- Majjhima Nikāya 145
Puṇṇovādasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Puṇṇovādasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời, Thế Tôn ở Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà-Lâm), tại tịnh xá ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).
SC 2Rồi Tôn giả Puñña (Phú-lâu-na), vào buổi chiều, từ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Puñña bạch Thế Tôn
SC 3—Bạch Thế Tôn, tốt lành thay nếu Thế Tôn giáo giới với lời giáo giới vắn tắt cho con, để con có thể, sau khi nghe Thế Tôn, sống một mình, nhàn tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
SC 4—Vậy này Puñña, hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.
SC 5—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 6Tôn giả Puñña vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau
SC 7—Này Puñña, có những sắc do mắt nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo hoan hỷ tán thưởng, chấp thủ và an trú trong ấy, thời do hoan hỷ tán thưởng, chấp thủ và an trú, dục hỷ sanh; và này Puñña, Ta nói rằng, từ sự tập khởi của dục hỷ, là sự tập khởi của khổ. Này Puñña, có những tiếng do tai nhận thức; có những hương do mũi nhận thức; có những vị do lưỡi nhận thức; có những cảm xúc do thân nhận thức; có những pháp do ý nhận thức; khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo hoan hỷ, tán thưởng, chấp thủ và an trú trong ấy, thời do hoan hỷ, tán thưởng, chấp thủ và an trú tham đắm, dục hỷ sanh; và này Puñña. Ta nói rằng, từ sự tập khởi của dục hỷ, là sự tập khởi của khổ.
SC 8Này Puñña, có những sắc do mắt nhận thức, khả ái, khả lạc, khả hỷ, khả ý, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ, không tán thưởng, không chấp thủ và an trú, thời dục hỷ diệt. Này Puñña, Ta nói rằng, từ sự diệt tận dục hỷ là sự diệt tận đau khổ. Này Puñña, có những tiếng do tai nhận thức; có những hương do mũi nhận thức; có những vị do lưỡi nhận thức; có những cảm xúc do thân nhận thức; có những pháp do ý nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ, không tán thưởng, không chấp thủ và an trú, thời dục hỷ diệt. Này Puñña, Ta nói rằng, từ sự diệt tận dục hỷ là sự diệt tận đau khổ.
SC 9Này Puñña, Ông sẽ sống ở quốc độ nào, nay Ông đã được Ta giáo giới với lời giáo giới vắn tắt?
SC 10—Bạch Thế Tôn, nay con đã được Thế Tôn giáo giới với lời giáo giới vắn tắt, có một quốc độ tên là Sunaparanta (Tây Phương Du-na Quốc), con sẽ sống tại đấy.
SC 11—Này Puñña, người nước Sunaparanta là hung bạo. Này Puñña, người nước Sunaparanta là thô ác. Này Puñña, nếu người nước Sunaparanta mắng nhiếc Ông, nhục mạ Ông, thời này Puñña, tại đấy Ông sẽ như thế nào?
SC 12—Bạch Thế Tôn, nếu người nước Sunaparanta mắng nhiếc con, nhục mạ con, thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: “Thật là hiền thiện, người nước Sunaparanta này! Thật là chí thiện, người nước Sunaparanta này! Vì rằng họ không lấy tay đánh đập ta”. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
SC 13—Nhưng này Puñña, nếu các người nước Sunaparanta lấy tay đánh đập Ông, thời này Puñña, tại đấy Ông sẽ nghĩ như thế nào?
SC 14—Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy tay đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: “” Thật là thiện, người nước Sunaparanta này! Thật là chí thiện, người nước Sunaparanta này! Vì rằng họ không lấy các cục đất ném đánh ta”. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy! Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
SC 15—Nhưng này Puñña, nếu các người nước Sunapa ranta lấy các cục đất ném đánh Ông, thời này Puñña, tại đấy Ông sẽ nghĩ thế nào?
SC 16—Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy cục đất ném đánh con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: “Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy gậy đánh đập ta”. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
SC 17—Nhưng này Puñña, nếu các người nước Sunaparanta lấy gậy đánh đập Ông, thời này Puñña, tại đấy Ông nghĩ thế nào?
SC 18—Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy gậy đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: “Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy dao đánh đập ta”. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
SC 19—Nhưng này Puñña, nếu các người nước Sunapa ranta lấy dao đánh đập Ông, thời này Puñña, tại đấy Ông nghĩ thế nào?
SC 20—Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy dao đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: “Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy dao sắc bén đoạt hại mạng ta”. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
SC 21—Nhưng này Puñña, nếu các người nước Sunaparanta lấy dao sắc bén đoạt hại mạng Ông, thời này Puñña, tại đấy Ông nghĩ thế nào?
SC 22—-Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunapa ranta sẽ lấy dao sắc bén đoạt hại mạng con; thời tại đấy con sẽ nghĩ như sau: “Có những đệ tử của Thế Tôn, ưu phiền và nhàm chán thân thể và sinh mạng đi tìm con dao (để tự sát). Nay ta khỏi cần đi tìm đã được con dao ấy”. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy, con sẽ nghĩ như vậy.
SC 23—Lành thay, lành thay, này Puñña! Này Puñña, Ông có thể sống trong nước Sunaparanta, khi Ông có được đầy đủ sự nhiếp phục và an tịnh này. Này Puñña, Ông nay hãy làm những gì Ông nghĩ là hợp thời.
SC 24Rồi Tôn giả Puñña, sau khi hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài, dọn dẹp sàng tọa, lấy y bát, rồi ra đi, đi đến nước Sunaparanta. Tiếp tục du hành, Tôn giả Puñña đi đến nước Sunaparanta. Tại đây, Tôn giả Puñña sống trong nước Sunaparanta. Rồi Tôn giả Puñña nội trong mùa an cư mùa mưa ấy, nhiếp được khoảng năm trăm nam cư sĩ; cũng trong mùa an cư mùa mưa ấy, nhiếp độ khoảng năm trăm nữ cư sĩ; cũng trong mùa an cư mùa mưa ấy, chứng được Tam minh. Sau một thời gian, Tôn giả Puñña mệnh chung.
SC 25Rồi một số đông Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn
SC 26—Bạch Thế Tôn, Thiện nam tử Puñña ấy, sau khi được Thế Tôn giáo giới với bài giáo giới vắn tắt đã mệnh chung. Sanh thú của vị ấy là gì? Ðời sau của vị ấy là thế nào?
SC 27—Này các Tỷ-kheo, Thiện nam tử Puñña là bậc Hiền trí. Vị ấy thực hành pháp và tùy pháp. Vị ấy không phiền nhiễu Ta với những câu hỏi về pháp. Này các Tỷ-kheo, Thiện nam tử Puñña đã nhập Niết-bàn.
SC 28Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). 15-07-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
3. Kinh Giáo Giới Puṇṇa
Atha kho āyasmā puṇṇo sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā puṇṇo bhagavantaṁ etadavoca: “sādhu maṁ, bhante, bhagavā saṅkhittena ovādena ovadatu, yamahaṁ bhagavato dhammaṁ sutvā eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto vihareyyan”ti.
“Tena hi, puṇṇa, suṇāhi, sādhukaṁ manasi karohi; bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā puṇṇo bhagavato paccassosi. Bhagavā etadavoca:
Then in the late afternoon, Venerable Puṇṇa came out of retreat and went to the Buddha. He bowed, sat down to one side, and said to the Buddha, “Sir, may the Buddha please teach me Dhamma in brief. When I’ve heard it, I’ll live alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute.”
“Well then, Puṇṇa, listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” replied Puṇṇa. The Buddha said this:
395. Như vầy tôi nghe. Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Bấy giờ, vào buổi chiều, trưởng lão Puṇṇa từ nơi độc cư đứng dậy, đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đã đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, trưởng lão Puṇṇa bạch với Thế Tôn điều này: ‘Bạch Thế Tôn, lành thay nếu Thế Tôn dùng lời giáo giới tóm tắt để giáo giới cho con, để sau khi nghe Pháp từ Thế Tôn, con có thể sống một mình, xa lánh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.’ ‘Này Puṇṇa, vậy thì hãy lắng nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.’ ‘Vâng, bạch Thế Tôn.’ Trưởng lão Puṇṇa đã vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn đã nói điều này:
“Santi kho, puṇṇa, cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā. Tañce bhikkhu abhinandati abhivadati ajjhosāya tiṭṭhati. Tassa taṁ abhinandato abhivadato ajjhosāya tiṭṭhato uppajjati nandī. ‘Nandīsamudayā dukkhasamudayo, puṇṇā’ti vadāmi.
“Puṇṇa, there are sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant approves, welcomes, and keeps clinging to them, this gives rise to relishing. Relishing is the origin of suffering, I say.
“Này Puṇṇa, có những sắc pháp được nhận biết bởi nhãn thức, là những pháp khả ái, đáng yêu, đáng hài lòng, có hình thức đáng ưa thích, liên hệ đến dục vọng, có tính chất quyến rũ. Nếu vị tỳ khưu hoan hỷ, tán dương, và chấp giữ pháp ấy. Đối với vị ấy, do hoan hỷ, tán dương, và chấp giữ pháp ấy mà hỷ lạc khởi sanh. ‘Này Puṇṇa, do sự khởi sanh của hỷ lạc mà có sự khởi sanh của khổ đau’, Ta nói vậy.
Santi kho, puṇṇa, sotaviññeyyā saddā … ghānaviññeyyā gandhā … jivhāviññeyyā rasā … kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā … manoviññeyyā dhammā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā. Tañce bhikkhu abhinandati abhivadati ajjhosāya tiṭṭhati. Tassa taṁ abhinandato abhivadato ajjhosāya tiṭṭhato uppajjati nandī. ‘Nandīsamudayā dukkhasamudayo, puṇṇā’ti vadāmi.
There are sounds known by the ear … smells known by the nose … tastes known by the tongue … touches known by the body … ideas known by the mind, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant approves, welcomes, and keeps clinging to them, this gives rise to relishing. Relishing is the origin of suffering, I say.
Này Puṇṇa, có các âm thanh được nhận biết bởi nhĩ thức... các mùi hương được nhận biết bởi tỷ thức... các vị được nhận biết bởi thiệt thức... các vật xúc chạm được nhận biết bởi thân thức... các pháp được nhận biết bởi ý thức, là những pháp khả ái, khả hỷ, khả ý, có hình thức đáng yêu, liên hệ đến dục vọng, có tính chất quyến rũ. Nếu vị tỳ khưu hoan hỷ, tán dương, và chấp thủ vào pháp ấy. Đối với vị tỳ khưu hoan hỷ, tán dương, và chấp thủ vào pháp ấy, hỷ lạc khởi sanh. Này Puṇṇa, Ta nói rằng: ‘Do sự sanh khởi của hỷ lạc là sự sanh khởi của khổ đau’.
Santi ca kho, puṇṇa, cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā. Tañce bhikkhu nābhinandati nābhivadati nājjhosāya tiṭṭhati. Tassa taṁ anabhinandato anabhivadato anajjhosāya tiṭṭhato nandī nirujjhati. ‘Nandīnirodhā dukkhanirodho, puṇṇā’ti vadāmi.
There are sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant doesn’t approve, welcome, and keep clinging to them, relishing ceases. When relishing ceases, suffering ceases, I say.
Này Puṇṇa, lại nữa, có các sắc được nhận biết bởi nhãn thức, là những sắc khả ái, khả hỷ, khả ý, có hình thức đáng yêu, liên hệ đến dục vọng, có tính chất quyến rũ. Nếu vị tỳ khưu không hoan hỷ, không tán dương, không chấp thủ vào sắc ấy. Đối với vị tỳ khưu không hoan hỷ, không tán dương, không chấp thủ vào sắc ấy, hỷ lạc được đoạn diệt. Này Puṇṇa, Ta nói rằng: ‘Do sự đoạn diệt của hỷ lạc là sự đoạn diệt của khổ đau’.
Santi ca kho, puṇṇa, sotaviññeyyā saddā … ghānaviññeyyā gandhā … jivhāviññeyyā rasā … kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā … manoviññeyyā dhammā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā. Tañce bhikkhu nābhinandati nābhivadati nājjhosāya tiṭṭhati. Tassa taṁ anabhinandato anabhivadato anajjhosāya tiṭṭhato nandī nirujjhati. ‘Nandīnirodhā dukkhanirodho, puṇṇā’ti vadāmi.
There are sounds known by the ear … smells known by the nose … tastes known by the tongue … touches known by the body … ideas known by the mind, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant doesn’t approve, welcome, and keep clinging to them, relishing ceases. When relishing ceases, suffering ceases, I say.
Này Puṇṇa, lại nữa, có các âm thanh được nhận biết bởi nhĩ thức... các mùi hương được nhận biết bởi tỷ thức... các vị được nhận biết bởi thiệt thức... các vật xúc chạm được nhận biết bởi thân thức... các pháp được nhận biết bởi ý thức, là những pháp khả ái, khả hỷ, khả ý, có hình thức đáng yêu, liên hệ đến dục vọng, có tính chất quyến rũ. Nếu vị tỳ khưu không hoan hỷ, không tán dương, không chấp thủ vào pháp ấy. Đối với vị tỳ khưu không hoan hỷ, không tán dương, không chấp thủ vào pháp ấy, hỷ lạc được đoạn diệt. Này Puṇṇa, Ta nói rằng: ‘Do sự đoạn diệt của hỷ lạc là sự đoạn diệt của khổ đau’.
Iminā ca tvaṁ, puṇṇa, mayā saṅkhittena ovādena ovadito katarasmiṁ janapade viharissasī”ti?
“Imināhaṁ, bhante, bhagavatā saṅkhittena ovādena ovadito, atthi sunāparanto nāma janapado, tatthāhaṁ viharissāmī”ti.
Puṇṇa, now that I’ve given you this brief advice, what country will you live in?”
“Sir, there’s a country named Sunāparanta. I shall live there.”
Này Puṇṇa, sau khi được Ta giáo huấn bằng lời giáo huấn tóm tắt này, ngươi sẽ trú ở quốc độ nào? – Bạch Thế Tôn, sau khi được Thế Tôn giáo huấn bằng lời giáo huấn tóm tắt này, có một quốc độ tên là Sunāparanta, con sẽ trú ở đấy.
“Caṇḍā kho, puṇṇa, sunāparantakā manussā; pharusā kho, puṇṇa, sunāparantakā manussā. Sace taṁ, puṇṇa, sunāparantakā manussā akkosissanti paribhāsissanti, tattha te, puṇṇa, kinti bhavissatī”ti?
“Sace maṁ, bhante, sunāparantakā manussā akkosissanti paribhāsissanti, tattha me evaṁ bhavissati:
“The people of Sunāparanta are wild and rough, Puṇṇa. If they abuse and insult you, what will you think of them?”
“If they abuse and insult me, I will think:
396. Này Puṇṇa, dân chúng xứ Sunāparanta thật là hung dữ; này Puṇṇa, dân chúng xứ Sunāparanta thật là thô bạo. Này Puṇṇa, nếu dân chúng xứ Sunāparanta mắng nhiếc, chửi rủa ngươi, khi ấy ngươi sẽ nghĩ như thế nào? – Bạch Thế Tôn, nếu dân chúng xứ Sunāparanta mắng nhiếc, chửi rủa con, khi ấy con sẽ nghĩ như thế này: ‘Dân chúng xứ Sunāparanta này thật là hiền thiện, dân chúng xứ Sunāparanta này thật là rất hiền thiện, vì họ đã không dùng tay đánh đập ta.’ Bạch Thế Tôn, khi ấy con sẽ nghĩ như vậy; bạch Thiện Thệ, khi ấy con sẽ nghĩ như vậy.
“Sace pana te, puṇṇa, sunāparantakā manussā pāṇinā pahāraṁ dassanti, tattha pana te, puṇṇa, kinti bhavissatī”ti?
“Sace me, bhante, sunāparantakā manussā pāṇinā pahāraṁ dassanti, tattha me evaṁ bhavissati: ‘bhaddakā vatime sunāparantakā manussā, subhaddakā vatime sunāparantakā manussā, yaṁ me nayime leḍḍunā pahāraṁ dentī’ti. Evamettha, bhagavā, bhavissati; evamettha, sugata, bhavissatī”ti.
“But if they do hit you with their fists, what will you think of them then?”
“If they hit me with their fists, I’ll think: ‘These people of Sunāparanta are gracious, truly gracious, since they don’t throw stones at me.’ That’s what I’ll think, Blessed One. That’s what I’ll think, Holy One.”
Này Puṇṇa, nhưng nếu dân chúng xứ Sunāparanta dùng tay đánh đập ngươi, khi ấy ngươi sẽ nghĩ như thế nào? – Bạch Thế Tôn, nếu dân chúng xứ Sunāparanta dùng tay đánh đập con, khi ấy con sẽ nghĩ như thế này: ‘Dân chúng xứ Sunāparanta này thật là hiền thiện, dân chúng xứ Sunāparanta này thật là rất hiền thiện, vì họ đã không dùng đất cục ném ta.’ Bạch Thế Tôn, khi ấy con sẽ nghĩ như vậy; bạch Thiện Thệ, khi ấy con sẽ nghĩ như vậy.
“Sace pana te, puṇṇa, sunāparantakā manussā leḍḍunā pahāraṁ dassanti, tattha pana te, puṇṇa, kinti bhavissatī”ti?
“Sace me, bhante, sunāparantakā manussā leḍḍunā pahāraṁ dassanti, tattha me evaṁ bhavissati: ‘bhaddakā vatime sunāparantakā manussā, subhaddakā vatime sunāparantakā manussā, yaṁ me nayime daṇḍena pahāraṁ dentī’ti. Evamettha, bhagavā, bhavissati; evamettha, sugata, bhavissatī”ti.
“But if they do throw stones at you, what will you think of them then?”
“If they throw stones at me, I’ll think: ‘These people of Sunāparanta are gracious, truly gracious, since they don’t beat me with a club.’ That’s what I’ll think, Blessed One. That’s what I’ll think, Holy One.”
Này Puṇṇa, nhưng nếu dân chúng xứ Sunāparanta dùng đất cục ném ngươi, khi ấy ngươi sẽ nghĩ như thế nào? – Bạch Thế Tôn, nếu dân chúng xứ Sunāparanta dùng đất cục ném con, khi ấy con sẽ nghĩ như thế này: ‘Dân chúng xứ Sunāparanta này thật là hiền thiện, dân chúng xứ Sunāparanta này thật là rất hiền thiện, vì họ đã không dùng gậy đánh đập ta.’ Bạch Thế Tôn, khi ấy con sẽ nghĩ như vậy; bạch Thiện Thệ, khi ấy con sẽ nghĩ như vậy.
“Sace pana te, puṇṇa, sunāparantakā manussā daṇḍena pahāraṁ dassanti, tattha pana te, puṇṇa, kinti bhavissatī”ti?
“Sace me, bhante, sunāparantakā manussā daṇḍena pahāraṁ dassanti, tattha me evaṁ bhavissati: ‘bhaddakā vatime sunāparantakā manussā, subhaddakā vatime sunāparantakā manussā, yaṁ me nayime satthena pahāraṁ dentī’ti. Evamettha, bhagavā, bhavissati; evamettha, sugata, bhavissatī”ti.
“But if they do beat you with a club, what will you think of them then?”
“If they beat me with a club, I’ll think: ‘These people of Sunāparanta are gracious, truly gracious, since they don’t stab me with a knife.’ That’s what I’ll think, Blessed One. That’s what I’ll think, Holy One.”
Này Puṇṇa, nhưng nếu dân chúng xứ Sunāparanta dùng gậy đánh đập ngươi, khi ấy ngươi sẽ nghĩ như thế nào? – Bạch Thế Tôn, nếu dân chúng xứ Sunāparanta dùng gậy đánh đập con, khi ấy con sẽ nghĩ như thế này: ‘Dân chúng xứ Sunāparanta này thật là hiền thiện, dân chúng xứ Sunāparanta này thật là rất hiền thiện, vì họ đã không dùng dao kiếm đâm chém ta.’ Bạch Thế Tôn, khi ấy con sẽ nghĩ như vậy; bạch Thiện Thệ, khi ấy con sẽ nghĩ như vậy.
“Sace pana te, puṇṇa, sunāparantakā manussā satthena pahāraṁ dassanti, tattha pana te, puṇṇa, kinti bhavissatī”ti?
“Sace me, bhante, sunāparantakā manussā satthena pahāraṁ dassanti, tattha me evaṁ bhavissati: ‘bhaddakā vatime sunāparantakā manussā, subhaddakā vatime sunāparantakā manussā, yaṁ maṁ nayime tiṇhena satthena jīvitā voropentī’ti. Evamettha, bhagavā, bhavissati; evamettha, sugata, bhavissatī”ti.
“But if they do stab you with a knife, what will you think of them then?”
“If they stab me with a knife, I’ll think: ‘These people of Sunāparanta are gracious, truly gracious, since they don’t take my life with a sharp knife.’ That’s what I’ll think, Blessed One. That’s what I’ll think, Holy One.”
Này Puṇṇa, nhưng nếu dân chúng xứ Sunāparanta dùng dao kiếm đâm chém ngươi, khi ấy ngươi sẽ nghĩ như thế nào? – Bạch Thế Tôn, nếu dân chúng xứ Sunāparanta dùng dao kiếm đâm chém con, khi ấy con sẽ nghĩ như thế này: ‘Dân chúng xứ Sunāparanta này thật là hiền thiện, dân chúng xứ Sunāparanta này thật là rất hiền thiện, vì họ đã không dùng dao kiếm sắc bén để đoạt mạng sống của ta.’ Bạch Thế Tôn, khi ấy con sẽ nghĩ như vậy; bạch Thiện Thệ, khi ấy con sẽ nghĩ như vậy.
“Sace pana taṁ, puṇṇa, sunāparantakā manussā tiṇhena satthena jīvitā voropessanti, tattha pana te, puṇṇa, kinti bhavissatī”ti?
“Sace maṁ, bhante, sunāparantakā manussā tiṇhena satthena jīvitā voropessanti, tattha me evaṁ bhavissati: ‘santi kho bhagavato sāvakā kāye ca jīvite ca aṭṭīyamānā harāyamānā jigucchamānā satthahārakaṁ pariyesanti. Taṁ me idaṁ apariyiṭṭhaṁyeva satthahārakaṁ laddhan’ti. Evamettha, bhagavā, bhavissati; evamettha, sugata, bhavissatī”ti.
“Sādhu sādhu, puṇṇa. Sakkhissasi kho tvaṁ, puṇṇa, iminā damūpasamena samannāgato sunāparantasmiṁ janapade viharituṁ. Yassadāni tvaṁ, puṇṇa, kālaṁ maññasī”ti.
“But if they do take your life with a sharp knife, what will you think of them then?”
“If they take my life with a sharp knife, I’ll think: ‘There are disciples of the Buddha who looked for a suicide weapon because they were horrified, repelled, and disgusted with the body and with life. And I have found this without looking!’ That’s what I’ll think, Blessed One. That’s what I’ll think, Holy One.”
“Good, good Puṇṇa! Having such self-control and peacefulness, you will be quite capable of living in Sunāparanta. Now, Puṇṇa, go at your convenience.”
Này Puṇṇa, nhưng nếu dân chúng xứ Sunāparanta dùng dao kiếm sắc bén để đoạt mạng sống của ngươi, khi ấy ngươi sẽ nghĩ như thế nào? – Bạch Thế Tôn, nếu dân chúng xứ Sunāparanta dùng dao kiếm sắc bén để đoạt mạng sống của con, khi ấy con sẽ nghĩ như thế này: ‘Có những vị đệ tử của Thế Tôn, do phiền muộn, hổ thẹn, và ghê tởm thân và mạng này, nên đã đi tìm người mang vũ khí đến. Còn ta, ta đã tìm được người mang vũ khí đến mà không cần phải tìm kiếm.’ Bạch Thế Tôn, khi ấy con sẽ nghĩ như vậy; bạch Thiện Thệ, khi ấy con sẽ nghĩ như vậy. – Lành thay, lành thay, này Puṇṇa! Này Puṇṇa, được trang bị sự tự chế và an tịnh này, ngươi sẽ có thể trú tại quốc độ Sunāparanta. Này Puṇṇa, nay ngươi hãy làm những gì ngươi nghĩ là phải thời.
Atha kho āyasmā puṇṇo bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā senāsanaṁ saṁsāmetvā pattacīvaramādāya yena sunāparanto janapado tena cārikaṁ pakkāmi. Anupubbena cārikaṁ caramāno yena sunāparanto janapado tadavasari. Tatra sudaṁ āyasmā puṇṇo sunāparantasmiṁ janapade viharati. Atha kho āyasmā puṇṇo tenevantaravassena pañcamattāni upāsakasatāni paṭivedesi, tenevantaravassena pañcamattāni upāsikasatāni paṭivedesi, tenevantaravassena tisso vijjā sacchākāsi. Atha kho āyasmā puṇṇo aparena samayena parinibbāyi.
And then Puṇṇa welcomed and agreed with the Buddha’s words. He got up from his seat, bowed and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right. Then he set his lodgings in order and, taking his bowl and robe, set out for Sunāparanta. Traveling stage by stage, he arrived at Sunāparanta, and stayed there. Within that rainy season he confirmed around five hundred male and five hundred female lay followers. And within that same rainy season he realized the three knowledges. Some time later he became fully extinguished.
397. Bấy giờ, Tôn giả Puṇṇa, sau khi hoan hỷ, tán thán lời dạy của Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu quanh phía bên phải, dọn dẹp chỗ ở, rồi mang y bát lên đường du hành đến xứ Sunāparanta. Tuần tự du hành, ngài đã đến xứ Sunāparanta. Tại đó, Tôn giả Puṇṇa trú tại xứ Sunāparanta. Rồi chính trong mùa mưa ấy, Tôn giả Puṇṇa đã làm cho năm trăm nam cư sĩ chứng ngộ, chính trong mùa mưa ấy, ngài đã làm cho năm trăm nữ cư sĩ chứng ngộ, và chính trong mùa mưa ấy, ngài đã chứng đắc ba minh. Về sau, Tôn giả Puṇṇa đã nhập Vô Dư Niết-bàn.
Atha kho sambahulā bhikkhū yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ: “yo so, bhante, puṇṇo nāma kulaputto bhagavatā saṅkhittena ovādena ovadito so kālaṅkato. Tassa kā gati, ko abhisamparāyo”ti?
“Paṇḍito, bhikkhave, puṇṇo kulaputto paccapādi dhammassānudhammaṁ, na ca maṁ dhammādhikaraṇaṁ viheṭhesi. Parinibbuto, bhikkhave, puṇṇo kulaputto”ti.
Then several mendicants went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him, “Sir, the gentleman named Puṇṇa, who was advised in brief by the Buddha, has passed away. Where has he been reborn in his next life?”
“Mendicants, Puṇṇa was astute. He practiced in line with the teaching, and did not trouble me about the teachings. Puṇṇa has become fully quenched.”
Bấy giờ, một số đông Tỳ khưu đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, họ đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, các Tỳ khưu ấy bạch với Thế Tôn rằng: “Bạch Thế Tôn, thiện nam tử tên Puṇṇa, người đã được Thế Tôn giáo giới bằng một lời giáo huấn vắn tắt, đã mệnh chung. Sanh thú của vị ấy là gì, đời sau sẽ ra sao?” “Này các Tỳ khưu, thiện nam tử Puṇṇa là người có trí tuệ, đã thực hành pháp và tùy pháp, và đã không làm phiền Như Lai vì các vấn đề liên quan đến pháp. Này các Tỳ khưu, thiện nam tử Puṇṇa đã nhập Vô Dư Niết-bàn.”
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
Thế Tôn đã nói như vậy. Các Tỳ khưu ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Puṇṇovādasuttaṁ niṭṭhitaṁ tatiyaṁ.
Kinh Giáo Giới Puṇṇa, phẩm thứ ba, dứt.