- Majjhima Nikāya 152
Indriyabhāvanāsutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Indriyabhāvanāsutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời, Thế Tôn ở Kajangala, tại Mukheluvana.
SC 2Rồi thanh niên Bà-la-môn Uttara, đệ tử của Pasariya đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với thanh niên Bà-la-môn Uttara, đệ tử của Pasariya đang ngồi một bên
SC 3—Này Uttara, Bà-la-môn Pasariya có thuyết về căn tu tập cho các đệ tử không?
SC 4—Thưa Tôn giả Gotama, Bà-la-môn Pasariya có thuyết về căn tu tập cho các đệ tử.
SC 5—Nhưng này Uttara, Bà-la-môn Pasariya thuyết về căn tu tập cho các đệ tử như thế nào?
SC 6—Ở đây, thưa Tôn giả Gotama, không nên thấy sắc với mắt, không nên nghe tiếng với tai. Như vậy, thưa Tôn giả Gotama, Bà-la-môn Pasariya thuyết căn tu tập cho các đệ tử.
SC 7—Nếu là như vậy, này Uttara, theo như lời nói của Bà-la-môn Pasariya, người mù sẽ là người có căn tu tập, người điếc sẽ là người có căn tu tập. Này Uttara, người mù không thấy sắc với mắt, người điếc không nghe tiếng với tai.
SC 8Khi được nói vậy, thanh niên Bà-la-môn Uttara đệ tử của Pasariya ngồi im lặng, hổ thẹn, thụt vai, mặt cúi gầm xuống, trầm ngâm, không nói năng gì.
SC 9Rồi Thế Tôn, sau khi biết được Uttara, đệ tử của Pasariya im lặng, hổ thẹn, thụt vai, mặt cúi gầm xuống, trầm ngâm, không nói năng gì, liền gọi Tôn giả Ānanda và nói
SC 10—Này Ānanda, Bà-la-môn Pasariya thuyết cho các đệ tử căn tu tập một cách khác; nhưng trong giới luật các bậc Thánh, vô thượng căn tu tập khác như vậy.
SC 11—Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời! Bạch Thiện Thệ, nay đã đến thời để Thế Tôn thuyết vô thượng căn tu tập trong giới luật bậc Thánh. Sau khi nghe Thế Tôn, các vị Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
SC 12—Vậy này Ānanda, hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.
SC 13—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 14Tôn giả Ānanda vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau
SC 15—Này Ānanda, thế nào là vô thượng căn tu tập trong giới luật bậc Thánh? Ở đây, này Ānanda, vị Tỷ-kheo, mắt thấy sắc, khởi lên khả ý, khởi lên bất khả ý, khởi lên khả ý và bất khả ý. Vị ấy tuệ tri như sau: “Khả ý này khởi lên nơi ta, bất khả ý này khởi lên nơi ta, khả ý và bất khả ý này khởi lên nơi ta. Cái này khởi lên, vì là hữu vi nên thô. Nhưng cái này là an tịnh, cái này là thù diệu, tức là xả”. Cho nên, dầu cho cái gì khởi lên là khả ý, bất khả ý hay khả ý và bất khả ý, tất cả đều đoạn diệt (trong vị ấy), và xả tồn tại. Này Ānanda, như một người có mắt, sau khi mở mắt, lại nhắm mắt lại, hay sau khi nhắm mắt, lại mở mắt ra; cũng vậy, như vậy là tốc độ, như vậy là sự mau chóng, như vậy là sự dễ dàng đối với cái gì đã khởi lên, khả ý, bất khả ý hay khả ý và bất khả ý, (tất cả) đều đoạn diệt (trong vị ấy), và xả tồn tại. Trong giới luật bậc Thánh, này Ānanda, như vậy gọi là vô thượng căn tu tập đối với các sắc do mắt nhận thức.
SC 16Lại nữa, này Ānanda, Tỷ-kheo tai nghe tiếng khởi lên khả ý, khởi lên bất khả ý, khởi lên khả ý và bất khả ý. Vị ấy tuệ tri như sau: “Khả ý này khởi lên nơi ta, bất khả ý này khởi lên nơi ta, khả ý và bất khả ý này khởi lên nơi ta. Cái này khởi lên, vì là hữu vi nên thô. Nhưng cái này là an tịnh, cái này là thù diệu, tức là xả”. Cho nên dầu cho cái gì khởi lên là khả ý, bất khả ý, hay khả ý và bất khả ý, tất cả đều đoạn diệt (trong vị ấy), và xả tồn tại. Này Ānanda, như một người lực sĩ có thể búng tay một cách dễ dàng; cũng vậy, như vậy là tốc độ, như vậy là sự mau chóng, như vậy là sự dễ dàng đối với cái gì đã khởi lên, khả ý, bất khả ý hay khả ý và bất khả ý, (tất cả) đều đoạn diệt (trong vị ấy) và xả tồn tại. Trong giới luật bậc Thánh, này Ānanda, như vậy gọi là vô thượng căn tu tập đối với các tiếng do tai nhận thức.
SC 17Lại nữa, này Ānanda, Tỷ-kheo do mũi ngửi hương khởi lên khả ý, khởi lên bất khả ý, khởi lên khả ý và bất khả ý. Vị ấy tuệ tri như sau: “Khả ý này khởi lên nơi ta, bất khả ý này khởi lên nơi ta, khả ý và bất khả này khởi lên nơi ta. Cái này khởi lên, vì là hữu vi nên thô. Nhưng cái này là an tịnh, cái này là thù diệu, tức là xả”. Cho nên dầu cho cái gì khởi lên là khả ý, bất khả ý hay khả ý và bất khả ý, tất cả đều đoạn diệt (trong vị ấy) và xả tồn tại. Này Ānanda, như những giọt nước mưa chảy trượt đi, không có đọng lại trên một lá sen hơi chúc xuống; cũng vậy, như vậy là tốc độ, như vậy là sự mau chóng, như vậy là sự dễ dàng đối với cái gì đã khởi lên, khả ý, bất khả ý hay khả ý và bất khả ý, (tất cả) đều đoạn diệt (trong vị ấy), và xả tồn tại. Trong giới luật bậc Thánh, này Ānanda, như vậy gọi là vô thượng căn tu tập đối với các hương do mũi nhận thức.
SC 18Lại nữa, này Ānanda, Tỷ-kheo lưỡi nếm vị khởi lên khả ý, khởi lên bất khả ý, khởi lên khả ý và bất khả ý. Vị ấy tuệ tri như sau: “Khả ý này khởi lên nơi ta, bất khả ý này khởi lênnơi ta, khả ý và bất khả ý này khởi lên nơi ta. Cái này khởi lên, vì là hữu vi nên thô. Nhưng cái này là an tinh, cái này là thù diệu, tức là xả”. Cho nên dầu cho cái gì khởi lên là khả ý, bất khả ý, hay khả ý và bất khả ý, tất cả đều đoạn diệt (trong vị ấy) và xả tồn tại. Này Ānanda, như một người lực sĩ có thể nhổ ra một cách dễ dàng cục đờm đọng lại trên đầu lưỡi; cũng vậy, như vậy là tốc độ, như vậy là sự mau chóng, như vậy là sự dễ dàng đối với cái gì đã khởi lên, khả ý, bất khả ý hay khả ý và bất khả ý, (tất cả) đều đoạn diệt (trong vị ấy) và xả tồn tại. Trong giới luật bậc Thánh, này Ānanda, như vậy gọi là vô thượng căn tu tập đối với các vị do lưỡi nhận thức.
SC 19Lại nữa, này Ānanda, Tỷ-kheo thân cảm xúc khởi lên khả ý, khởi lên bất khả ý, khởi lên khả ý và bất khả ý. Vị ấy tuệ tri như sau: “Khả ý này khởi lên nơi ta, bất khả ý này khởi lên nơi ta, khả ý và bất khả ý này khởi lên nơi ta. Cái này khởi lên, vì là hữu vi nên thô. Nhưng cái này là an tịnh, cái này là thù diệu, tức là xả”. Cho nên dầu cho cái gì khởi lên là khả ý, bất khả ý hay khả ý và bất khả ý, tất cả đều đoạn diệt (trong vị ấy), và xả tồn tại. Này Ānanda, ví như một người có thể co duỗi cánh tay được co lại của mình, hay co lại cánh tay duỗi ra của mình; cũng vậy, như vậy là tốc độ, như vậy là sự mau chóng, như vậy là sự dễ dàng đối với cái gì đã khởi lên, khả ý, bất khả ý hay khả ý và bất khả ý, (tất cả) đều đoạn diệt (trong vị ấy) và xả tồn tại. Trong giới luật bậc Thánh, này Ānanda, như vậy gọi là vô thượng căn tu tập đối với các xúc do thân nhận thức.
SC 20Lại nữa, này Ānanda, Tỷ-kheo, ý nhận thức các pháp khởi lên khả ý, khởi lên bất khả ý, khởi lên khả ý và bất khả ý. Vị ấy tuệ tri như sau: “Khả ý này khởi lên nơi ta, bất khả ý này khởi lên nơi ta, khả ý và bất khả ý này khởi lên nơi ta. Cái này khởi lên, vì là hữu vi nên thô. Nhưng cái này là an tịnh, cái này là thù diệu, tức là xả”. Cho nên dầu cho cái gì khởi lên là khả ý, bất khả ý hay khả ý và bất khả ý, tất cả đều đoạn diệt (trong vị ấy), và xả tồn tại. Này Ānanda, như một người cho nhỏ hai ba giọt nước trong một cái chậu bằng sắt đun nóng mỗi ngày, này Ānanda, các giọt nước rơi rất chậm nhưng chúng bị tiêu diệt, biến đi rất mau, cũng vậy, như vậy là tốc độ, như vậy là sự mau chóng, như vậy là sự dễ dàng đối với cái gì đã khởi lên khả ý, bất khả ý hay khả ý và bất khả ý, (tất cả) đều đoạn diệt (trong vị ấy) và xả tồn tại. Trong giới luật bậc Thánh, này Ānanda, như vậy gọi là vô thượng căn tu tập đối với các pháp do ý nhận thức.
SC 21Như vậy, này Ānanda, là vô thượng căn tu tập trong giới luật bậc Thánh.
SC 22Và này Ānanda, thế nào là đạo lộ của vị hữu học? Ở đây, này Ānanda, Tỷ-kheo mắt thấy sắc khởi lên khả ý, khởi lên bất khả ý, khởi lên khả ý và bất khả ý. Vì rằng có khả ý khởi lên, có bất khả ý khởi lên, có khả ý và bất khả ý khởi lên, vị ấy ưu não, tàm quý, ghét bỏ. Sau khi tai nghe tiếng…, mũi ngửi hương…, lưỡi nếm vị…, thân cảm xúc…, sau khi ý nhận thức pháp, vị ấy khởi lên khả ý, khởi lên bất khả ý, khởi lên khả ý và bất khả ý. Vì rằng có khả ý khởi lên, có bất khả ý khởi lên, có khả ý và bất khả ý khởi lên, vị ấy ưu não, tàm quý, ghét bỏ. Như vậy, này Ānanda là đạo lộ của vị hữu học.
SC 23Và này Ānanda, thế nào là bậc Thánh, các căn được tu tập? Ở đây, này Ānanda, sau khi mắt thấy sắc, vị Tỷ-kheo khởi lên khả ý, khởi lên bất khả ý, khởi lên khả ý và bất khả ý. Nếu vị ấy khởi lên ước muốn: “Mong rằng tôi an trú với tưởng không yếm ly đối với (sự vật) yếm ly”, thời ở đây, vị ấy an trú với tưởng không yếm ly. Nếu vị ấy khởi lên ước muốn: “Mong rằng tôi an trú với tưởng yếm ly đối với (sự vật) không yếm ly”, thời ở đây, vị ấy an trú với tưởng yếm ly. Nếu vị ấy khởi lên ước muốn; “Mong rằng tôi an trú với tưởng không yếm ly đối với (sự vật) yếm ly và (sự vật) không yếm ly”, thời ở đây, vị ấy an trú với tưởng không yếm ly. Nếu vị ấy khởi lên ước muốn: “Mong rằng tôi an trú với tưởng yếm ly đối với (sự vật) không yếm ly và (sự vật) yếm ly”, thời ở đây, vị ấy an trú với tưởng yếm ly. Nếu vị ấy khởi lên ước muốn: “Mong rằng, tôi sau khi từ bỏ cả hai yếm ly và không yếm ly, an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác ”, thời ở đây, vị ấy an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác.
SC 24Lại nữa, này Ānanda, Tỷ-kheo sau khi tai nghe tiếng…, mũi ngửi hương…, lưỡi nếm vị…, thân cảm xúc…, ý nhận thức pháp, vị Tỷ-kheo khởi lên khả ý, khởi lên bất khả ý, khởi lên khả ý và bất khả ý. Nếu vị ấy khởi lên ước muốn: “Mong rằng tôi an trú với tưởng không yếm ly đối với (sự vật) yếm ly”, thời ở đây, vị ấy an trú với tưởng không yếm ly. Nếu vị ấy khởi lên ước muốn: “Mong rằng ta an trú với tưởng yếm ly đối với (sự vật) không yếm ly”, thời ở đây, vị ấy an trú với tưởng yếm ly. Nếu vị ấy khởi lên ước muốn: “Mong rằng tôi an trú với tưởng không yếm ly đối với (sự vật) yếm ly và (sự vật) không yếm ly”, thời ở đây, vị ấy sống an trú với tưởng không yếm ly. Nếu vị ấy khởi lên ước muốn: “Mong rằng tôi an trú với tưởng yếm ly đối với (sự vật) không yếm ly và (sự vật) yếm ly”, thời ở đây, vị ấy an trú với tưởng yếm ly. Nếu vị ấy khởi lên ước muốn: “Mong rằng, tôi sau khi từ bỏ cả hai yếm ly và không yếm ly, an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác”, thời ở đây, vị ấy an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác.
SC 25Như vậy, này Ānanda, là bậc Thánh, các căn được tu tập.
SC 26Như vậy, này Ānanda, Ta đã giảng vô thượng căn tu tập trong giới luật bậc Thánh, đã giảng đạo lộ của bậc hữu học, đã giảng bậc Thánh, các căn được tu tập. Này Ānanda, những gì một bậc Ðạo sư phải làm, vì lòng từ mẫn, mưu cầu hạnh phúc cho các đệ tử, những điều ấy Ta đã làm cho các Ông. Này Ānanda, đây là những gốc cây, đây là những chỗ trống. Này Ānanda, hãy Thiền tư, chớ có phóng dật, chớ có hối hận về sau. Ðây là những lời giáo giới của Ta cho các Ông.
SC 27Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ānanda hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). 15–07–2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
10. Kinh Tu Tập Các Căn
Atha kho uttaro māṇavo pārāsiviyantevāsī yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho uttaraṁ māṇavaṁ pārāsiviyantevāsiṁ bhagavā etadavoca: “deseti, uttara, pārāsiviyo brāhmaṇo sāvakānaṁ indriyabhāvanan”ti?
“Deseti, bho gotama, pārāsiviyo brāhmaṇo sāvakānaṁ indriyabhāvanan”ti.
“Yathā kathaṁ pana, uttara, deseti pārāsiviyo brāhmaṇo sāvakānaṁ indriyabhāvanan”ti?
“Idha, bho gotama, cakkhunā rūpaṁ na passati, sotena saddaṁ na suṇāti—evaṁ kho, bho gotama, deseti pārāsiviyo brāhmaṇo sāvakānaṁ indriyabhāvanan”ti.
“Evaṁ sante kho, uttara, andho bhāvitindriyo bhavissati, badhiro bhāvitindriyo bhavissati; yathā pārāsiviyassa brāhmaṇassa vacanaṁ. Andho hi, uttara, cakkhunā rūpaṁ na passati, badhiro sotena saddaṁ na suṇātī”ti. Evaṁ vutte, uttaro māṇavo pārāsiviyantevāsī tuṇhībhūto maṅkubhūto pattakkhandho adhomukho pajjhāyanto appaṭibhāno nisīdi.
Then the student Uttara, a pupil of the brahmin Pārāsariya, approached the Buddha, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side. The Buddha said to him, “Uttara, does Pārāsariya teach his disciples the development of the faculties?”
“He does, worthy Gotama.”
“But how does he teach it?”
“Worthy Gotama, it’s when the eye sees no sight and the ear hears no sound. That’s how Pārāsariya teaches his disciples the development of the faculties.”
“In that case, Uttara, a blind person and a deaf person will have developed faculties according to what Pārāsariya says. For a blind person sees no sight with their eyes and a deaf person hears no sound with their ears.” When he said this, Uttara sat silent, dismayed, shoulders drooping, downcast, depressed, with nothing to say.
453. Tôi nghe như vầy. Một thời, Thế Tôn trú ở Gajaṅgalā, trong khu rừng Suveḷu. Bấy giờ, thanh niên Uttara, đệ tử của Bà-la-môn Pārāsiviya, đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đã cùng Thế Tôn chào hỏi thăm hỏi. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi, thăm hỏi thân hữu, vị ấy ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với thanh niên Uttara, đệ tử của Bà-la-môn Pārāsiviya, đang ngồi một bên như sau: ‘Này Uttara, Bà-la-môn Pārāsiviya có dạy các đệ tử về sự tu tập các căn không?’ ‘Thưa Tôn giả Gotama, Bà-la-môn Pārāsiviya có dạy các đệ tử về sự tu tập các căn.’ ‘Vậy này Uttara, Bà-la-môn Pārāsiviya dạy các đệ tử về sự tu tập các căn như thế nào?’ ‘Thưa Tôn giả Gotama, ở đây, không thấy sắc bằng mắt, không nghe tiếng bằng tai. Thưa Tôn giả Gotama, đó là cách Bà-la-môn Pārāsiviya dạy các đệ tử về sự tu tập các căn.’ ‘Nếu vậy, này Uttara, theo lời của Bà-la-môn Pārāsiviya, người mù sẽ là người đã tu tập các căn, người điếc sẽ là người đã tu tập các căn. Vì này Uttara, người mù không thấy sắc bằng mắt, người điếc không nghe tiếng bằng tai.’ Khi được nói như vậy, thanh niên Uttara, đệ tử của Bà-la-môn Pārāsiviya, đã im lặng, bối rối, vai rũ, cúi đầu, trầm ngâm, không thể đối đáp, rồi ngồi xuống.
Atha kho bhagavā uttaraṁ māṇavaṁ pārāsiviyantevāsiṁ tuṇhībhūtaṁ maṅkubhūtaṁ pattakkhandhaṁ adhomukhaṁ pajjhāyantaṁ appaṭibhānaṁ viditvā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi: “aññathā kho, ānanda, deseti pārāsiviyo brāhmaṇo sāvakānaṁ indriyabhāvanaṁ, aññathā ca panānanda, ariyassa vinaye anuttarā indriyabhāvanā hotī”ti.
“Etassa, bhagavā, kālo; etassa, sugata, kālo yaṁ bhagavā ariyassa vinaye anuttaraṁ indriyabhāvanaṁ deseyya. Bhagavato sutvā bhikkhū dhāressantī”ti.
“Tenahānanda, suṇāhi, sādhukaṁ manasi karohi; bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi. Bhagavā etadavoca:
Knowing this, the Buddha addressed Venerable Ānanda, “Ānanda, the development of the faculties taught by Pārāsariya is quite different from the supreme development of the faculties in the training of the Noble One.”
“Now is the time, Blessed One! Now is the time, Holy One. Let the Buddha teach the supreme development of the faculties in the training of the Noble One. The mendicants will listen and remember it.”
“Well then, Ānanda, listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” Ānanda replied. The Buddha said this:
Bấy giờ, Thế Tôn, biết được thanh niên Uttara, đệ tử của Bà-la-môn Pārāsiviya, đang im lặng, bối rối, vai rũ, cúi đầu, trầm ngâm, không thể đối đáp, liền gọi Tôn giả Ānanda: ‘Này Ānanda, Bà-la-môn Pārāsiviya dạy các đệ tử về sự tu tập các căn theo một cách; và này Ānanda, trong giới luật của bậc Thánh, sự tu tập các căn vô thượng lại theo một cách khác.’ ‘Bạch Thế Tôn, nay đã đến lúc; bạch Thiện Thệ, nay đã đến lúc Thế Tôn giảng dạy về sự tu tập các căn vô thượng trong giới luật của bậc Thánh. Sau khi nghe từ Thế Tôn, các tỳ khưu sẽ ghi nhớ.’ ‘Vậy thì, này Ānanda, hãy lắng nghe, hãy khéo tác ý; Ta sẽ giảng.’ ‘Vâng, bạch Thế Tôn,’ Tôn giả Ānanda đã vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn đã nói như sau:
“Kathañcānanda, ariyassa vinaye anuttarā indriyabhāvanā hoti? Idhānanda, bhikkhuno cakkhunā rūpaṁ disvā uppajjati manāpaṁ, uppajjati amanāpaṁ, uppajjati manāpāmanāpaṁ. So evaṁ pajānāti: ‘uppannaṁ kho me idaṁ manāpaṁ, uppannaṁ amanāpaṁ, uppannaṁ manāpāmanāpaṁ. Tañca kho saṅkhataṁ oḷārikaṁ paṭiccasamuppannaṁ. Etaṁ santaṁ etaṁ paṇītaṁ yadidaṁ—upekkhā’ti. Tassa taṁ uppannaṁ manāpaṁ uppannaṁ amanāpaṁ uppannaṁ manāpāmanāpaṁ nirujjhati; upekkhā saṇṭhāti. Seyyathāpi, ānanda, cakkhumā puriso ummīletvā vā nimīleyya, nimīletvā vā ummīleyya; evameva kho, ānanda, yassa kassaci evaṁsīghaṁ evaṁtuvaṭaṁ evaṁappakasirena uppannaṁ manāpaṁ uppannaṁ amanāpaṁ uppannaṁ manāpāmanāpaṁ nirujjhati, upekkhā saṇṭhāti—ayaṁ vuccatānanda, ariyassa vinaye anuttarā indriyabhāvanā cakkhuviññeyyesu rūpesu.
“And how, Ānanda, is there the supreme development of the faculties in the training of the Noble One? When a mendicant sees a sight with their eyes, in them arises what is agreeable, what is disagreeable, and what is both agreeable and disagreeable. They understand: ‘What is agreeable, what is disagreeable, and what is both agreeable and disagreeable have arisen in me. That’s conditioned, crude, and dependently originated. But this is peaceful and sublime, namely equanimity.’ Then the agreeable, the disagreeable, and the both agreeable and disagreeable that arose in them cease, and equanimity becomes stabilized. It’s like how a person with clear eyes might open their eyes then shut them; or might shut their eyes then open them. Such is the speed, the swiftness, the ease with which anything agreeable, disagreeable, and both agreeable and disagreeable that arose in them cease, and equanimity becomes stabilized. In the training of the Noble One this is called the supreme development of the faculties regarding sights known by the eye.
454. Và này Ānanda, thế nào là sự tu tập các căn vô thượng trong giới luật của bậc Thánh? Này Ānanda, ở đây, sau khi thấy sắc bằng mắt, đối với vị tỳ khưu khởi lên sự khả ý, khởi lên sự bất khả ý, khởi lên sự khả ý và bất khả ý. Vị ấy biết như vầy: ‘Sự khả ý này đã khởi lên nơi ta, sự bất khả ý này đã khởi lên, sự khả ý và bất khả ý này đã khởi lên. Và điều ấy là pháp hữu vi, thô thiển, do duyên sinh. Có điều này là an tịnh, điều này là vi diệu, tức là xả.’ Đối với vị ấy, sự khả ý đã khởi lên, sự bất khả ý đã khởi lên, sự khả ý và bất khả ý đã khởi lên ấy liền được đoạn diệt; và xả được an trú. Ví như, này Ānanda, một người có mắt có thể nhắm lại rồi mở ra, hoặc mở ra rồi nhắm lại; cũng vậy, này Ānanda, đối với bất cứ ai mà sự khả ý đã khởi lên, sự bất khả ý đã khởi lên, sự khả ý và bất khả ý đã khởi lên được đoạn diệt một cách nhanh chóng, một cách mau lẹ, một cách không khó khăn như thế, và xả được an trú — này Ānanda, đây được gọi là sự tu tập các căn vô thượng trong giới luật của bậc Thánh đối với các sắc pháp được nhận biết qua nhãn thức.
Puna caparaṁ, ānanda, bhikkhuno sotena saddaṁ sutvā uppajjati manāpaṁ, uppajjati amanāpaṁ, uppajjati manāpāmanāpaṁ. So evaṁ pajānāti: ‘uppannaṁ kho me idaṁ manāpaṁ, uppannaṁ amanāpaṁ, uppannaṁ manāpāmanāpaṁ. Tañca kho saṅkhataṁ oḷārikaṁ paṭiccasamuppannaṁ. Etaṁ santaṁ etaṁ paṇītaṁ yadidaṁ—upekkhā’ti. Tassa taṁ uppannaṁ manāpaṁ uppannaṁ amanāpaṁ uppannaṁ manāpāmanāpaṁ nirujjhati; upekkhā saṇṭhāti. Seyyathāpi, ānanda, balavā puriso appakasireneva accharaṁ pahareyya; evameva kho, ānanda, yassa kassaci evaṁsīghaṁ evaṁtuvaṭaṁ evaṁappakasirena uppannaṁ manāpaṁ uppannaṁ amanāpaṁ uppannaṁ manāpāmanāpaṁ nirujjhati, upekkhā saṇṭhāti—ayaṁ vuccatānanda, ariyassa vinaye anuttarā indriyabhāvanā sotaviññeyyesu saddesu.
Furthermore, when a mendicant hears a sound with their ears, the agreeable, the disagreeable, and the both agreeable and disagreeable arise in them. They understand: ‘What is agreeable, what is disagreeable, and what is both agreeable and disagreeable have arisen in me. That’s conditioned, crude, and dependently originated. But this is peaceful and sublime, namely equanimity.’ Then the agreeable, the disagreeable, and the both agreeable and disagreeable that arose in them cease, and equanimity becomes stabilized. It’s like how a strong person can effortlessly snap their fingers. Such is the speed, the swiftness, the ease with which anything agreeable, disagreeable, and both agreeable and disagreeable that arose in them cease, and equanimity becomes stabilized. In the training of the Noble One this is called the supreme development of the faculties regarding sounds known by the ear.
455. Này Ānanda, lại nữa, vị tỳ khưu sau khi nghe âm thanh bằng tai, sự hài lòng khởi sanh, sự không hài lòng khởi sanh, sự hài lòng và không hài lòng khởi sanh. Vị ấy biết rõ như vầy: ‘Sự hài lòng này đã khởi sanh nơi ta, sự không hài lòng đã khởi sanh, sự hài lòng và không hài lòng đã khởi sanh. Và điều ấy là pháp hữu vi, thô thiển, do duyên sanh. Trạng thái này là an tịnh, trạng thái này là vi diệu, tức là tâm xả.’ Đối với vị ấy, sự hài lòng đã khởi sanh, sự không hài lòng đã khởi sanh, sự hài lòng và không hài lòng đã khởi sanh ấy được đoạn diệt; tâm xả được an trú. Này Ānanda, ví như người lực sĩ có thể búng ngón tay một cách dễ dàng; cũng vậy, này Ānanda, đối với bất cứ ai, sự hài lòng đã khởi sanh, sự không hài lòng đã khởi sanh, sự hài lòng và không hài lòng đã khởi sanh được đoạn diệt một cách nhanh chóng như thế, mau lẹ như thế, dễ dàng như thế, và tâm xả được an trú. Này Ānanda, trong giới luật của bậc Thánh, đây được gọi là sự tu tập các căn vô thượng đối với các âm thanh được nhận biết qua nhĩ thức.
Puna caparaṁ, ānanda, bhikkhuno ghānena gandhaṁ ghāyitvā uppajjati manāpaṁ, uppajjati amanāpaṁ, uppajjati manāpāmanāpaṁ. So evaṁ pajānāti: ‘uppannaṁ kho me idaṁ manāpaṁ, uppannaṁ amanāpaṁ, uppannaṁ manāpāmanāpaṁ. Tañca kho saṅkhataṁ oḷārikaṁ paṭiccasamuppannaṁ. Etaṁ santaṁ etaṁ paṇītaṁ yadidaṁ—upekkhā’ti. Tassa taṁ uppannaṁ manāpaṁ uppannaṁ amanāpaṁ uppannaṁ manāpāmanāpaṁ nirujjhati; upekkhā saṇṭhāti. Seyyathāpi, ānanda, īsakampoṇe padumapalāse udakaphusitāni pavattanti, na saṇṭhanti; evameva kho, ānanda, yassa kassaci evaṁsīghaṁ evaṁtuvaṭaṁ evaṁappakasirena uppannaṁ manāpaṁ uppannaṁ amanāpaṁ uppannaṁ manāpāmanāpaṁ nirujjhati, upekkhā saṇṭhāti—ayaṁ vuccatānanda, ariyassa vinaye anuttarā indriyabhāvanā ghānaviññeyyesu gandhesu.
Furthermore, when a mendicant smells an odor with their nose, the agreeable, the disagreeable, and the both agreeable and disagreeable arise in them. They understand: ‘What is agreeable, what is disagreeable, and what is both agreeable and disagreeable have arisen in me. That’s conditioned, crude, and dependently originated. But this is peaceful and sublime, namely equanimity.’ Then the agreeable, the disagreeable, and the both agreeable and disagreeable that arose in them cease, and equanimity becomes stabilized. It’s like how a drop of water would roll off a gently sloping lotus leaf, and would not stay there. Such is the speed, the swiftness, the ease with which anything agreeable, disagreeable, and both agreeable and disagreeable that arose in them cease, and equanimity becomes stabilized. In the training of the Noble One this is called the supreme development of the faculties regarding smells known by the nose.
456. Này Ānanda, lại nữa, vị tỳ khưu sau khi ngửi hương bằng mũi, sự hài lòng khởi sanh, sự không hài lòng khởi sanh, sự hài lòng và không hài lòng khởi sanh. Vị ấy biết rõ như vầy: ‘Sự hài lòng này đã khởi sanh nơi ta, sự không hài lòng đã khởi sanh, sự hài lòng và không hài lòng đã khởi sanh. Và điều ấy là pháp hữu vi, thô thiển, do duyên sanh. Trạng thái này là an tịnh, trạng thái này là vi diệu, tức là tâm xả.’ Đối với vị ấy, sự hài lòng đã khởi sanh, sự không hài lòng đã khởi sanh, sự hài lòng và không hài lòng đã khởi sanh ấy được đoạn diệt; tâm xả được an trú. Này Ānanda, ví như những giọt nước trên lá sen hơi nghiêng, chúng lăn đi chứ không đứng yên; cũng vậy, này Ānanda, đối với bất cứ ai, sự hài lòng đã khởi sanh, sự không hài lòng đã khởi sanh, sự hài lòng và không hài lòng đã khởi sanh được đoạn diệt một cách nhanh chóng như thế, mau lẹ như thế, dễ dàng như thế, và tâm xả được an trú. Này Ānanda, trong giới luật của bậc Thánh, đây được gọi là sự tu tập các căn vô thượng đối với các hương được nhận biết qua tỷ thức.
Puna caparaṁ, ānanda, bhikkhuno jivhāya rasaṁ sāyitvā uppajjati manāpaṁ, uppajjati amanāpaṁ, uppajjati manāpāmanāpaṁ. So evaṁ pajānāti: ‘uppannaṁ kho me idaṁ manāpaṁ, uppannaṁ amanāpaṁ, uppannaṁ manāpāmanāpaṁ. Tañca kho saṅkhataṁ oḷārikaṁ paṭiccasamuppannaṁ. Etaṁ santaṁ etaṁ paṇītaṁ yadidaṁ—upekkhā’ti. Tassa taṁ uppannaṁ manāpaṁ uppannaṁ amanāpaṁ uppannaṁ manāpāmanāpaṁ nirujjhati; upekkhā saṇṭhāti. Seyyathāpi, ānanda, balavā puriso jivhagge kheḷapiṇḍaṁ saṁyūhitvā appakasirena vameyya; evameva kho, ānanda, yassa kassaci evaṁsīghaṁ evaṁtuvaṭaṁ evaṁappakasirena uppannaṁ manāpaṁ uppannaṁ amanāpaṁ uppannaṁ manāpāmanāpaṁ nirujjhati, upekkhā saṇṭhāti—ayaṁ vuccatānanda, ariyassa vinaye anuttarā indriyabhāvanā jivhāviññeyyesu rasesu.
Furthermore, when a mendicant tastes a flavor with their tongue, the agreeable, the disagreeable, and the both agreeable and disagreeable arise in them. They understand: ‘What is agreeable, what is disagreeable, and what is both agreeable and disagreeable have arisen in me. That’s conditioned, crude, and dependently originated. But this is peaceful and sublime, namely equanimity.’ Then the agreeable, the disagreeable, and the both agreeable and disagreeable that arose in them cease, and equanimity becomes stabilized. It’s like how a strong person who’s formed a glob of spit on the tip of their tongue could easily spit it out. Such is the speed, the swiftness, the ease with which anything agreeable, disagreeable, and both agreeable and disagreeable that arose in them cease, and equanimity becomes stabilized. In the training of the Noble One this is called the supreme development of the faculties regarding tastes known by the tongue.
457. Này Ānanda, lại nữa, vị tỳ khưu sau khi nếm vị bằng lưỡi, sự hài lòng khởi sanh, sự không hài lòng khởi sanh, sự hài lòng và không hài lòng khởi sanh. Vị ấy biết rõ như vầy: ‘Sự hài lòng này đã khởi sanh nơi ta, sự không hài lòng đã khởi sanh, sự hài lòng và không hài lòng đã khởi sanh. Và điều ấy là pháp hữu vi, thô thiển, do duyên sanh. Trạng thái này là an tịnh, trạng thái này là vi diệu, tức là tâm xả.’ Đối với vị ấy, sự hài lòng đã khởi sanh, sự không hài lòng đã khởi sanh, sự hài lòng và không hài lòng đã khởi sanh ấy được đoạn diệt; tâm xả được an trú. Này Ānanda, ví như người lực sĩ sau khi gom một cục đờm trên đầu lưỡi rồi nhổ ra một cách dễ dàng; cũng vậy, này Ānanda, đối với bất cứ ai, sự hài lòng đã khởi sanh, sự không hài lòng đã khởi sanh, sự hài lòng và không hài lòng đã khởi sanh được đoạn diệt một cách nhanh chóng như thế, mau lẹ như thế, dễ dàng như thế, và tâm xả được an trú. Này Ānanda, trong giới luật của bậc Thánh, đây được gọi là sự tu tập các căn vô thượng đối với các vị được nhận biết qua thiệt thức.
Puna caparaṁ, ānanda, bhikkhuno kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā uppajjati manāpaṁ, uppajjati amanāpaṁ, uppajjati manāpāmanāpaṁ. So evaṁ pajānāti: ‘uppannaṁ kho me idaṁ manāpaṁ, uppannaṁ amanāpaṁ, uppannaṁ manāpāmanāpaṁ. Tañca kho saṅkhataṁ oḷārikaṁ paṭiccasamuppannaṁ. Etaṁ santaṁ etaṁ paṇītaṁ yadidaṁ—upekkhā’ti. Tassa taṁ uppannaṁ manāpaṁ uppannaṁ amanāpaṁ uppannaṁ manāpāmanāpaṁ nirujjhati; upekkhā saṇṭhāti. Seyyathāpi, ānanda, balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evameva kho, ānanda, yassa kassaci evaṁsīghaṁ evaṁtuvaṭaṁ evaṁappakasirena uppannaṁ manāpaṁ uppannaṁ amanāpaṁ uppannaṁ manāpāmanāpaṁ nirujjhati, upekkhā saṇṭhāti—ayaṁ vuccatānanda, ariyassa vinaye anuttarā indriyabhāvanā kāyaviññeyyesu phoṭṭhabbesu.
Furthermore, when a mendicant encounters a touch with their body, the agreeable, the disagreeable, and the both agreeable and disagreeable arise in them. They understand: ‘What is agreeable, what is disagreeable, and what is both agreeable and disagreeable have arisen in me. That’s conditioned, crude, and dependently originated. But this is peaceful and sublime, namely equanimity.’ Then the agreeable, the disagreeable, and the both agreeable and disagreeable that arose in them cease, and equanimity becomes stabilized. It’s like how a strong person can extend or contract their arm. Such is the speed, the swiftness, the ease with which anything agreeable, disagreeable, and both agreeable and disagreeable that arose in them cease, and equanimity becomes stabilized. In the training of the Noble One this is called the supreme development of the faculties regarding touches known by the body.
458. Này Ānanda, lại nữa, vị tỳ khưu sau khi cảm nhận xúc chạm bằng thân, sự hài lòng khởi sanh, sự không hài lòng khởi sanh, sự hài lòng và không hài lòng khởi sanh. Vị ấy biết rõ như vầy: ‘Sự hài lòng này đã khởi sanh nơi ta, sự không hài lòng đã khởi sanh, sự hài lòng và không hài lòng đã khởi sanh. Và điều ấy là pháp hữu vi, thô thiển, do duyên sanh. Trạng thái này là an tịnh, trạng thái này là vi diệu, tức là tâm xả.’ Đối với vị ấy, sự hài lòng đã khởi sanh, sự không hài lòng đã khởi sanh, sự hài lòng và không hài lòng đã khởi sanh ấy được đoạn diệt; tâm xả được an trú. Này Ānanda, ví như người lực sĩ có thể duỗi cánh tay đang co lại, hoặc co lại cánh tay đang duỗi ra; cũng vậy, này Ānanda, đối với bất cứ ai, sự hài lòng đã khởi sanh, sự không hài lòng đã khởi sanh, sự hài lòng và không hài lòng đã khởi sanh được đoạn diệt một cách nhanh chóng như thế, mau lẹ như thế, dễ dàng như thế, và tâm xả được an trú. Này Ānanda, trong giới luật của bậc Thánh, đây được gọi là sự tu tập các căn vô thượng đối với các xúc chạm được nhận biết qua thân thức.
Puna caparaṁ, ānanda, bhikkhuno manasā dhammaṁ viññāya uppajjati manāpaṁ, uppajjati amanāpaṁ, uppajjati manāpāmanāpaṁ. So evaṁ pajānāti: ‘uppannaṁ kho me idaṁ manāpaṁ, uppannaṁ amanāpaṁ, uppannaṁ manāpāmanāpaṁ. Tañca kho saṅkhataṁ oḷārikaṁ paṭiccasamuppannaṁ. Etaṁ santaṁ etaṁ paṇītaṁ yadidaṁ—upekkhā’ti. Tassa taṁ uppannaṁ manāpaṁ uppannaṁ amanāpaṁ uppannaṁ manāpāmanāpaṁ nirujjhati; upekkhā saṇṭhāti. Seyyathāpi, ānanda, balavā puriso divasaṁsantatte ayokaṭāhe dve vā tīṇi vā udakaphusitāni nipāteyya. Dandho, ānanda, udakaphusitānaṁ nipāto, atha kho naṁ khippameva parikkhayaṁ pariyādānaṁ gaccheyya; evameva kho, ānanda, yassa kassaci evaṁsīghaṁ evaṁtuvaṭaṁ evaṁappakasirena uppannaṁ manāpaṁ uppannaṁ amanāpaṁ uppannaṁ manāpāmanāpaṁ nirujjhati, upekkhā saṇṭhāti—ayaṁ vuccatānanda, ariyassa vinaye anuttarā indriyabhāvanā manoviññeyyesu dhammesu. Evaṁ kho, ānanda, ariyassa vinaye anuttarā indriyabhāvanā hoti.
Furthermore, when a mendicant knows a thought with their mind, the agreeable, the disagreeable, and the both agreeable and disagreeable arise in them. They understand: ‘What is agreeable, what is disagreeable, and what is both agreeable and disagreeable have arisen in me. That’s conditioned, crude, and dependently originated. But this is peaceful and sublime, namely equanimity.’ Then the agreeable, the disagreeable, and the both agreeable and disagreeable that arose in them cease, and equanimity becomes stabilized. It’s like how a strong person could let two or three drops of water fall onto an iron cauldron that had been heated all day. The drops would be slow to fall, but they’d quickly dry up and evaporate. Such is the speed, the swiftness, the ease with which anything agreeable, disagreeable, and both agreeable and disagreeable that arose in them cease, and equanimity becomes stabilized. In the training of the Noble One this is called the supreme development of the faculties regarding ideas known by the mind. That’s how there is the supreme development of the faculties in the training of the Noble One.
459. Này Ānanda, lại nữa, vị tỳ khưu sau khi nhận biết pháp bằng ý, sự hài lòng khởi sanh, sự không hài lòng khởi sanh, sự hài lòng và không hài lòng khởi sanh. Vị ấy biết rõ như vầy: ‘Sự hài lòng này đã khởi sanh nơi ta, sự không hài lòng đã khởi sanh, sự hài lòng và không hài lòng đã khởi sanh. Và điều ấy là pháp hữu vi, thô thiển, do duyên sanh. Trạng thái này là an tịnh, trạng thái này là vi diệu, tức là tâm xả.’ Đối với vị ấy, sự hài lòng đã khởi sanh, sự không hài lòng đã khởi sanh, sự hài lòng và không hài lòng đã khởi sanh ấy được đoạn diệt; tâm xả được an trú. Này Ānanda, ví như người lực sĩ nhỏ hai hoặc ba giọt nước vào một chảo sắt đã được nung nóng suốt ngày. Này Ānanda, việc nhỏ giọt nước thì chậm, nhưng chúng sẽ cạn và khô đi rất nhanh chóng; cũng vậy, này Ānanda, đối với bất cứ ai, sự hài lòng đã khởi sanh, sự không hài lòng đã khởi sanh, sự hài lòng và không hài lòng đã khởi sanh được đoạn diệt một cách nhanh chóng như thế, mau lẹ như thế, dễ dàng như thế, và tâm xả được an trú. Này Ānanda, trong giới luật của bậc Thánh, đây được gọi là sự tu tập các căn vô thượng đối với các pháp được nhận biết qua ý thức. Này Ānanda, như vậy là sự tu tập các căn vô thượng trong giới luật của bậc Thánh.
Kathañcānanda, sekho hoti pāṭipado? Idhānanda, bhikkhuno cakkhunā rūpaṁ disvā uppajjati manāpaṁ, uppajjati amanāpaṁ, uppajjati manāpāmanāpaṁ. So tena uppannena manāpena uppannena amanāpena uppannena manāpāmanāpena aṭṭīyati harāyati jigucchati. Sotena saddaṁ sutvā …pe… ghānena gandhaṁ ghāyitvā … jivhāya rasaṁ sāyitvā … kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā … manasā dhammaṁ viññāya uppajjati manāpaṁ, uppajjati amanāpaṁ, uppajjati manāpāmanāpaṁ. So tena uppannena manāpena uppannena amanāpena uppannena manāpāmanāpena aṭṭīyati harāyati jigucchati. Evaṁ kho, ānanda, sekho hoti pāṭipado.
And how are they a practicing trainee? When a mendicant sees a sight with their eyes, the agreeable, the disagreeable, and the both agreeable and disagreeable arise in them. They are horrified, repelled, and disgusted by that. When they hear a sound with their ears … When they smell an odor with their nose … When they taste a flavor with their tongue … When they feel a touch with their body … When they know a thought with their mind, the agreeable, the disagreeable, and the both agreeable and disagreeable arise in them. They are horrified, repelled, and disgusted by that. That’s how they are a practicing trainee.
460. “Này Ānanda, thế nào là vị hữu học đang thực hành? Này Ānanda, ở đây, vị tỳ khưu sau khi dùng mắt thấy sắc, sự khả ý khởi lên, sự không khả ý khởi lên, sự khả ý và không khả ý khởi lên. Vị ấy vì sự khả ý đã khởi lên, vì sự không khả ý đã khởi lên, vì sự khả ý và không khả ý đã khởi lên ấy mà cảm thấy khổ não, hổ thẹn, ghê tởm. Sau khi dùng tai nghe tiếng ... sau khi dùng mũi ngửi hương ..., sau khi dùng lưỡi nếm vị ... sau khi dùng thân cảm xúc ... sau khi dùng ý biết pháp, sự khả ý khởi lên, sự không khả ý khởi lên, sự khả ý và không khả ý khởi lên. Vị ấy vì sự khả ý đã khởi lên, vì sự không khả ý đã khởi lên, vì sự khả ý và không khả ý đã khởi lên ấy mà cảm thấy khổ não, hổ thẹn, ghê tởm. Này Ānanda, như vậy là vị hữu học đang thực hành.”
Kathañcānanda, ariyo hoti bhāvitindriyo? Idhānanda, bhikkhuno cakkhunā rūpaṁ disvā uppajjati manāpaṁ, uppajjati amanāpaṁ, uppajjati manāpāmanāpaṁ.
And how are they a noble one with developed faculties? When a mendicant sees a sight with their eyes, the agreeable, the disagreeable, and the both agreeable and disagreeable arise in them.
461. “Này Ānanda, thế nào là bậc Thánh có các căn được tu tập? Này Ānanda, ở đây, vị tỳ khưu sau khi dùng mắt thấy sắc, sự khả ý khởi lên, sự không khả ý khởi lên, sự khả ý và không khả ý khởi lên. Nếu vị ấy mong muốn: ‘Mong rằng tôi an trú với tưởng không đáng ghê tởm ở đối tượng đáng ghê tởm,’ vị ấy an trú với tưởng không đáng ghê tởm ở đối tượng ấy. Nếu vị ấy mong muốn: ‘Mong rằng tôi an trú với tưởng đáng ghê tởm ở đối tượng không đáng ghê tởm,’ vị ấy an trú với tưởng đáng ghê tởm ở đối tượng ấy. Nếu vị ấy mong muốn: ‘Mong rằng tôi an trú với tưởng không đáng ghê tởm ở cả đối tượng đáng ghê tởm và không đáng ghê tởm,’ vị ấy an trú với tưởng không đáng ghê tởm ở đối tượng ấy. Nếu vị ấy mong muốn: ‘Mong rằng tôi an trú với tưởng đáng ghê tởm ở cả đối tượng không đáng ghê tởm và đáng ghê tởm,’ vị ấy an trú với tưởng đáng ghê tởm ở đối tượng ấy. Nếu vị ấy mong muốn: ‘Mong rằng sau khi tránh xa cả hai, đối tượng đáng ghê tởm và không đáng ghê tởm, tôi sẽ an trú với tâm xả, chánh niệm, tỉnh giác,’ vị ấy an trú với tâm xả, chánh niệm, tỉnh giác ở đối tượng ấy.”
Puna caparaṁ, ānanda, bhikkhuno sotena saddaṁ sutvā …pe… ghānena gandhaṁ ghāyitvā … jivhāya rasaṁ sāyitvā … kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā … manasā dhammaṁ viññāya uppajjati manāpaṁ, uppajjati amanāpaṁ, uppajjati manāpāmanāpaṁ. So sace ākaṅkhati: ‘paṭikūle appaṭikūlasaññī vihareyyan’ti, appaṭikūlasaññī tattha viharati. Sace ākaṅkhati: ‘appaṭikūle paṭikūlasaññī vihareyyan’ti, paṭikūlasaññī tattha viharati. Sace ākaṅkhati: ‘paṭikūle ca appaṭikūle ca appaṭikūlasaññī vihareyyan’ti, appaṭikūlasaññī tattha viharati. Sace ākaṅkhati: ‘appaṭikūle ca paṭikūle ca paṭikūlasaññī vihareyyan’ti, paṭikūlasaññī tattha viharati. Sace ākaṅkhati: ‘paṭikūlañca appaṭikūlañca tadubhayampi abhinivajjetvā upekkhako vihareyyaṁ sato sampajāno’ti, upekkhako tattha viharati sato sampajāno. Evaṁ kho, ānanda, ariyo hoti bhāvitindriyo.
When they hear a sound with their ear … When they smell an odor with their nose … When they taste a flavor with their tongue … When they feel a touch with their body … When they know a thought with their mind, the agreeable, the disagreeable, and the both agreeable and disagreeable arise in them. If they wish: ‘May I meditate perceiving the unrepulsive in the repulsive,’ that’s what they do. If they wish: ‘May I meditate perceiving the repulsive in the unrepulsive,’ that’s what they do. If they wish: ‘May I meditate perceiving the unrepulsive in the repulsive and the unrepulsive,’ that’s what they do. If they wish: ‘May I meditate perceiving the repulsive in the unrepulsive and the repulsive,’ that’s what they do. If they wish: ‘May I meditate staying equanimous, mindful and aware, shunning both the repulsive and the unrepulsive,’ that’s what they do. That’s how they are a noble one with developed faculties.
462. “Lại nữa, này Ānanda, vị tỳ khưu sau khi dùng tai nghe tiếng ... sau khi dùng mũi ngửi hương ... sau khi dùng lưỡi nếm vị ... sau khi dùng thân cảm xúc ... sau khi dùng ý biết pháp, sự khả ý khởi lên, sự không khả ý khởi lên, sự khả ý và không khả ý khởi lên. Nếu vị ấy mong muốn: ‘Mong rằng tôi an trú với tưởng không đáng ghê tởm ở đối tượng đáng ghê tởm,’ vị ấy an trú với tưởng không đáng ghê tởm ở đối tượng ấy. Nếu vị ấy mong muốn: ‘Mong rằng tôi an trú với tưởng đáng ghê tởm ở đối tượng không đáng ghê tởm,’ vị ấy an trú với tưởng đáng ghê tởm ở đối tượng ấy. Nếu vị ấy mong muốn: ‘Mong rằng tôi an trú với tưởng không đáng ghê tởm ở cả đối tượng đáng ghê tởm và không đáng ghê tởm,’ vị ấy an trú với tưởng không đáng ghê tởm ở đối tượng ấy. Nếu vị ấy mong muốn: ‘Mong rằng tôi an trú với tưởng đáng ghê tởm ở cả đối tượng không đáng ghê tởm và đáng ghê tởm,’ vị ấy an trú với tưởng đáng ghê tởm ở đối tượng ấy. Nếu vị ấy mong muốn: ‘Mong rằng sau khi tránh xa cả hai, đối tượng đáng ghê tởm và không đáng ghê tởm, tôi sẽ an trú với tâm xả, chánh niệm, tỉnh giác,’ vị ấy an trú với tâm xả, chánh niệm, tỉnh giác ở đối tượng ấy. Này Ānanda, như vậy là bậc Thánh có các căn được tu tập.”
Iti kho, ānanda, desitā mayā ariyassa vinaye anuttarā indriyabhāvanā, desito sekho pāṭipado, desito ariyo bhāvitindriyo.
Yaṁ kho, ānanda, satthārā karaṇīyaṁ sāvakānaṁ hitesinā anukampakena anukampaṁ upādāya, kataṁ vo taṁ mayā. Etāni, ānanda, rukkhamūlāni, etāni suññāgārāni, jhāyathānanda, mā pamādattha, mā pacchā vippaṭisārino ahuvattha. Ayaṁ vo amhākaṁ anusāsanī”ti.
So, Ānanda, I have taught the supreme development of the faculties in the training of the Noble One, I have taught the practicing trainee, and I have taught the noble one with developed faculties.
Out of sympathy, I’ve done what a teacher should do who wants what’s best for their disciples. Here are these roots of trees, and here are these empty huts. Practice absorption, Ānanda! Don’t be negligent! Don’t regret it later! This is my instruction to you.”
463. “Này Ānanda, như vậy, trong giáo luật của bậc Thánh, Ta đã thuyết giảng về sự tu tập các căn vô thượng, đã thuyết giảng về vị hữu học đang thực hành, đã thuyết giảng về bậc Thánh có các căn được tu tập. Này Ānanda, những gì bậc Đạo Sư cần phải làm cho các đệ tử, vì lợi ích, vì lòng thương tưởng, do lòng thương tưởng, việc ấy Ta đã làm cho các ngươi. Này Ānanda, đây là những gốc cây, đây là những ngôi nhà trống. Này Ānanda, hãy thiền định, chớ có phóng dật, chớ có hối hận về sau. Đây là lời giáo huấn của chúng ta dành cho các ngươi.”
Idamavoca bhagavā. Attamano āyasmā ānando bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
That is what the Buddha said. Satisfied, Venerable Ānanda approved what the Buddha said.
Thế Tôn đã thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ānanda hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Indriyabhāvanāsuttaṁ niṭṭhitaṁ dasamaṁ.
Kinh Tu Tập Các Căn, bài kinh thứ mười, đã kết thúc.
Saḷāyatanavaggo niṭṭhito pañcamo.
Tassuddānaṁ
Phẩm Sáu Xứ, phẩm thứ năm, đã kết thúc.
Anāthapiṇḍiko channo, puṇṇo nandakarāhulā; Chachakkaṁ saḷāyatanikaṁ, nagaravindeyyasuddhikā; Indriyabhāvanā cāpi, vaggo ovādapañcamoti.
Kinh Anāthapiṇḍika, Channa, Puṇṇa, Nanda và Rāhula; Sáu Lần Sáu, Sáu Xứ, Nagaravindeyya, và Thanh Tịnh; Và kinh Tu Tập Các Căn, phẩm Giáo Giới là phẩm thứ năm.
Idaṁ vaggānamuddānaṁ
Đây là phần tóm lược các phẩm:
Devadahonupado ca, Suññato ca vibhaṅgako; Saḷāyatanoti vaggā, Uparipaṇṇāsake ṭhitāti.
Devadaha, Anupada, Tánh Không, Phân Tích; và Sáu Xứ là các phẩm, nằm trong Năm Mươi Kinh Sau.
Uparipaṇṇāsakaṁ samattaṁ.
Phần Năm Mươi Kinh Cuối (Uparipaṇṇāsaka) đ hoàn tất.
Tīhi paṇṇāsakehi paṭimaṇḍito sakalo
Toàn bộ (bộ kinh) được trang điểm bở i ba tập năm mươi kinh,
majjhimanikāyo samatto.
The Middle Discourses are complete.
Kinh Trung Bộ đ hoàn thành.