- Majjhima Nikāya 147
Cūḷarāhulovādasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Cūḷarāhulovādasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời, Thế Tôn ở Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà lâm) tại tinh xá ông Anāthapiṇḍika.
SC 2Rồi Thế Tôn trong khi nhàn tịnh độc cư, khởi lên tư niệm sau đây: “Ðã thuần thục là những pháp đã đưa đến giải thoát cho Rāhula. Vậy Ta hãy huấn luyện Rāhula hơn nữa trong sự đoạn tận các lậu hoặc”. Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Sāvatthi để khất thực. Sau khi đi khất thực ở Sāvatthi, sau buổi ăn, trên con đường đi khất thực trở về, Thế Tôn cho gọi Tôn giả Rāhula và nói
SC 3—Này Rāhula, hãy cầm tọa cụ, chúng ta sẽ đi đến Andhavana để nghỉ ban ngày.
SC 4—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 5Tôn giả Rāhula vâng đáp Thế Tôn, cầm lấy tọa cụ và đi theo sau lưng Thế Tôn.
SC 6Lúc bấy giờ, hàng ngàn chư Thiên đi theo Thế Tôn và nghĩ rằng: “Hôm nay, Thế Tôn sẽ huấn luyện cho Tôn giả Rāhula hơn nữa trong sự đoạn tận các lậu hoặc”.
SC 7Rồi Thế Tôn đi sâu vào rừng Andhavana và ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn dưới một gốc cây. Tôn giả Rāhula đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Rāhula đang ngồi một bên
SC 8—Này Rāhula, Ông nghĩ thế nào? Con mắt là thường hay vô thường?
SC 9—Bạch Thế Tôn, là vô thường.
SC 10—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
SC 11—Bạch Thế Tôn, là khổ.
SC 12—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, thời có hợp lý chăng khi quán cái ấy: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
SC 13—Thưa không vậy, bạch Thế Tôn.
SC 14Này Rāhula. Ông nghĩ thế nào? Sắc là thường hay vô thường? … Nhãn thức là thường hay vô thường? … Nhãn xúc là thường hay vô thường? …? Do duyên nhãn xúc này, được khởi lên thọ, tưởng, hành, thức; các pháp được khởi lên ấy là thường hay vô thường?
SC 15—Bạch Thế Tôn, là vô thường.
SC 16—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
SC 17—Bạch Thế Tôn, là khổ.
SC 18—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, thời có hợp lý chăng khi quán cái ấy: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi?”
SC 19—Thưa không vậy, bạch Thế Tôn.
SC 20—Này Rāhula, Ông nghĩ thế nào? Tai là thường hay vô thường? … Mũi là thường hay vô thường? … Lưỡi là thường hay vô thường? … Thân là thường hay vô thường … Ý là thường hay vô thường? … Pháp là thường hay vô thường? … Ý thức là thường hay vô thường? … Ý xúc là thường hay vô thường? … Do duyên ý xúc này, được khởi lên thọ, tưởng, hành, thức; các pháp được khởi lên ấy là thường hay vô thường?
SC 21—Bạch Thế Tôn, là vô thường.
SC 22—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
SC 23—Bạch Thế Tôn, là khổ.
SC 24—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, thời có hợp lý chăng khi quán cái ấy: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
SC 25—Thưa không vậy, bạch Thế Tôn.
SC 26—Này Rāhula, do thấy vậy, vị Ða văn Thánh đệ tử yếm ly con mắt, yếm ly các sắc, yếm ly nhãn thức, yếm ly nhãn xúc, do duyên nhãn xúc này, được khởi lên thọ, tưởng, hành, thức. Vị ấy yếm ly pháp được khởi lên ấy. Vị ấy yếm ly tai, yếm ly các tiếng … yếm ly mũi, yếm ly các hương … yếm ly các hương … yếm ly lưỡi, yếm ly các vị … yếm ly thân, yếm ly các xúc, … yếm ly ý, yếm ly các pháp, yếm ly ý thức, yếm ly ý xúc. Do duyên ý xúc này, được khởi lên thọ, tưởng, hành, thức. Vị ấy yếm ly các pháp được khởi lên ấy. Do yếm ly, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát là sự hiểu biết: “Ta đã được giải thoát ”. Và vị ấy biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
SC 27Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Rāhula, hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy. Trong khi sự thuyết giảng này được nói lên, tâm của Tôn giả Rāhula được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ. Và đối với hàng ngàn chư Thiên ấy, được khởi lên pháp nhãn ly trần, vô cấu: “Phàm cái gì được khởi lên, tất cả đều bị diệt tận”.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). 15-07-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
5. Kinh Tiểu Giáo Giới Rāhula
Atha kho bhagavato rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi: “paripakkā kho rāhulassa vimuttiparipācanīyā dhammā. Yannūnāhaṁ rāhulaṁ uttariṁ āsavānaṁ khaye vineyyan”ti.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiṁ piṇḍāya pāvisi.
Sāvatthiyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto āyasmantaṁ rāhulaṁ āmantesi: “gaṇhāhi, rāhula, nisīdanaṁ; yena andhavanaṁ tenupasaṅkamissāma divāvihārāyā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā rāhulo bhagavato paṭissutvā nisīdanaṁ ādāya bhagavantaṁ piṭṭhito piṭṭhito anubandhi.
Then as he was in private retreat this thought came to his mind, “The qualities that ripen in freedom have ripened in Rāhula. Why don’t I lead him further to the ending of defilements?”
Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, entered Sāvatthī for alms.
Then, after the meal, on his return from almsround, he addressed Venerable Rāhula, “Rāhula, get your sitting cloth. Let’s go to the Dark Forest for the day’s meditation.”
“Yes, sir,” replied Rāhula. Taking his sitting cloth he followed behind the Buddha.
416. Tôi nghe như vầy: Một thời Thế Tôn ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Bấy giờ, khi Thế Tôn đang ở một mình nơi thanh vắng, một tư duy như sau đã khởi lên trong tâm Ngài: “Các pháp đưa đến giải thoát của Rāhula đã thuần thục. Ta nên giáo huấn Rāhula thêm nữa để đoạn tận các lậu hoặc.” Khi ấy, vào buổi sáng, Thế Tôn đắp y, mang bát và y, vào thành Sāvatthī để khất thực. Sau khi đi khất thực ở Sāvatthī, lúc trở về, sau bữa ăn, Ngài gọi Tôn giả Rāhula: “Này Rāhula, hãy lấy tọa cụ. Chúng ta sẽ đi đến rừng Andhavana để nghỉ ban ngày.” “Vâng, bạch Thế Tôn,” Tôn giả Rāhula vâng đáp Thế Tôn, rồi lấy tọa cụ và đi theo sau lưng Thế Tôn.
Tena kho pana samayena anekāni devatāsahassāni bhagavantaṁ anubandhāni honti: “ajja bhagavā āyasmantaṁ rāhulaṁ uttariṁ āsavānaṁ khaye vinessatī”ti.
Atha kho bhagavā andhavanaṁ ajjhogāhetvā aññatarasmiṁ rukkhamūle paññatte āsane nisīdi. Āyasmāpi kho rāhulo bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ rāhulaṁ bhagavā etadavoca:
Now at that time many thousands of deities followed the Buddha, thinking, “Today the Buddha will lead Rāhula further to the ending of defilements!”
Then the Buddha plunged deep into the Dark Forest and sat at the root of a tree on the seat spread out. Rāhula bowed to the Buddha and sat down to one side. The Buddha said to him:
Vào lúc ấy, nhiều ngàn vị chư thiên đã đi theo Thế Tôn, nghĩ rằng: “Hôm nay Thế Tôn sẽ giáo huấn Tôn giả Rāhula thêm nữa để đoạn tận các lậu hoặc.” Bấy giờ, Thế Tôn đi sâu vào rừng Andhavana và ngồi xuống trên tọa cụ đã được trải sẵn dưới một gốc cây. Tôn giả Rāhula cũng đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi Tôn giả Rāhula đang ngồi một bên, Thế Tôn đã nói với vị ấy điều này:
“Taṁ kiṁ maññasi, rāhula, cakkhu niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ: ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Taṁ kiṁ maññasi, rāhula, rūpā niccā vā aniccā vā”ti?
“Aniccā, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ: ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Taṁ kiṁ maññasi, rāhula, cakkhuviññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ: ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Taṁ kiṁ maññasi, rāhula, cakkhusamphasso nicco vā anicco vā”ti?
“Anicco, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ: ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Taṁ kiṁ maññasi, rāhula, yamidaṁ cakkhusamphassapaccayā uppajjati vedanāgataṁ saññāgataṁ saṅkhāragataṁ viññāṇagataṁ tampi niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ: ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“What do you think, Rāhula? Is the eye permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.”
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
“Suffering, sir.”
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”
“No, sir.”
“What do you think, Rāhula? Are sights permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.”
“But if they’re impermanent, are they suffering or happiness?”
“Suffering, sir.”
“But if they’re impermanent, suffering, and perishable, are they fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”
“No, sir.”
“What do you think, Rāhula? Is eye consciousness permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.”
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
“Suffering, sir.”
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”
“No, sir.”
“What do you think, Rāhula? Is eye contact permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.”
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
“Suffering, sir.”
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”
“No, sir.”
“What do you think, Rāhula? Anything included in feeling, perception, choices, and consciousness that arises dependent on eye contact: is that permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.”
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
“Suffering, sir.”
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”
“No, sir.”
417. “Này Rāhula, con nghĩ thế nào về điều này, con mắt là thường hay vô thường?” – “Bạch Thế Tôn, là vô thường.” – “Cái gì vô thường, là khổ hay lạc?” – “Bạch Thế Tôn, là khổ.” – “Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, có thích hợp để xem xét rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ không?” – “Bạch Thế Tôn, không phải vậy.” – “Này Rāhula, con nghĩ thế nào về điều này, các sắc là thường hay vô thường?” – “Bạch Thế Tôn, là vô thường.” – “Cái gì vô thường, là khổ hay lạc?” – “Bạch Thế Tôn, là khổ.” – “Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, có thích hợp để xem xét rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ không?” – “Bạch Thế Tôn, không phải vậy.” – “Này Rāhula, con nghĩ thế nào về điều này, nhãn thức là thường hay vô thường?” – “Bạch Thế Tôn, là vô thường.” – “Cái gì vô thường, là khổ hay lạc?” – “Bạch Thế Tôn, là khổ.” – “Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, có thích hợp để xem xét rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ không?” – “Bạch Thế Tôn, không phải vậy.” – “Này Rāhula, con nghĩ thế nào về điều này, nhãn xúc là thường hay vô thường?” – “Bạch Thế Tôn, là vô thường.” – “Cái gì vô thường, là khổ hay lạc?” – “Bạch Thế Tôn, là khổ.” – “Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, có thích hợp để xem xét rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ không?” – “Bạch Thế Tôn, không phải vậy.” – “Này Rāhula, con nghĩ thế nào về điều này, bất cứ cái gì thuộc về thọ, thuộc về tưởng, thuộc về hành, thuộc về thức sanh khởi do duyên nhãn xúc, cái ấy cũng là thường hay vô thường?” – “Bạch Thế Tôn, là vô thường.” – “Cái gì vô thường, là khổ hay lạc?” – “Bạch Thế Tôn, là khổ.” – “Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, có thích hợp để xem xét rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ không?” – “Bạch Thế Tôn, không phải vậy.”
“Taṁ kiṁ maññasi rāhula, sotaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti? “Aniccaṁ, bhante …pe… ghānaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti? “Aniccaṁ, bhante …pe… jivhā niccā vā aniccā vā”ti? “Aniccā, bhante … kāyo nicco vā anicco vā”ti? “Anicco, bhante … mano nicco vā anicco vā”ti?
“Anicco, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ: ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Taṁ kiṁ maññasi rāhula, dhammā niccā vā aniccā vā”ti?
“Aniccā, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ: ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Taṁ kiṁ maññasi rāhula, manoviññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ: ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Taṁ kiṁ maññasi rāhula, manosamphasso nicco vā anicco vā”ti?
“Anicco, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ: ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Taṁ kiṁ maññasi, rāhula, yamidaṁ manosamphassapaccayā uppajjati vedanāgataṁ saññāgataṁ saṅkhāragataṁ viññāṇagataṁ, tampi niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ: ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“What do you think, Rāhula? Is the ear … nose … tongue … body … mind permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.”
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
“Suffering, sir.”
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”
“No, sir.”
“What do you think, Rāhula? Are ideas permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.”
“But if they’re impermanent, are they suffering or happiness?”
“Suffering, sir.”
“But if they’re impermanent, suffering, and perishable, are they fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”
“No, sir.”
“What do you think, Rāhula? Is mind consciousness permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.”
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
“Suffering, sir.”
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”
“No, sir.”
“What do you think, Rāhula? Is mind contact permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.”
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
“Suffering, sir.”
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”
“No, sir.”
“What do you think, Rāhula? Anything included in feeling, perception, choices, and consciousness that arises dependent on mind contact: is that permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.”
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
“Suffering, sir.”
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”
“No, sir.”
418. “Này Rāhula, con nghĩ thế nào về điều này, cái tai là thường hay vô thường?” – “Bạch Thế Tôn, là vô thường.” … vân vân … “cái mũi là thường hay vô thường?” – “Bạch Thế Tôn, là vô thường.” … vân vân … “cái lưỡi là thường hay vô thường?” – “Bạch Thế Tôn, là vô thường.” … vân vân … “thân là thường hay vô thường?” – “Bạch Thế Tôn, là vô thường.” … vân vân … “ý là thường hay vô thường?” – “Bạch Thế Tôn, là vô thường.” – “Cái gì vô thường, là khổ hay lạc?” – “Bạch Thế Tôn, là khổ.” – “Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, có thích hợp để xem xét rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ không?” – “Bạch Thế Tôn, không phải vậy.” – “Này Rāhula, con nghĩ thế nào về điều này, các pháp là thường hay vô thường?” – “Bạch Thế Tôn, là vô thường.” – “Cái gì vô thường, là khổ hay lạc?” – “Bạch Thế Tôn, là khổ.” – “Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, có thích hợp để xem xét rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ không?” – “Bạch Thế Tôn, không phải vậy.” – “Này Rāhula, con nghĩ thế nào về điều này, ý thức là thường hay vô thường?” – “Bạch Thế Tôn, là vô thường.” – “Cái gì vô thường, là khổ hay lạc?” – “Bạch Thế Tôn, là khổ.” – “Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, có thích hợp để xem xét rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ không?” – “Bạch Thế Tôn, không phải vậy.” – “Này Rāhula, con nghĩ thế nào về điều này, ý xúc là thường hay vô thường?” – “Bạch Thế Tôn, là vô thường.” – “Cái gì vô thường, là khổ hay lạc?” – “Bạch Thế Tôn, là khổ.” – “Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, có thích hợp để xem xét rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ không?” – “Bạch Thế Tôn, không phải vậy.” – “Này Rāhula, con nghĩ thế nào về điều này, bất cứ cái gì thuộc về thọ, thuộc về tưởng, thuộc về hành, thuộc về thức sanh khởi do duyên ý xúc, cái ấy cũng là thường hay vô thường?” – “Bạch Thế Tôn, là vô thường.” – “Cái gì vô thường, là khổ hay lạc?” – “Bạch Thế Tôn, là khổ.” – “Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, có thích hợp để xem xét rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ không?” – “Bạch Thế Tôn, không phải vậy.”
“Evaṁ passaṁ, rāhula, sutavā ariyasāvako cakkhusmiṁ nibbindati, rūpesu nibbindati, cakkhuviññāṇe nibbindati, cakkhusamphasse nibbindati, yamidaṁ cakkhusamphassapaccayā uppajjati vedanāgataṁ saññāgataṁ saṅkhāragataṁ viññāṇagataṁ tasmimpi nibbindati. Sotasmiṁ nibbindati, saddesu nibbindati …pe… ghānasmiṁ nibbindati, gandhesu nibbindati … jivhāya nibbindati, rasesu nibbindati … kāyasmiṁ nibbindati, phoṭṭhabbesu nibbindati … manasmiṁ nibbindati, dhammesu nibbindati, manoviññāṇe nibbindati, manosamphasse nibbindati, yamidaṁ manosamphassapaccayā uppajjati vedanāgataṁ saññāgataṁ saṅkhāragataṁ viññāṇagataṁ tasmimpi nibbindati. Nibbindaṁ virajjati, virāgā vimuccati. Vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānātī”ti.
“Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with the eye, sights, eye consciousness, and eye contact. And they grow disillusioned with anything included in feeling, perception, choices, and consciousness that arises dependent on eye contact. They grow disillusioned with the ear … nose … tongue … body … mind, ideas, mind consciousness, and mind contact. And they grow disillusioned with anything included in feeling, perception, choices, and consciousness that arises dependent on mind contact. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed.
They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’”
419. “Này Rāhula, vị Thánh đệ tử có nghe nhiều, khi thấy như vậy, liền nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với nhãn thức, nhàm chán đối với nhãn xúc, và do duyên nhãn xúc này sanh khởi bất cứ cảm thọ, tưởng, hành, thức nào, vị ấy cũng nhàm chán đối với các pháp ấy. Vị ấy nhàm chán đối với tai, nhàm chán đối với các tiếng... (tương tự)... nhàm chán đối với mũi, nhàm chán đối với các mùi... nhàm chán đối với lưỡi, nhàm chán đối với các vị... nhàm chán đối với thân, nhàm chán đối với các vật xúc chạm... nhàm chán đối với ý, nhàm chán đối với các pháp, nhàm chán đối với ý thức, nhàm chán đối với ý xúc, và do duyên ý xúc này sanh khởi bất cứ cảm thọ, tưởng, hành, thức nào, vị ấy cũng nhàm chán đối với các pháp ấy. Do nhàm chán nên vị ấy ly tham. Do ly tham nên được giải thoát. Trong sự giải thoát, khởi lên trí tuệ: ‘Ta đã được giải thoát’. Vị ấy biết rõ: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa’.”
Idamavoca bhagavā. Attamano āyasmā rāhulo bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti. Imasmiñca pana veyyākaraṇasmiṁ bhaññamāne āyasmato rāhulassa anupādāya āsavehi cittaṁ vimucci.
Tāsañca anekānaṁ devatāsahassānaṁ virajaṁ vītamalaṁ dhammacakkhuṁ udapādi: “yaṁ kiñci samudayadhammaṁ sabbaṁ taṁ nirodhadhamman”ti.
That is what the Buddha said. Satisfied, Venerable Rāhula approved what the Buddha said. And while this discourse was being spoken, Rāhula’s mind was freed from defilements by not grasping.
And the stainless, immaculate vision of the Dhamma arose in those thousands of deities: “Everything that is liable to arise is liable to cease.”
Thế Tôn đã thuyết giảng như vậy. Tôn giả Rāhula hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn. Và trong khi bài pháp này được thuyết giảng, tâm của Tôn giả Rāhula, do không còn chấp thủ, đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc. Và đối với nhiều ngàn vị chư thiên, pháp nhãn không trần, không cấu uế đã sanh khởi: ‘Phàm pháp gì có tánh sanh khởi, tất cả pháp ấy đều có tánh đoạn diệt’.
Cūḷarāhulovādasuttaṁ niṭṭhitaṁ pañcamaṁ.
Kinh Tiểu Giáo Giới Rāhula, bài thứ năm, đ kết thúc.