- Majjhima Nikāya 148
Chachakkasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Chachakkasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm) tại tinh xá ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).
SC 2Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo
”SC 3. “Thưa vâng, Bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Thế Tôn nói như sau
SC 4—Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng pháp cho các Ông, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn. Ta sẽ nói lên Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh, tức là sáu sáu. Hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.
SC 5—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
(Tóm lược)
SC 6Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau
SC 7—Sáu nội xứ cần phải được biết. Sáu ngoại xứ cần phải được biết. Sáu thức thân cần phải được biết. Sáu xúc thân cần phải được biết. Sáu thọ thân cần phải được biết. Sáu ái thân cần phải được biết.
(Liệt kê)
SC 8Khi được nói đến: “Sáu nội xứ cần phải được biết”, do duyên gì được nói đến như vậy? Nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ, ý xứ. Khi được nói đến: “Sáu nội xứ cần phải được biết ”, chính do duyên này được nói đến như vậy. Ðây là sáu sáu thứ nhất.
SC 9Khi được nói đến: “Sáu ngoại xứ cần phải được biết”, do duyên gì được nói đến như vậy? Sắc xứ, thanh xứ, hương xứ, vị xứ, xúc xứ, pháp xứ. Khi được nói đến: “Sáu ngoại xứ cần phải được biết”, chính do duyên này được nói đến như vậy. Ðây là sáu sáu thứ hai.
SC 10Khi được nói đến: “Sáu thức thân cần phải được biết”, do duyên gì được nói đến như vậy? Do duyên mắt và do duyên các sắc, khởi lên nhãn thức. Do duyên tai và do duyên các tiếng, khởi lên nhĩ thức. Do duyên mũi và do duyên các hương, khởi lên tỷ thức. Do duyên lưỡi và do duyên các vị, khởi lên thiệt thức. Do duyên thân và do duyên các xúc, khởi lên thân thức. Do duyên ý và do duyên các pháp, khởi lên ý thức. Khi được nói đến: “Sáu thức thân cần phải được biết”, chính do duyên này được nói đến như vậy. Ðây là sáu sáu thứ ba.
SC 11Khi được nói đến: “Sáu xúc thân cần phải được biết”, do duyên gì được nói đến như vậy? Do duyên mắt và do duyên các sắc, khởi lên nhãn thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên tai và do duyên các tiếng, khởi lên nhĩ thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên mũi và do duyên các hương, khởi lên tỷ thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên lưỡi và do duyên các vị, khởi lên thiệt thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên thân và do duyên các xúc, khởi lên thân thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên ý và do duyên các pháp, khởi lên ý thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Khi được nói đến: “Sáu xúc thân cần phải được biết”, chính do duyên này được nói đến như vậy. Ðây là sáu sáu thứ tư.
SC 12Khi được nói đến: “Sáu thọ thân cần phải được biết”, do duyên gì được nói đến như vậy? Do duyên mắt và do duyên các sắc, khởi lên nhãn thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc là thọ. Do duyên tai và do duyên các tiếng, khởi lên nhĩ thức … Do duyên mũi và do duyên các hương, khởi lên tỷ thức … Do duyên lưỡi và do duyên các vị, khởi lên thiệt thức … Do duyên thân và do duyên các xúc, khởi lên thân thức … Do duyên ý và do duyên các pháp, khởi lên ý thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc là thọ. Khi được nói đến: “Sáu thọ thân cần phải được biết”, chính do duyên này được nói đến như vậy. Ðây là sáu sáu thứ năm.
SC 13Khi được nói đến: “Sáu ái thân cần phải được biết”, do duyên gì được nói đến như vậy? Do duyên mắt và duyên các sắc, khởi lên nhãn thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc là thọ. Do duyên thọ là ái. Do duyên tai và do duyên các tiếng, khởi lên nhĩ thức … Do duyên mũi và do duyên các hương, khởi lên tỷ thức … Do duyên lưỡi và do duyên các vị, khởi lên thiệt thức … Do duyên thân và do duyên các xúc, khởi lên thân thức … Do duyên ý và do duyên các pháp, khởi lên ý thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc là thọ. Do duyên thọ là ái. Khi được nói đến: “Sáu ái thân cần phải được biết”, chính do duyên này được nói đến như vậy. Ðây là sáu sáu thứ sáu.
(Giảng về vô ngã)
SC 14Nếu ai nói rằng: “Mắt là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của mắt đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt củ mắt đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy, nếu ai nói rằng: “Mắt là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy, con mắt là vô ngã.
SC 15Nếu ai nói rằng: “Các sắc là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của các sắc đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của các sắc đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy, nếu ai nói rằng: “Các sắc là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy, con mắt là vô ngã, các sắc là vô ngã.
SC 16Nếu ai nói rằng: “Nhãn thức là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của nhãn thức đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của nhãn thức đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy, nếu ai nói rằng: “Nhãn thức là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy, con mắt là vô ngã, các sắc là vô ngã, nhãn thức là vô ngã.
SC 17Nếu có ai nói rằng: “Nhãn xúc là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của nhãn xúc đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của nhãn xúc đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy, nếu ai nói rằng: “Nhãn xúc là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy, con mắt là vô ngã, các sắc là vô ngã, nhãn thức là vô ngã, nhãn xúc là vô ngã.
SC 18Nếu có ai nói rằng: “Thọ là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của thọ đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của thọ đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy, nếu ai nói rằng: “Thọ là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy, con mắt là vô ngã, các sắc là vô ngã, nhãn thức là vô ngã, nhãn xúc là vô ngã, thọ là vô ngã.
SC 19Nếu có ai nói rằng: “Ái là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của ái đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của ái đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy, nếu ai nói rằng: “Ái là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy, con mắt là vô ngã, các sắc là vô ngã, nhãn thức là vô ngã, nhãn xúc là vô ngã, thọ là vô ngã, ái là vô ngã.
SC 20Nếu có ai nói rằng: “Tai là tự ngã” …; nếu có ai nói rằng: “” Mũi là tự ngã” …; nếu có ai nói rằng: “Lưỡi là tự ngã” …; nếu có ai nói rằng: “Thân là tự ngã” …; nếu có ai nói rằng: “Ý là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của ý đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của ý đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy, nếu ai nói rằng: “Ý là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy, ý là vô ngã.
SC 21Nếu có ai nói rằng: “Các pháp là tự ngã”, như vậy, là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của các pháp đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của các pháp đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy, nếu ai nói rằng: “Các pháp là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy, ý là vô ngã, các pháp là vô ngã. Nếu có ai nói rằng: “Ý thức là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của ý thức đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của ý thức đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy, nếu ai nói rằng: “Ý thức là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy, ý là vô ngã, các pháp là vô ngã, ý thức là vô ngã.
SC 22Nếu có ai nói rằng: “Ý xúc là tự ngã ”, như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của ý xúc đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của ý xúc đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy, nếu có ai nói rằng: “Ý xúc là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy, ý là vô ngã, các pháp là vô ngã, ý thức là vô ngã, ý xúc là vô ngã.
SC 23Nếu có ai nói rằng: “Thọ là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của thọ đã dược thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của thọ đã được thấy, nên đưa phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy, nếu có ai nói rằng: “Thọ là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy, ý là vô ngã, các pháp là vô ngã, ý thức là vô ngã, ý xúc là vô ngã, thọ là vô ngã.
SC 24Nếu có ai nói rằng: “Ái là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của ái đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của ái đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy, nếu có ai nói rằng: “Ái là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy, ý là vô ngã, các pháp là vô ngã, ý thức là vô ngã, ý xúc là vô ngã, thọ là vô ngã, ái là vô ngã.
SC 25Này các Tỷ-kheo, nhưng đây là con đường đưa đến sự tập khởi của thân kiến. Ai quán mắt là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”. Ai quán các sắc … Ai quán nhãn thức … Ai quán nhãn xúc … Ai quán thọ … Ai quán ái … Ai quán tai … Ai quán mũi … Ai quán lưỡi … Ai quán thân … Ai quán ý … Ai quán các pháp … Ai quán ý thức … Ai quán ý xúc … Ai quán ái: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”.
SC 26Nhưng này các Tỷ-kheo, đây là con đường đưa đến sự đoạn diệt của thân kiến. Ai quán mắt: “” Cái này không phải là của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi”. Ai quán sắc … Ai quán nhãn thức … Ai quán nhãn xúc … Ai quán thọ … Ai quán ái … Ai quán tai … Ai quán mũi … Ai quán lưỡi … Ai quán thân … Ai quán ý … Ai quán các pháp … Ai quán ý thức … Ai quán ý xúc … Ai quán thọ … Ai quán ái: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.
SC 27Này các Tỷ-kheo, do duyên mắt và do duyên các sắc, khởi lên nhãn thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc, khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ. Vị ấy do cảm xúc lạc thọ, mà hoan hỷ, tán thán, trú ở ái trước; tham tùy miên của vị ấy tùy tăng. Vị ấy do cảm xúc khổ thọ, mà sầu muộn, than van, than khóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh; sân tùy miên của vị ấy tùy tăng. Vị ấy do cảm xúc bất khổ bất lạc thọ, mà không như thật biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi cảm thọ ấy; vô minh tùy miên của vị ấy tùy tăng. Này các Tỷ-kheo, vị ấy chính do không đoạn tận tham tùy miên đối với lạc thọ, do không tẩy trừ sân tùy miên đối với khổ thọ, do không nhổ lên vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ, không đoạn tận vô minh, không làm cho minh khởi lên, có thể ngay trong hiện tại là người chấm dứt đau khổ, sự kiện như vậy không xảy ra.
SC 28Này các Tỷ-kheo, do duyên tai và do duyên các tiếng, khởi lên nhĩ thức … Này các Tỷ-kheo, do duyên mũi và do duyên các hương, khởi lên tỷ thức … Này các Tỷ-kheo, do duyên lưỡi và do duyên các vị, khởi lên thiệt thức … Này các Tỷ-kheo, do duyên thân và do duyên các xúc, khởi lên thân thức … Này các Tỷ-kheo, do duyên ý và do duyên các pháp, khởi lên ý thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc, khởi lên lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ. Vị ấy do cảm xúc lạc thọ, mà hoan hỷ, tán thán, trú ở ái trước; tham tùy miên của vị ấy tùy tăng. Vị ấy do cảm xúc khổ thọ mà sầu muốn, than van, than khóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh; sân tùy miên của vị ấy tùy tăng. Vị ấy do cảm xúc bất khổ bất lạc thọ, mà không như thật biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi cảm thọ ấy; vô minh tùy miên của vị ấy tùy tăng. Này các Tỷ-kheo, vị ấy chính do không đoạn tận tham tùy miên đối với lạc thọ, do không tẩy trừ sân tùy miên đối với khổ thọ, do không nhổ lên vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ, không đoạn tận vô minh, không làm cho minh khởi lên, có thể ngay trong hiện tại là người chấm dứt đau khổ, sự kiện như vậy không xảy ra.
SC 29Này các Tỷ-kheo, do duyên mắt và do duyên các sắc, khởi lên nhãn thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc, khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ. Vị ấy cảm xúc lạc thọ, mà không hoan hỷ, tán thán, trú ở ái trước; tham tùy miên của vị ấy không tùy tăng. Vị ấy cảm xúc khổ thọ, mà không sầu muộn, than van, than khóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh; sân tùy miên của vị ấy không tùy tăng. Vị ấy cảm xúc bất khổ bất lạc thọ, mà như thật biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi cảm thọ ấy; vô minh tùy miên của vị ấy không tùy tăng. Này các Tỷ-kheo, vị ấy chính do đoạn tận tham tùy miên đối với lạc thọ, do tẩy trừ sân tùy miên đối với khổ thọ, do nhổ lên vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ, đoạn tận vô minh, làm cho minh khởi lên, có thể ngay trong hiện tại là người chấm dứt đau khổ, sự kiện như vậy xảy ra.
SC 30Này các Tỷ-kheo, do duyên tai và do duyên các tiếng, khởi lên nhĩ thức … Này các Tỷ-kheo, do duyên mũi và do duyên các hương, khởi lên tỷ thức … Này các Tỷ-kheo, do duyên lưỡi và do duyên các vị, khởi lên thiệt thức … Này các Tỷ-kheo, do duyên thân và do duyên các xúc, khởi lên thân thức … Này các Tỷ-kheo, do duyên ý và do duyên các pháp, khởi lên ý thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên cảm xúc, khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ. Vị ấy cảm xúc lạc thọ mà không hoan hỷ, tán thán, trú ở ái trước; tham tùy miên của vị ấy không tùy tăng. Vị ấy cảm xúc khổ thọ mà không sầu muộn, than van, than khóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh; sân tùy miên của vị ấy không tùy tăng. Vị ấy cảm xúc bất khổ bất lạc thọ mà như thật biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi cảm thọ ấy; vô minh tùy miên của vị ấy không tùy tăng. Này các Tỷ-kheo, vị ấy chính do đoạn tận tham tùy miên đối với lạc thọ, do tẩy trừ sân tùy miên đối với khổ thọ, do nhổ lên vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ, đoạn tận vô minh, làm cho minh khởi lên, có thể ngay trong hiện tại là người chấm dứt đau khổ, sự kiện như vậy xảy ra.
SC 31Này các Tỷ-kheo, do thấy vậy, vị Ða văn Thánh đệ tử yếm ly mắt, yếm ly các sắc, yếm ly nhãn thức; yếm ly nhãn xúc, yếm ly thọ, yếm ly ái. Vị ấy yếm ly tai, yếm ly các tiếng…; yếm ly mũi, yếm ly các hương…; yếm ly lưỡi, yếm ly các vị…; yếm ly thân, yếm ly các xúc…; yếm ly ý, yếm ly các pháp; yếm ly ý thức, yếm ly ý xúc, yếm ly thọ, yếm ly ái.
SC 32Do yếm ly, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát là sự hiểu biết: “Ta đã được giải thoát”. Và vị ấy tuệ tri: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
SC 33Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy. Trong khi sự thuyết giảng này được nói lên, tâm của sáu mươi Tỷ-kheo ấy được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). 15–07–2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
6. Kinh Sáu Lần Sáu
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“dhammaṁ vo, bhikkhave, desessāmi ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāsessāmi, yadidaṁ—cha chakkāni. Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
“Mendicants, I shall teach you the Dhamma that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And I shall reveal a spiritual practice that’s entirely full and pure, namely, the six sets of six. Listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:
420. Tôi nghe như vầy. Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, trong khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Tại đấy, Thế Tôn gọi các vị tỳ khưu: “Này các tỳ khưu”. “Bạch Thế Tôn”, các vị tỳ khưu ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau: “Này các tỳ khưu, Ta sẽ giảng cho các ngươi một bài pháp toàn thiện ở phần đầu, toàn thiện ở phần giữa, toàn thiện ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn cú; Ta sẽ tuyên thuyết phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch, đó là sáu lần sáu. Hãy lắng nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng”. “Vâng, bạch Thế Tôn”, các vị tỳ khưu ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
“Cha ajjhattikāni āyatanāni veditabbāni, cha bāhirāni āyatanāni veditabbāni, cha viññāṇakāyā veditabbā, cha phassakāyā veditabbā, cha vedanākāyā veditabbā, cha taṇhākāyā veditabbā.
“The six interior sense fields should be understood. The six exterior sense fields should be understood. The six classes of consciousness should be understood. The six classes of contact should be understood. The six classes of feeling should be understood. The six classes of craving should be understood.
“Sáu nội xứ cần phải được biết rõ, sáu ngoại xứ cần phải được biết rõ, sáu thân thức cần phải được biết rõ, sáu thân xúc cần phải được biết rõ, sáu thân thọ cần phải được biết rõ, sáu thân ái cần phải được biết rõ.
‘Cha ajjhattikāni āyatanāni veditabbānī’ti—iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Cakkhāyatanaṁ, sotāyatanaṁ, ghānāyatanaṁ, jivhāyatanaṁ, kāyāyatanaṁ, manāyatanaṁ. ‘Cha ajjhattikāni āyatanāni veditabbānī’ti—iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ. Idaṁ paṭhamaṁ chakkaṁ.
‘The six interior sense fields should be understood.’ That’s what I said, but why did I say it? There are the sense fields of the eye, ear, nose, tongue, body, and mind. ‘The six interior sense fields should be understood.’ That’s what I said, and this is why I said it. This is the first set of six.
421. “‘Sáu nội xứ cần phải được biết rõ’, điều này đã được nói ra. Do duyên vào đâu mà điều này được nói? Nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ, ý xứ. ‘Sáu nội xứ cần phải được biết rõ’, điều đã được nói ra như vậy là do duyên vào điều này mà nói. Đây là nhóm sáu thứ nhất.
‘Cha bāhirāni āyatanāni veditabbānī’ti—iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Rūpāyatanaṁ, saddāyatanaṁ, gandhāyatanaṁ, rasāyatanaṁ, phoṭṭhabbāyatanaṁ, dhammāyatanaṁ. ‘Cha bāhirāni āyatanāni veditabbānī’ti—iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ. Idaṁ dutiyaṁ chakkaṁ.
‘The six exterior sense fields should be understood.’ That’s what I said, but why did I say it? There are the sense fields of sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas. ‘The six exterior sense fields should be understood.’ That’s what I said, and this is why I said it. This is the second set of six.
“‘Sáu ngoại xứ cần phải được biết rõ’, điều này đã được nói ra. Do duyên vào đâu mà điều này được nói? Sắc xứ, thanh xứ, hương xứ, vị xứ, xúc xứ, pháp xứ. ‘Sáu ngoại xứ cần phải được biết rõ’, điều đã được nói ra như vậy là do duyên vào điều này mà nói. Đây là nhóm sáu thứ hai.
‘Cha viññāṇakāyā veditabbā’ti—iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Cakkhuñca paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṁ, sotañca paṭicca sadde ca uppajjati sotaviññāṇaṁ, ghānañca paṭicca gandhe ca uppajjati ghānaviññāṇaṁ, jivhañca paṭicca rase ca uppajjati jivhāviññāṇaṁ, kāyañca paṭicca phoṭṭhabbe ca uppajjati kāyaviññāṇaṁ, manañca paṭicca dhamme ca uppajjati manoviññāṇaṁ. ‘Cha viññāṇakāyā veditabbā’ti—iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ. Idaṁ tatiyaṁ chakkaṁ.
‘The six classes of consciousness should be understood.’ That’s what I said, but why did I say it? Eye consciousness arises dependent on the eye and sights. Ear consciousness arises dependent on the ear and sounds. Nose consciousness arises dependent on the nose and smells. Tongue consciousness arises dependent on the tongue and tastes. Body consciousness arises dependent on the body and touches. Mind consciousness arises dependent on the mind and ideas. ‘The six classes of consciousness should be understood.’ That’s what I said, and this is why I said it. This is the third set of six.
“‘Sáu thân thức cần phải được biết rõ’, điều này đã được nói ra. Do duyên vào đâu mà điều này được nói? Do duyên mắt và các sắc, nhãn thức sanh khởi. Do duyên tai và các tiếng, nhĩ thức sanh khởi. Do duyên mũi và các mùi, tỷ thức sanh khởi. Do duyên lưỡi và các vị, thiệt thức sanh khởi. Do duyên thân và các vật xúc chạm, thân thức sanh khởi. Do duyên ý và các pháp, ý thức sanh khởi. ‘Sáu thân thức cần phải được biết rõ’, điều đã được nói ra như vậy là do duyên vào điều này mà nói. Đây là nhóm sáu thứ ba.
‘Cha phassakāyā veditabbā’ti—iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Cakkhuñca paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso; sotañca paṭicca sadde ca uppajjati sotaviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso; ghānañca paṭicca gandhe ca uppajjati ghānaviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso; jivhañca paṭicca rase ca uppajjati jivhāviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso; kāyañca paṭicca phoṭṭhabbe ca uppajjati kāyaviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso; manañca paṭicca dhamme ca uppajjati manoviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso. ‘Cha phassakāyā veditabbā’ti—iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ. Idaṁ catutthaṁ chakkaṁ.
‘The six classes of contact should be understood.’ That’s what I said, but why did I say it? Eye consciousness arises dependent on the eye and sights. The meeting of the three is contact. Ear consciousness arises dependent on the ear and sounds. The meeting of the three is contact. Nose consciousness arises dependent on the nose and smells. The meeting of the three is contact. Tongue consciousness arises dependent on the tongue and tastes. The meeting of the three is contact. Body consciousness arises dependent on the body and touches. The meeting of the three is contact. Mind consciousness arises dependent on the mind and ideas. The meeting of the three is contact. ‘The six classes of contact should be understood.’ That’s what I said, and this is why I said it. This is the fourth set of six.
“‘Sáu thân xúc cần phải được biết rõ’, điều này đã được nói ra. Do duyên vào đâu mà điều này được nói? Do duyên mắt và các sắc, nhãn thức sanh khởi; sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên tai và các tiếng, nhĩ thức sanh khởi; sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên mũi và các mùi, tỷ thức sanh khởi; sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên lưỡi và các vị, thiệt thức sanh khởi; sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên thân và các vật xúc chạm, thân thức sanh khởi; sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên ý và các pháp, ý thức sanh khởi; sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. ‘Sáu thân xúc cần phải được biết rõ’, điều đã được nói ra như vậy là do duyên vào điều này mà nói. Đây là nhóm sáu thứ tư.
‘Cha vedanākāyā veditabbā’ti—iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Cakkhuñca paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso, phassapaccayā vedanā; sotañca paṭicca sadde ca uppajjati sotaviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso, phassapaccayā vedanā; ghānañca paṭicca gandhe ca uppajjati ghānaviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso, phassapaccayā vedanā; jivhañca paṭicca rase ca uppajjati jivhāviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso, phassapaccayā vedanā; kāyañca paṭicca phoṭṭhabbe ca uppajjati kāyaviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso, phassapaccayā vedanā; manañca paṭicca dhamme ca uppajjati manoviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso, phassapaccayā vedanā. ‘Cha vedanākāyā veditabbā’ti—iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ. Idaṁ pañcamaṁ chakkaṁ.
‘The six classes of feeling should be understood.’ That’s what I said, but why did I say it? Eye consciousness arises dependent on the eye and sights. The meeting of the three is contact. Contact is a requirement for feeling. Ear consciousness arises dependent on the ear and sounds. The meeting of the three is contact. Contact is a requirement for feeling. Nose consciousness arises dependent on the nose and smells. The meeting of the three is contact. Contact is a requirement for feeling. Tongue consciousness arises dependent on the tongue and tastes. The meeting of the three is contact. Contact is a requirement for feeling. Body consciousness arises dependent on the body and touches. The meeting of the three is contact. Contact is a requirement for feeling. Mind consciousness arises dependent on the mind and ideas. The meeting of the three is contact. Contact is a requirement for feeling. ‘The six classes of feeling should be understood.’ That’s what I said, and this is why I said it. This is the fifth set of six.
‘Sáu thân thọ cần phải được biết’ – lời này đã được nói ra. Do duyên vào đâu mà lời này được nói? Do duyên con mắt và các sắc, nhãn thức sanh khởi; sự hội tụ của ba pháp là xúc; do duyên xúc, thọ sanh khởi; do duyên lỗ tai và các tiếng, nhĩ thức sanh khởi; sự hội tụ của ba pháp là xúc; do duyên xúc, thọ sanh khởi; do duyên lỗ mũi và các mùi, tỷ thức sanh khởi; sự hội tụ của ba pháp là xúc; do duyên xúc, thọ sanh khởi; do duyên lưỡi và các vị, thiệt thức sanh khởi; sự hội tụ của ba pháp là xúc; do duyên xúc, thọ sanh khởi; do duyên thân và các vật xúc chạm, thân thức sanh khởi; sự hội tụ của ba pháp là xúc; do duyên xúc, thọ sanh khởi; do duyên ý và các pháp, ý thức sanh khởi; sự hội tụ của ba pháp là xúc; do duyên xúc, thọ sanh khởi. ‘Sáu thân thọ cần phải được biết’ – lời đã được nói ra ấy là do duyên vào điều này mà được nói. Đây là nhóm sáu thứ năm.
‘Cha taṇhākāyā veditabbā’ti—iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Cakkhuñca paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso, phassapaccayā vedanā, vedanāpaccayā taṇhā; sotañca paṭicca sadde ca uppajjati sotaviññāṇaṁ …pe… ghānañca paṭicca gandhe ca uppajjati ghānaviññāṇaṁ … jivhañca paṭicca rase ca uppajjati jivhāviññāṇaṁ … kāyañca paṭicca phoṭṭhabbe ca uppajjati kāyaviññāṇaṁ … manañca paṭicca dhamme ca uppajjati manoviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso, phassapaccayā vedanā, vedanāpaccayā taṇhā. ‘Cha taṇhākāyā veditabbā’ti—iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ. Idaṁ chaṭṭhaṁ chakkaṁ.
‘The six classes of craving should be understood.’ That’s what I said, but why did I say it? Eye consciousness arises dependent on the eye and sights. The meeting of the three is contact. Contact is a requirement for feeling. Feeling is a requirement for craving. Ear consciousness … Nose consciousness … Tongue consciousness … Body consciousness … Mind consciousness arises dependent on the mind and ideas. The meeting of the three is contact. Contact is a requirement for feeling. Feeling is a requirement for craving. ‘The six classes of craving should be understood.’ That’s what I said, and this is why I said it. This is the sixth set of six.
‘Sáu thân ái cần phải được biết’ – lời này đã được nói ra. Do duyên vào đâu mà lời này được nói? Do duyên con mắt và các sắc, nhãn thức sanh khởi; sự hội tụ của ba pháp là xúc; do duyên xúc, thọ sanh khởi; do duyên thọ, ái sanh khởi; do duyên lỗ tai và các tiếng, nhĩ thức sanh khởi... cho đến... do duyên lỗ mũi và các mùi, tỷ thức sanh khởi... do duyên lưỡi và các vị, thiệt thức sanh khởi... do duyên thân và các vật xúc chạm, thân thức sanh khởi... do duyên ý và các pháp, ý thức sanh khởi; sự hội tụ của ba pháp là xúc; do duyên xúc, thọ sanh khởi; do duyên thọ, ái sanh khởi. ‘Sáu thân ái cần phải được biết’ – lời đã được nói ra ấy là do duyên vào điều này mà được nói. Đây là nhóm sáu thứ sáu.
‘Cakkhu attā’ti yo vadeyya taṁ na upapajjati. Cakkhussa uppādopi vayopi paññāyati. Yassa kho pana uppādopi vayopi paññāyati, ‘attā me uppajjati ca veti cā’ti iccassa evamāgataṁ hoti. Tasmā taṁ na upapajjati: ‘cakkhu attā’ti yo vadeyya. Iti cakkhu anattā.
If anyone says, ‘the eye is self,’ that is not tenable. The arising and vanishing of the eye is evident, so it would follow that one’s self arises and vanishes. That’s why it’s not tenable to claim that the eye is self. So the eye is not self.
422. Nếu có người nói: ‘Con mắt là tự ngã’, điều ấy không hợp lý. Sự sanh khởi và sự hoại diệt của con mắt được biết rõ. Và đối với cái gì mà sự sanh khởi và sự hoại diệt được biết rõ, thì đối với người ấy sẽ đi đến kết luận rằng: ‘Tự ngã của ta sanh khởi và hoại diệt’. Vì thế, điều ấy không hợp lý, nếu có người nói: ‘Con mắt là tự ngã’. Do đó, con mắt là vô ngã.
‘Rūpā attā’ti yo vadeyya taṁ na upapajjati. Rūpānaṁ uppādopi vayopi paññāyati. Yassa kho pana uppādopi vayopi paññāyati, ‘attā me uppajjati ca veti cā’ti iccassa evamāgataṁ hoti. Tasmā taṁ na upapajjati: ‘rūpā attā’ti yo vadeyya. Iti cakkhu anattā, rūpā anattā.
If anyone says, ‘sights are self,’ that is not tenable. The arising and vanishing of sights is evident, so it would follow that one’s self arises and vanishes. That’s why it’s not tenable to claim that sights are self. So the eye is not self and sights are not self.
Nếu có người nói: ‘Các sắc là tự ngã’, điều ấy không hợp lý. Sự sanh khởi và sự hoại diệt của các sắc được biết rõ. Và đối với cái gì mà sự sanh khởi và sự hoại diệt được biết rõ, thì đối với người ấy sẽ đi đến kết luận rằng: ‘Tự ngã của ta sanh khởi và hoại diệt’. Vì thế, điều ấy không hợp lý, nếu có người nói: ‘Các sắc là tự ngã’. Do đó, con mắt là vô ngã, các sắc là vô ngã.
‘Cakkhuviññāṇaṁ attā’ti yo vadeyya taṁ na upapajjati. Cakkhuviññāṇassa uppādopi vayopi paññāyati. Yassa kho pana uppādopi vayopi paññāyati, ‘attā me uppajjati ca veti cā’ti iccassa evamāgataṁ hoti. Tasmā taṁ na upapajjati: ‘cakkhuviññāṇaṁ attā’ti yo vadeyya. Iti cakkhu anattā, rūpā anattā, cakkhuviññāṇaṁ anattā.
If anyone says, ‘eye consciousness is self,’ that is not tenable. The arising and vanishing of eye consciousness is evident, so it would follow that one’s self arises and vanishes. That’s why it’s not tenable to claim that eye consciousness is self. So the eye, sights, and eye consciousness are not self.
Nếu có người nói: ‘Nhãn thức là tự ngã’, điều ấy không hợp lý. Sự sanh khởi và sự hoại diệt của nhãn thức được biết rõ. Và đối với cái gì mà sự sanh khởi và sự hoại diệt được biết rõ, thì đối với người ấy sẽ đi đến kết luận rằng: ‘Tự ngã của ta sanh khởi và hoại diệt’. Vì thế, điều ấy không hợp lý, nếu có người nói: ‘Nhãn thức là tự ngã’. Do đó, con mắt là vô ngã, các sắc là vô ngã, nhãn thức là vô ngã.
‘Cakkhusamphasso attā’ti yo vadeyya taṁ na upapajjati. Cakkhusamphassassa uppādopi vayopi paññāyati. Yassa kho pana uppādopi vayopi paññāyati, ‘attā me uppajjati ca veti cā’ti iccassa evamāgataṁ hoti. Tasmā taṁ na upapajjati: ‘cakkhusamphasso attā’ti yo vadeyya. Iti cakkhu anattā, rūpā anattā, cakkhuviññāṇaṁ anattā, cakkhusamphasso anattā.
If anyone says, ‘eye contact is self,’ that is not tenable. The arising and vanishing of eye contact is evident, so it would follow that one’s self arises and vanishes. That’s why it’s not tenable to claim that eye contact is self. So the eye, sights, eye consciousness, and eye contact are not self.
Nếu có người nói: ‘Nhãn xúc là tự ngã’, điều ấy không hợp lý. Sự sanh khởi và sự hoại diệt của nhãn xúc được biết rõ. Và đối với cái gì mà sự sanh khởi và sự hoại diệt được biết rõ, thì đối với người ấy sẽ đi đến kết luận rằng: ‘Tự ngã của ta sanh khởi và hoại diệt’. Vì thế, điều ấy không hợp lý, nếu có người nói: ‘Nhãn xúc là tự ngã’. Do đó, con mắt là vô ngã, các sắc là vô ngã, nhãn thức là vô ngã, nhãn xúc là vô ngã.
‘Vedanā attā’ti yo vadeyya taṁ na upapajjati. Vedanāya uppādopi vayopi paññāyati. Yassa kho pana uppādopi vayopi paññāyati, ‘attā me uppajjati ca veti cā’ti iccassa evamāgataṁ hoti. Tasmā taṁ na upapajjati: ‘vedanā attā’ti yo vadeyya. Iti cakkhu anattā, rūpā anattā, cakkhuviññāṇaṁ anattā, cakkhusamphasso anattā, vedanā anattā.
If anyone says, ‘feeling is self,’ that is not tenable. The arising and vanishing of feeling is evident, so it would follow that one’s self arises and vanishes. That’s why it’s not tenable to claim that feeling is self. So the eye, sights, eye consciousness, eye contact, and feeling are not self.
Nếu có người nói: ‘Thọ là tự ngã’, điều ấy không hợp lý. Sự sanh khởi và sự hoại diệt của thọ được biết rõ. Và đối với cái gì mà sự sanh khởi và sự hoại diệt được biết rõ, thì đối với người ấy sẽ đi đến kết luận rằng: ‘Tự ngã của ta sanh khởi và hoại diệt’. Vì thế, điều ấy không hợp lý, nếu có người nói: ‘Thọ là tự ngã’. Do đó, con mắt là vô ngã, các sắc là vô ngã, nhãn thức là vô ngã, nhãn xúc là vô ngã, thọ là vô ngã.
‘Taṇhā attā’ti yo vadeyya taṁ na upapajjati. Taṇhāya uppādopi vayopi paññāyati. Yassa kho pana uppādopi vayopi paññāyati, ‘attā me uppajjati ca veti cā’ti iccassa evamāgataṁ hoti. Tasmā taṁ na upapajjati: ‘taṇhā attā’ti yo vadeyya. Iti cakkhu anattā, rūpā anattā, cakkhuviññāṇaṁ anattā, cakkhusamphasso anattā, vedanā anattā, taṇhā anattā.
If anyone says, ‘craving is self,’ that is not tenable. The arising and vanishing of craving is evident, so it would follow that one’s self arises and vanishes. That’s why it’s not tenable to claim that craving is self. So the eye, sights, eye consciousness, eye contact, feeling, and craving are not self.
Nếu có người nói: ‘Ái là tự ngã’, điều ấy không hợp lý. Sự sanh khởi và sự hoại diệt của ái được biết rõ. Và đối với cái gì mà sự sanh khởi và sự hoại diệt được biết rõ, thì đối với người ấy sẽ đi đến kết luận rằng: ‘Tự ngã của ta sanh khởi và hoại diệt’. Vì thế, điều ấy không hợp lý, nếu có người nói: ‘Ái là tự ngã’. Do đó, con mắt là vô ngã, các sắc là vô ngã, nhãn thức là vô ngã, nhãn xúc là vô ngã, thọ là vô ngã, ái là vô ngã.
‘Sotaṁ attā’ti yo vadeyya …pe… ‘ghānaṁ attā’ti yo vadeyya …pe… ‘jivhā attā’ti yo vadeyya …pe… ‘kāyo attā’ti yo vadeyya …pe… ‘mano attā’ti yo vadeyya taṁ na upapajjati. Manassa uppādopi vayopi paññāyati. Yassa kho pana uppādopi vayopi paññāyati, ‘attā me uppajjati ca veti cā’ti iccassa evamāgataṁ hoti. Tasmā taṁ na upapajjati: ‘mano attā’ti yo vadeyya. Iti mano anattā.
If anyone says, ‘the ear is self’ … ‘the nose is self’ … ‘the tongue is self’ … ‘the body is self’ … ‘the mind is self,’ that is not tenable. The arising and vanishing of the mind is evident, so it would follow that one’s self arises and vanishes. That’s why it’s not tenable to claim that the mind is self. So the mind is not self.
423. Nếu có người nói: ‘Lỗ tai là tự ngã’... cho đến... ‘Lỗ mũi là tự ngã’... ‘Lưỡi là tự ngã’... ‘Thân là tự ngã’... ‘Ý là tự ngã’, điều ấy không hợp lý. Sự sanh khởi và sự hoại diệt của ý được biết rõ. Và đối với cái gì mà sự sanh khởi và sự hoại diệt được biết rõ, thì đối với người ấy sẽ đi đến kết luận rằng: ‘Tự ngã của ta sanh khởi và hoại diệt’. Vì thế, điều ấy không hợp lý, nếu có người nói: ‘Ý là tự ngã’. Do đó, ý là vô ngã.
‘Dhammā attā’ti yo vadeyya taṁ na upapajjati. Dhammānaṁ uppādopi vayopi paññāyati. Yassa kho pana uppādopi vayopi paññāyati, ‘attā me uppajjati ca veti cā’ti iccassa evamāgataṁ hoti. Tasmā taṁ na upapajjati: ‘dhammā attā’ti yo vadeyya. Iti mano anattā, dhammā anattā.
If anyone says, ‘ideas are self’ …
Nếu có người nói: ‘Các pháp là tự ngã’, điều ấy không hợp lý. Sự sanh khởi và sự hoại diệt của các pháp được biết rõ. Và đối với cái gì mà sự sanh khởi và sự hoại diệt được biết rõ, thì đối với người ấy sẽ đi đến kết luận rằng: ‘Tự ngã của ta sanh khởi và hoại diệt’. Vì thế, điều ấy không hợp lý, nếu có người nói: ‘Các pháp là tự ngã’. Do đó, ý là vô ngã, các pháp là vô ngã.
“Nếu có người nói rằng: ‘Ý thức là tự ngã’, điều ấy không hợp lý. Sự sanh khởi và sự hoại diệt của ý thức được biết đến. Và đối với cái gì mà sự sanh khởi và sự hoại diệt được biết đến, thì sẽ đi đến kết luận rằng: ‘Tự ngã của ta sanh khởi và hoại diệt’. Do đó, điều ấy không hợp lý, nếu có người nói rằng: ‘Ý thức là tự ngã’. Như vậy, ý là vô ngã, các pháp là vô ngã, ý thức là vô ngã.
“Nếu có người nói rằng: ‘Ý xúc là tự ngã’, điều ấy không hợp lý. Sự sanh khởi và sự hoại diệt của ý xúc được biết đến. Và đối với cái gì mà sự sanh khởi và sự hoại diệt được biết đến, thì sẽ đi đến kết luận rằng: ‘Tự ngã của ta sanh khởi và hoại diệt’. Do đó, điều ấy không hợp lý, nếu có người nói rằng: ‘Ý xúc là tự ngã’. Như vậy, ý là vô ngã, các pháp là vô ngã, ý thức là vô ngã, ý xúc là vô ngã.
“Nếu có người nói rằng: ‘Thọ là tự ngã’, điều ấy không hợp lý. Sự sanh khởi và sự hoại diệt của thọ được biết đến. Và đối với cái gì mà sự sanh khởi và sự hoại diệt được biết đến, thì sẽ đi đến kết luận rằng: ‘Tự ngã của ta sanh khởi và hoại diệt’. Do đó, điều ấy không hợp lý, nếu có người nói rằng: ‘Thọ là tự ngã’. Như vậy, ý là vô ngã, các pháp là vô ngã, ý thức là vô ngã, ý xúc là vô ngã, thọ là vô ngã.
“Nếu có người nói rằng: ‘Ái là tự ngã’, điều ấy không hợp lý. Sự sanh khởi và sự hoại diệt của ái được biết đến. Và đối với cái gì mà sự sanh khởi và sự hoại diệt được biết đến, thì sẽ đi đến kết luận rằng: ‘Tự ngã của ta sanh khởi và hoại diệt’. Do đó, điều ấy không hợp lý, nếu có người nói rằng: ‘Ái là tự ngã’. Như vậy, ý là vô ngã, các pháp là vô ngã, ý thức là vô ngã, ý xúc là vô ngã, thọ là vô ngã, ái là vô ngã.
Ayaṁ kho pana, bhikkhave, sakkāyasamudayagāminī paṭipadā—cakkhuṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati;
rūpe ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati; cakkhuviññāṇaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati; cakkhusamphassaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati; vedanaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati; taṇhaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati; sotaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati …pe… ghānaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati …pe… jivhaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati …pe… kāyaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati …pe… manaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati, dhamme ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati, manoviññāṇaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati, manosamphassaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati, vedanaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati, taṇhaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati.
Now, mendicants, this is the practice that leads to the origin of substantial reality. You regard the eye like this: ‘This is mine, I am this, this is my self.’
You regard sights … eye consciousness … eye contact … feeling … craving like this: ‘This is mine, I am this, this is my self.’ You regard the ear … nose … tongue … body … mind … ideas … mind consciousness … mind contact … feeling … craving like this: ‘This is mine, I am this, this is my self.’
424. “Này các Tỳ khưu, đây là con đường đưa đến sự sanh khởi của thân kiến: vị ấy quán xét mắt rằng: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'; các sắc rằng: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'; nhãn thức rằng: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'; nhãn xúc rằng: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'; thọ rằng: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'; ái rằng: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'; tai rằng: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'...; mũi rằng: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'...; lưỡi rằng: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'...; thân rằng: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'...; ý rằng: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi', các pháp rằng: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi', ý thức rằng: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi', ý xúc rằng: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi', thọ rằng: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi', ái rằng: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'.
Ayaṁ kho pana, bhikkhave, sakkāyanirodhagāminī paṭipadā—cakkhuṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati.
Rūpe ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati. Cakkhuviññāṇaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati. Cakkhusamphassaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati. Vedanaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati. Taṇhaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati. Sotaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati …pe… ghānaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati …pe… jivhaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati …pe… kāyaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati …pe… manaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati. Dhamme ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati. Manoviññāṇaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati. Manosamphassaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati. Vedanaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati. Taṇhaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati.
But this is the practice that leads to the cessation of substantial reality. You regard the eye like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’
You regard sights … eye consciousness … eye contact … feeling … craving like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ You regard the ear … nose … tongue … body … mind like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ You regard ideas … mind consciousness … mind contact … feeling … craving like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’
“Này các Tỳ khưu, đây là con đường đưa đến sự đoạn diệt của thân kiến: vị ấy quán xét mắt rằng: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'; các sắc rằng: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'; nhãn thức rằng: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'; nhãn xúc rằng: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'; thọ rằng: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'; ái rằng: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'; tai rằng: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'...; mũi rằng: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'...; lưỡi rằng: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'...; thân rằng: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'...; ý rằng: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'; các pháp rằng: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'; ý thức rằng: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'; ý xúc rằng: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'; thọ rằng: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'; ái rằng: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'.
Cakkhuñca, bhikkhave, paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso, phassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā. So sukhāya vedanāya phuṭṭho samāno abhinandati abhivadati ajjhosāya tiṭṭhati. Tassa rāgānusayo anuseti. Dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno socati kilamati paridevati urattāḷiṁ kandati sammohaṁ āpajjati. Tassa paṭighānusayo anuseti. Adukkhamasukhāya vedanāya phuṭṭho samāno tassā vedanāya samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ nappajānāti. Tassa avijjānusayo anuseti. So vata, bhikkhave, sukhāya vedanāya rāgānusayaṁ appahāya dukkhāya vedanāya paṭighānusayaṁ appaṭivinodetvā adukkhamasukhāya vedanāya avijjānusayaṁ asamūhanitvā avijjaṁ appahāya vijjaṁ anuppādetvā diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro bhavissatīti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Eye consciousness arises dependent on the eye and sights. The meeting of the three is contact. Contact is a requirement for the arising of what is felt as pleasant, painful, or neutral. When you experience a pleasant feeling, if you approve, welcome, and keep clinging to it, the underlying tendency to greed underlies that. When you experience a painful feeling, if you sorrow and wail and lament, beating your breast and falling into confusion, the underlying tendency to aversion underlies that. When you experience a neutral feeling, if you don’t truly understand that feeling’s origin, disappearance, gratification, drawback, and escape, the underlying tendency to ignorance underlies that. Mendicants, without giving up the underlying tendency to greed for pleasant feeling, without dispelling the underlying tendency to aversion toward painful feeling, without eradicating ignorance in the case of neutral feeling, without giving up ignorance and without giving rise to knowledge, it is quite impossible to make an end of suffering in this very life.
425. “Này các Tỳ khưu, do duyên con mắt và các sắc, nhãn thức sanh khởi; sự gặp gỡ của ba pháp là xúc; do duyên xúc, thọ sanh khởi, hoặc lạc, hoặc khổ, hoặc không khổ không lạc. Vị ấy, khi được cảm xúc bởi lạc thọ, hoan hỷ, tán dương, và an trú trong sự tham đắm. Tùy miên tham ái tiềm ẩn nơi vị ấy. Khi được cảm xúc bởi khổ thọ, vị ấy sầu muộn, mệt mỏi, than khóc, đấm ngực kêu la, đi đến mê loạn. Tùy miên sân hận tiềm ẩn nơi vị ấy. Khi được cảm xúc bởi thọ không khổ không lạc, vị ấy không biết như thật về sự sanh khởi, sự diệt tận, vị ngọt, sự nguy hại, và sự xuất ly của thọ ấy. Tùy miên vô minh tiềm ẩn nơi vị ấy. Này các Tỳ khưu, thật vậy, vị ấy, do không từ bỏ tùy miên tham ái đối với lạc thọ, không loại trừ tùy miên sân hận đối với khổ thọ, không nhổ lên tùy miên vô minh đối với thọ không khổ không lạc, không từ bỏ vô minh, không làm cho minh sanh khởi, mà có thể chấm dứt khổ đau ngay trong hiện tại -- trường hợp này không xảy ra.”
Sotañca, bhikkhave, paṭicca sadde ca uppajjati sotaviññāṇaṁ …pe… ghānañca, bhikkhave, paṭicca gandhe ca uppajjati ghānaviññāṇaṁ …pe… jivhañca, bhikkhave, paṭicca rase ca uppajjati jivhāviññāṇaṁ …pe… kāyañca, bhikkhave, paṭicca phoṭṭhabbe ca uppajjati kāyaviññāṇaṁ …pe… manañca, bhikkhave, paṭicca dhamme ca uppajjati manoviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso, phassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā. So sukhāya vedanāya phuṭṭho samāno abhinandati abhivadati ajjhosāya tiṭṭhati. Tassa rāgānusayo anuseti. Dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno socati kilamati paridevati urattāḷiṁ kandati sammohaṁ āpajjati. Tassa paṭighānusayo anuseti. Adukkhamasukhāya vedanāya phuṭṭho samāno tassā vedanāya samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ nappajānāti. Tassa avijjānusayo anuseti. So vata, bhikkhave, sukhāya vedanāya rāgānusayaṁ appahāya dukkhāya vedanāya paṭighānusayaṁ appaṭivinodetvā adukkhamasukhāya vedanāya avijjānusayaṁ asamūhanitvā avijjaṁ appahāya vijjaṁ anuppādetvā diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro bhavissatīti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Ear consciousness … Nose consciousness … Tongue consciousness … Body consciousness … Mind consciousness arises dependent on the mind and ideas. The meeting of the three is contact. Contact is a requirement for the arising of what is felt as pleasant, painful, or neutral. When you experience a pleasant feeling, if you approve, welcome, and keep clinging to it, the underlying tendency to greed underlies that. When you experience a painful feeling, if you sorrow and wail and lament, beating your breast and falling into confusion, the underlying tendency to aversion underlies that. When you experience a neutral feeling, if you don’t truly understand that feeling’s origin, disappearance, gratification, drawback, and escape, the underlying tendency to ignorance underlies that. Mendicants, without giving up the underlying tendency to greed for pleasant feeling, without dispelling the underlying tendency to aversion toward painful feeling, without eradicating ignorance in the case of neutral feeling, without giving up ignorance and without giving rise to knowledge, it is quite impossible to make an end of suffering in this very life.
“Này các Tỳ khưu, do duyên lỗ tai và các tiếng, nhĩ thức sanh khởi... Tương tự... Này các Tỳ khưu, do duyên lỗ mũi và các mùi, tỷ thức sanh khởi... Tương tự... Này các Tỳ khưu, do duyên lưỡi và các vị, thiệt thức sanh khởi... Tương tự... Này các Tỳ khưu, do duyên thân và các vật xúc chạm, thân thức sanh khởi... Tương tự... Này các Tỳ khưu, do duyên ý và các pháp, ý thức sanh khởi; sự gặp gỡ của ba pháp là xúc; do duyên xúc, thọ sanh khởi, hoặc lạc, hoặc khổ, hoặc không khổ không lạc. Vị ấy, khi được cảm xúc bởi lạc thọ, hoan hỷ, tán dương, và an trú trong sự tham đắm. Tùy miên tham ái tiềm ẩn nơi vị ấy. Khi được cảm xúc bởi khổ thọ, vị ấy sầu muộn, mệt mỏi, than khóc, đấm ngực kêu la, đi đến mê loạn. Tùy miên sân hận tiềm ẩn nơi vị ấy. Khi được cảm xúc bởi thọ không khổ không lạc, vị ấy không biết như thật về sự sanh khởi, sự diệt tận, vị ngọt, sự nguy hại, và sự xuất ly của thọ ấy. Tùy miên vô minh tiềm ẩn nơi vị ấy. Này các Tỳ khưu, thật vậy, vị ấy, do không từ bỏ tùy miên tham ái đối với lạc thọ, không loại trừ tùy miên sân hận đối với khổ thọ, không nhổ lên tùy miên vô minh đối với thọ không khổ không lạc, không từ bỏ vô minh, không làm cho minh sanh khởi, mà có thể chấm dứt khổ đau ngay trong hiện tại -- trường hợp này không xảy ra.”
Cakkhuñca, bhikkhave, paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso, phassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā. So sukhāya vedanāya phuṭṭho samāno nābhinandati nābhivadati nājjhosāya tiṭṭhati. Tassa rāgānusayo nānuseti. Dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno na socati na kilamati na paridevati na urattāḷiṁ kandati na sammohaṁ āpajjati. Tassa paṭighānusayo nānuseti. Adukkhamasukhāya vedanāya phuṭṭho samāno tassā vedanāya samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ pajānāti. Tassa avijjānusayo nānuseti. So vata, bhikkhave, sukhāya vedanāya rāgānusayaṁ pahāya dukkhāya vedanāya paṭighānusayaṁ paṭivinodetvā adukkhamasukhāya vedanāya avijjānusayaṁ samūhanitvā avijjaṁ pahāya vijjaṁ uppādetvā diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro bhavissatīti—ṭhānametaṁ vijjati.
Sotañca, bhikkhave, paṭicca sadde ca uppajjati sotaviññāṇaṁ …pe….
Eye consciousness arises dependent on the eye and sights. The meeting of the three is contact. Contact is a requirement for the arising of what is felt as pleasant, painful, or neutral. When you experience a pleasant feeling, if you don’t approve, welcome, and keep clinging to it, the underlying tendency to greed does not underlie that. When you experience a painful feeling, if you don’t sorrow or wail or lament, beating your breast and falling into confusion, the underlying tendency to aversion does not underlie that. When you experience a neutral feeling, if you truly understand that feeling’s origin, disappearance, gratification, drawback, and escape, the underlying tendency to ignorance does not underlie that. Mendicants, after giving up the underlying tendency to greed for pleasant feeling, after dispelling the underlying tendency to aversion toward painful feeling, after eradicating ignorance in the case of neutral feeling, after giving up ignorance and giving rise to knowledge, it’s quite possible to make an end of suffering in this very life.
Ear consciousness …
426. “Này các Tỳ khưu, do duyên con mắt và các sắc, nhãn thức sanh khởi; sự gặp gỡ của ba pháp là xúc; do duyên xúc, thọ sanh khởi, hoặc lạc, hoặc khổ, hoặc không khổ không lạc. Vị ấy, khi được cảm xúc bởi lạc thọ, không hoan hỷ, không tán dương, không an trú trong sự tham đắm. Tùy miên tham ái không tiềm ẩn nơi vị ấy. Khi được cảm xúc bởi khổ thọ, vị ấy không sầu muộn, không mệt mỏi, không than khóc, không đấm ngực kêu la, không đi đến mê loạn. Tùy miên sân hận không tiềm ẩn nơi vị ấy. Khi được cảm xúc bởi thọ không khổ không lạc, vị ấy biết như thật về sự sanh khởi, sự diệt tận, vị ngọt, sự nguy hại, và sự xuất ly của thọ ấy. Tùy miên vô minh không tiềm ẩn nơi vị ấy. Này các Tỳ khưu, thật vậy, vị ấy, do từ bỏ tùy miên tham ái đối với lạc thọ, loại trừ tùy miên sân hận đối với khổ thọ, nhổ lên tùy miên vô minh đối với thọ không khổ không lạc, từ bỏ vô minh, làm cho minh sanh khởi, mà có thể chấm dứt khổ đau ngay trong hiện tại -- trường hợp này xảy ra.”
Ghānañca, bhikkhave, paṭicca gandhe ca uppajjati ghānaviññāṇaṁ …pe….
Nose consciousness …
“Này các Tỳ khưu, do duyên lỗ mũi và các mùi, tỷ thức sanh khởi... Tương tự...”
Jivhañca, bhikkhave, paṭicca rase ca uppajjati jivhāviññāṇaṁ …pe….
Tongue consciousness …
“Này các Tỳ khưu, do duyên lưỡi và các vị, thiệt thức sanh khởi... Tương tự...”
Kāyañca, bhikkhave, paṭicca phoṭṭhabbe ca uppajjati kāyaviññāṇaṁ …pe….
Body consciousness …
“Này các Tỳ khưu, do duyên thân và các vật xúc chạm, thân thức sanh khởi... Tương tự...”
“Manañca, bhikkhave, paṭicca dhamme ca uppajjati manoviññāṇaṁ tiṇṇaṁ saṅgati phasso, phassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā. So sukhāya vedanāya phuṭṭho samāno nābhinandati nābhivadati nājjhosāya tiṭṭhati. Tassa rāgānusayo nānuseti. Dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno na socati na kilamati na paridevati na urattāḷiṁ kandati na sammohaṁ āpajjati. Tassa paṭighānusayo nānuseti. Adukkhamasukhāya vedanāya phuṭṭho samāno tassā vedanāya samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ pajānāti. Tassa avijjānusayo nānuseti. So vata, bhikkhave, sukhāya vedanāya rāgānusayaṁ pahāya dukkhāya vedanāya paṭighānusayaṁ paṭivinodetvā adukkhamasukhāya vedanāya avijjānusayaṁ samūhanitvā avijjaṁ pahāya vijjaṁ uppādetvā diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro bhavissatīti—ṭhānametaṁ vijjati.
Mind consciousness arises dependent on the mind and ideas. The meeting of the three is contact. Contact is a requirement for what is felt as pleasant, painful, or neutral. When you experience a pleasant feeling, if you don’t approve, welcome, and keep clinging to it, the underlying tendency to greed does not underlie that. When you experience a painful feeling, if you don’t sorrow or wail or lament, beating your breast and falling into confusion, the underlying tendency to aversion does not underlie that. When you experience a neutral feeling, if you truly understand that feeling’s origin, disappearance, gratification, drawback, and escape, the underlying tendency to ignorance does not underlie that. Mendicants, after giving up the underlying tendency to greed for pleasant feeling, after dispelling the underlying tendency to aversion toward painful feeling, after eradicating ignorance in the case of neutral feeling, after giving up ignorance and giving rise to knowledge, it’s quite possible to make an end of suffering in this very life.
“Này các Tỳ khưu, do duyên ý và các pháp, ý thức sanh khởi; sự gặp gỡ của ba pháp là xúc; do duyên xúc, thọ sanh khởi, hoặc lạc, hoặc khổ, hoặc không khổ không lạc. Vị ấy, khi được cảm xúc bởi lạc thọ, không hoan hỷ, không tán dương, không an trú trong sự tham đắm. Tùy miên tham ái không tiềm ẩn nơi vị ấy. Khi được cảm xúc bởi khổ thọ, vị ấy không sầu muộn, không mệt mỏi, không than khóc, không đấm ngực kêu la, không đi đến mê loạn. Tùy miên sân hận không tiềm ẩn nơi vị ấy. Khi được cảm xúc bởi thọ không khổ không lạc, vị ấy biết như thật về sự sanh khởi, sự diệt tận, vị ngọt, sự nguy hại, và sự xuất ly của thọ ấy. Tùy miên vô minh không tiềm ẩn nơi vị ấy. Này các Tỳ khưu, thật vậy, vị ấy, do từ bỏ tùy miên tham ái đối với lạc thọ, loại trừ tùy miên sân hận đối với khổ thọ, nhổ lên tùy miên vô minh đối với thọ không khổ không lạc, từ bỏ vô minh, làm cho minh sanh khởi, mà có thể chấm dứt khổ đau ngay trong hiện tại -- trường hợp này xảy ra.”
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako cakkhusmiṁ nibbindati, rūpesu nibbindati, cakkhuviññāṇe nibbindati, cakkhusamphasse nibbindati, vedanāya nibbindati, taṇhāya nibbindati.
Sotasmiṁ nibbindati, saddesu nibbindati …pe… ghānasmiṁ nibbindati, gandhesu nibbindati … jivhāya nibbindati, rasesu nibbindati … kāyasmiṁ nibbindati, phoṭṭhabbesu nibbindati … manasmiṁ nibbindati, dhammesu nibbindati, manoviññāṇe nibbindati, manosamphasse nibbindati, vedanāya nibbindati, taṇhāya nibbindati. Nibbindaṁ virajjati, virāgā vimuccati. Vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānātī”ti.
Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with the eye, sights, eye consciousness, eye contact, feeling, and craving.
They grow disillusioned with the ear … nose … tongue … body … mind, ideas, mind consciousness, mind contact, feeling, and craving. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When it is freed, they know it is freed.
They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’”
427. “Này các Tỳ khưu, khi thấy như vậy, vị Thánh đệ tử có học thức nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với nhãn thức, nhàm chán đối với nhãn xúc, nhàm chán đối với cảm thọ, nhàm chán đối với ái. Vị ấy nhàm chán đối với tai, nhàm chán đối với các tiếng ...v.v... nhàm chán đối với mũi, nhàm chán đối với các mùi ... nhàm chán đối với lưỡi, nhàm chán đối với các vị ... nhàm chán đối với thân, nhàm chán đối với các xúc ... nhàm chán đối với ý, nhàm chán đối với các pháp, nhàm chán đối với ý thức, nhàm chán đối với ý xúc, nhàm chán đối với cảm thọ, nhàm chán đối với ái. Do nhàm chán nên vị ấy ly tham, do ly tham nên được giải thoát. Trong sự giải thoát, khởi lên trí tuệ rằng: ‘Đã được giải thoát’. Vị ấy biết rõ: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’”
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti. Imasmiṁ kho pana veyyākaraṇasmiṁ bhaññamāne saṭṭhimattānaṁ bhikkhūnaṁ anupādāya āsavehi cittāni vimucciṁsūti.
That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said. And while this discourse was being spoken, the minds of sixty mendicants were freed from defilements by not grasping.
Thế Tôn đã thuyết như vậy. Các Tỳ khưu ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy. Và trong khi bài pháp văn xuôi này được thuyết giảng, tâm của khoảng sáu mươi vị Tỳ khưu đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ.
Chachakkasuttaṁ niṭṭhitaṁ chaṭṭhaṁ.
Kinh Sáu Sáu, kinh thứ sáu, dứt điểm.