- Majjhima Nikāya 149
Mahāsaḷāyatanikasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Mahāsaḷāyatanikasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời, Thế Tôn ở Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), tại tinh xá ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).
SC 2Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”, “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
SC 3Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng Ðại Kinh Sáu Xứ. Hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.
SC 4—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 5Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn giảng như sau
SC 6—Này các Tỷ-kheo, không biết, không thấy như chơn mắt; không biết, không thấy như chơn các sắc; không biết, không thấy như chơn nhãn thức; không biết, không thấy như chơn nhãn xúc; do duyên nhãn xúc này khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ; không biết, không thấy như chơn cảm thọ ấy, vị ấy ái trước đối với mắt, ái trước đối với các sắc, ái trước đối với nhãn thức, ái trước đối với nhãn xúc. Do duyên nhãn xúc này khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ, vị ấy ái trước đối với cảm thọ ấy.
SC 7Khi vị ấy trú, quán sát vị ngọt, bị ái trước, hệ lụy và tham đắm, nên năm thủ uẩn đi đến tích trữ trong tương lai. Và ái của vị ấy đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm sự hoan lạc chỗ này, chỗ kia; ái ấy được tăng trưởng; những thân ưu não tăng trưởng; những tâm ưu não tăng trưởng; những thân nhiệt não tăng trưởng; những tâm khổ não tăng trưởng. Vị ấy cảm thọ thân khổ và tâm khổ.
SC 8Này các Tỷ-kheo, không thấy và không biết như chơn tai…; này các Tỷ-kheo, không thấy và không biết như chơn mũi…; này các Tỷ-kheo, không thấy và không biết như chơn lưỡi…; này các Tỷ-kheo, không thấy và không biết như chơn thân…; này các Tỷ-kheo, không thấy và không biết như chơn ý; này các Tỷ-kheo, không thấy và không biết như chơn các pháp; này các Tỷ-kheo, không thấy và không biết như chơn ý thức; này các Tỷ-kheo, không thấy và không biết như chơn ý xúc. Do duyên ý xúc này khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ; không thấy và không biết như chơn cảm thọ ấy, vị ấy ái trước đối với ý, ái trước đối với pháp, ái trước đối với ý thức, ái trước đối với ý xúc. Do duyên ý xúc này khởi lên lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ, … vị ấy cảm thọ thân khổ và tâm khổ.
SC 9Này các Tỷ-kheo, thấy và biết như chơn mắt, thấy và biết như chơn các sắc, thấy và biết như chơn nhãn thức, thấy và biết như chơn nhãn xúc. Do duyên nhãn xúc này khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ, thấy và biết như chơn cảm thọ ấy; vị ấy không ái trước đối với con mắt, không ái trước đối với các sắc, không ái trước đối với nhãn thức, không ái trước đối với nhãn xúc. Do duyên nhãn xúc này khởi lên lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ; vị ấy không ái trước đối với cảm thọ ấy.
SC 10Khi vị ấy trú, quán sát vị ngọt, không bị ái trước, hệ lụy và tham đắm, nên năm thủ uẩn đi đến tàn diệt trong tương lai. Và ái của vị ấy, đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm sự hoan lạc chỗ này chỗ kia; ái ấy được đoạn tận; những thân ưu não của vị ấy được đoạn tận; những tâm ưu não được đoạn tận; những thân nhiệt não được đoạn tận; những tâm nhiệt não được đoạn tận; những thân khổ não được đoạn tận; những tâm khổ não được đoạn tận; vị ấy cảm thọ thân lạc và tâm lạc.
SC 11Kiến gì như chơn của vị ấy, kiến ấy là chánh kiến. Tư duy gì như chơn của vị ấy, tư duy ấy là chánh tư duy. Tinh tấn gì như chơn của vị ấy, tinh tấn ấy là chánh tinh tấn. Niệm gì như chơn của vị ấy, niệm ấy là chánh niệm. Ðịnh gì như chơn của vị ấy, định ấy là chánh định. Thân nghiệp, ngữ nghiệp, sinh mạng của vị ấy được thanh tịnh tốt đẹp. Và Thánh đạo Tám ngành này đi đến tu tập và phát triển sung mãn cho vị ấy. Do sự tu tập Thánh đạo Tám ngành này như vậy, bốn niệm xứ đi đến tu tập và phát triển sung mãn; bốn chánh tinh tấn cũng đi đến tu tập và phát triển sung mãn; bốn như ý túc cũng đi đến tu tập và phát triển sung mãn; năm căn cũng đi đến tu tập và phát triển sung mãn; năm lực cũng đi đến tu tập và phát triển sung mãn; bảy giác chi cũng đi đến tu tập và phát triển sung mãn. Và nơi vị ấy, hai pháp này được chuyển vận song hành: Chỉ và Quán. Với thượng trí, vị ấy liễu tri những pháp cần phải liễu tri với thượng trí. Với thượng trí, vị ấy đoạn tận những pháp cần phải đoạn tận với thượng trí. Với thượng trí vị ấy, tu tập những pháp cần phải tu tập với thượng trí. Với thượng trí, vị ấy chứng ngộ những pháp cần phải chứng ngộ với thượng trí.
SC 12Và này các Tỷ-kheo, thế nào là những pháp cần phải liễu tri với thượng trí? Cần phải trả lời là năm thủ uẩn, tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Những pháp này là những pháp cần phải liễu tri với thượng trí.
SC 13Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp cần phải đoạn tận với thượng trí? Vô minh và hữu ái, những pháp này cần phải đoạn tận với thượng trí.
SC 14Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp cần phải tu tập với thượng trí? Chỉ và Quán, những pháp này cần phải tu tập với thượng trí.
SC 15Và này các Tỷ-kheo, thế nào là những pháp cần phải chứng ngộ với thượng trí? Minh và giải thoát, những pháp này cần phải chứng ngộ với thượng trí.
SC 16Này các Tỷ-kheo, thấy và biết như chơn tai…; này các Tỷ-kheo, thấy và biết như chơn mũi…; này các Tỷ-kheo, thấy và biết như chơn lưỡi…; này các Tỷ-kheo, thấy và biết như chơn thân…; này các Tỷ-kheo, thấy và biết như chơn ý; này các Tỷ-kheo, thấy và biết như chơn các pháp; này các Tỷ-kheo, thấy và biết như chơn ý thức; này các Tỷ-kheo, thấy và biết như chơn ý xúc. Do duyên ý xúc này khởi lên lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ; thấy và biết như chơn cảm thọ ấy, nên vị ấy không ái trước đối với ý, không ái trước đối với các pháp, không ái trước đối với ý thức, không ái trước đối với ý xúc. Do duyên ý xúc này khởi lên lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ; vị ấy không ái trước đối với cảm thọ ấy … tâm khổ não được đoạn tận. Vị ấy cảm thọ thân lạc và tâm lạc. Kiến gì như chơn của vị ấy, kiến ấy là chánh kiến. Tư duy gì như chơn của vị ấy … hoạt mạng của vị ấy đi đến thanh tịnh tốt đẹp. Và Thánh đạo Tám ngành này đi đến tu tập và phát triển sung mãn cho vị ấy. Do sự tu tập Thánh đạo Tám ngành này như vậy … Và này các Tỷ-kheo, thế nào là những pháp cần phải chứng ngộ với thượng trí? Minh và giải thoát, những pháp này cần phải chứng ngộ với thượng trí.
SC 17Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). 15–07–2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
7. Kinh Đại Sáu Xứ
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“mahāsaḷāyatanikaṁ vo, bhikkhave, desessāmi. Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
“Mendicants, I shall teach you the great discourse on what relates to the six sense fields. Listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:
428. Tôi nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, trong khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỳ khưu: “Này các Tỳ khưu”. “Bạch Thế Tôn”, các Tỳ khưu ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau: “Này các Tỳ khưu, Ta sẽ giảng cho các con về Đại Sáu Xứ. Hãy lắng nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng”. “Vâng, bạch Thế Tôn”, các Tỳ khưu ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
“Cakkhuṁ, bhikkhave, ajānaṁ apassaṁ yathābhūtaṁ, rūpe ajānaṁ apassaṁ yathābhūtaṁ, cakkhuviññāṇaṁ ajānaṁ apassaṁ yathābhūtaṁ, cakkhusamphassaṁ ajānaṁ apassaṁ yathābhūtaṁ, yamidaṁ cakkhusamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tampi ajānaṁ apassaṁ yathābhūtaṁ, cakkhusmiṁ sārajjati, rūpesu sārajjati, cakkhuviññāṇe sārajjati, cakkhusamphasse sārajjati, yamidaṁ cakkhusamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tasmimpi sārajjati.
“Mendicants, when you don’t truly know and see the eye, sights, eye consciousness, eye contact, and what is felt as pleasant, painful, or neutral that arises dependent on eye contact, you’re aroused by these things.
429. “Này các Tỳ khưu, do không biết, không thấy mắt như thật; không biết, không thấy các sắc như thật; không biết, không thấy nhãn thức như thật; không biết, không thấy nhãn xúc như thật; và cũng không biết, không thấy như thật cảm thọ hoặc lạc, hoặc khổ, hoặc bất khổ bất lạc khởi lên do duyên nhãn xúc, nên vị ấy tham đắm nơi mắt, tham đắm nơi các sắc, tham đắm nơi nhãn thức, tham đắm nơi nhãn xúc, và cũng tham đắm nơi cảm thọ hoặc lạc, hoặc khổ, hoặc bất khổ bất lạc khởi lên do duyên nhãn xúc.
Tassa sārattassa saṁyuttassa sammūḷhassa assādānupassino viharato āyatiṁ pañcupādānakkhandhā upacayaṁ gacchanti. Taṇhā cassa ponobbhavikā nandīrāgasahagatā tatratatrābhinandinī, sā cassa pavaḍḍhati. Tassa kāyikāpi darathā pavaḍḍhanti, cetasikāpi darathā pavaḍḍhanti; kāyikāpi santāpā pavaḍḍhanti, cetasikāpi santāpā pavaḍḍhanti; kāyikāpi pariḷāhā pavaḍḍhanti, cetasikāpi pariḷāhā pavaḍḍhanti. So kāyadukkhampi cetodukkhampi paṭisaṁvedeti.
Someone who lives aroused like this—fettered, confused, concentrating on gratification—accumulates the five grasping aggregates for themselves in the future. And their craving—which leads to future lives, mixed up with relishing and greed, taking pleasure there wherever it alights—grows. Their physical and mental stress, torment, and fever grow. And they experience physical and mental suffering.
“Đối với người ấy, người tham đắm, bị trói buộc, si mê, sống quán chiếu vị ngọt, năm thủ uẩn đi đến chất chứa trong tương lai. Và ái của người ấy, thứ đưa đến tái sanh, đi kèm với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia, cũng tăng trưởng. Các phiền muộn về thân của người ấy cũng tăng trưởng, các phiền muộn về tâm cũng tăng trưởng; các nóng nảy về thân cũng tăng trưởng, các nóng nảy về tâm cũng tăng trưởng; các thiêu đốt về thân cũng tăng trưởng, các thiêu đốt về tâm cũng tăng trưởng. Người ấy cảm thọ khổ về thân và khổ về tâm.
Sotaṁ, bhikkhave, ajānaṁ apassaṁ yathābhūtaṁ …pe… ghānaṁ, bhikkhave, ajānaṁ apassaṁ yathābhūtaṁ …pe… jivhaṁ, bhikkhave, ajānaṁ apassaṁ yathābhūtaṁ …pe… kāyaṁ, bhikkhave, ajānaṁ apassaṁ yathābhūtaṁ …pe… manaṁ, bhikkhave, ajānaṁ apassaṁ yathābhūtaṁ, dhamme, bhikkhave, ajānaṁ apassaṁ yathābhūtaṁ, manoviññāṇaṁ, bhikkhave, ajānaṁ apassaṁ yathābhūtaṁ, manosamphassaṁ, bhikkhave, ajānaṁ apassaṁ yathābhūtaṁ, yamidaṁ manosamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tampi ajānaṁ apassaṁ yathābhūtaṁ, manasmiṁ sārajjati, dhammesu sārajjati, manoviññāṇe sārajjati, manosamphasse sārajjati, yamidaṁ manosamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tasmimpi sārajjati.
When you don’t truly know and see the ear … nose … tongue … body … mind, ideas, mind consciousness, mind contact, and what is felt as pleasant, painful, or neutral that arises dependent on mind contact, you’re aroused by these things.
“Này các Tỳ khưu, do không biết, không thấy tai như thật ...v.v... Này các Tỳ khưu, do không biết, không thấy mũi như thật ...v.v... Này các Tỳ khưu, do không biết, không thấy lưỡi như thật ...v.v... Này các Tỳ khưu, do không biết, không thấy thân như thật ...v.v... Này các Tỳ khưu, do không biết, không thấy ý như thật; không biết, không thấy các pháp như thật; không biết, không thấy ý thức như thật; không biết, không thấy ý xúc như thật; và cũng không biết, không thấy như thật cảm thọ hoặc lạc, hoặc khổ, hoặc bất khổ bất lạc khởi lên do duyên ý xúc, nên vị ấy tham đắm nơi ý, tham đắm nơi các pháp, tham đắm nơi ý thức, tham đắm nơi ý xúc, và cũng tham đắm nơi cảm thọ hoặc lạc, hoặc khổ, hoặc bất khổ bất lạc khởi lên do duyên ý xúc.
Tassa sārattassa saṁyuttassa sammūḷhassa assādānupassino viharato āyatiṁ pañcupādānakkhandhā upacayaṁ gacchanti. Taṇhā cassa ponobbhavikā nandīrāgasahagatā tatratatrābhinandinī, sā cassa pavaḍḍhati. Tassa kāyikāpi darathā pavaḍḍhanti, cetasikāpi darathā pavaḍḍhanti; kāyikāpi santāpā pavaḍḍhanti, cetasikāpi santāpā pavaḍḍhanti; kāyikāpi pariḷāhā pavaḍḍhanti, cetasikāpi pariḷāhā pavaḍḍhanti. So kāyadukkhampi cetodukkhampi paṭisaṁvedeti.
Someone who lives aroused like this—fettered, confused, concentrating on gratification—accumulates the five grasping aggregates for themselves in the future. And their craving—which leads to future lives, mixed up with relishing and greed, taking pleasure there wherever it alights—grows. Their physical and mental stress, torment, and fever grow. And they experience physical and mental suffering.
“Đối với người ấy, người tham đắm, bị trói buộc, si mê, sống quán chiếu vị ngọt, năm thủ uẩn đi đến chất chứa trong tương lai. Và ái của người ấy, thứ đưa đến tái sanh, đi kèm với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia, cũng tăng trưởng. Các phiền muộn về thân của người ấy cũng tăng trưởng, các phiền muộn về tâm cũng tăng trưởng; các nóng nảy về thân cũng tăng trưởng, các nóng nảy về tâm cũng tăng trưởng; các thiêu đốt về thân cũng tăng trưởng, các thiêu đốt về tâm cũng tăng trưởng. Người ấy cảm thọ khổ về thân và khổ về tâm.
Cakkhuñca kho, bhikkhave, jānaṁ passaṁ yathābhūtaṁ, rūpe jānaṁ passaṁ yathābhūtaṁ, cakkhuviññāṇaṁ jānaṁ passaṁ yathābhūtaṁ, cakkhusamphassaṁ jānaṁ passaṁ yathābhūtaṁ, yamidaṁ cakkhusamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tampi jānaṁ passaṁ yathābhūtaṁ, cakkhusmiṁ na sārajjati, rūpesu na sārajjati, cakkhuviññāṇe na sārajjati, cakkhusamphasse na sārajjati, yamidaṁ cakkhusamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tasmimpi na sārajjati.
When you do truly know and see the eye, sights, eye consciousness, eye contact, and what is felt as pleasant, painful, or neutral that arises dependent on eye contact, you’re not aroused by these things.
430. “Và này các Tỳ khưu, do biết, thấy mắt như thật; biết, thấy các sắc như thật; biết, thấy nhãn thức như thật; biết, thấy nhãn xúc như thật; và cũng biết, thấy như thật cảm thọ hoặc lạc, hoặc khổ, hoặc bất khổ bất lạc khởi lên do duyên nhãn xúc, nên vị ấy không tham đắm nơi mắt, không tham đắm nơi các sắc, không tham đắm nơi nhãn thức, không tham đắm nơi nhãn xúc, và cũng không tham đắm nơi cảm thọ hoặc lạc, hoặc khổ, hoặc bất khổ bất lạc khởi lên do duyên nhãn xúc.
Tassa asārattassa asaṁyuttassa asammūḷhassa ādīnavānupassino viharato āyatiṁ pañcupādānakkhandhā apacayaṁ gacchanti. Taṇhā cassa ponobbhavikā nandīrāgasahagatā tatratatrābhinandinī, sā cassa pahīyati. Tassa kāyikāpi darathā pahīyanti, cetasikāpi darathā pahīyanti; kāyikāpi santāpā pahīyanti, cetasikāpi santāpā pahīyanti; kāyikāpi pariḷāhā pahīyanti, cetasikāpi pariḷāhā pahīyanti. So kāyasukhampi cetosukhampi paṭisaṁvedeti.
Yā tathābhūtassa diṭṭhi sāssa hoti sammādiṭṭhi; yo tathābhūtassa saṅkappo svāssa hoti sammāsaṅkappo; yo tathābhūtassa vāyāmo svāssa hoti sammāvāyāmo; yā tathābhūtassa sati sāssa hoti sammāsati; yo tathābhūtassa samādhi svāssa hoti sammāsamādhi. Pubbeva kho panassa kāyakammaṁ vacīkammaṁ ājīvo suparisuddho hoti. Evamassāyaṁ ariyo aṭṭhaṅgiko maggo bhāvanāpāripūriṁ gacchati.
Tassa evaṁ imaṁ ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bhāvayato cattāropi satipaṭṭhānā bhāvanāpāripūriṁ gacchanti, cattāropi sammappadhānā bhāvanāpāripūriṁ gacchanti, cattāropi iddhipādā bhāvanāpāripūriṁ gacchanti, pañcapi indriyāni bhāvanāpāripūriṁ gacchanti, pañcapi balāni bhāvanāpāripūriṁ gacchanti, sattapi bojjhaṅgā bhāvanāpāripūriṁ gacchanti.
Tassime dve dhammā yuganandhā vattanti—samatho ca vipassanā ca. So ye dhammā abhiññā pariññeyyā te dhamme abhiññā parijānāti. Ye dhammā abhiññā pahātabbā te dhamme abhiññā pajahati. Ye dhammā abhiññā bhāvetabbā te dhamme abhiññā bhāveti. Ye dhammā abhiññā sacchikātabbā te dhamme abhiññā sacchikaroti.
Katame ca, bhikkhave, dhammā abhiññā pariññeyyā? ‘Pañcupādānakkhandhā’ tissa vacanīyaṁ, seyyathidaṁ—rūpupādānakkhandho, vedanupādānakkhandho, saññupādānakkhandho, saṅkhārupādānakkhandho, viññāṇupādānakkhandho. Ime dhammā abhiññā pariññeyyā.
Katame ca, bhikkhave, dhammā abhiññā pahātabbā? Avijjā ca bhavataṇhā ca—ime dhammā abhiññā pahātabbā.
Katame ca, bhikkhave, dhammā abhiññā bhāvetabbā? Samatho ca vipassanā ca—ime dhammā abhiññā bhāvetabbā.
Someone who lives unaroused like this—unfettered, unconfused, concentrating on drawbacks—disperses the five grasping aggregates for themselves in the future. And their craving—which leads to future lives, mixed up with relishing and greed, taking pleasure there wherever it alights—is given up. Their physical and mental stress, torment, and fever are given up. And they experience physical and mental pleasure.
The view of such a person is right view. Their intention is right intention, their effort is right effort, their mindfulness is right mindfulness, and their immersion is right immersion. And their actions of body and speech, and their livelihood, have already been fully purified before. So this noble eightfold path is fully developed.
When the noble eightfold path is developed, the following are fully developed: the four kinds of mindfulness meditation, the four right efforts, the four bases of psychic power, the five faculties, the five powers, and the seven awakening factors.
And these two qualities proceed in conjunction: serenity and discernment. They completely understand by direct knowledge those things that should be completely understood by direct knowledge. They give up by direct knowledge those things that should be given up by direct knowledge. They develop by direct knowledge those things that should be developed by direct knowledge. They realize by direct knowledge those things that should be realized by direct knowledge.
And what are the things that should be completely understood by direct knowledge? You should say: ‘The five grasping aggregates.’ That is: form, feeling, perception, choices, and consciousness. These are the things that should be completely understood by direct knowledge.
And what are the things that should be given up by direct knowledge? Ignorance and craving for continued existence. These are the things that should be given up by direct knowledge.
And what are the things that should be developed by direct knowledge? Serenity and discernment. These are the things that should be developed by direct knowledge.
Đối với vị ấy, người không tham đắm, không bị trói buộc, không si mê, sống với việc thường xuyên quán xét sự nguy hại, năm thủ uẩn trong tương lai sẽ đi đến chỗ suy giảm. Và ái dục của vị ấy, thứ dẫn đến tái sanh, đi kèm với hỷ và tham, tìm thấy sự vui thích nơi này nơi kia, ái dục ấy được đoạn trừ. Đối với vị ấy, những phiền muộn thuộc về thân cũng được đoạn trừ, những phiền muộn thuộc về tâm cũng được đoạn trừ; những nhiệt não thuộc về thân cũng được đoạn trừ, những nhiệt não thuộc về tâm cũng được đoạn trừ; những thiêu đốt thuộc về thân cũng được đoạn trừ, những thiêu đốt thuộc về tâm cũng được đoạn trừ. Vị ấy cảm thọ lạc thuộc về thân và lạc thuộc về tâm.
Katame ca, bhikkhave, dhammā abhiññā sacchikātabbā? Vijjā ca vimutti ca—ime dhammā abhiññā sacchikātabbā.
Sotaṁ, bhikkhave, jānaṁ passaṁ yathābhūtaṁ …pe… ghānaṁ bhikkhave, jānaṁ passaṁ yathābhūtaṁ …pe… jivhaṁ, bhikkhave, jānaṁ passaṁ yathābhūtaṁ …pe… kāyaṁ, bhikkhave, jānaṁ passaṁ yathābhūtaṁ …pe…
And what are the things that should be realized by direct knowledge? Knowledge and freedom. These are the things that should be realized by direct knowledge.
When you truly know and see the ear … nose … tongue … body …
Này các Tỳ khưu, những pháp nào cần được chứng ngộ bằng thắng trí? Minh và giải thoát – đây là các pháp cần được chứng ngộ bằng thắng trí.
432. Này các Tỳ khưu, biết và thấy tai đúng như thật... Này các Tỳ khưu, biết và thấy mũi đúng như thật... Này các Tỳ khưu, biết và thấy lưỡi đúng như thật... Này các Tỳ khưu, biết và thấy thân đúng như thật... Này các Tỳ khưu, biết và thấy ý đúng như thật, biết và thấy các pháp đúng như thật, biết và thấy ý thức đúng như thật, biết và thấy ý xúc đúng như thật, và cảm thọ nào khởi lên do duyên ý xúc, hoặc lạc, hoặc khổ, hoặc không khổ không lạc, vị ấy cũng biết và thấy cảm thọ ấy đúng như thật, vị ấy không tham đắm nơi ý, không tham đắm nơi các pháp, không tham đắm nơi ý thức, không tham đắm nơi ý xúc, và đối với cảm thọ nào khởi lên do duyên ý xúc, hoặc lạc, hoặc khổ, hoặc không khổ không lạc, vị ấy cũng không tham đắm nơi cảm thọ ấy.
Tassa asārattassa asaṁyuttassa asammūḷhassa ādīnavānupassino viharato āyatiṁ pañcupādānakkhandhā apacayaṁ gacchanti. Taṇhā cassa ponobbhavikā nandīrāgasahagatā tatratatrābhinandinī, sā cassa pahīyati. Tassa kāyikāpi darathā pahīyanti, cetasikāpi darathā pahīyanti; kāyikāpi santāpā pahīyanti, cetasikāpi santāpā pahīyanti; kāyikāpi pariḷāhā pahīyanti, cetasikāpi pariḷāhā pahīyanti. So kāyasukhampi cetosukhampi paṭisaṁvedeti.
Đối với vị ấy, người không tham đắm, không bị trói buộc, không si mê, sống với việc thường xuyên quán xét sự nguy hại, năm thủ uẩn trong tương lai sẽ đi đến chỗ suy giảm. Và ái dục của vị ấy, thứ dẫn đến tái sanh, đi kèm với hỷ và tham, tìm thấy sự vui thích nơi này nơi kia, ái dục ấy được đoạn trừ. Đối với vị ấy, những phiền muộn thuộc về thân cũng được đoạn trừ, những phiền muộn thuộc về tâm cũng được đoạn trừ; những nhiệt não thuộc về thân cũng được đoạn trừ, những nhiệt não thuộc về tâm cũng được đoạn trừ; những thiêu đốt thuộc về thân cũng được đoạn trừ, những thiêu đốt thuộc về tâm cũng được đoạn trừ. Vị ấy cảm thọ lạc thuộc về thân và lạc thuộc về tâm.
Yā tathābhūtassa diṭṭhi sāssa hoti sammādiṭṭhi; yo tathābhūtassa saṅkappo svāssa hoti sammāsaṅkappo; yo tathābhūtassa vāyāmo svāssa hoti sammāvāyāmo; yā tathābhūtassa sati sāssa hoti sammāsati; yo tathābhūtassa samādhi svāssa hoti sammāsamādhi. Pubbeva kho panassa kāyakammaṁ vacīkammaṁ ājīvo suparisuddho hoti. Evamassāyaṁ ariyo aṭṭhaṅgiko maggo bhāvanāpāripūriṁ gacchati.
433. Tri kiến của người như vậy trở thành chánh kiến; tư duy của người như vậy trở thành chánh tư duy; tinh tấn của người như vậy trở thành chánh tinh tấn; niệm của người như vậy trở thành chánh niệm; định của người như vậy trở thành chánh định. Lại nữa, thân nghiệp, khẩu nghiệp, và mạng sống của vị ấy đã được hoàn toàn trong sạch từ trước. Như vậy, Thánh đạo Tám ngành này của vị ấy đi đến sự viên mãn trong tu tập.
Tassa evaṁ imaṁ ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bhāvayato cattāropi satipaṭṭhānā bhāvanāpāripūriṁ gacchanti, cattāropi sammappadhānā bhāvanāpāripūriṁ gacchanti, cattāropi iddhipādā bhāvanāpāripūriṁ gacchanti, pañcapi indriyāni bhāvanāpāripūriṁ gacchanti, pañcapi balāni bhāvanāpāripūriṁ gacchanti, sattapi bojjhaṅgā bhāvanāpāripūriṁ gacchanti.
Đối với vị ấy, khi tu tập Thánh đạo Tám ngành này như vậy, bốn niệm xứ cũng đi đến sự viên mãn trong tu tập, bốn chánh cần cũng đi đến sự viên mãn trong tu tập, bốn như ý túc cũng đi đến sự viên mãn trong tu tập, năm căn cũng đi đến sự viên mãn trong tu tập, năm lực cũng đi đến sự viên mãn trong tu tập, bảy giác chi cũng đi đến sự viên mãn trong tu tập.
Tassime dve dhammā yuganandhā vattanti—samatho ca vipassanā ca. So ye dhammā abhiññā pariññeyyā te dhamme abhiññā parijānāti. Ye dhammā abhiññā pahātabbā te dhamme abhiññā pajahati. Ye dhammā abhiññā bhāvetabbā te dhamme abhiññā bhāveti. Ye dhammā abhiññā sacchikātabbā te dhamme abhiññā sacchikaroti.
Đối với vị ấy, hai pháp này là chỉ và quán vận hành song hành. Những pháp nào cần được liễu tri bằng thắng trí, vị ấy liễu tri các pháp ấy bằng thắng trí. Những pháp nào cần được đoạn trừ bằng thắng trí, vị ấy đoạn trừ các pháp ấy bằng thắng trí. Những pháp nào cần được tu tập bằng thắng trí, vị ấy tu tập các pháp ấy bằng thắng trí. Những pháp nào cần được chứng ngộ bằng thắng trí, vị ấy chứng ngộ các pháp ấy bằng thắng trí.
Katame ca, bhikkhave, dhammā abhiññā pariññeyyā? ‘Pañcupādānakkhandhā’ tissa vacanīyaṁ, seyyathidaṁ—rūpupādānakkhandho, vedanupādānakkhandho, saññupādānakkhandho, saṅkhārupādānakkhandho, viññāṇupādānakkhandho. Ime dhammā abhiññā pariññeyyā.
Này các Tỳ khưu, những pháp nào cần được liễu tri bằng thắng trí? Nên nói rằng: ‘Năm thủ uẩn.’ Tức là: sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Đây là các pháp cần được liễu tri bằng thắng trí.
Katame ca, bhikkhave, dhammā abhiññā pahātabbā? Avijjā ca bhavataṇhā ca—ime dhammā abhiññā pahātabbā.
Này các Tỳ khưu, những pháp nào cần được đoạn trừ bằng thắng trí? Vô minh và hữu ái – đây là các pháp cần được đoạn trừ bằng thắng trí.
Katame ca, bhikkhave, dhammā abhiññā bhāvetabbā? Samatho ca vipassanā ca—ime dhammā abhiññā bhāvetabbā.
Katame ca, bhikkhave, dhammā abhiññā sacchikātabbā? Vijjā ca vimutti ca—ime dhammā abhiññā sacchikātabbā”ti.
These are the things that should be realized by direct knowledge.”
Này các Tỳ khưu, những pháp nào cần được tu tập bằng thắng trí? Chỉ và quán – đây là các pháp cần được tu tập bằng thắng trí.
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
Thế Tôn đã thuyết như vậy. Các Tỳ khưu ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Mahāsaḷāyatanikasuttaṁ niṭṭhitaṁ sattamaṁ.
Kinh Đại Sáu Xứ, bài kinh thứ bảy, kết thúc.