- Majjhima Nikāya 150
Nagaravindeyyasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Nagaravindeyyasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Môt thời, Thế Tôn du hành giữa dân chúng Kosala, cùng với Ðại chúng Tỷ-kheo và đi đến một làng Bà-la-môn của dân chúng Kosala tên là Nagaravinda.
SC 2Các Bà-la-môn gia chủ ở Nagaravinda được nghe như sau: “Sa-môn Gotama là Thích tử, xuất gia từ gia tộc Sakka (Thích-ca), đang du hành giữa dân chúng Kosala, cùng với Ðại chúng Tỷ-kheo và đã đến một làng Bà-la-môn của dân chúng Kosala tên là Nagaravinda. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Tôn giả Gotama: “Ngài là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Với thắng trí, Ngài tự thân chứng ngộ thế giới này cùng với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, các loài Trời và Người. Khi đã chứng ngộ, Ngài còn tuyên thuyết điều Ngài đã chứng ngộ. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, đầy đủ văn nghĩa. Ngài truyền dạy phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ trong sạch. Lành thay, nếu được yết kiến một A-la-hán như vậy!”
SC 3Rồi các vị Bà-la-môn gia chủ ở Nagaravinda đi đến Thế Tôn. Sau khi đến, một số người nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một bên; một số người chấp tay vái chào Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; một số người nói lên tên họ trước Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; một số người im lặng ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với những Bà-la-môn gia chủ ở Nagaravinda đang ngồi một bên:
SC 4Này Gia chủ, nếu những du sĩ ngoại đạo hỏi các Ông như sau: “Này Gia chủ, hạng Sa-môn, Bà-la-môn nào không đáng tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường?” Ðược hỏi vậy, này các Gia chủ, các du sĩ ngoại đạo ấy cần được trả lời như sau: “Những Sa-môn, Bà-la-môn nào, đối với các sắc do mắt nhận thức, không ly tham, không ly sân, không ly si, nội tâm không tịch tịnh, sở hành thân nghiệp, ngữ nghiệp, ý nghiệp khi thăng bằng, khi không thăng bằng. Những Sa-môn, Bà-la-môn như vậy không đáng cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường. Vì sao vậy? Chúng tôi đối với các sắc do mắt nhận thức, không ly tham, không ly sân, không ly si, nội tâm không tịch tịnh, sở hành thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp khi thăng bằng, khi không thăng bằng, nhưng chúng tôi không thấy các vị ấy hơn sở hành thăng bằng của chúng tôi. Do vậy, các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy không đáng được tôn trọng, cung kính, lễ bái, cúng dường.”
SC 5Những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào, đối với các tiếng do tai nhận thức…, đối với các hương do mũi nhận thức…, đối với các vị do lưỡi nhận thức…, đối với các xúc do thân nhận thức…, đối với các pháp do ý nhận thức, không ly tham, không ly sân, không ly si, nội tâm không tịch tịnh, sở hành thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp khi thăng bằng, khi không thăng bằng, các Sa-môn, Bà-la-môn ấy không đáng được tôn trọng, cung kính, lễ bái, cúng dường. Vì cớ sao? Chúng tôi đối với các pháp do ý nhận thức, không ly tham, không ly sân, không ly si, nội tâm không tịch tịnh, sở hành thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp khi thăng bằng, khi không thăng bằng; nhưng chúng tôi không thấy các vị ấy hơn sở hành thăng bằng của chúng tôi. Do vậy, các vị Sa-môn, Bà-la-môn ấy không đáng được tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường”. Ðược hỏi như vậy, này các Gia chủ, các Ông cần phải trả lời như vậy cho các du sĩ ngoại đạo ấy.
SC 6Nhưng này các Gia chủ, nếu các du sĩ ngoại đạo hỏi các Ông như sau: “Này các Gia chủ, hạng Sa-môn, Bà-la-môn nào đáng tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường?” Khi được hỏi vậy, này các Gia chủ, các Ông cần phải trả lời cho các du sĩ ngoại đạo ấy như sau: “Những Sa-môn, Bà-la-môn nào, đối với các sắc do mắt nhận thức, ly tham, ly sân, ly si, nội tâm tịch tịnh, sở hành thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp được thăng bằng. Các Sa-môn, Bà-la-môn như vậy đáng được tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường. Vì sao vậy? Chúng tôi đối với các sắc do mắt nhận thức, không ly tham, không ly sân, không ly si, nội tâm không tịch tịnh, sở hành thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp khi thăng bằng, khi không thăng bằng; nhưng chúng tôi có thấy các vị ấy hơn sở hành thăng bằng của chúng tôi. Do vậy, các Sa-môn, Bà-la-môn ấy đáng được tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường.”
SC 7Những Sa-môn, Bà-la-môn nào đối với các tiếng do tai nhận thức…, đối với các hương do mũi nhận thức…, đối với các vị do lưỡi nhận thức…, đối với các xúc do thân nhận thức…, đối với các pháp do ý nhận thức, ly tham, ly sân, ly si, nội tâm tịch tịnh, sở hành thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp được thăng bằng, những Sa-môn, Bà-la-môn ấy đáng được tôn trọng, cung kính, lễ bái, cúng dường. Vì sao vậy? Chúng tôi đối với các pháp do ý nhận thức, không ly tham, không ly sân, không ly si, nội tâm không tịch tịnh, sở hành thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp, khi thăng bằng, khi không thăng bằng, nhưng chúng tôi có thấy các vị ấy hơn sở hành thăng bằng của chúng tôi. Do vậy, những Sa-môn, Bà-la-môn ấy đáng được tôn trọng, cung kính, lễ bái, cúng dường.” Khi được hỏi vậy, này các Gia chủ, các Ông hãy trả lời như vậy cho các vị du sĩ ngoại đạo ấy.
SC 8Này các Gia chủ, nhưng nếu du sĩ ngoại đạo ấy hỏi các Ông như sau: “Do căn cứ gì về các Tôn giả ấy, do truyền thống gì, các vị nói về các Tôn giả ấy như sau: Chắc chắn các Tôn giả ấy là ly tham, hay đang đi trên con đường điều phục tham, hay ly sân, hay đang đi trên con đường điều phục sân, hay ly si, hay đang đi trên con đường điều phục si?” Khi được hỏi vậy, này các Gia chủ, các Ông hãy trả lời các du sĩ ngoại đạo ấy như sau: “Các Tôn giả ấy sống tại các trú xứ xa vắng trong các khu rừng nhàn tịnh. Nhưng tại các chỗ như vậy, không có các sắc do mắt nhận thức để họ có thể thấy, và sau khi thấy, có lòng thích thú; nhưng tại các chỗ như vậy, không có các tiếng do tai nhận thức để họ có thể nghe, và sau khi nghe, có lòng thích thú; nhưng tại các chỗ như vậy, không có hương do mũi nhận thức, để họ có thể ngửi và sau khi ngửi, có lòng thích thú; nhưng tại các chỗ ấy như vậy, không có các vị do lưỡi nhận thức, để họ có thể nếm, và sau khi nếm, có lòng thích thú; nhưng tại các chỗ như vậy, không có các xúc do thân nhận thức, để họ có thể cảm giác, và sau khi cảm giác, có lòng thích thú. Chư Hiền giả, do căn cứ này, do những truyền thống này, mà chúng tôi nói về các Tôn giả ấy như sau: “Thật vậy, chư Tôn giả ấy ly tham hay đang đi trên con đường nhiếp phục tham, hay ly sân, hay đang đi trên con đường nhiếp phục sân, hay ly si, hay đang đi trên con đường nhiếp phục si”. Khi được hỏi vậy, này các Gia chủ, các Ông hãy trả lời các du sĩ ngoại đạo như vậy.
SC 9Khi nghe nói vậy, các Bà-la-môn gia chủ ở Nagaravinda nói với Thế Tôn
SC 10—Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vị diệu thay, Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện để trình bày. Và nay chúng con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo Tăng, mong Tôn giả Gotama nhận chúng con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mạng chung, chúng con trọn đời quy ngưỡng.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). 15–07–2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
8. Kinh Nagaravindeyya
Assosuṁ kho nagaravindeyyakā brāhmaṇagahapatikā: “samaṇo khalu, bho, gotamo sakyaputto sakyakulā pabbajito kosalesu cārikaṁ caramāno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ nagaravindaṁ anuppatto. Taṁ kho pana bhavantaṁ gotamaṁ evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato: ‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’ti. So imaṁ lokaṁ sadevakaṁ samārakaṁ sabrahmakaṁ sassamaṇabrāhmaṇiṁ pajaṁ sadevamanussaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedeti. So dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāseti. Sādhu kho pana tathārūpānaṁ arahataṁ dassanaṁ hotī”ti.
The brahmins and householders of Nagaravinda heard, “It seems the ascetic Gotama—a Sakyan, gone forth from a Sakyan family—while wandering in the land of the Kosalans has arrived at Nagaravinda, together with a large Saṅgha of mendicants. He has this good reputation: ‘That Blessed One is perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed.’ He has realized with his own insight this world—with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, gods and humans—and he makes it known to others. He teaches Dhamma that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And he reveals a spiritual practice that’s entirely full and pure. It’s good to see such perfected ones.”
434. Tôi nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn đang du hành trong xứ Kosala cùng với đại chúng Tỳ khưu, Ngài đi đến một ngôi làng của các Bà la môn xứ Kosala tên là Nagaravinda. Các Bà la môn gia chủ ở Nagaravinda được nghe rằng: ‘Này quý vị, thật vậy, Sa-môn Gotama, là Thích tử, đã xuất gia từ dòng họ Thích Ca, đang du hành trong xứ Kosala cùng với đại chúng Tỳ khưu, đã đến Nagaravinda. Tiếng lành đồn xa về Tôn giả Gotama như sau: “Vị Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.” Ngài, sau khi tự mình thắng tri, chứng ngộ, đã tuyên thuyết thế giới này cùng với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, cùng với các loài trời và người. Ngài thuyết giảng giáo pháp toàn hảo ở phần đầu, toàn hảo ở phần giữa, toàn hảo ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn tự; Ngài trình bày phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch. Thật tốt lành thay khi được yết kiến các bậc A-la-hán như vậy.’
Atha kho nagaravindeyyakā brāhmaṇagahapatikā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā appekacce bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Appekacce bhagavatā saddhiṁ sammodiṁsu; sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Appekacce yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Appekacce bhagavato santike nāmagottaṁ sāvetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Appekacce tuṇhībhūtā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinne kho nagaravindeyyake brāhmaṇagahapatike bhagavā etadavoca:
Then the brahmins and householders of Nagaravinda went up to the Buddha. Before sitting down to one side, some bowed, some exchanged greetings and polite conversation, some held up their cupped palms toward the Buddha, some announced their name and clan, while some kept silent. The Buddha said to them:
Rồi các Bà la môn gia chủ ở Nagaravinda đi đến chỗ Thế Tôn. Sau khi đến, một số vị đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Một số vị cùng với Thế Tôn nói lên những lời chào hỏi thân hữu; sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân hữu đáng ghi nhớ, họ ngồi xuống một bên. Một số vị chắp tay hướng về phía Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Một số vị xưng tên và dòng họ của mình trước sự hiện diện của Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Một số vị giữ im lặng rồi ngồi xuống một bên. Khi các Bà la môn gia chủ ở Nagaravinda đã ngồi xuống một bên, Thế Tôn nói với họ như sau:
“Sace vo, gahapatayo, aññatitthiyā paribbājakā evaṁ puccheyyuṁ: ‘kathaṁbhūtā, gahapatayo, samaṇabrāhmaṇā na sakkātabbā na garukātabbā na mānetabbā na pūjetabbā’ti? Evaṁ puṭṭhā tumhe, gahapatayo, tesaṁ aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ evaṁ byākareyyātha: ‘ye te samaṇabrāhmaṇā cakkhuviññeyyesu rūpesu avītarāgā avītadosā avītamohā, ajjhattaṁ avūpasantacittā, samavisamaṁ caranti kāyena vācāya manasā, evarūpā samaṇabrāhmaṇā na sakkātabbā na garukātabbā na mānetabbā na pūjetabbā. Taṁ kissa hetu? Mayampi hi cakkhuviññeyyesu rūpesu avītarāgā avītadosā avītamohā, ajjhattaṁ avūpasantacittā, samavisamaṁ carāma kāyena vācāya manasā, tesaṁ no samacariyampi hetaṁ uttari apassataṁ. Tasmā te bhonto samaṇabrāhmaṇā na sakkātabbā na garukātabbā na mānetabbā na pūjetabbā. Ye te samaṇabrāhmaṇā sotaviññeyyesu saddesu … ghānaviññeyyesu gandhesu … jivhāviññeyyesu rasesu … kāyaviññeyyesu phoṭṭhabbesu … manoviññeyyesu dhammesu avītarāgā avītadosā avītamohā, ajjhattaṁ avūpasantacittā, samavisamaṁ caranti kāyena vācāya manasā, evarūpā samaṇabrāhmaṇā na sakkātabbā na garukātabbā na mānetabbā na pūjetabbā. Taṁ kissa hetu? Mayampi hi manoviññeyyesu dhammesu avītarāgā avītadosā avītamohā, ajjhattaṁ avūpasantacittā, samavisamaṁ carāma kāyena vācāya manasā, tesaṁ no samacariyampi hetaṁ uttari apassataṁ. Tasmā te bhonto samaṇabrāhmaṇā na sakkātabbā na garukātabbā na mānetabbā na pūjetabbā’ti. Evaṁ puṭṭhā tumhe, gahapatayo, tesaṁ aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ evaṁ byākareyyātha.
Sace pana vo, gahapatayo, aññatitthiyā paribbājakā evaṁ puccheyyuṁ: ‘kathaṁbhūtā, gahapatayo, samaṇabrāhmaṇā sakkātabbā garukātabbā mānetabbā pūjetabbā’ti? Evaṁ puṭṭhā tumhe, gahapatayo, tesaṁ aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ evaṁ byākareyyātha: ‘ye te samaṇabrāhmaṇā cakkhuviññeyyesu rūpesu vītarāgā vītadosā vītamohā, ajjhattaṁ vūpasantacittā, samacariyaṁ caranti kāyena vācāya manasā, evarūpā samaṇabrāhmaṇā sakkātabbā garukātabbā mānetabbā pūjetabbā. Taṁ kissa hetu?
“Householders, if wanderers who follow another religion were to ask you: ‘What kind of ascetic or brahmin doesn’t deserve honor, respect, reverence, and veneration?’ You should answer them: ‘There are ascetics and brahmins who are not free of greed, hate, and delusion for sights known by the eye, whose minds are not settled internally, and who conduct themselves badly among the good by way of body, speech, and mind. They don’t deserve honor, respect, reverence, and veneration. Why is that? Because we ourselves are not free of these things, so we do not see that they have any higher good conduct than us. That’s why they don’t deserve honor, respect, reverence, and veneration. There are ascetics and brahmins who are not free of greed, hate, and delusion for sounds known by the ear … smells known by the nose … tastes known by the tongue … touches known by the body … ideas known by the mind, who are not settled internally, and who conduct themselves badly among the good by way of body, speech, and mind. They don’t deserve honor, respect, reverence, and veneration. Why is that? Because we ourselves are not free of these things, so we do not see that they have any higher good conduct than us. That’s why they don’t deserve honor, respect, reverence, and veneration.’ When questioned by wanderers of other religions, that’s how you should answer them.
If wanderers of other religions were to ask you: ‘What kind of ascetic or brahmin deserves honor, respect, reverence, and veneration?’ You should answer them: ‘There are ascetics and brahmins who are free of greed, hate, and delusion for sights known by the eye, whose minds are settled internally, and who conduct themselves well by way of body, speech, and mind. They deserve honor, respect, reverence, and veneration. Why is that?
435. Này các gia chủ, nếu các du sĩ ngoại đạo hỏi các ông rằng: ‘Này các gia chủ, hạng Sa-môn, Bà-la-môn như thế nào thì không nên cung kính, không nên tôn trọng, không nên quý mến, không nên cúng dường?’ Khi được hỏi như vậy, này các gia chủ, các ông nên trả lời các du sĩ ngoại đạo ấy như sau: ‘Những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào đối với các sắc pháp do nhãn thức nhận biết mà chưa ly tham, chưa ly sân, chưa ly si, nội tâm chưa được an tịnh, hành xử bất bình đẳng qua thân, khẩu, ý, thì những vị Sa-môn, Bà-la-môn như vậy không nên được cung kính, không nên được tôn trọng, không nên được quý mến, không nên được cúng dường. Vì sao vậy? Vì chính chúng tôi cũng đối với các sắc pháp do nhãn thức nhận biết mà chưa ly tham, chưa ly sân, chưa ly si, nội tâm chưa được an tịnh, hành xử bất bình đẳng qua thân, khẩu, ý. Chúng tôi không thấy ở nơi họ có sự thực hành đồng đẳng nào cao hơn. Vì vậy, những vị Sa-môn, Bà-la-môn ấy không nên được cung kính, không nên được tôn trọng, không nên được quý mến, không nên được cúng dường. Những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào đối với các thanh do nhĩ thức nhận biết... đối với các hương do tỷ thức nhận biết... đối với các vị do thiệt thức nhận biết... đối với các xúc do thân thức nhận biết... đối với các pháp do ý thức nhận biết mà chưa ly tham, chưa ly sân, chưa ly si, nội tâm chưa được an tịnh, hành xử bất bình đẳng qua thân, khẩu, ý, thì những vị Sa-môn, Bà-la-môn như vậy không nên được cung kính, không nên được tôn trọng, không nên được quý mến, không nên được cúng dường. Vì sao vậy? Vì chính chúng tôi cũng đối với các pháp do ý thức nhận biết mà chưa ly tham, chưa ly sân, chưa ly si, nội tâm chưa được an tịnh, hành xử bất bình đẳng qua thân, khẩu, ý. Chúng tôi không thấy ở nơi họ có sự thực hành đồng đẳng nào cao hơn. Vì vậy, những vị Sa-môn, Bà-la-môn ấy không nên được cung kính, không nên được tôn trọng, không nên được quý mến, không nên được cúng dường.’ Khi được hỏi như vậy, này các gia chủ, các ông nên trả lời các du sĩ ngoại đạo ấy như vậy.
Sace pana vo, gahapatayo, aññatitthiyā paribbājakā evaṁ puccheyyuṁ:
If wanderers of other religions were to ask you:
436. “Này các gia chủ, nếu các du sĩ ngoại đạo hỏi các ông như vầy: ‘Thưa các gia chủ, những Sa-môn, Bà-la-môn như thế nào thì đáng được cung kính, tôn trọng, quý mến, cúng dường?’ Này các gia chủ, khi được hỏi như vậy, các ông hãy trả lời cho các du sĩ ngoại đạo ấy như sau: ‘Những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào đối với các sắc pháp do nhãn thức nhận biết đã ly tham, ly sân, ly si, nội tâm được an tịnh, thực hành phạm hạnh bình đẳng qua thân, khẩu, ý, thì những vị Sa-môn, Bà-la-môn như vậy đáng được cung kính, tôn trọng, quý mến, cúng dường. Vì sao vậy? Vì chính chúng tôi đối với các sắc pháp do nhãn thức nhận biết vẫn chưa ly tham, chưa ly sân, chưa ly si, nội tâm chưa được an tịnh, thực hành (đời sống) không đồng đều qua thân, khẩu, ý. Khi chúng tôi thấy được hạnh bình đẳng của các vị ấy là vượt trội hơn. Do đó, những bậc Sa-môn, Bà-la-môn ấy đáng được cung kính, tôn trọng, quý mến, cúng dường. Những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào đối với các thanh do nhĩ thức nhận biết… các hương do tỷ thức nhận biết… các vị do thiệt thức nhận biết… các xúc do thân thức nhận biết… các pháp do ý thức nhận biết đã ly tham, ly sân, ly si, nội tâm được an tịnh, thực hành phạm hạnh bình đẳng qua thân, khẩu, ý, thì những vị Sa-môn, Bà-la-môn như vậy đáng được cung kính, tôn trọng, quý mến, cúng dường. Vì sao vậy? Vì chính chúng tôi đối với các pháp do ý thức nhận biết vẫn chưa ly tham, chưa ly sân, chưa ly si, nội tâm chưa được an tịnh, thực hành (đời sống) không đồng đều qua thân, khẩu, ý. Khi chúng tôi thấy được hạnh bình đẳng của các vị ấy là vượt trội hơn. Do đó, những bậc Sa-môn, Bà-la-môn ấy đáng được cung kính, tôn trọng, quý mến, cúng dường.’ Này các gia chủ, khi được hỏi như vậy, các ông hãy trả lời cho các du sĩ ngoại đạo ấy như thế.”
437. “Này các gia chủ, nếu các du sĩ ngoại đạo hỏi các ông như vầy: ‘Thưa các hiền giả, đâu là những lý do, đâu là những cơ sở mà các hiền giả nói như vậy: “Chắc chắn các bậc tôn giả ấy đã ly tham hoặc đang thực hành để điều phục tham, đã ly sân hoặc đang thực hành để điều phục sân, đã ly si hoặc đang thực hành để điều phục si”?’ Này các gia chủ, khi được hỏi như vậy, các ông hãy trả lời cho các du sĩ ngoại đạo ấy như sau: ‘Bởi vì các bậc tôn giả ấy thường trú tại những trú xứ xa vắng, nơi rừng núi hoang vu. Ở đó, thật sự không có những sắc pháp như vậy do nhãn thức nhận biết, mà khi thấy đi thấy lại có thể làm cho ưa thích; ở đó, thật sự không có những thanh âm như vậy do nhĩ thức nhận biết, mà khi nghe đi nghe lại có thể làm cho ưa thích; ở đó, thật sự không có những hương thơm như vậy do tỷ thức nhận biết, mà khi ngửi đi ngửi lại có thể làm cho ưa thích; ở đó, thật sự không có những vị nếm như vậy do thiệt thức nhận biết, mà khi nếm đi nếm lại có thể làm cho ưa thích; ở đó, thật sự không có những vật xúc chạm như vậy do thân thức nhận biết, mà khi xúc chạm đi xúc chạm lại có thể làm cho ưa thích. Thưa các hiền hữu, đây chính là những lý do, đây chính là những cơ sở của chúng tôi, mà do đó chúng tôi nói rằng: “Chắc chắn các bậc tôn giả ấy đã ly tham hoặc đang thực hành để điều phục tham, đã ly sân hoặc đang thực hành để điều phục sân, đã ly si hoặc đang thực hành để điều phục si”.’ Này các gia chủ, khi được hỏi như vậy, các ông hãy trả lời cho các du sĩ ngoại đạo ấy như thế.”
Evaṁ vutte, nagaravindeyyakā brāhmaṇagahapatikā bhagavantaṁ etadavocuṁ: “abhikkantaṁ, bho gotama, abhikkantaṁ, bho gotama. Seyyathāpi, bho gotama, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhotā gotamena anekapariyāyena dhammo pakāsito. Ete mayaṁ bhavantaṁ gotamaṁ saraṇaṁ gacchāma dhammañca bhikkhusaṅghañca. Upāsake no bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupete saraṇaṁ gate”ti.
When he had spoken, the brahmins and householders of Nagaravinda said to the Buddha, “Excellent, worthy Gotama! Excellent! As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark so people with clear eyes can see what’s there, worthy Gotama has made the Teaching clear in many ways. We go for refuge to the worthy Gotama, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. From this day forth, may the worthy Gotama remember us as lay followers who have gone for refuge for life.”
Khi được nói như vậy, các Bà-la-môn và gia chủ ở Nagaravinda bạch với Đức Thế Tôn điều này: “Thật vi diệu, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu, thưa Tôn giả Gotama! Thưa Tôn giả Gotama, cũng giống như người ta lật ngửa vật bị úp, phơi bày vật bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc, hay cầm ngọn đèn dầu trong bóng tối để ‘người có mắt có thể thấy được các sắc’; cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama trình bày bằng nhiều phương tiện. Chúng con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y Tỳ-khưu Tăng. Mong Tôn giả Gotama ghi nhận chúng con là những cận sự nam đã quy y kể từ hôm nay cho đến trọn đời.”
Nagaravindeyyasuttaṁ niṭṭhitaṁ aṭṭhamaṁ.
Kinh Nagaravindeyya, kinh thứ tám, đã chấm dứt.