- Majjhima Nikāya 144
Channovādasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Channovādasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời, Thế Tôn ở Rājagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc-lâm), tại chỗ nuôi dưỡng sóc (Kalandakanivapa).
SC 2Lúc bấy giờ Tôn giả Sāriputta (Xá lợi phất), Tôn giả Mahācunda (Ðại Chu-na) và Tôn giả Channa (Xiển-đà) cùng trú ở Gijjhakūta (Linh Thứu). Lúc bấy giờ, Tôn giả Channa bị bệnh, đau khổ, bị trọng bệnh. Rồi Tôn giả Sāriputta, vào buổi chiều từ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến Tôn giả Mahācunda, sau khi đến, nói với Tôn giả Mahācunda
SC 3—Chúng ta hãy đi, này Hiền giả Cunda, chúng ta hãy đi đến Tôn giả Channa để hỏi thăm bệnh trạng.
—Thưa vâng, Hiền giả.
SC 4Tôn giả Mahācunda vâng đáp Tôn giả Sāriputta. Rồi Tôn giả Sāriputta cùng với Tôn giả Mahācunda đi đến Tôn giả Channa; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Channa những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả Channa
SC 5—Này Hiền giả Channa, mong rằng Hiền giả có thể kham nhẫn! Mong rằng Hiền giả có thể chịu đựng! Mong rằng khổ thọ được giảm thiểu không có gia tăng, và sự giảm thiểu được rõ rệt, không có gia tăng!
SC 6—Thưa Hiền giả Sāriputta, tôi không có thể kham nhẫn, tôi không có thể chịu đựng. Sự thống khổ của tôi gia tăng không có giảm thiểu, và sự gia tăng rõ rệt, không có giảm thiểu. Thưa Hiền giả Sāriputta, tôi sẽ đem dao (cho tôi). Tôi không còn muốn sống.
SC 7—Tôn giả Channa, chớ có đem lại con dao! Tôn giả Channa, hãy tiếp tục sống! Chúng tôi muốn Tôn giả Channa tiếp tục sống. Nếu Tôn giả Channa không có các món ăn tốt lành, tôi sẽ đi tìm các món ăn tốt lành cho Tôn giả Channa. Nếu Tôn giả Channa không có các dược phẩm tốt lành, tôi sẽ đi tìm các dược phẩm tốt lành cho Tôn giả Channa. Nếu Tôn giả Channa không có người thị giả thích đáng, tôi sẽ hầu hạ Tôn giả Channa. Tôn giả Channa chớ có đem lại con dao! Tôn giả Channa hãy tiếp tục sống! Chúng tôi muốn Tôn giả Channa tiếp tục sống.
SC 8—Thưa Hiền giả Sāriputta, không phải tôi không có các món ăn tốt lành, cũng không phải tôi không có các dược phẩm tốt lành. Cũng không phải tôi không có thị giả thích đáng. Thưa Hiền giả Sāriputta, trong một thời gian dài, tôi đã hầu hạ bậc Ðạo Sư, làm cho (bậc Ðạo sư) được đẹp lòng, không phải không được đẹp lòng. Thưa Hiền giả Sāriputta, thật là thích đáng cho người đệ tử hầu hạ bậc Ðạo Sư, làm cho (bậc Ðạo Sư) được đẹp lòng, không phải không được đẹp lòng. Tỷ-kheo Channa đem lại con dao không có phạm tội. Thưa Hiền giả Sāriputta, hãy thọ trì như vậy!
SC 9—Chúng tôi muốn hỏi Tôn giả Channa về một vấn đề đặc biệt, nếu Tôn giả Channa cho chúng tôi được phép đặt câu hỏi.
SC 10—Hãy hỏi đi, Hiền giả Sāriputta; sau khi nghe, tôi sẽ biết (nói như thế nào).
SC 11—Hiền giả Channa, Hiền giả có xem con mắt, nhãn thức và các pháp do mắt nhận thức là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi? ” Hiền giả Channa, Hiền giả có xem tai, nhĩ thức … Hiền giả Channa, Hiền giả có xem mũi, tỷ thức … Hiền giả Channa, Hiền giả có xem lưỡi, thiệt thức … Hiền giả Channa, Hiền giả có xem thân, thân thức … Hiền giả Channa, Hiền giả có xem ý, ý thức và các pháp do ý nhận thức là: “Cái này của tôi, cái này là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”?
SC 12—Hiền giả Sāriputta, tôi xem mắt, nhãn thức và các pháp do mắt nhận thức là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”. Hiền giả Sāriputta, tôi xem tai, nhĩ thức. Hiền giả Sāriputta, tôi xem mũi, tỷ thức … Hiền giả Sāriputta, tôi xem lưỡi, thiệt thức … Hiền giả Sāriputta, tôi xem thân, thân thức … Hiền giả Sāriputta, tôi xem ý, ý thức và các pháp do ý nhận thức là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.
SC 13—Này Hiền giả Channa, Hiền giả đã thấy cái gì, đã chứng tri cái gì trong mắt, trong nhãn thức, trong các pháp được mắt nhận thức mà Hiền giả xem mắt, nhãn thức và các pháp do mắt nhận thức là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi?” Hiền giả Channa, Hiền giả đã thấy cái gì, đã chứng tri cái gì trong tai, trong nhĩ thức … trong mũi, trong tỷ thức … trong lưỡi, trong thiệt thức … trong thân, trong thân thức … trong ý, trong ý thức và trong các pháp do ý nhận thức mà Hiền giả xem ý, ý thức và các pháp do ý nhận thức là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi ”?
SC 14—Thưa Hiền giả Sāriputta, chính vì tôi thấy sự diệt (nirodha), chứng tri sự diệt trong mắt, trong nhãn thức và trong các pháp do mắt nhận thức, mà tôi xem mắt, nhãn thức, và các pháp do mắt nhận thức là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”. Thưa Hiền giả Sāriputta, chính vì tôi thấy sự diệt, chứng tri sự diệt trong tai, trong nhĩ thức … trong mũi, trong tỷ thức … trong lưỡi, trong thiệt thức … trong thân, trong thân thức … trong ý, trong ý thức và trong các pháp do ý nhận thức mà tôi xem ý, ý thức và các pháp do ý nhận thức là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.
SC 15Khi được nghe nói vậy, Tôn giả Mahācunda nói với Tôn giả Channa
SC 16—Do vậy, này Hiền giả Channa, lời dạy này của Thế Tôn phải được thường trực tác ý: “Ai có chấp trước là có dao động. Ai không chấp trước là không có dao động. Không có dao động, thời có khinh an; có khinh an thời không có hy cầu (nati); không có hy cầu thời không có khứ lai; không có khứ lai thời không có tử sanh; không có tử sanh thời không có đời này, không có đời sau, không có giữa hai đời. Như vậy là sự đoạn tận đau khổ”.
SC 17Rồi Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Mahācunda sau khi giáo giới cho Tôn giả Channa, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Rồi Tôn giả Channa, sau khi Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Mahācunda ra đi không bao lâu, đem dao lại (cho mình). Rồi Tôn giả Sāriputta đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sāriputta bạch Thế Tôn
SC 18—Bạch Thế Tôn, Tôn giả Channa đã đem dao lại (cho mình), sanh xứ của Tôn giả ấy là gì? Ðời sống tương lai là gì?
SC 19—Này Sāriputta, có phải trước mặt Ông, Tỷ-kheo Channa đã tuyên bố sự không phạm tội?
SC 20—Bạch Thế Tôn, có một ngôi làng của dòng họ Vajjī (Bạt-kỳ) tên là Pubbajira. Tại đấy, có những gia đình thân hữu, những gia đình hộ trì Tôn giả Channa, những gia đình cần được viếng thăm.
SC 21—Này Sāriputta, có những gia đình ấy là những gia đình thân hữu, những gia đình hộ trì Tỷ-kheo Channa, những gia đình cần được viếng thăm. Này Sāriputta, cho đến nay, Ta không nói rằng Tỷ-kheo Channa có phạm tội. Này Sāriputta, ai quăng bỏ thân này, và chấp thủ thân khác, Ta nói rằng người ấy có phạm tội. Tỷ-kheo Channa không có (chấp thủ) như vậy. Tỷ-kheo Channa đem con dao lại (cho mình), không có phạm tội.
SC 22Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Sāriputta hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). 15-07-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
2. Kinh Giáo Giới Channa
Tena kho pana samayena āyasmā ca sāriputto āyasmā ca mahācundo āyasmā ca channo gijjhakūṭe pabbate viharanti.
Tena kho pana samayena āyasmā channo ābādhiko hoti dukkhito bāḷhagilāno.
Atha kho āyasmā sāriputto sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yenāyasmā mahācundo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ mahācundaṁ etadavoca: “āyāmāvuso cunda, yenāyasmā channo tenupasaṅkamissāma gilānapucchakā”ti.
“Evamāvuso”ti kho āyasmā mahācundo āyasmato sāriputtassa paccassosi.
Now at that time the venerables Sāriputta, Mahācunda, and Channa were staying on the Vulture’s Peak Mountain.
Now at that time Venerable Channa was sick, suffering, gravely ill.
Then in the late afternoon, Venerable Sāriputta came out of retreat, went to Venerable Mahācunda and said to him, “Come, Reverend Cunda, let’s go to see Venerable Channa and ask about his illness.”
“Yes, reverend,” replied Mahācunda.
389. Tôi nghe như vầy: Một thời, đức Thế Tôn trú tại Rājagaha (Vương Xá), trong Trúc Lâm, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Bấy giờ, Tôn giả Sāriputta, Tôn giả Mahācunda, và Tôn giả Channa đang trú tại núi Gijjhakūṭa (Linh Thứu). Và bấy giờ, Tôn giả Channa bị bệnh, đau đớn, lâm trọng bệnh. Rồi Tôn giả Sāriputta, vào buổi chiều, sau khi xuất khỏi nơi độc cư, đã đi đến chỗ Tôn giả Mahācunda; sau khi đến, đã nói với Tôn giả Mahācunda rằng: 'Này hiền giả Cunda, chúng ta hãy đi đến chỗ Tôn giả Channa để thăm bệnh.' 'Vâng, thưa hiền giả,' Tôn giả Mahācunda đã đáp lời Tôn giả Sāriputta.
Atha kho āyasmā ca sāriputto āyasmā ca mahācundo yenāyasmā channo tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā āyasmatā channena saddhiṁ sammodiṁsu. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā sāriputto āyasmantaṁ channaṁ etadavoca: “kacci te, āvuso channa, khamanīyaṁ, kacci yāpanīyaṁ? Kacci te dukkhā vedanā paṭikkamanti, no abhikkamanti; paṭikkamosānaṁ paññāyati, no abhikkamo”ti?
And then Sāriputta and Mahācunda went to see Channa and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, they sat down to one side. Then Sāriputta said to Channa, “I hope you’re keeping well, Reverend Channa, I hope you’re all right. I hope your pain is fading, not growing; that its fading is evident, not its growing.”
Rồi Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Mahācunda đã đi đến chỗ Tôn giả Channa; sau khi đến, đã cùng Tôn giả Channa nói lời chào hỏi thân mật. Sau khi trao đổi những lời thăm hỏi đáng ghi nhớ, họ ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Sāriputta đã nói với Tôn giả Channa rằng: 'Này hiền giả Channa, hiền giả có kham nhẫn được không, có chịu đựng được không? Các cảm thọ đau đớn của hiền giả có thuyên giảm, không tăng trưởng chứ? Sự thuyên giảm có biểu hiện rõ, không phải là sự tăng trưởng chứ?'
“Na me, āvuso sāriputta, khamanīyaṁ na yāpanīyaṁ. Bāḷhā me dukkhā vedanā abhikkamanti, no paṭikkamanti; abhikkamosānaṁ paññāyati, no paṭikkamo. Seyyathāpi, āvuso sāriputta, balavā puriso tiṇhena sikharena muddhani abhimattheyya; evameva kho me, āvuso sāriputta, adhimattā vātā muddhani ūhananti. Na me, āvuso sāriputta, khamanīyaṁ na yāpanīyaṁ. Bāḷhā me dukkhā vedanā abhikkamanti, no paṭikkamanti; abhikkamosānaṁ paññāyati no paṭikkamo. Seyyathāpi, āvuso sāriputta, balavā puriso daḷhena varattakkhaṇḍena sīse sīsaveṭhaṁ dadeyya; evameva kho me, āvuso sāriputta, adhimattā sīse sīsavedanā. Na me, āvuso sāriputta, khamanīyaṁ na yāpanīyaṁ. Bāḷhā me dukkhā vedanā abhikkamanti, no paṭikkamanti; abhikkamosānaṁ paññāyati, no paṭikkamo. Seyyathāpi, āvuso sāriputta, dakkho goghātako vā goghātakantevāsī vā tiṇhena govikantanena kucchiṁ parikanteyya; evameva kho me, āvuso sāriputta, adhimattā vātā kucchiṁ parikantanti. Na me, āvuso sāriputta, khamanīyaṁ na yāpanīyaṁ. Bāḷhā me dukkhā vedanā abhikkamanti, no paṭikkamanti; abhikkamosānaṁ paññāyati, no paṭikkamo. Seyyathāpi, āvuso sāriputta, dve balavanto purisā dubbalataraṁ purisaṁ nānābāhāsu gahetvā aṅgārakāsuyā santāpeyyuṁ samparitāpeyyuṁ; evameva kho me, āvuso sāriputta, adhimatto kāyasmiṁ ḍāho. Na me, āvuso sāriputta, khamanīyaṁ na yāpanīyaṁ. Bāḷhā me dukkhā vedanā abhikkamanti, no paṭikkamanti; abhikkamosānaṁ paññāyati, no paṭikkamo. Satthaṁ, āvuso sāriputta, āharissāmi, nāvakaṅkhāmi jīvitan”ti.
“Reverend Sāriputta, I’m not keeping well, I’m not getting by. My pain is terrible and growing, not fading; its growing is evident, not its fading. The winds piercing my head are so severe, it feels like a strong man drilling into my head with a sharp point. The pain in my head is so severe, it feels like a strong man tightening a strong leather strap around my head. The winds slicing my belly are so severe, like a deft butcher or their apprentice were slicing open a cow’s belly with a sharp meat cleaver. The burning in my body is so severe, it feels like two strong men grabbing a weaker man by the arms to burn and scorch him on a pit of glowing coals. I’m not keeping well, I’m not getting by. My pain is terrible and growing, not fading; its growing is evident, not its fading. Reverend Sāriputta, I shall commit suicide. I don’t wish to live.”
Thưa hiền giả Sāriputta, tôi không kham nhẫn được, không chịu đựng được. Các cảm thọ đau đớn của tôi đang tăng trưởng, không thuyên giảm; sự tăng trưởng biểu hiện rõ, không phải là sự thuyên giảm. Thưa hiền giả Sāriputta, ví như một người đàn ông khỏe mạnh dùng một mũi nhọn sắc bén để khoan vào đầu; cũng vậy, thưa hiền giả Sāriputta, những cơn gió dữ dội đang đâm vào đầu tôi. Thưa hiền giả Sāriputta, tôi không kham nhẫn được, không chịu đựng được. Các cảm thọ đau đớn của tôi đang tăng trưởng, không thuyên giảm; sự tăng trưởng biểu hiện rõ, không phải là sự thuyên giảm. Thưa hiền giả Sāriputta, ví như một người đàn ông khỏe mạnh dùng một sợi dây da chắc chắn để siết chặt đầu; cũng vậy, thưa hiền giả Sāriputta, tôi bị những cơn đau đầu dữ dội. Thưa hiền giả Sāriputta, tôi không kham nhẫn được, không chịu đựng được. Các cảm thọ đau đớn của tôi đang tăng trưởng, không thuyên giảm; sự tăng trưởng biểu hiện rõ, không phải là sự thuyên giảm. Thưa hiền giả Sāriputta, ví như một người đồ tể lành nghề hay đệ tử của người đồ tể dùng con dao mổ bò sắc bén để rạch bụng; cũng vậy, thưa hiền giả Sāriputta, những cơn gió dữ dội đang cắt xé bụng tôi. Thưa hiền giả Sāriputta, tôi không kham nhẫn được, không chịu đựng được. Các cảm thọ đau đớn của tôi đang tăng trưởng, không thuyên giảm; sự tăng trưởng biểu hiện rõ, không phải là sự thuyên giảm. Thưa hiền giả Sāriputta, ví như hai người đàn ông khỏe mạnh nắm một người yếu hơn ở hai cánh tay rồi hơ nóng, nướng trên hố than hồng; cũng vậy, thưa hiền giả Sāriputta, có một sự nóng bỏng dữ dội trong thân tôi. Thưa hiền giả Sāriputta, tôi không kham nhẫn được, không chịu đựng được. Các cảm thọ đau đớn của tôi đang tăng trưởng, không thuyên giảm; sự tăng trưởng biểu hiện rõ, không phải là sự thuyên giảm. Thưa hiền giả Sāriputta, tôi sẽ dùng đến dao, tôi không còn ham sống nữa.
“Māyasmā channo satthaṁ āharesi. Yāpetāyasmā channo. Yāpentaṁ mayaṁ āyasmantaṁ channaṁ icchāma. Sace āyasmato channassa natthi sappāyāni bhojanāni, ahaṁ āyasmato channassa sappāyāni bhojanāni pariyesissāmi. Sace āyasmato channassa natthi sappāyāni bhesajjāni, ahaṁ āyasmato channassa sappāyāni bhesajjāni pariyesissāmi. Sace āyasmato channassa natthi patirūpā upaṭṭhākā, ahaṁ āyasmantaṁ channaṁ upaṭṭhahissāmi. Māyasmā channo satthaṁ āharesi. Yāpetāyasmā channo. Yāpentaṁ mayaṁ āyasmantaṁ channaṁ icchāmā”ti.
“Please don’t commit suicide! Venerable Channa, keep going! We want you to keep going. If you don’t have any suitable food, we’ll find it for you. If you don’t have suitable medicine, we’ll find it for you. If you don’t have a capable carer, we’ll find one for you. Please don’t commit suicide! Venerable Channa, keep going! We want you to keep going.”
390. Mong Tôn giả Channa đừng dùng đến dao. Mong Tôn giả Channa hãy cố gắng chịu đựng. Chúng tôi mong muốn Tôn giả Channa hãy cố gắng chịu đựng. Nếu Tôn giả Channa không có vật thực thích hợp, tôi sẽ tìm kiếm vật thực thích hợp cho Tôn giả Channa. Nếu Tôn giả Channa không có dược phẩm thích hợp, tôi sẽ tìm kiếm dược phẩm thích hợp cho Tôn giả Channa. Nếu Tôn giả Channa không có người thị giả thích hợp, tôi sẽ chăm sóc cho Tôn giả Channa. Mong Tôn giả Channa đừng dùng đến dao. Mong Tôn giả Channa hãy cố gắng chịu đựng. Chúng tôi mong muốn Tôn giả Channa hãy cố gắng chịu đựng.
“Napi me, āvuso sāriputta, natthi sappāyāni bhojanāni; napi me natthi sappāyāni bhesajjāni; napi me natthi patirūpā upaṭṭhākā; api cāvuso sāriputta, pariciṇṇo me satthā dīgharattaṁ manāpeneva no amanāpena. Etañhi, āvuso sāriputta, sāvakassa patirūpaṁ yaṁ satthāraṁ paricareyya manāpeneva no amanāpena. ‘Anupavajjaṁ channo bhikkhu satthaṁ āharissatī’ti evametaṁ, āvuso sāriputta, dhārehī”ti.
“Puccheyyāma mayaṁ āyasmantaṁ channaṁ kañcideva desaṁ, sace āyasmā channo okāsaṁ karoti pañhassa veyyākaraṇāyā”ti.
“Pucchāvuso sāriputta, sutvā vedissāmī”ti.
“Reverend Sāriputta, it’s not that I don’t have suitable food, or suitable medicine, or a capable carer. Moreover, for a long time now I have served the Teacher with love, not without love. For it is proper for a disciple to serve the Teacher with love, not without love. You should remember this: ‘The mendicant Channa will commit suicide blamelessly.’”
“I’d like to ask Venerable Channa about a certain point, if you’d take the time to answer.”
“Ask, Reverend Sāriputta. When I’ve heard it I’ll know.”
Thưa hiền giả Sāriputta, không phải là tôi không có vật thực thích hợp; không phải là tôi không có dược phẩm thích hợp; không phải là tôi không có người thị giả thích hợp. Hơn nữa, thưa hiền giả Sāriputta, tôi đã hầu hạ bậc Đạo Sư trong một thời gian dài với tâm hoan hỷ, không phải với tâm không hoan hỷ. Thưa hiền giả Sāriputta, đây là điều thích hợp cho một người đệ tử, tức là hầu hạ bậc Đạo Sư với tâm hoan hỷ, không phải với tâm không hoan hỷ. 'Tỳ khưu Channa sẽ dùng dao một cách không thể chê trách,' thưa hiền giả Sāriputta, mong hiền giả hãy ghi nhớ điều này như vậy. 'Chúng tôi muốn hỏi Tôn giả Channa một vài điều, nếu Tôn giả Channa cho phép để trả lời câu hỏi.' 'Thưa hiền giả Sāriputta, xin cứ hỏi, sau khi nghe, tôi sẽ biết.'
“Cakkhuṁ, āvuso channa, cakkhuviññāṇaṁ cakkhuviññāṇaviññātabbe dhamme ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassasi? Sotaṁ, āvuso channa, sotaviññāṇaṁ …pe… ghānaṁ, āvuso channa, ghānaviññāṇaṁ … jivhaṁ, āvuso channa, jivhāviññāṇaṁ … kāyaṁ, āvuso channa, kāyaviññāṇaṁ … manaṁ, āvuso channa, manoviññāṇaṁ manoviññāṇaviññātabbe dhamme ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassasī”ti?
“Reverend Channa, do you regard the eye, eye consciousness, and things knowable by eye consciousness in this way: ‘This is mine, I am this, this is my self’? Do you regard the ear … nose … tongue … body … mind, mind consciousness, and things knowable by mind consciousness in this way: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”
391. Này hiền giả Channa, đối với con mắt, nhãn thức, và các pháp do nhãn thức nhận biết, hiền giả có xem xét rằng: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi' không? Này hiền giả Channa, đối với tai, nhĩ thức... này hiền giả Channa, đối với mũi, tỷ thức... này hiền giả Channa, đối với lưỡi, thiệt thức... này hiền giả Channa, đối với thân, thân thức... này hiền giả Channa, đối với ý, ý thức, và các pháp do ý thức nhận biết, hiền giả có xem xét rằng: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi' không?
“Cakkhuṁ, āvuso sāriputta, cakkhuviññāṇaṁ cakkhuviññāṇaviññātabbe dhamme ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassāmi. Sotaṁ, āvuso sāriputta …pe… ghānaṁ, āvuso sāriputta … jivhaṁ, āvuso sāriputta … kāyaṁ, āvuso sāriputta … manaṁ, āvuso sāriputta, manoviññāṇaṁ manoviññāṇaviññātabbe dhamme ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassāmī”ti.
“Reverend Sāriputta, I regard the eye, eye consciousness, and things knowable by eye consciousness in this way: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ I regard the ear … nose … tongue … body … mind, mind consciousness, and things knowable by mind consciousness in this way: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self’.”
‘Này hiền giả Sāriputta, đối với mắt, nhãn thức, và các pháp được nhận biết bở i nhãn thức, tôi quán xét rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngà của tôi’. Này hiền giả Sāriputta, đối với tai... (v.v...)... mũ i... lưỡi... thân... Này hiền giả Sāriputta, đối với ý, ý thức, và các pháp được nhận biết bở i ý thức, tôi quán xét rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngà của tôi’.’
“Cakkhusmiṁ, āvuso channa, cakkhuviññāṇe cakkhuviññāṇaviññātabbesu dhammesu kiṁ disvā kiṁ abhiññāya cakkhuṁ cakkhuviññāṇaṁ cakkhuviññāṇaviññātabbe dhamme ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassasi? Sotasmiṁ, āvuso channa, sotaviññāṇe … ghānasmiṁ, āvuso channa, ghānaviññāṇe … jivhāya, āvuso channa, jivhāviññāṇe … kāyasmiṁ, āvuso channa, kāyaviññāṇe … manasmiṁ, āvuso channa, manoviññāṇe manoviññāṇaviññātabbesu dhammesu kiṁ disvā kiṁ abhiññāya manaṁ manoviññāṇaṁ manoviññāṇaviññātabbe dhamme ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassasī”ti?
“Reverend Channa, what have you seen, what have you directly known in these things that you regard them in this way: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self’?”
392. “Này hiền giả Channa, ở nơi con mắt, ở nơi nhãn thức, ở nơi các pháp được nhận biết bởi nhãn thức, do thấy gì, do thắng tri gì mà hiền giả quán xét con mắt, nhãn thức, và các pháp được nhận biết bởi nhãn thức rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi’? Này hiền giả Channa, ở nơi tai, ở nơi nhĩ thức... Này hiền giả Channa, ở nơi mũi, ở nơi tỷ thức... Này hiền giả Channa, ở nơi lưỡi, ở nơi thiệt thức... Này hiền giả Channa, ở nơi thân, ở nơi thân thức... Này hiền giả Channa, ở nơi ý, ở nơi ý thức, ở nơi các pháp được nhận biết bởi ý thức, do thấy gì, do thắng tri gì mà hiền giả quán xét ý, ý thức, và các pháp được nhận biết bởi ý thức rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi’?”
“Cakkhusmiṁ, āvuso sāriputta, cakkhuviññāṇe cakkhuviññāṇaviññātabbesu dhammesu nirodhaṁ disvā nirodhaṁ abhiññāya cakkhuṁ cakkhuviññāṇaṁ cakkhuviññāṇaviññātabbe dhamme ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassāmi. Sotasmiṁ, āvuso sāriputta, sotaviññāṇe … ghānasmiṁ, āvuso sāriputta, ghānaviññāṇe … jivhāya, āvuso sāriputta, jivhāviññāṇe … kāyasmiṁ, āvuso sāriputta, kāyaviññāṇe … manasmiṁ, āvuso sāriputta, manoviññāṇe manoviññāṇaviññātabbesu dhammesu nirodhaṁ disvā nirodhaṁ abhiññāya manaṁ manoviññāṇaṁ manoviññāṇaviññātabbe dhamme ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassāmī”ti.
“Reverend Sāriputta, after seeing cessation, after directly knowing cessation in these things I regard them in this way: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self’.”
“Này hiền giả Sāriputta, ở nơi con mắt, ở nơi nhãn thức, ở nơi các pháp được nhận biết bởi nhãn thức, do thấy sự đoạn diệt, do thắng tri sự đoạn diệt mà tôi quán xét con mắt, nhãn thức, và các pháp được nhận biết bởi nhãn thức rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi’. Này hiền giả Sāriputta, ở nơi tai, ở nơi nhĩ thức... Này hiền giả Sāriputta, ở nơi mũi, ở nơi tỷ thức... Này hiền giả Sāriputta, ở nơi lưỡi, ở nơi thiệt thức... Này hiền giả Sāriputta, ở nơi thân, ở nơi thân thức... Này hiền giả Sāriputta, ở nơi ý, ở nơi ý thức, ở nơi các pháp được nhận biết bởi ý thức, do thấy sự đoạn diệt, do thắng tri sự đoạn diệt mà tôi quán xét ý, ý thức, và các pháp được nhận biết bởi ý thức rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi’.”
Evaṁ vutte, āyasmā mahācundo āyasmantaṁ channaṁ etadavoca:
“tasmātiha, āvuso channa, idampi tassa bhagavato sāsanaṁ, niccakappaṁ manasi kātabbaṁ: ‘nissitassa calitaṁ, anissitassa calitaṁ natthi. Calite asati passaddhi, passaddhiyā sati nati na hoti. Natiyā asati āgatigati na hoti. Āgatigatiyā asati cutūpapāto na hoti. Cutūpapāte asati nevidha na huraṁ na ubhayamantarena. Esevanto dukkhassā’”ti. Atha kho āyasmā ca sāriputto āyasmā ca mahācundo āyasmantaṁ channaṁ iminā ovādena ovaditvā uṭṭhāyāsanā pakkamiṁsu.
When he said this, Venerable Mahācunda said to Venerable Channa:
“So, Reverend Channa, you should regularly apply your mind to this instruction of the Buddha: ‘For the dependent there is quivering. For the independent there’s no quivering. When there’s no quivering, there is tranquility. When there is tranquility, there’s no inclination. When there’s no inclination, there’s no coming and going. When there’s no coming and going, there’s no passing away and reappearing. When there’s no passing away and reappearing, there’s no this life or the next or between the two. Just this is the end of suffering.’” And when the venerables Sāriputta and Mahācunda had given Venerable Channa this advice they rose from their seats and left.
393. Khi được nói như vậy, trưởng lão Mahācunda đã nói với trưởng lão Channa điều này: ‘Do vậy, này hiền giả Channa, lời giáo huấn này của Thế Tôn cũng nên được thường xuyên tác ý trong tâm: ‘Đối với người có nương tựa thì có dao động; đối với người không nương tựa thì không có dao động. Khi không có dao động thì có sự an tịnh; khi có sự an tịnh thì không có sự thiên về. Khi không có sự thiên về thì không có sự đến và đi. Khi không có sự đến và đi thì không có sự chết và sanh. Khi không có sự chết và sanh thì không có đời này, không có đời sau, không có ở khoảng giữa cả hai. Đây chính là sự chấm dứt của khổ đau’’. Sau đó, trưởng lão Sāriputta và trưởng lão Mahācunda, sau khi đã khuyên dạy trưởng lão Channa bằng lời giáo huấn này, đã đứng dậy khỏi chỗ ngồi rồi ra đi.
Atha kho āyasmā channo acirapakkante āyasmante ca sāriputte āyasmante ca mahācunde satthaṁ āharesi.
Atha kho āyasmā sāriputto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā sāriputto bhagavantaṁ etadavoca: “āyasmatā, bhante, channena satthaṁ āharitaṁ. Tassa kā gati, ko abhisamparāyo”ti?
“Nanu te, sāriputta, channena bhikkhunā sammukhāyeva anupavajjatā byākatā”ti?
“Atthi, bhante, pubbajiraṁ nāma vajjigāmo. Tatthāyasmato channassa mittakulāni suhajjakulāni upavajjakulānī”ti.
“Honti hete, sāriputta, channassa bhikkhuno mittakulāni suhajjakulāni upavajjakulāni. Nāhaṁ, sāriputta, ettāvatā ‘saupavajjo’ti vadāmi. Yo kho, sāriputta, imañca kāyaṁ nikkhipati aññañca kāyaṁ upādiyati tamahaṁ ‘saupavajjo’ti vadāmi. Taṁ channassa bhikkhuno natthi. ‘Anupavajjo channo bhikkhu satthaṁ āharesī’ti evametaṁ, sāriputta, dhārehī”ti.
Not long after those venerables had left, Venerable Channa committed suicide.
Then Sāriputta went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him, “Sir, Venerable Channa has committed suicide. Where has he been reborn in his next life?”
“Sāriputta, didn’t the mendicant Channa declare his blamelessness to you personally?”
“Sir, there is a Vajjian village named Pubbajira. There Channa had families who were friendly, intimate, and hospitable.”
“The mendicant Channa did indeed have such families. But, Sāriputta, this is not enough for me to call someone ‘blameworthy’. When someone lays down this body and takes up another body, I call them ‘blameworthy’. But the mendicant Channa did no such thing. You should remember this: ‘The mendicant Channa committed suicide blamelessly.’”
394. Rồi, không lâu sau khi trưởng lão Sāriputta và trưởng lão Mahācunda ra đi, trưởng lão Channa đã dùng đến dao. Bấy giờ, trưởng lão Sāriputta đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đã đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, trưởng lão Sāriputta bạch với Thế Tôn điều này: ‘Bạch Thế Tôn, trưởng lão Channa đã dùng đến dao. Sanh thú của vị ấy là gì, đời sau sẽ ra sao?’ ‘Này Sāriputta, chẳng phải tỳ khưu Channa đã tuyên bố ngay trước mặt ông về việc không có đối tượng để tái sanh hay sao?’ ‘Bạch Thế Tôn, có một ngôi làng của người Vajjī tên là Pubbajira. Ở đấy, trưởng lão Channa có những gia đình bạn bè, những gia đình thân hữu, những gia đình đáng được lui tới.’ ‘Này Sāriputta, tỳ khưu Channa có những gia đình bạn bè, những gia đình thân hữu, những gia đình đáng được lui tới ấy. Nhưng này Sāriputta, Ta không nói rằng chỉ với chừng ấy là ‘có đối tượng để tái sanh’. Này Sāriputta, người nào từ bỏ thân này và lại chấp thủ một thân khác, người ấy Ta gọi là ‘có đối tượng để tái sanh’. Điều ấy không có đối với tỳ khưu Channa. ‘Tỳ khưu Channa không có đối tượng để tái sanh đã dùng đến dao’, này Sāriputta, ông hãy ghi nhớ điều này như vậy.’
Idamavoca bhagavā. Attamano āyasmā sāriputto bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
That is what the Buddha said. Satisfied, Venerable Sāriputta approved what the Buddha said.
Thế Tôn đã nói điều này. Trưởng lão Sāriputta, với tâm hoan hỷ, đã tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Channovādasuttaṁ niṭṭhitaṁ dutiyaṁ.
Kinh Giáo Giới Channa, kinh thứ hai, kết thúc.