- Majjhima Nikāya 151
Piṇḍapātapārisuddhisutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Piṇḍapātapārisuddhisutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời, Thế Tôn ở Rājagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc lâm), tại chỗ nuôi dưỡng sóc (Kalandakanivapa).
SC 2Rồi Tôn giả Sāriputta vào buổi chiều, từ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Sāriputta đang ngồi một bên
SC 3—Này Sāriputta, các căn của Ông rất sáng suốt, sắc da của Ông thanh tịnh trong sáng. Này Sāriputta, Ông nay đang phần lớn an trú với loại an trú nào?
SC 4—Bạch Thế Tôn, con nay đang phần lớn an trú với Không trú.
SC 5—Lành thay, lành thay! Này Sāriputta, Ông nay đang phần lớn an trú với sự an trú của bậc Ðại nhân. Này Sāriputta, sự an trú của bậc Ðại nhân tức là không tánh. Do vậy, này Sāriputta, nếu Tỷ-kheo ước mong rằng: “Mong rằng tôi nay phần lớn an trú với sự an trú không tánh”, thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy cần phải suy tư như sau: “Trên con đường ta đã đi vào làng để khất thực, tại trú xứ ta đã đi khất thực, và trên con đường từ làng ta đi khất thực trở về, tại chỗ ấy, đối với các sắc do mắt nhận thức, có khởi lên ở nơi ta dục, tham, sân si, hay hận tâm không?”
SC 6Này Sāriputta, nếu Tỷ-kheo sau khi tư duy biết rằng: “Trên con đường ta đã đi vào làng để khất thực, tại trú xứ ta đã đi khất thực và trên con đường từ làng ta đi khất thực trở về, đối với các sắc do mắt nhận thức, có khởi lên nơi ta dục, tham, sân, si hay hận tâm”, thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy phải tinh tấn đoạn tận các ác bất thiện pháp ấy. Nhưng này Sāriputta, nếu Tỷ-kheo trong khi suy tư được biết như sau: “Trên con đường ta đã đi … ta đi khất thực trở về, đối với các sắc do mắt nhận thức, không có khởi lên nơi dục, tham, sân, si hay hận tâm”, thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy phải an trú với hỷ và hân hoan ngày đêm tu học trong các thiện pháp.
SC 7Lại nữa, này Sāriputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư như sau: “Trên con đường ta đã đi …, ta đi khất thực trở về, đối với các tiếng do tai nhận thức, … đối với các hương do mũi nhận thức, … đối với cácvị do lưỡi nhận thức, … đối với các xúc do thân nhận thức, … đối với các pháp do ý nhận thức, có khởi lên dục, tham, sân, si hay hận tâm không?”
SC 8Này Sāriputta, nếu Tỷ-kheo trong khi suy tư được biết như sau: “Trên con đường ta đã đi …, ta đi khất thực trở về, đối với các tiếng do tai nhận thức, … đối với các hương do mũi nhận thức, … đối với các vị do lưỡi nhận thức, … đối với các xúc do thân nhận thức, … đối với các pháp do ý nhận thức, có khởi lên nơi ta dục, tham, sân, si, hay hận tâm”, thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy phải tinh tấn đoạn tận các ác bất thiện pháp ấy. Nhưng này Sāriputta, nếu Tỷ-kheo trong khi suy tư được biết như sau: “Trên con đường ta đã đi…, ta đi khất thực trở về, đối với các tiếng do tai nhận thức, … đối với các hương do mũi nhận thức, … đối với các vị do lưỡi nhận thức, … đối với các xúc do thân nhận thức, … đối với các pháp do ý nhận thức, không có khởi lên nơi ta dục, tham, sân, si hay hận tâm”, thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy phải an trú với hỷ và hân hoan ngày đêm tu học trong các thiện pháp.
SC 9Lại nữa, này Sāriputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư như sau: “Ta đã đoạn tận năm dục trưởng dưỡng chưa? Này Sāriputta, nếu Tỷ-kheo, trong khi suy tư được biết như sau: “Ta chưa đoạn tận năm dục trưởng dưỡng”, thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy phải tinh tấn đoạn tận năm dục trưởng dưỡng. Nhưng nếu, này Sāriputta, Tỷ-kheo trong khi suy tư được biết như sau: “Ta đã đoạn tận năm dục trưởng dưỡng”, thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy phải an trú với hỷ và hân hoan ngày đêm tu học trong các thiện pháp.
SC 10Lại nữa, này Sāriputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư như sau: “Ta đã đoạn tận năm triền cái chưa?” Nếu, này Sāriputta, trong khi suy tư, Tỷ-kheo được biết như sau: “Ta chưa đoạn tận năm triền cái”, thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy phải tinh tấn đoạn tận năm triền cái. Nhưng nếu, này Sāriputta, Tỷ-kheo trong khi suy tư được biết như sau: “Ta đã đoạn tận năm triền cái ”, thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy phải an trú với hỷ và hân hoan ngày đêm tu học trong các thiện pháp.
SC 11Lại nữa, này Sāriputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư: “Ta có liễu tri năm thủ uẩn chưa?” Này Sāriputta, nếu trong khi suy tư, Tỷ-kheo được biết như sau: “Ta chưa có liễu tri năm thủ uẩn”, thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy cần phải tinh tán liễu tri năm thủ uẩn. Nhưng nếu, này Sāriputta, trong khi suy tư, Tỷ-kheo ấy được biết như sau: “Ta đã liễu tri năm thủ uẩn”, thời này Sāriputta, vị Tỷ-kheo ấy phải an trú với hỷ và hân hoan ngày đêm tu học trong các thiện pháp.
SC 12Lại nữa, này Sāriputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư như sau: “Ta đã tu tập bốn niệm xứ chưa?” Này Sāriputta, nếu trong khi suy tư, Tỷ-kheo được biết: “Ta chưa tu tập bốn niệm xứ”, thời này Sāriputta, vị Tỷ-kheo cần phải tinh tấn tu tập bốn niệm xứ. Nhưng nếu, này Sāriputta, trong khi suy tư, Tỷ-kheo được biết như sau: “Ta đã tu tập bốn niệm xứ ”, thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy cần phải an trú với hỷ và hân hoan ngày đêm tu học trong các thiện pháp.
SC 13Lại nữa, này Sāriputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư: “Ta đã tu tập bốn chánh cần chưa? ” … “Ta đã tu tập bốn như ý túc chưa?” … “Ta đã tu tập năm căn chưa?” … “Ta đã tu tập năm lực chưa?” … “Ta đã tu tập bảy giác chi chưa?” … Lại nữa, này Sāriputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư như sau: “Ta đã tu tập Thánh đạo Tám ngành chưa?” Nếu Tỷ-kheo, này Sāriputta, trong khi suy tư được biết như sau: “Ta chưa tu tập Thánh đạo Tám ngành”, thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy cần phải tinh tấn tu tập Thánh đạo Tám ngành. Nhưng nếu, này Sāriputta, Tỷ-kheo trong khi suy tư được biết như sau: “Ta đã tu tập Thánh đạo Tám ngành”, thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy cần phải an trú trong hỷ và hân hoan ngày đêm tu học trong các thiện pháp.
SC 14Lại nữa, này Sāriputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư: “Ta đã tu tập Chỉ và Quán chưa? ” Nếu Tỷ-kheo, này Sāriputta, trong khi suy tư được biết như sau: “Ta chưa tu tập Chỉ và Quán ”, thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy cần phải tinh tấn tu tập Chỉ và Quán. Nhưng nếu, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi suy tư được biết như sau: “Ta đã tu tập Chỉ và Quán ”, thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy cần phải an trú với hỷ và hân hoan ngày đêm tu học trong các thiện pháp.
SC 15Lại nữa, này Sāriputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư như sau: “Ta đã chứng ngộ minh và giải thoát chưa? ” Nếu Tỷ-kheo, này Sāriputta, trong khi suy tư được biết như sau: “Ta chưa chứng ngộ minh và giải thoát”, thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy cần phải tinh tấn tu tập minh và giải thoát. Nhưng nếu, này Sāriputta, Tỷ-kheo trong khi suy tư được biết như sau: “Ta đã chứng ngộ minh và giải thoát ”, thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy cần phải an trú với hỷ và hân hoan ngày đêm tu học trong các thiện pháp.
SC 16Này Sāriputta, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời quá khứ đã làm cho khất thực được thanh tịnh, tất cả những vị ấy đã làm cho khất thực được thanh tịnh bằng cách suy tư, suy tư như vậy. Này Sāriputta, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời gian tương lai sẽ làm cho khất thực được thanh tịnh, tất cả những vị ấy sẽ làm cho khất thực được thanh tịnh, bằng cách suy tư, suy tư như vậy. Và này Sāriputta, những Sa-môn, Bà-la-môn nào trong thời hiện tại, làm cho khất thực được thanh tịnh, tất cả những vị ấy đã làm cho khất thực được thanh tịnh, bằng cách suy tư, suy tư như vậy. Vậy này Sāriputta, các Ông cần phải học tập như sau: “Sau khi suy tư, suy tư, chúng ta sẽ làm cho khất thực được thanh tịnh”. Này Sāriputta, các Ông phải tu tập như vậy.
SC 17Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Sāriputta hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). 15–07–2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
9. Kinh Thanh Tịnh Về Vật Thực Khất Thực
Atha kho āyasmā sāriputto sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ sāriputtaṁ bhagavā etadavoca:
Then in the late afternoon, Sāriputta came out of retreat and went to the Buddha. He bowed and sat down to one side. The Buddha said to him,
438. Tôi nghe như vầy: Một thời, Đức Thế Tôn trú tại Rājagaha, trong Trúc Lâm, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Lúc bấy giờ, vào buổi chiều, Tôn giả Sāriputta từ nơi độc cư thiền tịnh đứng dậy, đi đến chỗ Đức Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn nói với Tôn giả Sāriputta đang ngồi một bên như sau:
“Suññatāvihārena kho ahaṁ, bhante, etarahi bahulaṁ viharāmī”ti.
“Sādhu sādhu, sāriputta. Mahāpurisavihārena kira tvaṁ, sāriputta, etarahi bahulaṁ viharasi. Mahāpurisavihāro eso, sāriputta, yadidaṁ—suññatā.
Tasmātiha, sāriputta, bhikkhu sace ākaṅkheyya: ‘suññatāvihārena bahulaṁ vihareyyan’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā iti paṭisañcikkhitabbaṁ: ‘yena cāhaṁ maggena gāmaṁ piṇḍāya pāvisiṁ, yasmiñca padese piṇḍāya acariṁ, yena ca maggena gāmato piṇḍāya paṭikkamiṁ, atthi nu kho me tattha cakkhuviññeyyesu rūpesu chando vā rāgo vā doso vā moho vā paṭighaṁ vāpi cetaso’ti? Sace, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti: ‘yena cāhaṁ maggena gāmaṁ piṇḍāya pāvisiṁ, yasmiñca padese piṇḍāya acariṁ, yena ca maggena gāmato piṇḍāya paṭikkamiṁ, atthi me tattha cakkhuviññeyyesu rūpesu chando vā rāgo vā doso vā moho vā paṭighaṁ vāpi cetaso’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā tesaṁyeva pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya vāyamitabbaṁ. Sace pana, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti: ‘yena cāhaṁ maggena gāmaṁ piṇḍāya pāvisiṁ, yasmiñca padese piṇḍāya acariṁ, yena ca maggena gāmato piṇḍāya paṭikkamiṁ, natthi me tattha cakkhuviññeyyesu rūpesu chando vā rāgo vā doso vā moho vā paṭighaṁ vāpi cetaso’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā teneva pītipāmojjena vihātabbaṁ ahorattānusikkhinā kusalesu dhammesu.
“Sir, these days I usually practice the meditation on emptiness.”
“Good, good, Sāriputta! It seems you usually practice the meditation of a great man. For emptiness is the meditation of a great man.
Now, a mendicant might wish: ‘May I usually practice the meditation on emptiness.’ So they should reflect: ‘Along the path that I went for alms, or in the place I wandered for alms, or along the path that I returned from alms, was there any desire or greed or hate or delusion or aversion in my heart for sights known by the eye?’ Suppose that, upon checking, a mendicant knows that there was such desire or greed or hate or delusion or aversion in their heart, they should make an effort to give up those unskillful qualities. But suppose that, upon checking, a mendicant knows that there was no such desire or greed or hate or delusion or aversion in their heart, they should meditate with rapture and joy, training day and night in skillful qualities.
“Này Sāriputta, các căn của thầy thật trong sáng, màu da trong sạch, thanh tịnh. Này Sāriputta, hiện nay thầy thường an trú với pháp an trú nào vậy?” “Bạch Thế Tôn, hiện nay con thường an trú với pháp an trú Không tánh.” “Lành thay, lành thay, Sāriputta! Này Sāriputta, hiện nay thầy quả thật đang thường an trú với pháp an trú của bậc Đại nhân. Này Sāriputta, pháp an trú này, tức là Không tánh, chính là pháp an trú của bậc Đại nhân. Vì vậy, này Sāriputta, ở đây nếu vị tỳ khưu mong muốn: ‘Mong rằng ta thường an trú với pháp an trú Không tánh,’ thì này Sāriputta, vị tỳ khưu ấy nên suy xét như vầy: ‘Trên con đường mà ta đã vào làng để khất thực, tại nơi mà ta đã đi khất thực, và trên con đường mà ta đã từ làng đi khất thực trở về, ở nơi ấy, đối với các sắc pháp do nhãn thức nhận biết, ta có dục, hoặc tham, hoặc sân, hoặc si, hoặc sự chống đối của tâm hay không?’ Này Sāriputta, nếu vị tỳ khưu trong khi xem xét biết như vầy: ‘Trên con đường mà ta đã vào làng để khất thực, tại nơi mà ta đã đi khất thực, và trên con đường mà ta đã từ làng đi khất thực trở về, ở nơi ấy, đối với các sắc pháp do nhãn thức nhận biết, ta có dục, hoặc tham, hoặc sân, hoặc si, hoặc sự chống đối của tâm,’ thì này Sāriputta, vị tỳ khưu ấy phải nỗ lực để đoạn trừ chính các pháp ác, bất thiện ấy. Còn nếu, này Sāriputta, vị tỳ khưu trong khi xem xét biết như vầy: ‘Trên con đường mà ta đã vào làng để khất thực, tại nơi mà ta đã đi khất thực, và trên con đường mà ta đã từ làng đi khất thực trở về, ở nơi ấy, đối với các sắc pháp do nhãn thức nhận biết, ta không có dục, hoặc tham, hoặc sân, hoặc si, hoặc sự chống đối của tâm,’ thì này Sāriputta, vị tỳ khưu ấy nên an trú với chính niềm hoan hỷ và vui mừng ấy, ngày đêm học tập trong các thiện pháp.
Puna caparaṁ, sāriputta, bhikkhunā iti paṭisañcikkhitabbaṁ: ‘yena cāhaṁ maggena gāmaṁ piṇḍāya pāvisiṁ, yasmiñca padese piṇḍāya acariṁ, yena ca maggena gāmato piṇḍāya paṭikkamiṁ, atthi nu kho me tattha sotaviññeyyesu saddesu …pe… ghānaviññeyyesu gandhesu … jivhāviññeyyesu rasesu … kāyaviññeyyesu phoṭṭhabbesu … manoviññeyyesu dhammesu chando vā rāgo vā doso vā moho vā paṭighaṁ vāpi cetaso’ti? Sace, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti: ‘yena cāhaṁ maggena gāmaṁ piṇḍāya pāvisiṁ, yasmiñca padese piṇḍāya acariṁ, yena ca maggena gāmato piṇḍāya paṭikkamiṁ, atthi me tattha manoviññeyyesu dhammesu chando vā rāgo vā doso vā moho vā paṭighaṁ vāpi cetaso’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā tesaṁyeva pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya vāyamitabbaṁ. Sace pana, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti: ‘yena cāhaṁ maggena gāmaṁ piṇḍāya pāvisiṁ, yasmiñca padese piṇḍāya acariṁ, yena ca maggena gāmato piṇḍāya paṭikkamiṁ, natthi me tattha manoviññeyyesu dhammesu chando vā rāgo vā doso vā moho vā paṭighaṁ vāpi cetaso’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā teneva pītipāmojjena vihātabbaṁ ahorattānusikkhinā kusalesu dhammesu.
Furthermore, a mendicant should reflect: ‘Along the path that I went for alms, or in the place I wandered for alms, or along the path that I returned from alms, was there any desire or greed or hate or delusion or repulsion in my heart for sounds known by the ear … smells known by the nose … tastes known by the tongue … touches known by the body … ideas known by the mind?’ Suppose that, upon checking, a mendicant knows that there was such desire or greed or hate or delusion or aversion in their heart, they should make an effort to give up those unskillful qualities. But suppose that, upon checking, a mendicant knows that there was no such desire or greed or hate or delusion or aversion in their heart, they should meditate with rapture and joy, training day and night in skillful qualities.
439. “Lại nữa, này Sāriputta, vị tỳ khưu nên suy xét như vầy: ‘Trên con đường mà ta đã vào làng để khất thực, tại nơi mà ta đã đi khất thực, và trên con đường mà ta đã từ làng đi khất thực trở về, ở nơi ấy, đối với các âm thanh do nhĩ thức nhận biết... đối với các mùi hương do tỷ thức nhận biết... đối với các vị nếm do thiệt thức nhận biết... đối với các vật xúc chạm do thân thức nhận biết... đối với các pháp do ý thức nhận biết, ta có dục, hoặc tham, hoặc sân, hoặc si, hoặc sự chống đối của tâm hay không?’ Này Sāriputta, nếu vị tỳ khưu trong khi xem xét biết như vầy: ‘Trên con đường mà ta đã vào làng để khất thực, tại nơi mà ta đã đi khất thực, và trên con đường mà ta đã từ làng đi khất thực trở về, ở nơi ấy, đối với các pháp do ý thức nhận biết, ta có dục, hoặc tham, hoặc sân, hoặc si, hoặc sự chống đối của tâm,’ thì này Sāriputta, vị tỳ khưu ấy phải nỗ lực để đoạn trừ chính các pháp ác, bất thiện ấy. Còn nếu, này Sāriputta, vị tỳ khưu trong khi xem xét biết như vầy: ‘Trên con đường mà ta đã vào làng để khất thực, tại nơi mà ta đã đi khất thực, và trên con đường mà ta đã từ làng đi khất thực trở về, ở nơi ấy, đối với các pháp do ý thức nhận biết, ta không có dục, hoặc tham, hoặc sân, hoặc si, hoặc sự chống đối của tâm,’ thì này Sāriputta, vị tỳ khưu ấy nên an trú với chính niềm hoan hỷ và vui mừng ấy, ngày đêm học tập trong các thiện pháp.
Puna caparaṁ, sāriputta, bhikkhunā iti paṭisañcikkhitabbaṁ: ‘pahīnā nu kho me pañca kāmaguṇā’ti? Sace, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti: ‘appahīnā kho me pañca kāmaguṇā’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā pañcannaṁ kāmaguṇānaṁ pahānāya vāyamitabbaṁ. Sace pana, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti: ‘pahīnā kho me pañca kāmaguṇā’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā teneva pītipāmojjena vihātabbaṁ ahorattānusikkhinā kusalesu dhammesu.
Furthermore, a mendicant should reflect: ‘Have I given up the five kinds of sensual stimulation?’ Suppose that, upon checking, a mendicant knows that they have not given them up, they should make an effort to do so. But suppose that, upon checking, a mendicant knows that they have given them up, they should meditate with rapture and joy, training day and night in skillful qualities.
440. “Lại nữa, này Sāriputta, vị tỳ khưu nên suy xét như vầy: ‘Năm dục trưởng dưỡng đã được ta đoạn trừ hay chưa?’ Này Sāriputta, nếu vị tỳ khưu trong khi xem xét biết như vầy: ‘Năm dục trưởng dưỡng chưa được ta đoạn trừ,’ thì này Sāriputta, vị tỳ khưu ấy phải nỗ lực để đoạn trừ năm dục trưởng dưỡng. Còn nếu, này Sāriputta, vị tỳ khưu trong khi xem xét biết như vầy: ‘Năm dục trưởng dưỡng đã được ta đoạn trừ,’ thì này Sāriputta, vị tỳ khưu ấy nên an trú với chính niềm hoan hỷ và vui mừng ấy, ngày đêm học tập trong các thiện pháp.
Puna caparaṁ, sāriputta, bhikkhunā iti paṭisañcikkhitabbaṁ: ‘pahīnā nu kho me pañca nīvaraṇā’ti? Sace, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti: ‘appahīnā kho me pañca nīvaraṇā’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā pañcannaṁ nīvaraṇānaṁ pahānāya vāyamitabbaṁ. Sace pana, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti: ‘pahīnā kho me pañca nīvaraṇā’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā teneva pītipāmojjena vihātabbaṁ ahorattānusikkhinā kusalesu dhammesu.
Furthermore, a mendicant should reflect: ‘Have I given up the five hindrances?’ Suppose that, upon checking, a mendicant knows that they have not given them up, they should make an effort to do so. But suppose that, upon checking, a mendicant knows that they have given them up, they should meditate with rapture and joy, training day and night in skillful qualities.
441. “Lại nữa, này Sāriputta, vị tỳ khưu nên suy xét như vầy: ‘Năm triền cái đã được ta đoạn trừ hay chưa?’ Này Sāriputta, nếu vị tỳ khưu trong khi xem xét biết như vầy: ‘Năm triền cái chưa được ta đoạn trừ,’ thì này Sāriputta, vị tỳ khưu ấy phải nỗ lực để đoạn trừ năm triền cái. Còn nếu, này Sāriputta, vị tỳ khưu trong khi xem xét biết như vầy: ‘Năm triền cái đã được ta đoạn trừ,’ thì này Sāriputta, vị tỳ khưu ấy nên an trú với chính niềm hoan hỷ và vui mừng ấy, ngày đêm học tập trong các thiện pháp.
Puna caparaṁ, sāriputta, bhikkhunā iti paṭisañcikkhitabbaṁ: ‘pariññātā nu kho me pañcupādānakkhandhā’ti? Sace, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti: ‘apariññātā kho me pañcupādānakkhandhā’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā pañcannaṁ upādānakkhandhānaṁ pariññāya vāyamitabbaṁ. Sace pana, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti: ‘pariññātā kho me pañcupādānakkhandhā’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā teneva pītipāmojjena vihātabbaṁ ahorattānusikkhinā kusalesu dhammesu.
Furthermore, a mendicant should reflect: ‘Have I completely understood the five grasping aggregates?’ Suppose that, upon checking, a mendicant knows that they have not completely understood them, they should make an effort to do so. But suppose that, upon checking, a mendicant knows that they have completely understood them, they should meditate with rapture and joy, training day and night in skillful qualities.
442. “Lại nữa, này Sāriputta, vị tỳ khưu nên suy xét như vầy: ‘Năm thủ uẩn đã được ta liễu tri hay chưa?’ Này Sāriputta, nếu vị tỳ khưu trong khi xem xét biết như vầy: ‘Năm thủ uẩn chưa được ta liễu tri,’ thì này Sāriputta, vị tỳ khưu ấy phải nỗ lực để liễu tri năm thủ uẩn. Còn nếu, này Sāriputta, vị tỳ khưu trong khi xem xét biết như vầy: ‘Năm thủ uẩn đã được ta liễu tri,’ thì này Sāriputta, vị tỳ khưu ấy nên an trú với chính niềm hoan hỷ và vui mừng ấy, ngày đêm học tập trong các thiện pháp.
Puna caparaṁ, sāriputta, bhikkhunā iti paṭisañcikkhitabbaṁ: ‘bhāvitā nu kho me cattāro satipaṭṭhānā’ti? Sace, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti: ‘abhāvitā kho me cattāro satipaṭṭhānā’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā catunnaṁ satipaṭṭhānānaṁ bhāvanāya vāyamitabbaṁ. Sace pana, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti: ‘bhāvitā kho me cattāro satipaṭṭhānā’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā teneva pītipāmojjena vihātabbaṁ ahorattānusikkhinā kusalesu dhammesu.
Furthermore, a mendicant should reflect: ‘Have I developed the four kinds of mindfulness meditation?’ Suppose that, upon checking, a mendicant knows that they haven’t developed them, they should make an effort to do so. But suppose that, upon checking, a mendicant knows that they have developed them, they should meditate with rapture and joy, training day and night in skillful qualities.
443. Này Sāriputta, lại nữa, vị tỳ khưu nên suy xét như vầy: ‘Bốn niệm xứ đã được ta tu tập rồi chăng?’ Này Sāriputta, nếu trong khi quán xét, vị tỳ khưu biết như vầy: ‘Bốn niệm xứ đã chưa được ta tu tập,’ này Sāriputta, vị tỳ khưu ấy nên nỗ lực để tu tập bốn niệm xứ. Này Sāriputta, nhưng nếu trong khi quán xét, vị tỳ khưu biết như vầy: ‘Bốn niệm xứ đã được ta tu tập rồi,’ này Sāriputta, vị tỳ khưu ấy nên an trú với chính niềm hoan hỷ và hân hoan ấy, ngày đêm tu học trong các thiện pháp.
Puna caparaṁ, sāriputta, bhikkhunā iti paṭisañcikkhitabbaṁ: ‘bhāvitā nu kho me cattāro sammappadhānā’ti? Sace, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti: ‘abhāvitā kho me cattāro sammappadhānā’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā catunnaṁ sammappadhānānaṁ bhāvanāya vāyamitabbaṁ. Sace pana, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti: ‘bhāvitā kho me cattāro sammappadhānā’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā teneva pītipāmojjena vihātabbaṁ ahorattānusikkhinā kusalesu dhammesu.
Furthermore, a mendicant should reflect: ‘Have I developed the four right efforts …
444. Này Sāriputta, lại nữa, vị tỳ khưu nên suy xét như vầy: ‘Bốn chánh cần đã được ta tu tập rồi chăng?’ Này Sāriputta, nếu trong khi quán xét, vị tỳ khưu biết như vầy: ‘Bốn chánh cần đã chưa được ta tu tập,’ này Sāriputta, vị tỳ khưu ấy nên nỗ lực để tu tập bốn chánh cần. Này Sāriputta, nhưng nếu trong khi quán xét, vị tỳ khưu biết như vầy: ‘Bốn chánh cần đã được ta tu tập rồi,’ này Sāriputta, vị tỳ khưu ấy nên an trú với chính niềm hoan hỷ và hân hoan ấy, ngày đêm tu học trong các thiện pháp.
445. Này Sāriputta, lại nữa, vị tỳ khưu nên suy xét như vầy: ‘Bốn như ý túc đã được ta tu tập rồi chăng?’ Này Sāriputta, nếu trong khi quán xét, vị tỳ khưu biết như vầy: ‘Bốn như ý túc đã chưa được ta tu tập,’ này Sāriputta, vị tỳ khưu ấy nên nỗ lực để tu tập bốn như ý túc. Này Sāriputta, nhưng nếu trong khi quán xét, vị tỳ khưu biết như vầy: ‘Bốn như ý túc đã được ta tu tập rồi,’ này Sāriputta, vị tỳ khưu ấy nên an trú với chính niềm hoan hỷ và hân hoan ấy, ngày đêm tu học trong các thiện pháp.
446. Này Sāriputta, lại nữa, vị tỳ khưu nên suy xét như vầy: ‘Năm căn đã được ta tu tập rồi chăng?’ Này Sāriputta, nếu trong khi quán xét, vị tỳ khưu biết như vầy: ‘Năm căn đã chưa được ta tu tập,’ này Sāriputta, vị tỳ khưu ấy nên nỗ lực để tu tập năm căn. Này Sāriputta, nhưng nếu trong khi quán xét, vị tỳ khưu biết như vầy: ‘Năm căn đã được ta tu tập rồi,’ này Sāriputta, vị tỳ khưu ấy nên an trú với chính niềm hoan hỷ và hân hoan ấy, ngày đêm tu học trong các thiện pháp.
447. Này Sāriputta, lại nữa, vị tỳ khưu nên suy xét như vầy: ‘Năm lực đã được ta tu tập rồi chăng?’ Này Sāriputta, nếu trong khi quán xét, vị tỳ khưu biết như vầy: ‘Năm lực đã chưa được ta tu tập,’ này Sāriputta, vị tỳ khưu ấy nên nỗ lực để tu tập năm lực. Này Sāriputta, nhưng nếu trong khi quán xét, vị tỳ khưu biết như vầy: ‘Năm lực đã được ta tu tập rồi,’ này Sāriputta, vị tỳ khưu ấy nên an trú với chính niềm hoan hỷ và hân hoan ấy, ngày đêm tu học trong các thiện pháp.
448. Này Sāriputta, lại nữa, vị tỳ khưu nên suy xét như vầy: ‘Bảy giác chi đã được ta tu tập rồi chăng?’ Này Sāriputta, nếu trong khi quán xét, vị tỳ khưu biết như vầy: ‘Bảy giác chi đã chưa được ta tu tập,’ này Sāriputta, vị tỳ khưu ấy nên nỗ lực để tu tập bảy giác chi. Này Sāriputta, nhưng nếu trong khi quán xét, vị tỳ khưu biết như vầy: ‘Bảy giác chi đã được ta tu tập rồi,’ này Sāriputta, vị tỳ khưu ấy nên an trú với chính niềm hoan hỷ và hân hoan ấy, ngày đêm tu học trong các thiện pháp.
449. Này Sāriputta, lại nữa, vị tỳ khưu nên suy xét như vầy: ‘Thánh đạo tám ngành đã được ta tu tập rồi chăng?’ Này Sāriputta, nếu trong khi quán xét, vị tỳ khưu biết như vầy: ‘Thánh đạo tám ngành đã chưa được ta tu tập,’ này Sāriputta, vị tỳ khưu ấy nên nỗ lực để tu tập Thánh đạo tám ngành. Này Sāriputta, nhưng nếu trong khi quán xét, vị tỳ khưu biết như vầy: ‘Thánh đạo tám ngành đã được ta tu tập rồi,’ này Sāriputta, vị tỳ khưu ấy nên an trú với chính niềm hoan hỷ và hân hoan ấy, ngày đêm tu học trong các thiện pháp.
Puna caparaṁ, sāriputta, bhikkhunā iti paṭisañcikkhitabbaṁ: ‘bhāvitā nu kho me samatho ca vipassanā cā’ti? Sace, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti: ‘abhāvitā kho me samatho ca vipassanā cā’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā samathavipassanānaṁ bhāvanāya vāyamitabbaṁ. Sace pana, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti: ‘bhāvitā kho me samatho ca vipassanā cā’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā teneva pītipāmojjena vihātabbaṁ ahorattānusikkhinā kusalesu dhammesu.
Furthermore, a mendicant should reflect: ‘Have I developed serenity and discernment?’ Suppose that, upon checking, a mendicant knows that they haven’t developed them, they should make an effort to do so. But suppose that, upon checking, a mendicant knows that they have developed them, they should meditate with rapture and joy, training day and night in skillful qualities.
450. Này Sāriputta, lại nữa, vị tỳ khưu nên suy xét như vầy: ‘Chỉ và quán đã được ta tu tập rồi chăng?’ Này Sāriputta, nếu trong khi quán xét, vị tỳ khưu biết như vầy: ‘Chỉ và quán đã chưa được ta tu tập,’ này Sāriputta, vị tỳ khưu ấy nên nỗ lực để tu tập chỉ và quán. Này Sāriputta, nhưng nếu trong khi quán xét, vị tỳ khưu biết như vầy: ‘Chỉ và quán đã được ta tu tập rồi,’ này Sāriputta, vị tỳ khưu ấy nên an trú với chính niềm hoan hỷ và hân hoan ấy, ngày đêm tu học trong các thiện pháp.
Puna caparaṁ, sāriputta, bhikkhunā iti paṭisañcikkhitabbaṁ: ‘sacchikatā nu kho me vijjā ca vimutti cā’ti? Sace, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti: ‘asacchikatā kho me vijjā ca vimutti cā’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā vijjāya vimuttiyā sacchikiriyāya vāyamitabbaṁ. Sace pana, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti: ‘sacchikatā kho me vijjā ca vimutti cā’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā teneva pītipāmojjena vihātabbaṁ ahorattānusikkhinā kusalesu dhammesu.
Furthermore, a mendicant should reflect: ‘Have I realized knowledge and freedom?’ Suppose that, upon checking, a mendicant knows that they haven’t realized them, they should make an effort to do so. But suppose that, upon checking, a mendicant knows that they have realized them, they should meditate with rapture and joy, training day and night in skillful qualities.
451. Này Sāriputta, lại nữa, vị tỳ khưu cần phải suy xét như vầy: ‘Minh và giải thoát đã được ta chứng ngộ hay chưa?’ Này Sāriputta, nếu trong khi suy xét, vị tỳ khưu biết như vầy: ‘Minh và giải thoát chưa được ta chứng ngộ,’ thì này Sāriputta, vị tỳ khưu ấy cần phải nỗ lực để chứng ngộ minh và giải thoát. Còn nếu, này Sāriputta, trong khi suy xét, vị tỳ khưu biết như vầy: ‘Minh và giải thoát đã được ta chứng ngộ,’ thì này Sāriputta, vị tỳ khưu ấy nên an trú với chính niềm hoan hỷ và hân hoan đó, ngày đêm tu học trong các thiện pháp.
Ye hi keci, sāriputta, atītamaddhānaṁ samaṇā vā brāhmaṇā vā piṇḍapātaṁ parisodhesuṁ, sabbe te evameva paccavekkhitvā paccavekkhitvā piṇḍapātaṁ parisodhesuṁ. Yepi hi keci, sāriputta, anāgatamaddhānaṁ samaṇā vā brāhmaṇā vā piṇḍapātaṁ parisodhessanti, sabbe te evameva paccavekkhitvā paccavekkhitvā piṇḍapātaṁ parisodhessanti. Yepi hi keci, sāriputta, etarahi samaṇā vā brāhmaṇā vā piṇḍapātaṁ parisodhenti, sabbe te evameva paccavekkhitvā paccavekkhitvā piṇḍapātaṁ parisodhenti. Tasmātiha, sāriputta, ‘paccavekkhitvā paccavekkhitvā piṇḍapātaṁ parisodhessāmā’ti—evañhi vo, sāriputta, sikkhitabban”ti.
Whether in the past, future, or present, all those who purify their almsfood do so by continually checking in this way. So, Sāriputta, you should all train like this: ‘We shall purify our almsfood by continually checking.’”
452. Này Sāriputta, bất cứ Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời quá khứ đã thanh lọc vật thực khất thực, tất cả các vị ấy đều đã thanh lọc vật thực khất thực sau khi đã suy xét, suy xét đúng như vậy. Này Sāriputta, bất cứ Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời vị lai sẽ thanh lọc vật thực khất thực, tất cả các vị ấy đều sẽ thanh lọc vật thực khất thực sau khi đã suy xét, suy xét đúng như vậy. Này Sāriputta, bất cứ Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời hiện tại đang thanh lọc vật thực khất thực, tất cả các vị ấy đều đang thanh lọc vật thực khất thực sau khi đã suy xét, suy xét đúng như vậy. Do đó, này Sāriputta, ở đây các ngươi phải học tập như vầy: ‘Chúng ta sẽ thanh lọc vật thực khất thực sau khi đã suy xét, suy xét.’
Idamavoca bhagavā. Attamano āyasmā sāriputto bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
That is what the Buddha said. Satisfied, Venerable Sāriputta approved what the Buddha said.
Thế Tôn đã thuyết như vậy. Tôn giả Sāriputta hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Piṇḍapātapārisuddhisuttaṁ niṭṭhitaṁ navamaṁ.
Kinh Thanh Tịnh Vật Thực Khất Thực, kinh thứ chín, đã chấm dứt.