factors, including vigor, is capable of breaking out, becoming awakened, and reaching the supreme sanctuary from the yoke. Suppose there was a chicken with eight or ten or twelve eggs. And she properly sat on them to keep them warm and incubated. Even if that chicken doesn’t wish: ‘If only my chicks could break out of the eggshell with their claws and beak and hatch safely!’ Still they can break out and hatch safely.
In the same way, a mendicant who possesses these fifteen factors, including vigor, is capable of breaking out, becoming awakened, and reaching the supreme sanctuary from the yoke.”
189. Vị ấy tu tập thần túc thông có định do dục, có các hành tinh cần; tu tập thần túc thông có định do tinh tấn, có các hành tinh cần; tu tập thần túc thông có định do tâm, có các hành tinh cần; tu tập thần túc thông có định do thẩm sát, có các hành tinh cần; và sự nỗ lực là thứ năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu thành tựu mười lăm chi phần cùng với sự nỗ lực như vậy thì có khả năng đột phá, có khả năng giác ngộ, có khả năng chứng đắc vô thượng an ổn khỏi các ách phược. Này các tỳ khưu, ví như gà mái có tám, mười, hay mười hai quả trứng. Những quả trứng ấy được gà mái ấp đúng cách, sưởi ấm đúng cách, chăm sóc đúng cách. Dù cho gà mái ấy không khởi lên mong muốn rằng: ‘Mong sao các con gà con của ta, dùng móng chân hoặc mỏ, mổ vỡ vỏ trứng và chui ra an toàn!’, thì các con gà con ấy vẫn có khả năng dùng móng chân hoặc mỏ, mổ vỡ vỏ trứng và chui ra an toàn. Cũng vậy, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu thành tựu mười lăm chi phần cùng với sự nỗ lực như vậy thì có khả năng đột phá, có khả năng giác ngộ, có khả năng chứng đắc vô thượng an ổn khỏi các ách phược.
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
Thế Tôn đã thuyết giảng điều này. Các tỳ khưu ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Cetokhilasuttaṁ niṭṭhitaṁ chaṭṭhaṁ.
Kinh Tâm Hoang Vu, kinh thứ sáu, đã chấm dứt.