- Majjhima Nikāya 146
Nandakovādasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Nandakovādasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà-lâm), tại tinh xá ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).
SC 2Rồi Mahāpajāpati Gotama cùng với khoảng năm trăm Tỷ-kheo-ni đi đến bên Thế Tôn; sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Mahāpajāpati Gotama bạch Thế Tôn
SC 3—Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy giáo giới cho Tỷ-kheo-ni! Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy giảng dạy cho Tỷ-kheo-ni! Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp cho Tỷ-kheo-ni!
SC 4Lúc bấy giờ, các Thượng tọa (Trưởng lão) Tỷ-kheo thay phiên giáo giới Tỷ-kheo-ni. Nhưng Tôn giả Nandaka không muốn thay phiên giáo giới Tỷ-kheo-ni. Rồi Thế Tôn cho gọi Tôn giả Ānanda và nói
SC 5—Này Ānanda, hôm nay đến phiên ai giáo giới Tỷ-kheo-ni?
SC 6—Bạch Thế Tôn, chính là phiên của Nandaka thay phiên giáo giới Tỷ-kheo-ni. Bạch Thế Tôn, Tôn giả Nandaka không muốn thay phiên giáo giới Tỷ-kheo-ni.
SC 7Rồi Thế Tôn cho gọi Tôn giả Nandaka
SC 8—Này Nandaka, hãy giáo giới Tỷ-kheo-ni! Này Nandaka, hãy giảng dạy Tỷ-kheo-ni! Này Bà-la-môn, hãy thuyết pháp cho Tỷ-kheo-ni!
SC 9—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 10Tôn giả Nandaka ấy vâng đáp Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Sāvatthi để khất thực. Sau khi khất thực ở Sāvatthi xong, sau buổi ăn, trên con đường khất thực trở về, không có người thứ hai cùng đi, đi đến Rajakarama (Vương Tự). Các Tỷ-kheo-ni ấy thấy Tôn giả Nandaka từ xa đi đến, sau khi thấy liền sửa soạn chỗ ngồi và sắp đặt nước rửa chân. Tôn giả Nandaka ngồi trên chỗ ngồi đã soạn sẵn; sau khi ngồi, liền rửa chân. Các Tỷ-kheo-ni ấy sau khi đảnh lễ Tôn giả Nandaka, liền ngồi xuống một bên. Tôn giả Nandaka nói với các Tỷ-kheo-ni đang ngồi một bên
SC 11—Các Hiền tỷ, sẽ có cuộc luận thuyết bằng cách đặt câu hỏi. Ở đây, những ai biết, hãy trả lời: “Tôi biết”. Những ai không biết, hãy trả lời: “Tôi không biết”. Nếu có ai nghi ngờ hay nghi hoặc, ở đây, ta cần được hỏi như sau: “Thưa Tôn giả, sự việc này là thế nào? Ý nghĩa việc này là gì?”
SC 12—Thưa Tôn giả, cho đến đây, chúng con rất hoan hỷ và thỏa mãn với Tôn giả Nandaka, vì rằng Tôn giả đã mời chúng con (hỏi).
SC 13—Các Hiền tỷ, các Hiền tỷ nghĩ thế nào? Mắt là thường hay vô thường?
SC 14—Thưa Tôn giả, vô thường.
SC 15—Cái gì vô thường, là khổ hay lạc?
SC 16—Thưa Tôn giả, là khổ.
SC 17—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, thời có hợp lý chăng khi xem cái ấy: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
SC 18—Thưa không vậy, Tôn giả.
SC 19—Các Hiền tỷ, các Hiền tỷ nghĩ thế nào? Tai là thường hay vô thường? … Mũi là thường hay vô thường? … Lưỡi là thường hay vô thường? Thân là thường hay vô thường? … Ý là thường hay vô thường?
SC 20—Thưa Tôn giả, vô thường
SC 21—Cái gì vô thường, là khổ hay lạc?
SC 22—Thưa Tôn giả, là khổ.
SC 23—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, thời có hợp lý chăng khi quán cái ấy: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
SC 24—Thưa không vậy, Tôn giả. Vì sao vậy? Trước đây, thưa Tôn giả, chúng con đã khéo thấy như chơn, với chánh trí tuệ rằng: “Sáu nội xứ này là vô thường”.
SC 25—Lành thay, lành thay, các Hiền tỷ! Chính phải là như vậy, là cái nhìn như chơn, với chánh trí tuệ của vị Thánh đệ tử. Chư Hiền tỷ, các Hiền tỷ nghĩ thế nào? Sắc là thường hay vô thường?
SC 26—Thưa Tôn giả, vô thường
SC 27—Cái gì vô thường, là khổ hay lạc?
SC 28—Thưa Tôn giả, là khổ.
SC 29—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, thời có hợp lý chăng khi quán cái ấy: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
SC 30—Thưa không vậy, Tôn giả.
SC 31—Chư Hiền tỷ, các Hiền tỷ nghĩ thế nào? Tiếng là thường hay vô thường? … Hương là thường hay vô thường? … Vị là thường hay vô thường? … Xúc là thường hay vô thường? … Pháp là thường hay vô thường?
SC 32—Thưa Tôn giả, vô thường.
SC 33—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
SC 34—Thưa Tôn giả, là khổ.
SC 35—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, thời có hợp lý chăng khi quán cái ấy: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
SC 36—Thưa không vậy, Tôn giả. Vì sao vậy? Trước đây, thưa Tôn giả, chúng con đã khéo thấy như chơn, với chánh trí tuệ rằng: “Sáu ngoại xứ này là vô thường”.
SC 37—Lành thay, lành thay, các Hiền tỷ! Chính phải là như vậy, là cái nhìn như chơn, với chánh trí tuệ của vị Thánh đệ tử. Chư Hiền tỷ, các Hiền tỷ nghĩ thế nào? Nhãn thức là thường hay vô thường?
SC 38—Thưa Tôn giả, vô thường.
SC 39—Cái gì vô thường, là khổ hay lạc?
SC 40—Thưa Tôn giả, là khổ.
SC 41—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, thời có hợp lý chăng khi quán cái ấy: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
SC 42—Thưa không vậy, Tôn giả.
SC 43—Này các Hiền tỷ, nhĩ thức là thường hay vô thường?
SC 44—Thưa Tôn giả, vô thường.
SC 45—Tỷ thức là thường hay vô thường?
SC 46—Thưa Tôn giả, vô thường.
SC 47—Thân thức là thường hay vô thường?
SC 48—Thưa Tôn giả, vô thường.
SC 49—Ý thức là thường hay vô thường?
SC 50—Thưa Tôn giả, vô thường.
SC 51—Cái gì vô thường, là khổ hay lạc?
SC 52—Thưa Tôn giả, là khổ.
SC 53—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, thời có hợp lý chăng khi quán cái ấy: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
SC 54—Thưa không vậy, Tôn giả. Vì sao vậy? Trước đây, thưa Tôn giả, chúng con đã khéo thấy như chơn, với chánh trí tuệ rằng: “Sáu thức thân này là vô thường”.
SC 55—Lành thay, lành thay, chư Hiền tỷ! Chính phải là như vậy, là cái nhìn như chơn, với chánh trí tuệ của vị Thánh đệ tử. Ví như, chư Hiền tỷ, một ngọn đèn dầu được đốt cháy; dầu là vô thường, chịu sự biến hoại; bấc là vô thường, chịu sự biến hoại; ngọn lửa là vô thường, chịu sự biến hoại; ánh sáng là vô thường, chịu sự biến hoại. Chư Hiền tỷ, nếu có ai nói rằng: “Ngọn đèn dầu này được đốt cháy; dầu là vô thường, chịu sự biến hoại; bấc là vô thường, chịu sự biến hoại; ngọn lửa là vô thường, chịu sự biến hoại; nhưng ánh sáng ấy là thường còn, thường trú, thường hằng không chịu sự biến hoại”; chư Hiền tỷ, nói như vậy là có nói chân chánh không?
SC 56—Thưa không vậy, Tôn giả. Vì sao vậy? Thưa Tôn giả, ngọn đèn dầu này được đốt cháy; dầu là vô thường, chịu sự biến hoại; bấc cũng là vô thường, chịu sự biến hoại; ngọn lửa cũng là vô thường, chịu sự biến hoại. Còn nói gì đến ánh sáng, cũng là vô thường, chịu sự biến hoại!
SC 57—Như vậy là phải, này các Hiền tỷ! Nếu có ai nói như sau: “Sáu ngoại xứ này là vô thường, và do duyên sáu ngoại xứ này, tôi có cảm thọ, lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ; cảm thọ ấy là thường còn, thường trú, thường hằng, không chịu sự biến hoại”; này các Hiền tỷ, người ấy có nói một cách chân chánh không?
SC 58—Thưa không, thưa Tôn giả. Vì sao vậy? Thưa Tôn giả, do duyên cái này, cái này cảm thọ như thế này, như thế này khởi lên. Do diệt các duyên như thế này, như thế này, các cảm thọ như thế này, như thế này cũng biến diệt.
SC 59—Lành thay, lành thay, các Hiền tỷ! Chính phải là như vậy, là cái nhìn như chơn với chánh trí tuệ của vị Thánh đệ tử. Ví như, này các Hiền tỷ, có cây to lớn đứng thẳng, có lõi cây, với rễ vô thường, chịu sự biến hoại, với thân cây vô thường, chịu sự biến hoại, với cành lá vô thường, chịu sự biến hoại, với bóng cây vô thường, chịu sự biến hoại. Nếu có người nói như sau: “Có cây lớn đứng thẳng có lõi cây này, với rễ vô thường, chịu sự biến hoại, với thân cây vô thường, chịu sự biến hoại, với cành lá vô thường, chịu sự biến hoại, nhưng bóng mát của cây ấy là thường còn, thường trú, thường hằng, không chịu biến hoại”; này các Hiền tỷ, người ấy có nói một cách chân chánh không?
SC 60—Thưa không, thưa Tôn giả. Vì sao vậy? Thưa Tôn giả, cây to lớn đứng thẳng có lõi cây này, có rễ vô thường, chịu sự biến hoại, có thân cây vô thường; chịu sự biến hoại, có cành lá vô thường, chịu sự biến hoại. Còn nói gì đến bóng mát, cũng là vô thường, chịu sự biến hoại!
SC 61—Như vậy là phải, này chư Hiền tỷ! Nếu có ai nói như sau: “Sáu nội xứ này là vô thường, và do duyên sáu ngoại xứ này tôi cảm thọ, lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ; cảm thọ ấy là thường còn, thường trú, thường hằng, không chịu sự biến hoại”; này các Hiền tỷ, người ấy có nói chân chánh không?
SC 62—Thưa không, thưa Tôn giả. Vì sao vậy? Thưa Tôn giả, do duyên cái này, cái này, cảm thọ như thế này, như thế này khởi lên. Do diệt các duyên như thế này, như thế này, các cảm thọ như thế này, như thế này cũng biến diệt.
SC 63—Lành thay, lành thay, chư Hiền tỷ! Chính phải là như vậy, là cái nhìn như chơn với chánh trí tuệ của vị Thánh đệ tử. Ví như, này các Hiền tỷ, một người đồ tể giết bò thiện xảo hay người đệ tử; sau khi giết con bò, cắt con bò với con dao sắc bén của người đồ tể giết bò, mà không hư hại phần thịt ở trong, không hư hại phần da ngoài, rồi với con dao sắc bén của người đồ tể giết bò, cắt đứt, cắt đoạn, cắt tiệt mọi dây thịt phía trong; dây gân phía trong, dây khớp xương phía trong; sau khi cắt đứt, cắt đoạn, cắt tiệt và sau khi lột da ngoài, lại bao trùm con bò ấy với chính da bò ấy rồi nói: “Con bò này đã được dính liền với da này như trước”; này các Hiền tỷ, nói như vậy có nói một cách chơn chánh không? ”
SC 64—Thưa không, thưa Tôn giả. Vì sao vậy? Dầu cho, thưa Tôn giả, người đồ tể giết bò thiện xảo ấy hay người đệ tử sau khi giết con bò … lại bao trùm con bò ấy với chính da bò ấy lại có thể nói như sau: “Con bò này đã được dính liền với da này như trước”, con bò này đã bị lột ra khỏi da ấy.
SC 65—Ta làm ví dụ này, này các Hiền tỷ, là để nêu rõ ý nghĩa. Ở đây, ý nghĩa này như sau: Chư Hiền tỷ, thịt ở trong là đồng nghĩa với sáu nội xứ. Chư Hiền tỷ, da ở ngoài là đồng nghĩa với sáu ngoại xứ, Chư Hiền tỷ, dây thịt phía trong, dây gân phía trong, dây khớp xương phía trong là đồng nghĩa với dục hỷ và tham. Chư Hiền tỷ, con dao đồ tể giết bò sắc bén là đồng nghĩa với Thánh trí tuệ. Với Thánh trí tuệ này cắt đứt, cắt đoạn, cắt tiệt nội phiền não, nội kiết sử, nội triền phược.
SC 66Chư Hiền tỷ, có bảy giác chi, do tu tập, làm cho sung mãn bảy giác chi này, vị Tỷ-kheo với sự đoạn tận các lậu hoặc, tự mình chứng tri ngay trong hiện tại với thượng trí; chứng đạt và an trú, vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Thế nào là bảy? Ở đây, chư Hiền tỷ, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi, y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt, hướng đến từ bỏ; tu tập trạch pháp giác chi, tu tập tinh tấn giác chi, tu tập hỷ giác chi, tu tập khinh an giác chi, tu tập định giác chi, tu tập xả giác chi, y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Chư Hiền tỷ, bảy giác chi này, do tu tập, làm cho sung mãn, Tỷ-kheo với sự đoạn tận các lậu hoặc, sau khi tự mình chứng tri ngay trong hiện tại, với thượng trí chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
SC 67Rồi Tôn giả Nandaka, sau khi giáo giới các Tỷ-kheo ni ấy với lời giáo giới, liền cho giải tán—Chư Hiền tỷ, hãy đi về, giờ đã đến rồi.
SC 68Rồi các Tỷ-kheo ni ấy, sau khi hoan hỷ tín thọ lời Tôn giả Nandaka dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Tôn giả Nandaka, thân phía hữu hướng về Tôn giả, rồi đi đến Thế Tôn; sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo-ni ấy đang đứng một bên—Này các Tỷ-kheo-ni, hãy đi. Giờ đã đến rồi.
SC 69Rồi các Tỷ-kheo-ni ấy, sau khi đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi ra đi. Rồi Thế Tôn, sau khi các Tỷ-kheo-ni ấy ra đi không bao lâu, gọi các vị Tỷ-kheo và nói
SC 70—Này các Tỷ-kheo, ví như vào ngày Bố-tát, ngày mười bốn, quần chúng không có nghi ngờ hay nghi hoặc rằng mặt trăng là không tròn hay mặt trăng là tròn vì khi ấy mặt trăng chưa tròn; cũng vậy, này các Tỷ-kheo, dầu cho các Tỷ-kheo-ni ấy hoan hỷ với bài thuyết pháp của Nandaka, nhưng tâm trí của họ chưa được thỏa mãn.
SC 71Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Nandaka
SC 72—Vậy này Nandaka, ngày mai, Ông sẽ giáo giới cho các Tỷ-kheo-ni ấy với bài giáo giới.
SC 73—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 74Tôn giả Nandaka vâng đáp Thế Tôn.
SC 75Rồi Tôn giả Nandaka, sau khi đêm ấy đã mãn, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Sāvatthi (Xá-vệ) để khất thực. Sau khi đi khất thực ở Sāvatthi xong, sau buổi ăn, trên con đường đi khất thực trở về, tự thân một mình đi đến Rajarama. Các vị Tỷ-kheo-ni ấy thấy Tôn giả Nandaka từ xa đi lại; sau khi thấy, liền sửa soạn chỗ ngồi và sắp đặt nước rửa chân. Tôn giả Nandaka ngồi trên chỗ đã soạn sẵn; sau khi ngồi, liền rửa chân. Các vị Tỷ-kheo-ni ấy đảnh lễ Tôn giả Nandaka rồi ngồi xuống một bên. Tôn giả Nandaka nói với các Tỷ-kheo-ni ấy đang ngồi một bên
SC 76—Các Hiền tỷ, sẽ có cuộc luận thuyết bằng cách đặt câu hỏi. Ở đây, những ai biết hãy trả lời: “Tôi biết”. Những ai không biết, hãy trả lời “Tôi không biết”. Nếu ai có nghi ngờ hay do dự, ở đây, ta cần được hỏi như sau: “Thưa Tôn giả, sự việc này là thế nào? ” Ý nghĩa việc này là gì?”
SC 77—Thưa Tôn giả, cho đến đây, chúng con rất hoan hỷ và thỏa mãn với Tôn giả Nandaka, vì rằng Tôn giả đã mời chúng con (hỏi)!
SC 78—Chư Hiền tỷ, các Hiền tỷ nghĩ thế nào? Mắt là thường hay vô thường?
SC 79—Thưa Tôn giả, vô thường.
SC 80—Cái gì vô thường, là khổ hay lạc?
SC 81—Thưa Tôn giả, là khổ.
SC 82—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, thời có hợp lý chăng khi xem cái ấy: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
SC 83—Thưa không vậy, Tôn giả.
SC 84—Các Hiền tỷ, các Hiền tỷ nghĩ thế nào? Tai là thường hay vô thường? … Mũi là thường hay vô thường? … Lưỡi là thường hay vô thường? Thân là thường hay vô thường? … Ý là thường hay vô thường?
SC 85—Thưa Tôn giả, vô thường
SC 86—Cái gì vô thường, là khổ hay lạc?
SC 87—Thưa Tôn giả, là khổ.
SC 88—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, thời có hợp lý chăng khi quán cái ấy: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
SC 89—Thưa không vậy, Tôn giả. Vì sao vậy? Trước đây, thưa Tôn giả, chúng con đã khéo thấy như chơn, với chánh trí tuệ rằng: “Sáu nội xứ này là vô thường”.
SC 90—Lành thay, lành thay, các Hiền tỷ! Chính phải là như vậy, là cái nhìn như chơn, với chánh trí tuệ của vị Thánh đệ tử. Chư Hiền tỷ, các Hiền tỷ nghĩ thế nào? Sắc là thường hay vô thường?
SC 91—Thưa Tôn giả, vô thường
SC 92—Cái gì vô thường, là khổ hay lạc?
SC 93—Thưa Tôn giả, là khổ.
SC 94—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, thời có hợp lý chăng khi quán cái ấy: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
SC 95—Thưa không vậy, Tôn giả.
SC 96—Chư Hiền tỷ, các Hiền tỷ nghĩ thế nào? Tiếng là thường hay vô thường? … Hương là thường hay vô thường? … Vị là thường hay vô thường? … Xúc là thường hay vô thường? … Pháp là thường hay vô thường?
SC 97—Thưa Tôn giả, vô thường.
SC 98—Cái gì vô thường, là khổ hay lạc?
SC 99—Thưa Tôn giả, là khổ.
SC 100—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, thời có hợp lý chăng khi quán cái ấy: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
SC 101—Thưa không vậy, Tôn giả. Vì sao vậy? Trước đây, thưa Tôn giả, chúng con đã khéo thấy như chơn, với chánh trí tuệ rằng: “Sáu ngoại xứ này là vô thường”.
SC 102—Lành thay, lành thay, các Hiền tỷ! Chính phải là như vậy, là cái nhìn như chơn, với chánh trí tuệ của vị Thánh đệ tử. Chư Hiền tỷ, các Hiền tỷ nghĩ thế nào? Nhãn thức là thường hay vô thường?
SC 103—Thưa Tôn giả, vô thường
SC 104—Cái gì vô thường, là khổ hay lạc?
SC 105—Thưa Tôn giả, là khổ.
SC 106—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, thời có hợp lý chăng khi quán cái ấy: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
SC 107—Thưa không vậy, Tôn giả.
SC 108—Này các Hiền tỷ, nhĩ thức là thường hay vô thường?
SC 109—Thưa Tôn giả, vô thường.
SC 110—Tỷ thức là thường hay vô thường?
SC 111—Thưa Tôn giả, vô thường.
SC 112—Thân thức là thường hay vô thường?
SC 113—Thưa Tôn giả, vô thường.
SC 114—Ý thức là thường hay vô thường?
SC 115—Thưa Tôn giả, vô thường.
SC 116—Cái gì vô thường, là khổ hay lạc?
SC 117—Thưa Tôn giả, là khổ.
SC 118—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, thời có hợp lý chăng khi quán cái ấy: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
SC 119—Thưa không vậy, Tôn giả. Vì sao vậy? Trước đây, thưa Tôn giả, chúng con đã khéo thấy như chơn, với chánh trí tuệ rằng: “Sáu thức thân này là vô thường”.
SC 120—Lành thay, lành thay, chư Hiền tỷ! Chính phải là như vậy, là cái nhìn như chơn, với chánh trí tuệ của vị Thánh đệ tử. Ví như, chư Hiền tỷ, một ngọn đèn dầu được đốt cháy; dầu là vô thường, chịu sự biến hoại; bấc là vô thường, chịu sự biến hoại; ngọn lửa là vô thường, chịu sự biến hoại; ánh sáng là vô thường, chịu sự biến hoại. Chư Hiền tỷ, nếu có ai nói rằng: “Ngọn đèn dầu này được đốt cháy; dầu là vô thường, chịu sự biến hoại; bấc là vô thường, chịu sự biến hoại; ngọn lửa là vô thường, chịu sự biến hoại; nhưng ánh sáng ấy là thường còn, thường trú, thường hằng không chịu sự biến hoại”; chư Hiền tỷ, nói như vậy là có nói chân chánh không?
SC 121—Thưa không vậy, Tôn giả. Vì sao vậy? Thưa Tôn giả, ngọn đèn dầu này được đốt cháy; dầu là vô thường, chịu sự biến hoại; bấc cũng là vô thường, chịu sự biến hoại; ngọn lửa cũng là vô thường, chịu sự biến hoại. Còn nói gì đến ánh sáng, cũng là vô thường, chịu sự biến hoại!
SC 122—Như vậy là phải, này các Hiền tỷ! Nếu có ai nói như sau: “Sáu ngoại xứ này là vô thường, và do duyên sáu ngoại xứ này, tôi có cảm thọ, lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ; cảm thọ ấy là thường còn, thường trú, thường hằng, không chịu sự biến hoại”; này các Hiền tỷ, người ấy có nói một cách chân chánh không?
SC 123—Thưa không, thưa Tôn giả. Vì sao vậy? Thưa Tôn giả, do duyên cái này, cái này cảm thọ như thế này, như thế này khởi lên. Do diệt các duyên như thế này, như thế này, các cảm thọ như thế này, như thế này cũng biến diệt.
SC 124—Lành thay, lành thay, các Hiền tỷ! Chính phải là như vậy, là cái nhìn như chơn với chánh trí tuệ của vị Thánh đệ tử. Ví như, này các Hiền tỷ, có cây to lớn đứng thẳng, có lõi cây, với rễ vô thường, chịu sự biến hoại, với thân cây vô thường, chịu sự biến hoại, với cành lá vô thường, chịu sự biến hoại, với bóng cây vô thường, chịu sự biến hoại. Nếu có người nói như sau: “Có cây lớn đứng thẳng có lõi cây này, với rễ vô thường, chịu sự biến hoại, với thân cây vô thường, chịu sự biến hoại, với cành lá vô thường, chịu sự biến hoại, nhưng bóng mát của cây ấy là thường còn, thường trú, thường hằng, không chịu biến hoại”; này các Hiền tỷ, người ấy có nói một cách chân chánh không?
SC 125—Thưa không, thưa Tôn giả. Vì sao vậy? Thưa Tôn giả, cây to lớn đứng thẳng có lõi cây này, có rễ vô thường, chịu sự biến hoại, có thân cây vô thường; chịu sự biến hoại, có cành lá vô thường, chịu sự biến hoại. Còn nói gì đến bóng mát, cũng là vô thường, chịu sự biến hoại!
SC 126—Như vậy là phải, này chư Hiền tỷ! Nếu có ai nói như sau: “Sáu nội xứ này là vô thường, và do duyên sáu ngoại xứ này tôi cảm thọ, lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ; cảm thọ ấy là thường còn, thường trú, thường hằng, không chịu sự biến hoại”; này các Hiền tỷ, người ấy có nói chân chánh không?
SC 127—Thưa không, thưa Tôn giả. Vì sao vậy? Thưa Tôn giả, do duyên cái này, cái này, cảm thọ như thế này, như thế này khởi lên. Do diệt các duyên như thế này, như thế này, các cảm thọ như thế này, như thế này cũng biến diệt.
SC 128—Lành thay, lành thay, chư Hiền tỷ! Chính phải là như vậy, là cái nhìn như chơn với chánh trí tuệ của vị Thánh đệ tử. Ví như, này các Hiền tỷ, một người đồ tể giết bò thiện xảo hay người đệ tử; sau khi giết con bò, cắt con bò với con dao sắc bén của người đồ tể giết bò, mà không hư hại phần thịt ở trong, không hư hại phần da ngoài, rồi với con dao sắc bén của người đồ tể giết bò, cắt đứt, cắt đoạn, cắt tiệt mọi dây thịt phía trong; dây gân phía trong, dây khớp xương phía trong; sau khi cắt đứt, cắt đoạn, cắt tiệt và sau khi lột da ngoài, lại bao trùm con bò ấy với chính da bò ấy rồi nói: “Con bò này đã được dính liền với da này như trước”; này các Hiền tỷ, nói như vậy có nói một cách chơn chánh không? ”
SC 129—Thưa không, thưa Tôn giả. Vì sao vậy? Dầu cho, thưa Tôn giả, người đồ tể giết bò thiện xảo ấy hay người đệ tử sau khi giết con bò … lại bao trùm con bò ấy với chính da bò ấy lại có thể nói như sau: “Con bò này đã được dính liền với da này như trước”, con bò này đã bị lột ra khỏi da ấy.
SC 130—Ta làm ví dụ này, này các Hiền tỷ, là để nêu rõ ý nghĩa. Ở đây, ý nghĩa này như sau: Chư Hiền tỷ, thịt ở trong là đồng nghĩa với sáu nội xứ. Chư Hiền tỷ, da ở ngoài là đồng nghĩa với sáu ngoại xứ, Chư Hiền tỷ, dây thịt phía trong, dây gân phía trong, dây khớp xương phía trong là đồng nghĩa với dục hỷ và tham. Chư Hiền tỷ, con dao đồ tể giết bò sắc bén là đồng nghĩa với Thánh trí tuệ. Với Thánh trí tuệ này cắt đứt, cắt đoạn, cắt tiệt nội phiền não, nội kiết sử, nội triền phược.
SC 131Chư Hiền tỷ, có bảy giác chi, do tu tập, làm cho sung mãn bảy giác chi này, vị Tỷ-kheo với sự đoạn tận các lậu hoặc, tự mình chứng tri ngay trong hiện tại với thượng trí; chứng đạt và an trú, vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Thế nào là bảy? Ở đây, chư Hiền tỷ, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi, y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt, hướng đến từ bỏ; tu tập trạch pháp giác chi, tu tập tinh tấn giác chi, tu tập hỷ giác chi, tu tập khinh an giác chi, tu tập định giác chi, tu tập xả giác chi, y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Chư Hiền tỷ, bảy giác chi này, do tu tập, làm cho sung mãn, Tỷ-kheo với sự đoạn tận các lậu hoặc, sau khi tự mình chứng tri ngay trong hiện tại, với thượng trí chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
SC 132Rồi Tôn giả Nandaka, sau khi giáo giới các Tỷ-kheo ni ấy với lời giáo giới, liền cho giải tán—Chư Hiền tỷ, hãy đi về, giờ đã đến rồi.
SC 133Rồi các Tỷ-kheo ni ấy, sau khi hoan hỷ tín thọ lời Tôn giả Nandaka dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Tôn giả Nandaka, thân phía hữu hướng về Tôn giả, rồi đi đến Thế Tôn; sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo-ni ấy đang đứng một bên—Này các Tỷ-kheo-ni, hãy đi. Giờ đã đến rồi.
SC 134Thế Tôn, sau khi các Tỷ-kheo-ni ấy ra đi không bao lâu, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo và nói
SC 135—Này các Tỷ-kheo, ví như vào ngày Bố-tát, ngày rằm, quần chúng không có nghi ngờ hay phân vân rằng mặt trăng là không tròn hay mặt trăng là tròn, vì khi ấy mặt trăng đã tròn; cũng vậy, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo-ni ấy hoan hỷ với bài thuyết pháp của Tôn giả Anandaka, và tâm tư của họ được thỏa mãn. Này các Tỷ-kheo, trong năm trăm Tỷ-kheo-ni ấy, Tỷ-kheo-ni cuối cùng chứng được Dự lưu, không còn bị đọa lạc, và chắc chắn đạt đến chánh giác.
SC 136Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). 15–07–2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
4. Kinh Giáo Giới Nandaka
Atha kho mahāpajāpatigotamī pañcamattehi bhikkhunisatehi saddhiṁ yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhitā kho mahāpajāpatigotamī bhagavantaṁ etadavoca: “ovadatu, bhante, bhagavā bhikkhuniyo; anusāsatu, bhante, bhagavā bhikkhuniyo; karotu, bhante, bhagavā bhikkhunīnaṁ dhammiṁ kathan”ti.
Then Mahāpajāpati Gotamī together with around five hundred nuns approached the Buddha, bowed, stood to one side, and said to him, “Sir, may the Buddha please advise and instruct the nuns. Please give the nuns a Dhamma talk.”
398. Tôi nghe như vầy. Một thời, Thế Tôn trú tại Sāvatthī, trong vườn của ông Anāthapiṇḍika, tại Jetavana. Bấy giờ, bà Mahāpajāpatī Gotamī cùng với khoảng năm trăm Tỳ khưu ni đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, bà đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, bà Mahāpajāpatī Gotamī bạch với Thế Tôn rằng: “Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy giáo giới các Tỳ khưu ni; bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy chỉ dạy các Tỳ khưu ni; bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy thuyết một bài pháp cho các Tỳ khưu ni.”
Tena kho pana samayena therā bhikkhū bhikkhuniyo ovadanti pariyāyena. Āyasmā nandako na icchati bhikkhuniyo ovadituṁ pariyāyena.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi: “kassa nu kho, ānanda, ajja pariyāyo bhikkhuniyo ovadituṁ pariyāyenā”ti?
“Sabbeheva, bhante, kato pariyāyo bhikkhuniyo ovadituṁ pariyāyena. Ayaṁ, bhante, āyasmā nandako na icchati bhikkhuniyo ovadituṁ pariyāyenā”ti.
Now at that time the senior monks were taking turns to advise the nuns. But Venerable Nandaka didn’t want to take his turn.
Then the Buddha said to Venerable Ānanda, “Ānanda, whose turn is it to advise the nuns today?”
“It’s Nandaka’s turn, sir, but he doesn’t want to do it.”
Vào lúc ấy, các vị Trưởng lão Tỳ khưu theo phiên mà giáo giới các Tỳ khưu ni. Tôn giả Nandaka không muốn theo phiên mình mà giáo giới các Tỳ khưu ni. Bấy giờ, Thế Tôn gọi Tôn giả Ānanda và hỏi: “Này Ānanda, hôm nay đến phiên ai giáo giới các Tỳ khưu ni?” “Bạch Thế Tôn, tất cả các vị đã đến phiên giáo giới các Tỳ khưu ni rồi. Bạch Thế Tôn, chỉ có Tôn giả Nandaka này là không muốn theo phiên mình mà giáo giới các Tỳ khưu ni.”
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ nandakaṁ āmantesi: “ovada, nandaka, bhikkhuniyo; anusāsa, nandaka, bhikkhuniyo; karohi tvaṁ, brāhmaṇa, bhikkhunīnaṁ dhammiṁ kathan”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā nandako bhagavato paṭissutvā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiṁ piṇḍāya pāvisi. Sāvatthiyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto attadutiyo yena rājakārāmo tenupasaṅkami. Addasaṁsu kho tā bhikkhuniyo āyasmantaṁ nandakaṁ dūratova āgacchantaṁ. Disvāna āsanaṁ paññāpesuṁ, udakañca pādānaṁ upaṭṭhapesuṁ. Nisīdi kho āyasmā nandako paññatte āsane. Nisajja pāde pakkhālesi. Tāpi kho bhikkhuniyo āyasmantaṁ nandakaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu.
Ekamantaṁ nisinnā kho tā bhikkhuniyo āyasmā nandako etadavoca: “paṭipucchakathā kho, bhaginiyo, bhavissati. Tattha ājānantīhi: ‘ājānāmā’ tissa vacanīyaṁ, na ājānantīhi: ‘na ājānāmā’ tissa vacanīyaṁ. Yassā vā panassa kaṅkhā vā vimati vā ahameva tattha paṭipucchitabbo: ‘idaṁ, bhante, kathaṁ; imassa kvattho’”ti?
“Ettakenapi mayaṁ, bhante, ayyassa nandakassa attamanā abhiraddhā yaṁ no ayyo nandako pavāretī”ti.
Then the Buddha said to Nandaka, “Nandaka, please advise and instruct the nuns. Please, brahmin, give the nuns a Dhamma talk.”
“Yes, sir,” replied Nandaka. Then, in the morning, he robed up and, taking his bowl and robe, entered Sāvatthī for alms. He wandered for alms in Sāvatthī. After the meal, on his return from almsround, he went to the Royal Monastery with a companion. Those nuns saw him coming off in the distance, so they spread out a seat and placed water for washing the feet. Nandaka sat down on the seat spread out, and washed his feet. Those nuns bowed, and sat down to one side.
Nandaka said to them, “Sisters, this talk shall be in the form of questions. When you understand, say so. When you don’t understand, say so. If anyone has a doubt or uncertainty, ask me about it: ‘Why, sir, does it say this? What does that mean?’”
“We’re already delighted and satisfied with Master Nandaka, since he invites us like this.”
Bấy giờ, Thế Tôn gọi Tôn giả Nandaka và bảo: “Này Nandaka, hãy giáo giới các Tỳ khưu ni; này Nandaka, hãy chỉ dạy các Tỳ khưu ni; này Bà-la-môn, ngươi hãy thuyết một bài pháp cho các Tỳ khưu ni.” “Xin vâng, bạch Thế Tôn.” Tôn giả Nandaka vâng lời Thế Tôn, vào buổi sáng, đắp y, mang bát, vào thành Sāvatthī để khất thực. Sau khi đi khất thực ở Sāvatthī, dùng bữa xong, trở về từ nơi khất thực, ngài một mình đi đến tu viện Rājakārāma. Các Tỳ khưu ni ấy từ xa đã thấy Tôn giả Nandaka đi đến. Thấy vậy, họ liền dọn chỗ ngồi và đặt sẵn nước rửa chân. Tôn giả Nandaka ngồi xuống trên chỗ đã dọn sẵn. Sau khi ngồi, ngài rửa chân. Các Tỳ khưu ni ấy cũng đảnh lễ Tôn giả Nandaka rồi ngồi xuống một bên. Khi các Tỳ khưu ni đã ngồi một bên, Tôn giả Nandaka nói với họ như sau: “Này các chị, đây sẽ là một cuộc pháp đàm dưới hình thức hỏi-đáp. Trong đó, nếu biết, các chị hãy nói: ‘Chúng tôi biết.’ Nếu không biết, hãy nói: ‘Chúng tôi không biết.’ Hoặc nếu vị nào có điều gì nghi ngờ hay phân vân, thì chính tôi là người nên được hỏi lại rằng: ‘Bạch Đại đức, điều này là thế nào, ý nghĩa của việc này là gì?’” “Bạch Đại đức, chỉ với việc Tôn giả Nandaka ngỏ lời mời chúng con như vậy, chúng con đã lấy làm hoan hỷ và mãn nguyện lắm rồi.”
“Taṁ kiṁ maññatha, bhaginiyo, cakkhu niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ: ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Taṁ kiṁ maññatha, bhaginiyo, sotaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti? “Aniccaṁ, bhante …pe… ghānaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti? “Aniccaṁ, bhante” … “jivhā niccā vā aniccā vā”ti? “Aniccā, bhante” … “kāyo nicco vā anicco vā”ti? “Anicco, bhante” … “mano nicco vā anicco vā”ti?
“Anicco, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ: ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”. “Taṁ kissa hetu”? “Pubbeva no etaṁ, bhante, yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhaṁ: ‘itipime cha ajjhattikā āyatanā aniccā’”ti.
“Sādhu sādhu, bhaginiyo. Evañhetaṁ, bhaginiyo, hoti ariyasāvakassa yathābhūtaṁ sammappaññāya passato.
“What do you think, sisters? Is the eye permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.”
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
“Suffering, sir.”
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”
“No, sir.”
“What do you think, sisters? Is the ear … nose … tongue … body … mind permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.”
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
“Suffering, sir.”
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”
“No, sir. Why is that? Because we have already truly seen this with right wisdom: ‘So these six interior sense fields are impermanent.’”
“Good, good, sisters! That’s how it is for a noble disciple who truly sees with right wisdom.
399. “Này các chị em, các chị em nghĩ thế nào về điều này: Mắt là thường hay vô thường?” – “Bạch ngài, là vô thường.” – “Cái gì vô thường, là khổ hay lạc?” – “Bạch ngài, là khổ.” – “Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, có thích hợp để xem xét rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ không?” – “Bạch ngài, không phải vậy.” – “Này các chị em, các chị em nghĩ thế nào về điều này: Tai là thường hay vô thường?” – “Bạch ngài, là vô thường... (v.v.)... mũi là thường hay vô thường?” – “Bạch ngài, là vô thường”... “lưỡi là thường hay vô thường?” – “Bạch ngài, là vô thường”... “thân là thường hay vô thường?” – “Bạch ngài, là vô thường”... “ý là thường hay vô thường?” – “Bạch ngài, là vô thường.” – “Cái gì vô thường, là khổ hay lạc?” – “Bạch ngài, là khổ.” – “Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, có thích hợp để xem xét rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ không?” – “Bạch ngài, không phải vậy.” – “Vì sao vậy?” – “Bạch ngài, từ trước chúng con đã thấy rõ điều này đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: ‘Sáu nội xứ này là vô thường’.” – “Lành thay, lành thay, này các chị em! Này các chị em, đối với vị Thánh đệ tử thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ thì sự việc là như vậy.”
Taṁ kiṁ maññatha, bhaginiyo, rūpā niccā vā aniccā vā”ti?
“Aniccā, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ: ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Taṁ kiṁ maññatha, bhaginiyo, saddā niccā vā aniccā vā”ti? “Aniccā, bhante …pe… gandhā niccā vā aniccā vā”ti? “Aniccā, bhante” … “rasā niccā vā aniccā vā”ti? “Aniccā, bhante” … “phoṭṭhabbā niccā vā aniccā vā”ti? “Aniccā, bhante” … “dhammā niccā vā aniccā vā”ti?
“Aniccā, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ: ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”. “Taṁ kissa hetu”? “Pubbeva no etaṁ, bhante, yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhaṁ: ‘itipime cha bāhirā āyatanā aniccā’”ti.
“Sādhu sādhu, bhaginiyo. Evañhetaṁ, bhaginiyo, hoti ariyasāvakassa yathābhūtaṁ sammappaññāya passato.
What do you think, sisters? Are sights permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.”
“But if they’re impermanent, are they suffering or happiness?”
“Suffering, sir.”
“But if they’re impermanent, suffering, and perishable, are they fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”
“No, sir.”
“What do you think, sisters? Are sounds … smells … tastes … touches … ideas permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.”
“But if they’re impermanent, are they suffering or happiness?”
“Suffering, sir.”
“But if they’re impermanent, suffering, and perishable, are they fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”
“No, sir. Why is that? Because we have already truly seen this with right wisdom: ‘So these six exterior sense fields are impermanent.’”
“Good, good, sisters! That’s how it is for a noble disciple who truly sees with right wisdom.
400. “Này các chị em, các chị em nghĩ thế nào về điều này: Các sắc là thường hay vô thường?” – “Bạch ngài, là vô thường.” – “Cái gì vô thường, là khổ hay lạc?” – “Bạch ngài, là khổ.” – “Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, có thích hợp để xem xét rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ không?” – “Bạch ngài, không phải vậy.” – “Này các chị em, các chị em nghĩ thế nào về điều này: Các tiếng là thường hay vô thường?” – “Bạch ngài, là vô thường... (v.v.)... các mùi là thường hay vô thường?” – “Bạch ngài, là vô thường”... “các vị là thường hay vô thường?” – “Bạch ngài, là vô thường”... “các vật xúc chạm là thường hay vô thường?” – “Bạch ngài, là vô thường”... “các pháp là thường hay vô thường?” – “Bạch ngài, là vô thường.” – “Cái gì vô thường, là khổ hay lạc?” – “Bạch ngài, là khổ.” – “Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, có thích hợp để xem xét rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ không?” – “Bạch ngài, không phải vậy.” – “Vì sao vậy?” – “Bạch ngài, từ trước chúng con đã thấy rõ điều này đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: ‘Sáu ngoại xứ này là vô thường’.” – “Lành thay, lành thay, này các chị em! Này các chị em, đối với vị Thánh đệ tử thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ thì sự việc là như vậy.”
Taṁ kiṁ maññatha, bhaginiyo, cakkhuviññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti? “Aniccaṁ, bhante”. “Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti? “Dukkhaṁ, bhante”. “Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ: ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti? “No hetaṁ, bhante”. “Taṁ kiṁ maññatha, bhaginiyo, sotaviññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti? “Aniccaṁ, bhante …pe… ghānaviññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti? “Aniccaṁ, bhante” … “jivhāviññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti? “Aniccaṁ, bhante” … “kāyaviññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti? “Aniccaṁ, bhante” … “manoviññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vāti”?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ: ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”. “Taṁ kissa hetu”? “Pubbeva no etaṁ, bhante, yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhaṁ: ‘itipime cha viññāṇakāyā aniccā’”ti.
“Sādhu sādhu, bhaginiyo. Evañhetaṁ, bhaginiyo, hoti ariyasāvakassa yathābhūtaṁ sammappaññāya passato.
What do you think, sisters? Is eye consciousness … ear consciousness … nose consciousness … tongue consciousness … body consciousness … mind consciousness permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.”
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
“Suffering, sir.”
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”
“No, sir. Why is that? Because we have already truly seen this with right wisdom: ‘So these six classes of consciousness are impermanent.’”
“Good, good, sisters! That’s how it is for a noble disciple who truly sees with right wisdom.
401. “Này các chị em, các chị em nghĩ thế nào về điều này: Nhãn thức là thường hay vô thường?” – “Bạch ngài, là vô thường.” – “Cái gì vô thường, là khổ hay lạc?” – “Bạch ngài, là khổ.” – “Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, có thích hợp để xem xét rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ không?” – “Bạch ngài, không phải vậy.” – “Này các chị em, các chị em nghĩ thế nào về điều này: Nhĩ thức là thường hay vô thường?” – “Bạch ngài, là vô thường... (v.v.)... tỷ thức là thường hay vô thường?” – “Bạch ngài, là vô thường”... “thiệt thức là thường hay vô thường?” – “Bạch ngài, là vô thường”... “thân thức là thường hay vô thường?” – “Bạch ngài, là vô thường”... “ý thức là thường hay vô thường?” – “Bạch ngài, là vô thường.” – “Cái gì vô thường, là khổ hay lạc?” – “Bạch ngài, là khổ.” – “Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, có thích hợp để xem xét rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ không?” – “Bạch ngài, không phải vậy.” – “Vì sao vậy?” – “Bạch ngài, từ trước chúng con đã thấy rõ điều này đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: ‘Sáu thân thức này là vô thường’.” – “Lành thay, lành thay, này các chị em! Này các chị em, đối với vị Thánh đệ tử thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ thì sự việc là như vậy.”
Seyyathāpi, bhaginiyo, telappadīpassa jhāyato telampi aniccaṁ vipariṇāmadhammaṁ, vaṭṭipi aniccā vipariṇāmadhammā, accipi aniccā vipariṇāmadhammā, ābhāpi aniccā vipariṇāmadhammā. Yo nu kho, bhaginiyo, evaṁ vadeyya: ‘amussa telappadīpassa jhāyato telampi aniccaṁ vipariṇāmadhammaṁ, vaṭṭipi aniccā vipariṇāmadhammā, accipi aniccā vipariṇāmadhammā; yā ca khvāssa ābhā sā niccā dhuvā sassatā avipariṇāmadhammā’ti; sammā nu kho so, bhaginiyo, vadamāno vadeyyā”ti?
“No hetaṁ, bhante”. “Taṁ kissa hetu”? “Amussa hi, bhante, telappadīpassa jhāyato telampi aniccaṁ vipariṇāmadhammaṁ, vaṭṭipi aniccā vipariṇāmadhammā, accipi aniccā vipariṇāmadhammā; pagevassa ābhā aniccā vipariṇāmadhammā”ti.
“Evameva kho, bhaginiyo, yo nu kho evaṁ vadeyya: ‘cha khome ajjhattikā āyatanā aniccā; yañca kho cha ajjhattike āyatane paṭicca paṭisaṁvedeti sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā taṁ niccaṁ dhuvaṁ sassataṁ avipariṇāmadhamman’ti; sammā nu kho so, bhaginiyo, vadamāno vadeyyā”ti?
“No hetaṁ, bhante”. “Taṁ kissa hetu”? “Tajjaṁ tajjaṁ, bhante, paccayaṁ paṭicca tajjā tajjā vedanā uppajjanti. Tajjassa tajjassa paccayassa nirodhā tajjā tajjā vedanā nirujjhantī”ti.
“Sādhu sādhu, bhaginiyo. Evañhetaṁ, bhaginiyo, hoti ariyasāvakassa yathābhūtaṁ sammappaññāya passato.
Suppose there was an oil lamp burning. The oil, wick, flame, and light were all impermanent and perishable. Now, suppose someone was to say: ‘While this oil lamp is burning, the oil, the wick, and the flame are all impermanent and perishable. But the light is permanent, lasting, eternal, and imperishable.’ Would they be speaking rightly?”
“No, sir. Why is that? Because that oil lamp’s oil, wick, and flame are all impermanent and perishable, let alone the light.”
“In the same way, suppose someone was to say: ‘These six interior sense fields are impermanent. But the feeling—whether pleasant, painful, or neutral—that I experience due to these six interior sense fields is permanent, lasting, eternal, and imperishable.’ Would they be speaking rightly?”
“No, sir. Why is that? Because each kind of feeling arises dependent on the corresponding condition. When the corresponding condition ceases, the appropriate feeling ceases.”
“Good, good, sisters! That’s how it is for a noble disciple who truly sees with right wisdom.
402. “Này các chị em, ví như ngọn đèn dầu đang cháy, dầu cũng vô thường, có bản chất biến hoại; bấc cũng vô thường, có bản chất biến hoại; ngọn lửa cũng vô thường, có bản chất biến hoại; ánh sáng cũng vô thường, có bản chất biến hoại. Này các chị em, nếu có người nào nói rằng: ‘Đối với ngọn đèn dầu đang cháy kia, dầu cũng vô thường, có bản chất biến hoại; bấc cũng vô thường, có bản chất biến hoại; ngọn lửa cũng vô thường, có bản chất biến hoại; nhưng ánh sáng của nó thì thường còn, bền vững, vĩnh hằng, không có bản chất biến hoại’; này các chị em, người ấy nói như vậy có được xem là nói đúng chăng?” “Thưa không, bạch Ngài.” “Vì sao vậy?” “Bạch Ngài, đối với ngọn đèn dầu đang cháy kia, dầu cũng vô thường, có bản chất biến hoại; bấc cũng vô thường, có bản chất biến hoại; ngọn lửa cũng vô thường, có bản chất biến hoại; thì huống nữa là ánh sáng của nó lại càng vô thường, có bản chất biến hoại.” “Cũng vậy, này các chị em, nếu có người nào nói rằng: ‘Sáu nội xứ này của tôi là vô thường; nhưng cái gì mà tôi cảm nhận được, dù là lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc, do duyên với sáu nội xứ, thì cái ấy là thường còn, bền vững, vĩnh hằng, không có bản chất biến hoại’; này các chị em, người ấy nói như vậy có được xem là nói đúng chăng?” “Thưa không, bạch Ngài.” “Vì sao vậy?” “Bạch Ngài, do duyên với điều kiện tương ứng này hay điều kiện tương ứng kia mà các cảm thọ tương ứng này hay cảm thọ tương ứng kia sanh khởi. Do sự đoạn diệt của điều kiện tương ứng này hay điều kiện tương ứng kia mà các cảm thọ tương ứng này hay cảm thọ tương ứng kia được đoạn diệt.” “Lành thay, lành thay, này các chị em! Này các chị em, đối với vị Thánh đệ tử, người thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ, sự việc là đúng như vậy.”
Seyyathāpi, bhaginiyo, mahato rukkhassa tiṭṭhato sāravato mūlampi aniccaṁ vipariṇāmadhammaṁ, khandhopi anicco vipariṇāmadhammo, sākhāpalāsampi aniccaṁ vipariṇāmadhammaṁ, chāyāpi aniccā vipariṇāmadhammā. Yo nu kho, bhaginiyo, evaṁ vadeyya: ‘amussa mahato rukkhassa tiṭṭhato sāravato mūlampi aniccaṁ vipariṇāmadhammaṁ, khandhopi anicco vipariṇāmadhammo, sākhāpalāsampi aniccaṁ vipariṇāmadhammaṁ, yā ca khvāssa chāyā sā niccā dhuvā sassatā avipariṇāmadhammā’ti; sammā nu kho so, bhaginiyo, vadamāno vadeyyā”ti?
“No hetaṁ, bhante”. “Taṁ kissa hetu”? “Amussa hi, bhante, mahato rukkhassa tiṭṭhato sāravato mūlampi aniccaṁ vipariṇāmadhammaṁ, khandhopi anicco vipariṇāmadhammo, sākhāpalāsampi aniccaṁ vipariṇāmadhammaṁ; pagevassa chāyā aniccā vipariṇāmadhammā”ti.
“Evameva kho, bhaginiyo, yo nu kho evaṁ vadeyya: ‘cha khome bāhirā āyatanā aniccā. Yañca kho cha bāhire āyatane paṭicca paṭisaṁvedeti sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā taṁ niccaṁ dhuvaṁ sassataṁ avipariṇāmadhamman’ti; sammā nu kho so, bhaginiyo, vadamāno vadeyyā”ti?
“No hetaṁ, bhante”. “Taṁ kissa hetu”? “Tajjaṁ tajjaṁ, bhante, paccayaṁ paṭicca tajjā tajjā vedanā uppajjanti. Tajjassa tajjassa paccayassa nirodhā tajjā tajjā vedanā nirujjhantī”ti.
“Sādhu sādhu, bhaginiyo. Evañhetaṁ, bhaginiyo, hoti ariyasāvakassa yathābhūtaṁ sammappaññāya passato.
Suppose there was a large tree standing with heartwood. The roots, trunk, branches and leaves, and shadow were all impermanent and perishable. Now, suppose someone was to say: ‘There’s a large tree standing with heartwood. The roots, trunk, and branches and leaves are all impermanent and perishable. But the shadow is permanent, lasting, eternal, and imperishable.’ Would they be speaking rightly?”
“No, sir. Why is that? Because that large tree’s roots, trunk, and branches and leaves are all impermanent and perishable, let alone the shadow.”
“In the same way, suppose someone was to say: ‘These six exterior sense fields are impermanent. But the feeling—whether pleasant, painful, or neutral—that I experience due to these six exterior sense fields is permanent, lasting, eternal, and imperishable.’ Would they be speaking rightly?”
“No, sir. Why is that? Because each kind of feeling arises dependent on the corresponding condition. When the corresponding condition ceases, the appropriate feeling ceases.”
“Good, good, sisters! That’s how it is for a noble disciple who truly sees with right wisdom.
403. “Này các chị em, ví như một cây đại thọ đứng vững, có lõi cây, rễ của nó cũng vô thường, có bản chất biến hoại; thân cây cũng vô thường, có bản chất biến hoại; cành lá cũng vô thường, có bản chất biến hoại; bóng cây cũng vô thường, có bản chất biến hoại. Này các chị em, nếu có người nào nói rằng: ‘Đối với cây đại thọ đứng vững, có lõi cây kia, rễ của nó cũng vô thường, có bản chất biến hoại; thân cây cũng vô thường, có bản chất biến hoại; cành lá cũng vô thường, có bản chất biến hoại; nhưng bóng của nó thì thường còn, bền vững, vĩnh hằng, không có bản chất biến hoại’; này các chị em, người ấy nói như vậy có được xem là nói đúng chăng?” “Thưa không, bạch Ngài.” “Vì sao vậy?” “Bạch Ngài, đối với cây đại thọ đứng vững, có lõi cây kia, rễ của nó cũng vô thường, có bản chất biến hoại; thân cây cũng vô thường, có bản chất biến hoại; cành lá cũng vô thường, có bản chất biến hoại; thì huống nữa là bóng của nó lại càng vô thường, có bản chất biến hoại.” “Cũng vậy, này các chị em, nếu có người nào nói rằng: ‘Sáu ngoại xứ này là vô thường. Nhưng cái gì mà tôi cảm nhận được, dù là lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc, do duyên với sáu ngoại xứ, thì cái ấy là thường còn, bền vững, vĩnh hằng, không có bản chất biến hoại’; này các chị em, người ấy nói như vậy có được xem là nói đúng chăng?” “Thưa không, bạch Ngài.” “Vì sao vậy?” “Bạch Ngài, do duyên với điều kiện tương ứng này hay điều kiện tương ứng kia mà các cảm thọ tương ứng này hay cảm thọ tương ứng kia sanh khởi. Do sự đoạn diệt của điều kiện tương ứng này hay điều kiện tương ứng kia mà các cảm thọ tương ứng này hay cảm thọ tương ứng kia được đoạn diệt.” “Lành thay, lành thay, này các chị em! Này các chị em, đối với vị Thánh đệ tử, người thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ, sự việc là đúng như vậy.”
Seyyathāpi, bhaginiyo, dakkho goghātako vā goghātakantevāsī vā gāviṁ vadhitvā tiṇhena govikantanena gāviṁ saṅkanteyya anupahacca antaraṁ maṁsakāyaṁ anupahacca bāhiraṁ cammakāyaṁ. Yaṁ yadeva tattha antarā vilimaṁsaṁ antarā nhāru antarā bandhanaṁ taṁ tadeva tiṇhena govikantanena sañchindeyya saṅkanteyya sampakanteyya samparikanteyya. Sañchinditvā saṅkantitvā sampakantitvā samparikantitvā vidhunitvā bāhiraṁ cammakāyaṁ teneva cammena taṁ gāviṁ paṭicchādetvā evaṁ vadeyya: ‘tathevāyaṁ gāvī saṁyuttā imināva cammenā’ti; sammā nu kho so, bhaginiyo, vadamāno vadeyyā”ti?
“No hetaṁ, bhante”. “Taṁ kissa hetu”? “Amu hi, bhante, dakkho goghātako vā goghātakantevāsī vā gāviṁ vadhitvā tiṇhena govikantanena gāviṁ saṅkanteyya anupahacca antaraṁ maṁsakāyaṁ anupahacca bāhiraṁ cammakāyaṁ. Yaṁ yadeva tattha antarā vilimaṁsaṁ antarā nhāru antarā bandhanaṁ taṁ tadeva tiṇhena govikantanena sañchindeyya saṅkanteyya sampakanteyya samparikanteyya. Sañchinditvā saṅkantitvā sampakantitvā samparikantitvā vidhunitvā bāhiraṁ cammakāyaṁ teneva cammena taṁ gāviṁ paṭicchādetvā kiñcāpi so evaṁ vadeyya: ‘tathevāyaṁ gāvī saṁyuttā imināva cammenā’ti; atha kho sā gāvī visaṁyuttā teneva cammenā”ti.
Suppose a deft butcher or their apprentice, having killed a cow, were to carve it with a sharp meat cleaver, without damaging the flesh inside or the hide outside. They’d cut, carve, sever, and slice through each of the connecting tendons, sinews, and ligaments with a sharp meat cleaver, and then peel off the outer hide. Then they’d wrap that cow up in that very same hide and say: ‘This cow is joined to its hide just like before.’ Would they be speaking rightly?”
“No, sir. Why is that? Because even if they wrap that cow up in that very same hide and say: ‘This cow is joined to its hide just like before,’ still that cow is not joined to that hide.”
404. “Này các chị em, ví như một người đồ tể thiện nghệ hoặc đệ tử của người đồ tể, sau khi giết một con bò, dùng dao mổ bò sắc bén để lóc thịt con bò mà không làm tổn hại đến phần thịt bên trong và không làm tổn hại đến phần da bên ngoài. Bất cứ phần thịt dính liền nào, gân nào, dây chằng nào ở khoảng giữa, vị ấy dùng dao mổ bò sắc bén để cắt đứt, xẻ ra, róc ra, lóc hết xung quanh. Sau khi đã cắt đứt, xẻ ra, róc ra, lóc hết xung quanh, và tách rời, vị ấy lấy chính tấm da ấy phủ lên con bò rồi nói rằng: ‘Con bò này vẫn dính liền với tấm da này y như trước’; này các chị em, người ấy nói như vậy có được xem là nói đúng chăng?” “Thưa không, bạch Ngài.” “Vì sao vậy?” “Bạch Ngài, người đồ tể thiện nghệ kia hoặc đệ tử của người đồ tể, sau khi giết một con bò, dùng dao mổ bò sắc bén để lóc thịt con bò mà không làm tổn hại đến phần thịt bên trong và không làm tổn hại đến phần da bên ngoài. Bất cứ phần thịt dính liền nào, gân nào, dây chằng nào ở khoảng giữa, vị ấy dùng dao mổ bò sắc bén để cắt đứt, xẻ ra, róc ra, lóc hết xung quanh. Sau khi đã cắt đứt, xẻ ra, róc ra, lóc hết xung quanh, và tách rời, vị ấy lấy chính tấm da ấy phủ lên con bò, và dù có nói rằng: ‘Con bò này vẫn dính liền với tấm da này y như trước’, nhưng thực sự con bò ấy đã bị tách rời khỏi tấm da ấy rồi.”
“Upamā kho me ayaṁ, bhaginiyo, katā atthassa viññāpanāya. Ayamevettha attho; ‘antarā maṁsakāyo’ti kho, bhaginiyo, channetaṁ ajjhattikānaṁ āyatanānaṁ adhivacanaṁ; ‘bāhiro cammakāyo’ti kho, bhaginiyo, channetaṁ bāhirānaṁ āyatanānaṁ adhivacanaṁ; ‘antarā vilimaṁsaṁ, antarā nhāru, antarā bandhanan’ti kho, bhaginiyo, nandīrāgassetaṁ adhivacanaṁ; ‘tiṇhaṁ govikantanan’ti kho, bhaginiyo, ariyāyetaṁ paññāya adhivacanaṁ; yāyaṁ ariyā paññā antarā kilesaṁ antarā saṁyojanaṁ antarā bandhanaṁ sañchindati saṅkantati sampakantati samparikantati.
Satta kho panime, bhaginiyo, bojjhaṅgā, yesaṁ bhāvitattā bahulīkatattā bhikkhu āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati. Katame satta? Idha, bhaginiyo, bhikkhu satisambojjhaṅgaṁ bhāveti vivekanissitaṁ virāganissitaṁ nirodhanissitaṁ vossaggapariṇāmiṁ. Dhammavicayasambojjhaṅgaṁ bhāveti …pe… vīriyasambojjhaṅgaṁ bhāveti … pītisambojjhaṅgaṁ bhāveti … passaddhisambojjhaṅgaṁ bhāveti … samādhisambojjhaṅgaṁ bhāveti … upekkhāsambojjhaṅgaṁ bhāveti vivekanissitaṁ virāganissitaṁ nirodhanissitaṁ vossaggapariṇāmiṁ. Ime kho, bhaginiyo, satta bojjhaṅgā, yesaṁ bhāvitattā bahulīkatattā bhikkhu āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharatī”ti.
“I’ve made up this simile to make a point. And this is the point. ‘The inner flesh’ is a term for the six interior sense fields. ‘The outer hide’ is a term for the six exterior sense fields. ‘The connecting tendons, sinews, and ligaments’ is a term for greed and relishing. ‘A sharp meat cleaver’ is a term for noble wisdom. And it is that noble wisdom which cuts, carves, severs, and slices the connecting corruption, fetter, and bond.
Sisters, by developing and cultivating these seven awakening factors, a mendicant realizes the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom. And they live having realized it with their own insight in this very life due to the ending of defilements. What seven? It’s when a mendicant develops the awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity, which rely on seclusion, fading away, and cessation, and ripen as letting go. It is by developing and cultivating these seven awakening factors that a mendicant realizes the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom. And they live having realized it with their own insight in this very life due to the ending of defilements.”
‘Này các nữ Tỳ khư, ví dụ này được Ta nói ra để làm sáng tỏ ý nghĩa, và đây chính là ý nghĩa của nó: Này các nữ Tỳ khư, ‘thân thịt bén trong’ chính là tén gềi của sáu nội xứ; ‘thân da bén ngoài’ chính là tén gềi của sáu ngoại xứ; ‘thịt bầy nhầy ở giữ a, gân ở giữ a, dây buộc ở giữ a’ chính là tén gềi của hỷ tham (nandī rāga); ‘con dao mổ bò sắc bén’ chính là tén gềi của Thánh trí tuệ. Thánh trí tuệ này cắt đứt, xẻo đi, chặt phăng, cắt rờ i phiền não ở giữ a, kiết sử ở giữ a, và dây trói buộc ở giữ a.’
Atha kho āyasmā nandako tā bhikkhuniyo iminā ovādena ovaditvā uyyojesi: “gacchatha, bhaginiyo; kālo”ti.
Atha kho tā bhikkhuniyo āyasmato nandakassa bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā āyasmantaṁ nandakaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhaṁsu. Ekamantaṁ ṭhitā kho tā bhikkhuniyo bhagavā etadavoca: “gacchatha, bhikkhuniyo; kālo”ti.
Atha kho tā bhikkhuniyo bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkamiṁsu.
Atha kho bhagavā acirapakkantīsu tāsu bhikkhunīsu bhikkhū āmantesi: “seyyathāpi, bhikkhave, tadahuposathe cātuddase na hoti bahuno janassa kaṅkhā vā vimati vā: ‘ūno nu kho cando, puṇṇo nu kho cando’ti, atha kho ūno cando tveva hoti.
Evameva kho, bhikkhave, tā bhikkhuniyo nandakassa dhammadesanāya attamanā honti no ca kho paripuṇṇasaṅkappā”ti.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ nandakaṁ āmantesi: “tena hi tvaṁ, nandaka, svepi tā bhikkhuniyo tenevovādena ovadeyyāsī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā nandako bhagavato paccassosi. Atha kho āyasmā nandako tassā rattiyā accayena pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiṁ piṇḍāya pāvisi.
Then after giving this advice to the nuns, Nandaka sent them off, saying, “Go, sisters, it is time.”
And then those nuns approved and agreed with what Nandaka had said. They rose from their seats, bowed, and respectfully circled him, keeping him on their right. Then they went up to the Buddha, bowed, and stood to one side. The Buddha said to them, “Go, nuns, it is time.”
Then those nuns bowed and respectfully circled the Buddha, keeping him on their right, before leaving.
Soon after those nuns had left, the Buddha addressed the mendicants: “Suppose, mendicants, it was the sabbath of the fourteenth day. You wouldn’t get lots of people wondering whether the moon is full or not, since it is obviously not full.
In the same way, those nuns were uplifted by Nandaka’s Dhamma teaching, but they still haven’t got all they wished for.”
Then the Buddha said to Nandaka, “Well then, Nandaka, tomorrow you should give those nuns the same advice again.”
“Yes, sir,” Nandaka replied. And the next day he went to those nuns, and all unfolded just like the previous day.
415. Khi ấy, Tôn giả Nandaka sau khi giáo giới các vị tỳ khưu ni bằng lời giáo huấn này, đã cho họ đi về: “Này các chị em, đã đến lúc rồi, các chị hãy đi đi.” Bấy giờ, các vị tỳ khưu ni ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Tôn giả Nandaka, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Tôn giả Nandaka, đi nhiễu bên phải rồi đi đến nơi Thế Tôn ngự. Sau khi đến, họ đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Khi các vị tỳ khưu ni ấy đang đứng một bên, Thế Tôn đã nói với họ điều này: “Này các tỳ khưu ni, đã đến lúc rồi, các vị hãy đi đi.” Bấy giờ, các vị tỳ khưu ni ấy đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu bên phải rồi lui ra. Khi các vị tỳ khưu ni ấy đã đi không bao lâu, Thế Tôn gọi các vị tỳ khưu: “Này các Tỳ khưu, ví như vào ngày lễ Bố-tát rằm mười lăm, không có sự nghi ngờ hay phân vân nào cho nhiều người rằng: ‘Mặt trăng khuyết hay mặt trăng tròn?’, mà chắc chắn mặt trăng là tròn; cũng vậy, này các Tỳ khưu, các vị tỳ khưu ni ấy hoan hỷ và có tâm nguyện viên mãn với bài pháp thoại của Nandaka. Này các Tỳ khưu, trong số năm trăm vị tỳ khưu ni ấy, vị nào thấp kém nhất cũng là bậc Dự lưu, không còn bị đọa lạc, chắc chắn hướng đến giác ngộ.”
416. Tôi nghe như vầy: Một thời Thế Tôn ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Bấy giờ, khi Thế Tôn đang ở một mình nơi thanh vắng, một tư duy như sau đã khởi lên trong tâm Ngài: “Các pháp đưa đến giải thoát của Rāhula đã thuần thục. Ta nên giáo huấn Rāhula thêm nữa để đoạn tận các lậu hoặc.” Khi ấy, vào buổi sáng, Thế Tôn đắp y, mang bát và y, vào thành Sāvatthī để khất thực. Sau khi đi khất thực ở Sāvatthī, lúc trở về, sau bữa ăn, Ngài gọi Tôn giả Rāhula: “Này Rāhula, hãy lấy tọa cụ. Chúng ta sẽ đi đến rừng Andhavana để nghỉ ban ngày.” “Vâng, bạch Thế Tôn,” Tôn giả Rāhula vâng đáp Thế Tôn, rồi lấy tọa cụ và đi theo sau lưng Thế Tôn.
“Taṁ kiṁ maññatha, bhaginiyo, cakkhu niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti? “Aniccaṁ, bhante”. “Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti? “Dukkhaṁ, bhante”. “Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ: ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti? “No hetaṁ, bhante”. “Taṁ kiṁ maññatha, bhaginiyo, sotaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti? “Aniccaṁ, bhante …pe… ghānaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti? “Aniccaṁ, bhante … jivhā … kāyo … mano nicco vā anicco vā”ti? “Anicco, bhante”. “Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti? “Dukkhaṁ, bhante”. “Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ: ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti? “No hetaṁ, bhante”. “Taṁ kissa hetu”? “Pubbeva no etaṁ, bhante, yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhaṁ: ‘itipime cha ajjhattikā āyatanā aniccā’”ti. “Sādhu sādhu, bhaginiyo. Evañhetaṁ, bhaginiyo, hoti ariyasāvakassa yathābhūtaṁ sammappaññāya passato.
Taṁ kiṁ maññatha, bhaginiyo, rūpā niccā vā aniccā vā”ti? “Aniccā, bhante”. “Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti? “Dukkhaṁ, bhante”. “Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ: ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti? “No hetaṁ, bhante”. “Taṁ kiṁ maññatha, bhaginiyo, saddā niccā vā aniccā vā”ti? “Aniccā, bhante …pe… gandhā niccā vā aniccā vā”ti? “Aniccā, bhante … rasā niccā vā aniccā vā”ti? “Aniccā, bhante … phoṭṭhabbā niccā vā aniccā vā”ti? “Aniccā, bhante … dhammā niccā vā aniccā vā”ti? “Aniccā, bhante”. “Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti? “Dukkhaṁ, bhante”. “Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ: ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti? “No hetaṁ, bhante”. “Taṁ kissa hetu”? “Pubbeva no etaṁ, bhante, yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhaṁ: ‘itipime cha bāhirā āyatanā aniccā’”ti. “Sādhu sādhu, bhaginiyo. Evañhetaṁ, bhaginiyo, hoti ariyasāvakassa yathābhūtaṁ sammappaññāya passato.
Taṁ kiṁ maññatha, bhaginiyo, cakkhuviññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti? “Aniccaṁ, bhante …pe…
Vào lúc ấy, nhiều ngàn vị chư thiên đã đi theo Thế Tôn, nghĩ rằng: “Hôm nay Thế Tôn sẽ giáo huấn Tôn giả Rāhula thêm nữa để đoạn tận các lậu hoặc.” Bấy giờ, Thế Tôn đi sâu vào rừng Andhavana và ngồi xuống trên tọa cụ đã được trải sẵn dưới một gốc cây. Tôn giả Rāhula cũng đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi Tôn giả Rāhula đang ngồi một bên, Thế Tôn đã nói với vị ấy điều này:
410. “Này các chị em, các chị em nghĩ thế nào về điều này: Nhãn thức là thường hay vô thường?” “Bạch ngài, là vô thường.” ...v.v... “Nhĩ thức là thường hay vô thường?” “Bạch ngài, là vô thường.” ... “Tỷ thức là thường hay vô thường?” “Bạch ngài, là vô thường.” ... “Thiệt thức là thường hay vô thường?” “Bạch ngài, là vô thường.” ... “Thân thức là thường hay vô thường?” “Bạch ngài, là vô thường.” ... “Ý thức là thường hay vô thường?” “Bạch ngài, là vô thường.” “Cái gì vô thường là khổ hay lạc?” “Bạch ngài, là khổ.” “Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, có thích hợp để xem xét rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ hay không?” “Bạch ngài, không phải vậy.” “Vì sao vậy?” “Bạch ngài, từ trước chúng con đã khéo thấy đúng như thật với chánh trí tuệ rằng: ‘Sáu thân thức này là vô thường’.” “Lành thay, lành thay, này các chị em! Này các chị em, đối với vị Thánh đệ tử thấy đúng như thật với chánh trí tuệ thì sự việc là như vậy.”
Seyyathāpi, bhaginiyo, telappadīpassa jhāyato telampi aniccaṁ vipariṇāmadhammaṁ, vaṭṭipi aniccā vipariṇāmadhammā, accipi aniccā vipariṇāmadhammā, ābhāpi aniccā vipariṇāmadhammā. Yo nu kho, bhaginiyo, evaṁ vadeyya: ‘amussa telappadīpassa jhāyato telampi aniccaṁ vipariṇāmadhammaṁ, vaṭṭipi aniccā vipariṇāmadhammā, accipi aniccā vipariṇāmadhammā; yā ca khvāssa ābhā sā niccā dhuvā sassatā avipariṇāmadhammā’ti; sammā nu kho so, bhaginiyo, vadamāno vadeyyā”ti? “No hetaṁ, bhante”. “Taṁ kissa hetu”? “Amussa hi, bhante, telappadīpassa jhāyato telampi aniccaṁ vipariṇāmadhammaṁ, vaṭṭipi aniccā vipariṇāmadhammā, accipi aniccā vipariṇāmadhammā; pagevassa ābhā aniccā vipariṇāmadhammā”ti. “Evameva kho, bhaginiyo, yo nu kho evaṁ vadeyya: ‘cha khome ajjhattikā āyatanā aniccā. Yañca kho cha ajjhattike āyatane paṭicca paṭisaṁvedeti sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā taṁ niccaṁ dhuvaṁ sassataṁ avipariṇāmadhamman’ti; sammā nu kho so, bhaginiyo, vadamāno vadeyyā”ti? “No hetaṁ, bhante”. “Taṁ kissa hetu”? “Tajjaṁ tajjaṁ, bhante, paccayaṁ paṭicca tajjā tajjā vedanā uppajjanti. Tajjassa tajjassa paccayassa nirodhā tajjā tajjā vedanā nirujjhantī”ti. “Sādhu sādhu, bhaginiyo. Evañhetaṁ, bhaginiyo, hoti ariyasāvakassa yathābhūtaṁ sammappaññāya passato.
411. “Này các chị em, ví như ngọn đèn dầu đang cháy, dầu cũng vô thường, có bản chất biến đổi; tim đèn cũng vô thường, có bản chất biến đổi; ngọn lửa cũng vô thường, có bản chất biến đổi; ánh sáng cũng vô thường, có bản chất biến đổi. Này các chị em, nếu có người nào nói rằng: ‘Đối với ngọn đèn dầu đang cháy kia, dầu cũng vô thường, có bản chất biến đổi; tim đèn cũng vô thường, có bản chất biến đổi; ngọn lửa cũng vô thường, có bản chất biến đổi; nhưng ánh sáng của nó thì thường còn, bền vững, vĩnh cửu, không có bản chất biến đổi’; này các chị em, người nói như vậy có nói đúng chăng?” “Bạch ngài, không phải vậy.” “Vì sao vậy?” “Bạch ngài, đối với ngọn đèn dầu đang cháy kia, dầu cũng vô thường, có bản chất biến đổi; tim đèn cũng vô thường, có bản chất biến đổi; ngọn lửa cũng vô thường, có bản chất biến đổi; huống nữa là ánh sáng của nó, cũng vô thường, có bản chất biến đổi.” “Cũng vậy, này các chị em, nếu có người nào nói rằng: ‘Sáu nội xứ này của tôi là vô thường. Nhưng do duyên sáu nội xứ mà cảm thọ lạc, khổ, hay không khổ không lạc, thì cái ấy là thường còn, bền vững, vĩnh cửu, không có bản chất biến đổi’; này các chị em, người nói như vậy có nói đúng chăng?” “Bạch ngài, không phải vậy.” “Vì sao vậy?” “Bạch ngài, do duyên với nhân duyên tương ứng mà các cảm thọ tương ứng sanh khởi. Do sự diệt tận của nhân duyên tương ứng ấy mà các cảm thọ tương ứng cũng diệt tận.” “Lành thay, lành thay, các chị em! Này các chị em, đối với vị Thánh đệ tử thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ thì sự việc là như vậy.”
Seyyathāpi, bhaginiyo, mahato rukkhassa tiṭṭhato sāravato mūlampi aniccaṁ vipariṇāmadhammaṁ, khandhopi anicco vipariṇāmadhammo, sākhāpalāsampi aniccaṁ vipariṇāmadhammaṁ, chāyāpi aniccā vipariṇāmadhammā. Yo nu kho, bhaginiyo, evaṁ vadeyya: ‘amussa mahato rukkhassa tiṭṭhato sāravato mūlampi aniccaṁ vipariṇāmadhammaṁ, khandhopi anicco vipariṇāmadhammo, sākhāpalāsampi aniccaṁ vipariṇāmadhammaṁ; yā ca khvāssa chāyā sā niccā dhuvā sassatā avipariṇāmadhammā’ti; sammā nu kho so bhaginiyo, vadamāno vadeyyā”ti? “No hetaṁ, bhante”. “Taṁ kissa hetu”? “Amussa hi, bhante, mahato rukkhassa tiṭṭhato sāravato mūlampi aniccaṁ vipariṇāmadhammaṁ, khandhopi anicco vipariṇāmadhammo, sākhāpalāsampi aniccaṁ vipariṇāmadhammaṁ; pagevassa chāyā aniccā vipariṇāmadhammā”ti. “Evameva kho, bhaginiyo, yo nu kho evaṁ vadeyya: ‘cha khome bāhirā āyatanā aniccā. Yañca kho bāhire āyatane paṭicca paṭisaṁvedeti sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā taṁ niccaṁ dhuvaṁ sassataṁ avipariṇāmadhamman’ti; sammā nu kho so, bhaginiyo, vadamāno vadeyyā”ti? “No hetaṁ, bhante”. “Taṁ kissa hetu”? “Tajjaṁ tajjaṁ, bhante, paccayaṁ paṭicca tajjā tajjā vedanā uppajjanti. Tajjassa tajjassa paccayassa nirodhā tajjā tajjā vedanā nirujjhantī”ti. “Sādhu sādhu, bhaginiyo. Evañhetaṁ, bhaginiyo, hoti ariyasāvakassa yathābhūtaṁ sammappaññāya passato.
412. “Này các chị em, ví như một cây lớn, đứng vững, có lõi cây, rễ cũng vô thường, có bản chất biến đổi; thân cây cũng vô thường, có bản chất biến đổi; cành lá cũng vô thường, có bản chất biến đổi; bóng cây cũng vô thường, có bản chất biến đổi. Này các chị em, nếu có người nào nói rằng: ‘Đối với cây lớn, đứng vững, có lõi cây kia, rễ cũng vô thường, có bản chất biến đổi; thân cây cũng vô thường, có bản chất biến đổi; cành lá cũng vô thường, có bản chất biến đổi; nhưng bóng của nó thì thường còn, bền vững, vĩnh cửu, không có bản chất biến đổi’; này các chị em, người nói như vậy có nói đúng chăng?” “Bạch ngài, không phải vậy.” “Vì sao vậy?” “Bạch ngài, đối với cây lớn, đứng vững, có lõi cây kia, rễ cũng vô thường, có bản chất biến đổi; thân cây cũng vô thường, có bản chất biến đổi; cành lá cũng vô thường, có bản chất biến đổi; huống nữa là bóng của nó, cũng vô thường, có bản chất biến đổi.” “Cũng vậy, này các chị em, nếu có người nào nói rằng: ‘Sáu ngoại xứ này là vô thường. Nhưng do duyên các ngoại xứ mà cảm thọ lạc, khổ, hay không khổ không lạc, thì cái ấy là thường còn, bền vững, vĩnh cửu, không có bản chất biến đổi’; này các chị em, người nói như vậy có nói đúng chăng?” “Bạch ngài, không phải vậy.” “Vì sao vậy?” “Bạch ngài, do duyên với nhân duyên tương ứng mà các cảm thọ tương ứng sanh khởi. Do sự diệt tận của nhân duyên tương ứng ấy mà các cảm thọ tương ứng cũng diệt tận.” “Lành thay, lành thay, các chị em! Này các chị em, đối với vị Thánh đệ tử thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ thì sự việc là như vậy.”
Seyyathāpi, bhaginiyo, dakkho goghātako vā goghātakantevāsī vā gāviṁ vadhitvā tiṇhena govikantanena gāviṁ saṅkanteyya anupahacca antaraṁ maṁsakāyaṁ anupahacca bāhiraṁ cammakāyaṁ. Yaṁ yadeva tattha antarā vilimaṁsaṁ antarā nhāru antarā bandhanaṁ taṁ tadeva tiṇhena govikantanena sañchindeyya saṅkanteyya sampakanteyya samparikanteyya. Sañchinditvā saṅkantitvā sampakantitvā samparikantitvā vidhunitvā bāhiraṁ cammakāyaṁ teneva cammena taṁ gāviṁ paṭicchādetvā evaṁ vadeyya: ‘tathevāyaṁ gāvī saṁyuttā imināva cammenā’ti; sammā nu kho so, bhaginiyo, vadamāno vadeyyā”ti? “No hetaṁ, bhante”. “Taṁ kissa hetu”? “Amu hi, bhante, dakkho goghātako vā goghātakantevāsī vā gāviṁ vadhitvā tiṇhena govikantanena gāviṁ saṅkanteyya anupahacca antaraṁ maṁsakāyaṁ anupahacca bāhiraṁ cammakāyaṁ. Yaṁ yadeva tattha antarā vilimaṁsaṁ antarā nhāru antarā bandhanaṁ taṁ tadeva tiṇhena govikantanena sañchindeyya saṅkanteyya sampakanteyya samparikanteyya. Sañchinditvā saṅkantitvā sampakantitvā samparikantitvā vidhunitvā bāhiraṁ cammakāyaṁ teneva cammena taṁ gāviṁ paṭicchādetvā kiñcāpi so evaṁ vadeyya: ‘tathevāyaṁ gāvī saṁyuttā imināva cammenā’ti; atha kho sā gāvī visaṁyuttā teneva cammenā”ti.
“Upamā kho me ayaṁ, bhaginiyo, katā atthassa viññāpanāya ayamevettha attho. ‘Antarā maṁsakāyo’ti kho, bhaginiyo, channetaṁ ajjhattikānaṁ āyatanānaṁ adhivacanaṁ; ‘bāhiro cammakāyo’ti kho, bhaginiyo, channetaṁ bāhirānaṁ āyatanānaṁ adhivacanaṁ; ‘antarā vilimaṁsaṁ antarā nhāru antarā bandhanan’ti kho, bhaginiyo, nandīrāgassetaṁ adhivacanaṁ; ‘tiṇhaṁ govikantanan’ti kho, bhaginiyo, ariyāyetaṁ paññāya adhivacanaṁ; yāyaṁ ariyā paññā antarā kilesaṁ antarā saṁyojanaṁ antarā bandhanaṁ sañchindati saṅkantati sampakantati samparikantati.
413. “Này các chị em, ví như một người đồ tể thiện nghệ hay đệ tử của người đồ tể, sau khi giết một con bò, dùng con dao mổ sắc bén để xẻ thịt con bò mà không làm tổn hại đến khối thịt bên trong và không làm tổn hại đến tấm da bên ngoài. Bất cứ những gì là thịt dính, gân, dây chằng ở giữa, người ấy dùng con dao mổ sắc bén để cắt đứt, xẻ ra, róc ra, lóc ra xung quanh. Sau khi cắt đứt, xẻ ra, róc ra, lóc ra xung quanh, lột tấm da bên ngoài ra, rồi dùng chính tấm da ấy phủ lên con bò và nói rằng: ‘Con bò này vẫn dính liền với tấm da này như trước’; này các chị em, người nói như vậy có nói đúng chăng?” “Bạch ngài, không phải vậy.” “Vì sao vậy?” “Bạch ngài, người đồ tể thiện nghệ kia hay đệ tử của người đồ tể, sau khi giết một con bò, dùng con dao mổ sắc bén để xẻ thịt con bò mà không làm tổn hại đến khối thịt bên trong và không làm tổn hại đến tấm da bên ngoài. Bất cứ những gì là thịt dính, gân, dây chằng ở giữa, người ấy dùng con dao mổ sắc bén để cắt đứt, xẻ ra, róc ra, lóc ra xung quanh. Sau khi cắt đứt, xẻ ra, róc ra, lóc ra xung quanh, lột tấm da bên ngoài ra, rồi dùng chính tấm da ấy phủ lên con bò, dù cho người ấy có nói rằng: ‘Con bò này vẫn dính liền với tấm da này như trước’; nhưng thực ra con bò ấy đã bị tách rời khỏi tấm da ấy.”
Satta kho panime, bhaginiyo, bojjhaṅgā, yesaṁ bhāvitattā bahulīkatattā bhikkhu āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati. Katame satta? Idha, bhaginiyo, bhikkhu satisambojjhaṅgaṁ bhāveti vivekanissitaṁ virāganissitaṁ nirodhanissitaṁ vossaggapariṇāmiṁ. Dhammavicayasambojjhaṅgaṁ bhāveti …pe… vīriyasambojjhaṅgaṁ bhāveti … pītisambojjhaṅgaṁ bhāveti … passaddhisambojjhaṅgaṁ bhāveti … samādhisambojjhaṅgaṁ bhāveti … upekkhāsambojjhaṅgaṁ bhāveti vivekanissitaṁ virāganissitaṁ nirodhanissitaṁ vossaggapariṇāmiṁ. Ime kho, bhaginiyo, satta bojjhaṅgā yesaṁ bhāvitattā bahulīkatattā bhikkhu āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharatī”ti.
Atha kho āyasmā nandako tā bhikkhuniyo iminā ovādena ovaditvā uyyojesi: “gacchatha, bhaginiyo; kālo”ti. Atha kho tā bhikkhuniyo āyasmato nandakassa bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā āyasmantaṁ nandakaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhaṁsu. Ekamantaṁ ṭhitā kho tā bhikkhuniyo bhagavā etadavoca: “gacchatha, bhikkhuniyo; kālo”ti. Atha kho tā bhikkhuniyo bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkamiṁsu.
Atha kho bhagavā acirapakkantīsu tāsu bhikkhunīsu bhikkhū āmantesi: “seyyathāpi, bhikkhave, tadahuposathe pannarase na hoti bahuno janassa kaṅkhā vā vimati vā: ‘ūno nu kho cando, puṇṇo nu kho cando’ti, atha kho puṇṇo cando tveva hoti; evameva kho, bhikkhave, tā bhikkhuniyo nandakassa dhammadesanāya attamanā ceva paripuṇṇasaṅkappā ca. Tāsaṁ, bhikkhave, pañcannaṁ bhikkhunisatānaṁ yā pacchimikā bhikkhunī sā sotāpannā avinipātadhammā niyatā sambodhiparāyanā”ti.
Soon after those nuns had left, the Buddha addressed the mendicants: “Suppose, mendicants, it was the sabbath of the fifteenth day. You wouldn’t get lots of people wondering whether the moon is full or not, since it is obviously full. In the same way, those nuns were uplifted by Nandaka’s Dhamma teaching, and they got all they wished for. Even the last of these five hundred nuns is a stream-enterer, not liable to be reborn in the underworld, assured, destined for awakening.”
414. “Này các chị em, lại nữa, có bảy giác chi này, do đã tu tập, đã thực hành sung mãn các giác chi ấy, vị tỳ khưu, do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Bảy là gì? Này các chị em, ở đây, vị tỳ khưu tu tập niệm giác chi, y cứ vào viễn ly, y cứ vào ly tham, y cứ vào sự diệt, hướng đến xả ly. Vị ấy tu tập trạch pháp giác chi... (như trên)... tu tập tinh tấn giác chi... tu tập hỷ giác chi... tu tập khinh an giác chi... tu tập định giác chi... tu tập xả giác chi, y cứ vào viễn ly, y cứ vào ly tham, y cứ vào sự diệt, hướng đến xả ly. Này các chị em, đây là bảy giác chi, do đã tu tập, đã thực hành sung mãn các giác chi ấy, vị tỳ khưu, do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.”
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
Thế Tôn đã thuyết như vậy. Các vị tỳ khưu ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Nandakovādasuttaṁ niṭṭhitaṁ catutthaṁ.
Kinh Giáo Giới của Nandaka, phẩm thứ tư, chấm dứt.