- Majjhima Nikāya 142
Dakkhiṇāvibhaṅgasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Dakkhiṇāvibhaṅgasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời, Thế Tôn trú giữa dòng họ Sakka (Thích-Ca), ở Kapilavatthu (Ca-ty-la-vệ), tại tinh xá Nigrodha (Ni-câu-luật Thọ Viên).
SC 2Rồi Mahāpajāpati Gotama (Củ đàm Nữ Ma-ha-ba-xà-bà-đề), đem theo một cặp y mới, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Mahāpajāpati Gotama bạch Thế Tôn
SC 3—Bạch Thế Tôn, cặp y mới này do con cắt và dệt đặc biệt cho Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn vì lòng từ mẫn hãy nhận lấy cho con.
SC 4Khi được nghe nói vậy, Thế Tôn nói với Mahāpajāpati Gotama
SC 5—Này Gotama, hãy cúng dường Tăng chúng. Bà cúng dường Tăng chúng, thời Ta sẽ được cung kính, và cả Tăng chúng cũng vậy.
SC 6Lần thứ hai, Mahāpajāpati Gotama bạch Thế Tôn
SC 7—Bạch Thế Tôn, cặp y mới này do con cắt và dệt. Hãy nhận lấy cho con.
SC 8Lần thứ hai, Thế Tôn nói với Mahāpajāpati Gotama
SC 9—Này Gotama, hãy cúng dường Tăng chúng. Và cả Tăng chúng cũng vậy.
SC 10Lần thứ ba, Mahāpajāpati Gotama bạch Thế Tôn
SC 11—Bạch Thế Tôn, cặp y mới này do con cắt và dệt … hãy nhận lấy cho con.
SC 12Lần thứ ba, Thế Tôn nói với Mahāpajāpati Gotama:
SC 13—Này Gotama, hãy cúng dường Tăng chúng … và cả tăng chúng cũng vậy.
SC 14Khi được nghe nói vậy, Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 15—Thế Tôn hãy nhận cặp y mới cho Mahāpajāpati Gotama! Bạch Thế Tôn, Mahāpajāpati Gotama đã giúp ích nhiều cho Thế Tôn, là thúc mẫu, là dưỡng mẫu, đã nuôi dưỡng Thế Tôn, đã cho Thế Tôn bú sữa, vì rằng sau khi sanh, thân mẫu của Thế Tôn mệnh chung, chính bà đã cho Thế Tôn bú sữa. Bạch Thế Tôn, và Thế Tôn cũng giúp ích nhiều cho Mahāpajāpati Gotama. Bạch Thế Tôn, chính nhờ Thế Tôn, Mahāpajāpati Gotama đã quy y Phật, quy Pháp, quy y Tăng. Bạch Thế Tôn, chính nhờ Thế Tôn, Mahāpajāpati từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say các loại rượu đem lại. Bạch Thế Tôn, chính nhờ Thế Tôn, Mahāpajāpati Gotama có đầy đủ lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật, đầy đủ lòng tịnh tín bất động đối với Pháp, đầy đủ lòng tịnh tín bất động đối với chúng Tăng, đầy đủ các giới luật làm bậc Thánh hoan hỷ. Bạch Thế Tôn, chính nhờ Thế Tôn, Mahāpajāpati Gotama không còn nghi ngờ đối với Khổ, không còn nghi ngờ đối với Khổ tập, không còn nghi ngờ đối với Khổ diệt, không còn nghi ngờ đối với Con Ðường đưa đến khổ diệt. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn cũng đã giúp ích nhiều cho Mahāpajāpati Gotama.
SC 16—Thật là như vậy, này Ānanda! Thật là như vậy, này Ānanda! Này Ānanda, nếu do nhờ một người, mà một người khác được quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, thời này Ānanda, Ta nói rằng người này không có một đền ơn nào xứng đáng đối với người kia về đảnh lễ, đứng đậy, chấp tay, về làm những việc thích hợp và về dâng cúng các sự cúng dường như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh.
SC 17Nếu do nhờ một người mà một người khác từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say các loại rượu men, rượu nấu, thời này Ānanda, Ta nói rằng người này không có một đền ơn nào xứng đáng đối với người kia … dược phẩm trị bệnh.
SC 18Này Ānanda, nếu do nhờ một người mà một người khác đầy đủ tịnh tín bất động đối với Phật, đối với Pháp, đối với Tăng, đầy đủ các giới luật, thời này Ānanda, Ta nói rằng người này không có một đền ơn nào xứng đáng đối với người kia … dược phẩm trị bệnh.
SC 19Này Ānanda, nếu do nhờ một người mà một người khác không có nghi ngờ đối với Khổ, không có nghi ngờ đối với Khổ tập, không có nghi ngờ đối với Khổ diệt, không có khi ngờ đối với Con Ðường đưa đến khổ diệt, thời này Ānanda, Ta nói rằng người này không có một đền ơn nào xứng đáng đối với người kia … dược phẩm trị bệnh.
SC 20Này Ānanda, có mười bốn loại cúng dường phân loại theo hạng người. Bố thí các đức Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, là cúng dường thứ nhất, phân loại theo hạng người. Bố thí các vị Ðộc Giác Phật, là cúng dường thứ hai, phân loại theo hạng người. Bố thí các bậc A-la-hán, đệ tử Như Lai, là cúng dường thứ ba, phân loại theo hạng người. Bố thí các vị trên con đường chứng quả A-la-hán là cúng dường thứ tư, phân loại theo hạng người. Bố thí các vị chứng quả Bất lai, là cúng dường thứ năm, phân loại theo hạng người. Bố thí các vị trên con đường chứng quả Bất lai là cúng dường thứ sáu, phân loại theo hạng người. Bố thí các vị chứng quả Nhất lai là cúng dường thứ bảy, phân loại theo hạng người. Bố thí các vị trên con đường chứng quả Nhất lai là cúng dường thứ tám, phân loại theo hạng người. Bố thí các vị chứng quả Dự lưu là cúng dường thứ chín, phân loại theo hạng người. Bố thí các vị trên con đường chứng quả Dự lưu là cúng dường thứ mười, phân loại theo hạng người. Bố thí những vị ngoại học (bahiraka) đã ly tham trong các dục vọng là cúng dường thứ mười một, phân loại theo hạng người. Bố thí những phàm phu gìn giữ giới luật là cúng dường thứ mười hai, phân loại theo hạng người. Bố thí những phàm phu theo ác giới là cúng dường thứ mười ba, phân loại theo hạng người. Bố thí các loại bàng sanh là cúng dường thứ mười bốn, phân loại theo hạng người.
SC 21Tại đây, này Ānanda, sau khi bố thí cho các loại bàng sanh, cúng dường này có hy vọng đem lại trăm phần công đức. Sau khi bố thí cho những phàm phu theo ác giới, cúng dường này có hy vọng đem lại ngàn phần công đức. Sau khi bố thí cho các phàm phu gìn giữ giới luật, cúng dường này có hy vọng đem lại trăm ngàn lần công đức. Sau khi bố thí cho các người ngoại học đã ly tham trong các dục vọng, cúng dường này có hy vọng đem lại trăm ngàn ức lần công đức. Sau khi bố thí cho các vị trên con đường chứng quả Dự lưu, cúng dường này có hy vọng đem lại vô số vô lượng công đức. Còn nói gì đến những vị đã chứng quả Dự lưu? Còn nói gì đến những vị trên con đường chứng quả Nhất lai? Còn nói gì đến những vị đã chứng quả Nhất lai? Còn nói gì đến những vị trên con đường chứng quả Bất lai? Còn nói gì đến những vị đã chứng quả Bất lai? Còn nói gì đến những vị trên con đường chứng quả A-la-hán? Còn nói gì đến những vị đã chứng quả A-la-hán, đệ tử Như Lai? Còn nói gì đến những vị Ðộc Giác Phật? Còn nói gì đến các Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác?
SC 22Này Ānanda, có bảy loại cúng dường cho Tăng chúng. Bố thí cho cả hai Tăng chúng với đức Phật là vị cầm đầu là cúng dường Tăng chúng thứ nhất. Bố thí cho cả hai Tăng chúng, sau khi đức Phật đã nhập diệt là cúng dường Tăng chúng thứ hai. Bố thí cho chúng Tỷ-kheo Tăng là cúng dường Tăng chúng thứ ba. Bố thí cho chúng Tỷ-kheo ni là cúng dường Tăng chúng thứ tư. Bố thí và nói rằng: “Mong Tăng chúng chỉ định cho tôi một số Tỷ-kheo và Tỷ-kheo ni như vậy”, là cúng dường Tăng chúng thứ năm. Bố thí và nói rằng: “Mong rằng Tăng chúng chỉ định cho tôi một số Tỷ-kheo như vậy”, là cúng dường Tăng chúng thứ sáu. Bố thí và nói rằng: “Mong rằng Tăng chúng chỉ định cho một số Tỷ-kheo ni như vậy”, là cúng dường Tăng chúng thứ bảy.
SC 23Nhưng này Ānanda, trong thời gian tương lai sẽ có những hạng chuyển tánh (gotrabhuno), với những áo cà-sa vàng xung quanh cổ, theo ác giới, ác pháp, và cuộc bố thí đối với chúng Tăng theo ác giới. Nhưng này Ānanda, khi Ta nói rằng cúng dường cho Tăng chúng là vô số và vô lượng, thời này Ānanda, Ta không có muốn nói rằng bất cứ phương tiện gì, một sự bố thí phân loại theo cá nhân lại có kết quả to lớn hơn đối với cúng dường cho Tăng chúng.
SC 24Này Ānanda, có bốn sự thanh tịnh của các loại cúng dường. Thế nào là bốn? Này Ānanda, có loại cúng dường được thanh tịnh bởi người cho, nhưng không bởi người nhận. Này Ānanda, có loại cúng dường được thanh tịnh bởi người nhận, nhưng không bởi người cho. Này Ānanda, có loại cúng dường không được thanh tịnh bởi người cho và cũng bởi người nhận. Này Ānanda, có loại cúng dường được thanh tịnh bởi người cho và cũng bởi người nhận.
SC 25Và này Ānanda, thế nào là loại cúng dường được thanh tịnh bởi người cho, nhưng không bởi người nhận? Ở đây, này Ānanda, người cho giữ giới, theo thiện pháp, còn những người nhận theo ác giới, theo ác pháp. Như vậy, này Ānanda, là loại cúng dường được thanh tịnh bởi người cho, nhưng không bởi người nhận.
SC 26Và này Ānanda, thế nào là loại cúng dường được thanh tịnh bởi người nhận, nhưng không bởi người cho? Ở đây, này Ānanda, người cho theo ác giới, theo ác pháp, còn những người nhận giữ giới, theo thiện pháp. Như vậy, này Ānanda, là loại cúng dường được thanh tịnh bởi người nhận, nhưng không bởi người cho.
SC 27Và này Ānanda, thế nào là loại cúng dường không được thanh tịnh bởi người cho và cũng bởi người nhận? Ở đây, này Ānanda, người cho theo ác giới, theo ác pháp, và người nhận cũng theo ác giới, theo ác pháp. Như vậy, này Ānanda, là sự cúng dường không được thanh tịnh bởi người cho và cũng bởi người nhận.
SC 28Và này Ānanda, thế nào là loại cúng dường được thanh tịnh bởi người cho và cũng bởi người nhận? Ở đây, này Ānanda, người cho giữ giới, theo thiện pháp; và người nhận cũng giữ giới, theo thiện pháp. Như vậy, này Ānanda, là sự cúng dường được thanh tịnh bởi người cho và cũng bởi người nhận.
SC 29Này Ānanda, như vậy là bốn sự thanh tịnh của các loại cúng dường.
SC 30Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Bậc Thiện Thệ sau khi nói như vậy, bậc Ðạo sư lại nói thêm:
SC 31Ai đầy đủ giới luật,
Bố thí cho ác giới;
Vật thí được đúng pháp,
Với tâm khéo hoan hỷ,
Với lòng tin vững vàng
Vào quả lớn của nghiệp,
Sự cúng dường như vậy,
Thanh tịnh bởi người cho.SC 32Ai không giữ giới luật,
Bố thí cho thiện giới;
Vật thí không đúng pháp,
Với tâm không hoan hỷ,
Không lòng tin vững vàng,
Vào quả lớn của nghiệp,
Sự cúng dường như vậy,
Thanh tịnh bởi người nhận.SC 33Ai không giữ giới luật,
Bố thí cho ác giới;
Vật thí không đúng pháp,
Với tâm không hoan hỷ,
Không lòng tin vững vàng,
Vào quả lớn của nghiệp,
Sự cúng dường như vậy
Cả hai không thanh tịnh.SC 34Ai đầy đủ giới luật,
Bố thí cho thiện giới;
Vật thí được đúng pháp,
Với tâm khéo hoan hỷ,
Với lòng tin vững vàng,
Vào quả lớn của nghiệp,
Ta nói bố thí ấy
Chắc chắn có quả lớn.SC 35Ai xuất ly tham ái
Bố thí không tham ái,
Vật thí được đúng pháp.
Với tâm khéo hoan hỷ,
Với lòng tin vững vàng,
Vào quả lớn của nghiệp,
Ta nói bố thí ấy
Là quảng đại tài thí.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). 15–07–2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
12. Kinh Phân Tích về Cúng Dường
Atha kho mahāpajāpati gotamī navaṁ dussayugaṁ ādāya yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnā kho mahāpajāpati gotamī bhagavantaṁ etadavoca: “idaṁ me, bhante, navaṁ dussayugaṁ bhagavantaṁ uddissa sāmaṁ kantaṁ sāmaṁ vāyitaṁ. Taṁ me, bhante, bhagavā paṭiggaṇhātu anukampaṁ upādāyā”ti.
Evaṁ vutte, bhagavā mahāpajāpatiṁ gotamiṁ etadavoca: “saṅghe, gotami, dehi. Saṅghe te dinne ahañceva pūjito bhavissāmi saṅgho cā”ti.
Dutiyampi kho mahāpajāpati gotamī bhagavantaṁ etadavoca: “idaṁ me, bhante, navaṁ dussayugaṁ bhagavantaṁ uddissa sāmaṁ kantaṁ sāmaṁ vāyitaṁ. Taṁ me, bhante, bhagavā paṭiggaṇhātu anukampaṁ upādāyā”ti. Dutiyampi kho bhagavā mahāpajāpatiṁ gotamiṁ etadavoca: “saṅghe, gotami, dehi. Saṅghe te dinne ahañceva pūjito bhavissāmi saṅgho cā”ti.
Tatiyampi kho mahāpajāpati gotamī bhagavantaṁ etadavoca: “idaṁ me, bhante, navaṁ dussayugaṁ bhagavantaṁ uddissa sāmaṁ kantaṁ sāmaṁ vāyitaṁ. Taṁ me, bhante, bhagavā paṭiggaṇhātu anukampaṁ upādāyā”ti.
Tatiyampi kho bhagavā mahāpajāpatiṁ gotamiṁ etadavoca: “saṅghe, gotami, dehi. Saṅghe te dinne ahañceva pūjito bhavissāmi saṅgho cā”ti.
Evaṁ vutte, āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca: “paṭiggaṇhātu, bhante, bhagavā mahāpajāpatiyā gotamiyā navaṁ dussayugaṁ.
Then Mahāpajāpati Gotamī approached the Buddha bringing a new pair of garments. She bowed, sat down to one side, and said to the Buddha, “Sir, I have spun and woven this new pair of garments specially for the Buddha. May the Buddha please accept this from me out of sympathy.”
When she said this, the Buddha said to her, “Give it to the Saṅgha, Gotamī. When you give to the Saṅgha, both the Saṅgha and I will be honored.”
For a second time …
For a third time, Mahāpajāpati Gotamī said to the Buddha, “Sir, I have spun and woven this new pair of garments specially for the Buddha. May the Buddha please accept this from me out of sympathy.”
And for a third time, the Buddha said to her, “Give it to the Saṅgha, Gotamī. When you give to the Saṅgha, both the Saṅgha and I will be honored.”
When he said this, Venerable Ānanda said to the Buddha, “Sir, please accept the new pair of garments from Mahāpajāpati Gotamī.
376. Tôi nghe như vầy: Một thời, đức Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu, trong tu viện Nigrodha. Bấy giờ, bà Mahāpajāpati Gotamī mang một cặp y mới đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, bà đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, bà Mahāpajāpati Gotamī bạch với đức Thế Tôn rằng: ‘Bạch ngài, cặp y mới này do chính con kéo sợi, chính con dệt, chỉ dành cho đức Thế Tôn. Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy vì lòng bi mẫn mà thọ nhận cho con.’ Khi được nói vậy, đức Thế Tôn nói với bà Mahāpajāpati Gotamī rằng: ‘Này Gotamī, hãy cúng dường cho Tăng chúng. Khi con cúng dường cho Tăng chúng, thì Như Lai cũng sẽ được cúng dường, và Tăng chúng cũng vậy.’ Lần thứ hai, bà Mahāpajāpati Gotamī bạch với đức Thế Tôn rằng: ‘Bạch ngài, cặp y mới này do chính con kéo sợi, chính con dệt, chỉ dành cho đức Thế Tôn. Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy vì lòng bi mẫn mà thọ nhận cho con.’ Lần thứ hai, đức Thế Tôn cũng nói với bà Mahāpajāpati Gotamī rằng: ‘Này Gotamī, hãy cúng dường cho Tăng chúng. Khi con cúng dường cho Tăng chúng, thì Như Lai cũng sẽ được cúng dường, và Tăng chúng cũng vậy.’ Lần thứ ba, bà Mahāpajāpati Gotamī bạch với đức Thế Tôn rằng: ‘Bạch ngài, cặp y mới này do chính con kéo sợi, chính con dệt, chỉ dành cho đức Thế Tôn. Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy vì lòng bi mẫn mà thọ nhận cho con.’ Lần thứ ba, đức Thế Tôn cũng nói với bà Mahāpajāpati Gotamī rằng: ‘Này Gotamī, hãy cúng dường cho Tăng chúng. Khi con cúng dường cho Tăng chúng, thì Như Lai cũng sẽ được cúng dường, và Tăng chúng cũng vậy.’
Bhagavāpi, bhante, bahūpakāro mahāpajāpatiyā gotamiyā. Bhagavantaṁ, bhante, āgamma mahāpajāpati gotamī buddhaṁ saraṇaṁ gatā, dhammaṁ saraṇaṁ gatā, saṅghaṁ saraṇaṁ gatā. Bhagavantaṁ, bhante, āgamma mahāpajāpati gotamī pāṇātipātā paṭiviratā adinnādānā paṭiviratā kāmesumicchācārā paṭiviratā musāvādā paṭiviratā surāmerayamajjapamādaṭṭhānā paṭiviratā. Bhagavantaṁ, bhante, āgamma mahāpajāpati gotamī buddhe aveccappasādena samannāgatā, dhamme aveccappasādena samannāgatā, saṅghe aveccappasādena samannāgatā ariyakantehi sīlehi samannāgatā. Bhagavantaṁ, bhante, āgamma mahāpajāpati gotamī dukkhe nikkaṅkhā, dukkhasamudaye nikkaṅkhā, dukkhanirodhe nikkaṅkhā, dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya nikkaṅkhā. Bhagavāpi, bhante, bahūpakāro mahāpajāpatiyā gotamiyā”ti.
And the Buddha has been very helpful to Mahāpajāpati. It is owing to the Buddha that Mahāpajāpati has gone for refuge to the Buddha, the teaching, and the Saṅgha. It’s owing to the Buddha that she refrains from killing living creatures, stealing, sexual misconduct, lying, and intoxicants of beer, wine, and liquor. It’s owing to the Buddha that she has experiential confidence in the Buddha, the teaching, and the Saṅgha, and has the ethics loved by the noble ones. It’s owing to the Buddha that she is free of doubt regarding suffering, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation. The Buddha has been very helpful to Mahāpajāpati.”
377. Khi được nói như vậy, tôn giả Ānanda đã bạch với đức Thế Tôn rằng: – Kính bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy nhận lấy cặp y mới của bà Mahāpajāpati Gotamī. Kính bạch ngài, bà Mahāpajāpati Gotamī đã có nhiều công ơn đối với đức Thế Tôn, là dì mẫu, là người nuôi nấng, là người dưỡng dục, là người cho sữa; khi mẫu thân của đức Thế Tôn qua đời, bà đã cho đức Thế Tôn bú sữa. Kính bạch ngài, đức Thế Tôn cũng có nhiều công ơn đối với bà Mahāpajāpati Gotamī. Kính bạch ngài, nhờ vào đức Thế Tôn mà bà Mahāpajāpati Gotamī đã quy y Phật, đã quy y Pháp, đã quy y Tăng. Kính bạch ngài, nhờ vào đức Thế Tôn mà bà Mahāpajāpati Gotamī đã từ bỏ việc sát sanh, đã từ bỏ việc lấy của không cho, đã từ bỏ việc tà hạnh trong các dục, đã từ bỏ việc nói dối, đã từ bỏ việc dùng các loại rượu men, rượu nấu làm nhân sanh ra sự dể duôi. Kính bạch ngài, nhờ vào đức Thế Tôn mà bà Mahāpajāpati Gotamī đã thành tựu niềm tin bất động đối với đức Phật, đã thành tựu niềm tin bất động đối với Chánh Pháp, đã thành tựu niềm tin bất động đối với Tăng chúng, đã thành tựu các giới đức được các bậc Thánh yêu mến. Kính bạch ngài, nhờ vào đức Thế Tôn mà bà Mahāpajāpati Gotamī không còn hoài nghi về Khổ, không còn hoài nghi về Khổ Tập, không còn hoài nghi về Khổ Diệt, không còn hoài nghi về Con Đường Đưa Đến Khổ Diệt. Kính bạch ngài, đức Thế Tôn cũng có nhiều công ơn đối với bà Mahāpajāpati Gotamī.
“Evametaṁ, ānanda. Yaṁ hānanda, puggalo puggalaṁ āgamma buddhaṁ saraṇaṁ gato hoti, dhammaṁ saraṇaṁ gato hoti, saṅghaṁ saraṇaṁ gato hoti, imassānanda, puggalassa iminā puggalena na suppatikāraṁ vadāmi, yadidaṁ—abhivādanapaccuṭṭhānaañjalikammasāmīcikammacīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānuppadānena.
“That’s so true, Ānanda. When someone has enabled you to go for refuge, it’s not easy to repay them by bowing down to them, rising up for them, greeting them with cupped palms, and observing proper etiquette for them; or by providing them with robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick.
378. – Này Ānanda, điều này là đúng như vậy. Này Ānanda, do một người nhờ vào một người mà đã quy y Phật, đã quy y Pháp, đã quy y Tăng, này Ānanda, Ta không nói rằng người này có thể đền ơn một cách trọn vẹn cho người kia bằng cách đảnh lễ, đứng dậy chào đón, chắp tay, cung kính, cúng dường y, vật thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh và các vật dụng.
Yaṁ hānanda, puggalo puggalaṁ āgamma pāṇātipātā paṭivirato hoti, adinnādānā paṭivirato hoti, kāmesumicchācārā paṭivirato hoti, musāvādā paṭivirato hoti, surāmerayamajjapamādaṭṭhānā paṭivirato hoti, imassānanda, puggalassa iminā puggalena na suppatikāraṁ vadāmi, yadidaṁ—abhivādanapaccuṭṭhānaañjalikammasāmīcikammacīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānuppadānena.
When someone has enabled you to refrain from killing, stealing, sexual misconduct, lying, and intoxicants of beer, wine, and liquor, it’s not easy to repay them …
Này Ānanda, do một người nhờ vào một người mà đã từ bỏ việc sát sanh, đã từ bỏ việc lấy của không cho, đã từ bỏ việc tà hạnh trong các dục, đã từ bỏ việc nói dối, đã từ bỏ việc dùng các loại rượu men, rượu nấu làm nhân sanh ra sự dể duôi, này Ānanda, Ta không nói rằng người này có thể đền ơn một cách trọn vẹn cho người kia bằng cách đảnh lễ, đứng dậy chào đón, chắp tay, cung kính, cúng dường y, vật thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh và các vật dụng.
Yaṁ hānanda, puggalo puggalaṁ āgamma buddhe aveccappasādena samannāgato hoti, dhamme … saṅghe … ariyakantehi sīlehi samannāgato hoti, imassānanda, puggalassa iminā puggalena na suppatikāraṁ vadāmi, yadidaṁ—abhivādanapaccuṭṭhānaañjalikammasāmīcikammacīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānuppadānena.
When someone has enabled you to have experiential confidence in the Buddha, the teaching, and the Saṅgha, and the ethics loved by the noble ones, it’s not easy to repay them …
Này Ānanda, do một người nhờ vào một người mà đã thành tựu niềm tin bất động đối với đức Phật, đối với Chánh Pháp, đối với Tăng chúng, đã thành tựu các giới đức được các bậc Thánh yêu mến, này Ānanda, Ta không nói rằng người này có thể đền ơn một cách trọn vẹn cho người kia bằng cách đảnh lễ, đứng dậy chào đón, chắp tay, cung kính, cúng dường y, vật thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh và các vật dụng.
Yaṁ hānanda, puggalo puggalaṁ āgamma dukkhe nikkaṅkho hoti, dukkhasamudaye nikkaṅkho hoti, dukkhanirodhe nikkaṅkho hoti, dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya nikkaṅkho hoti, imassānanda, puggalassa iminā puggalena na suppatikāraṁ vadāmi, yadidaṁ—abhivādanapaccuṭṭhānaañjalikammasāmīcikammacīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānuppadānena.
When someone has enabled you to be free of doubt regarding suffering, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation, it’s not easy to repay them by bowing down to them, rising up for them, greeting them with cupped palms, and observing proper etiquette for them; or by providing them with robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick.
Này Ānanda, do một người nhờ vào một người mà không còn hoài nghi về Khổ, không còn hoài nghi về Khổ Tập, không còn hoài nghi về Khổ Diệt, không còn hoài nghi về Con Đường Đưa Đến Khổ Diệt, này Ānanda, Ta không nói rằng người này có thể đền ơn một cách trọn vẹn cho người kia bằng cách đảnh lễ, đứng dậy chào đón, chắp tay, cung kính, cúng dường y, vật thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh và các vật dụng.
Cuddasa kho panimānanda, pāṭipuggalikā dakkhiṇā. Katamā cuddasa? Tathāgate arahante sammāsambuddhe dānaṁ deti—ayaṁ paṭhamā pāṭipuggalikā dakkhiṇā. Paccekasambuddhe dānaṁ deti—ayaṁ dutiyā pāṭipuggalikā dakkhiṇā. Tathāgatasāvake arahante dānaṁ deti—ayaṁ tatiyā pāṭipuggalikā dakkhiṇā. Arahattaphalasacchikiriyāya paṭipanne dānaṁ deti—ayaṁ catutthī pāṭipuggalikā dakkhiṇā. Anāgāmissa dānaṁ deti—ayaṁ pañcamī pāṭipuggalikā dakkhiṇā. Anāgāmiphalasacchikiriyāya paṭipanne dānaṁ deti—ayaṁ chaṭṭhī pāṭipuggalikā dakkhiṇā. Sakadāgāmissa dānaṁ deti—ayaṁ sattamī pāṭipuggalikā dakkhiṇā. Sakadāgāmiphalasacchikiriyāya paṭipanne dānaṁ deti—ayaṁ aṭṭhamī pāṭipuggalikā dakkhiṇā. Sotāpanne dānaṁ deti—ayaṁ navamī pāṭipuggalikā dakkhiṇā. Sotāpattiphalasacchikiriyāya paṭipanne dānaṁ deti—ayaṁ dasamī pāṭipuggalikā dakkhiṇā. Bāhirake kāmesu vītarāge dānaṁ deti—ayaṁ ekādasamī pāṭipuggalikā dakkhiṇā. Puthujjanasīlavante dānaṁ deti—ayaṁ dvādasamī pāṭipuggalikā dakkhiṇā. Puthujjanadussīle dānaṁ deti—ayaṁ terasamī pāṭipuggalikā dakkhiṇā. Tiracchānagate dānaṁ deti—ayaṁ cuddasamī pāṭipuggalikā dakkhiṇāti.
Ānanda, there are these fourteen religious donations to individuals. What fourteen? One gives a gift to the Realized One, the perfected one, the fully awakened Buddha. This is the first religious donation to an individual. One gives a gift to an independent Buddha. This is the second religious donation to an individual. One gives a gift to a perfected one. This is the third religious donation to an individual. One gives a gift to someone practicing to realize the fruit of perfection. This is the fourth religious donation to an individual. One gives a gift to a non-returner. This is the fifth religious donation to an individual. One gives a gift to someone practicing to realize the fruit of non-return. This is the sixth religious donation to an individual. One gives a gift to a once-returner. This is the seventh religious donation to an individual. One gives a gift to someone practicing to realize the fruit of once-return. This is the eighth religious donation to an individual. One gives a gift to a stream-enterer. This is the ninth religious donation to an individual. One gives a gift to someone practicing to realize the fruit of stream-entry. This is the tenth religious donation to an individual. One gives a gift to an outsider who is free of desire for sensual pleasures. This is the eleventh religious donation to an individual. One gives a gift to an ordinary person who has good ethical conduct. This is the twelfth religious donation to an individual. One gives a gift to an ordinary person who has bad ethical conduct. This is the thirteenth religious donation to an individual. One gives a gift to an animal. This is the fourteenth religious donation to an individual.
379. – Này Ānanda, có mười bốn sự cúng dường đến cá nhân này. Mười bốn là những gì? Vị ấy dâng cúng đến bậc Như Lai, là bậc A-la-hán, là bậc Chánh Đẳng Giác – đây là sự cúng dường đến cá nhân thứ nhất. Vị ấy dâng cúng đến bậc Độc Giác Phật – đây là sự cúng dường đến cá nhân thứ nhì. Vị ấy dâng cúng đến vị đệ tử của đức Như Lai là bậc A-la-hán – đây là sự cúng dường đến cá nhân thứ ba. Vị ấy dâng cúng đến vị đang thực hành để chứng ngộ quả vị A-la-hán – đây là sự cúng dường đến cá nhân thứ tư. Vị ấy dâng cúng đến bậc Bất Lai – đây là sự cúng dường đến cá nhân thứ năm. Vị ấy dâng cúng đến vị đang thực hành để chứng ngộ quả vị Bất Lai – đây là sự cúng dường đến cá nhân thứ sáu. Vị ấy dâng cúng đến bậc Nhất Lai – đây là sự cúng dường đến cá nhân thứ bảy. Vị ấy dâng cúng đến vị đang thực hành để chứng ngộ quả vị Nhất Lai – đây là sự cúng dường đến cá nhân thứ tám. Vị ấy dâng cúng đến bậc Dự Lưu – đây là sự cúng dường đến cá nhân thứ chín. Vị ấy dâng cúng đến vị đang thực hành để chứng ngộ quả vị Dự Lưu – đây là sự cúng dường đến cá nhân thứ mười. Vị ấy dâng cúng đến người ngoại đạo đã ly tham đối với các dục – đây là sự cúng dường đến cá nhân thứ mười một. Vị ấy dâng cúng đến người phàm phu có giới đức – đây là sự cúng dường đến cá nhân thứ mười hai. Vị ấy dâng cúng đến người phàm phu không có giới đức – đây là sự cúng dường đến cá nhân thứ mười ba. Vị ấy dâng cúng đến loài súc sanh – đây là sự cúng dường đến cá nhân thứ mười bốn.
Tatrānanda, tiracchānagate dānaṁ datvā sataguṇā dakkhiṇā pāṭikaṅkhitabbā, puthujjanadussīle dānaṁ datvā sahassaguṇā dakkhiṇā pāṭikaṅkhitabbā, puthujjanasīlavante dānaṁ datvā satasahassaguṇā dakkhiṇā pāṭikaṅkhitabbā, bāhirake kāmesu vītarāge dānaṁ datvā koṭisatasahassaguṇā dakkhiṇā pāṭikaṅkhitabbā, sotāpattiphalasacchikiriyāya paṭipanne dānaṁ datvā asaṅkheyyā appameyyā dakkhiṇā pāṭikaṅkhitabbā, ko pana vādo sotāpanne, ko pana vādo sakadāgāmiphalasacchikiriyāya paṭipanne, ko pana vādo sakadāgāmissa, ko pana vādo anāgāmiphalasacchikiriyāya paṭipanne, ko pana vādo anāgāmissa, ko pana vādo arahattaphalasacchikiriyāya paṭipanne, ko pana vādo arahante, ko pana vādo paccekasambuddhe, ko pana vādo tathāgate arahante sammāsambuddhe.
Now, Ānanda, gifts to the following persons may be expected to yield the following returns. To an animal, a hundred times. To an unethical ordinary person, a thousand. To an ethical ordinary person, a hundred thousand. To an outsider free of desire for sensual pleasures, 10,000,000,000. But a gift to someone practicing to realize the fruit of stream-entry may be expected to yield incalculable, immeasurable returns. How much more so a gift to a stream-enterer, someone practicing to realize the fruit of once-return, a once-returner, someone practicing to realize the fruit of non-return, a non-returner, someone practicing to realize the fruit of perfection, a perfected one, or an independent Buddha? How much more so a Realized One, a perfected one, a fully awakened Buddha?
Này Ānanda, trong các trường hợp ấy, sau khi cúng dường cho loài bàng sanh, sự cúng dường được mong đợi có phước báu gấp trăm lần; sau khi cúng dường cho phàm phu ác giới, sự cúng dường được mong đợi có phước báu gấp ngàn lần; sau khi cúng dường cho phàm phu có giới, sự cúng dường được mong đợi có phước báu gấp trăm ngàn lần; sau khi cúng dường cho người ngoại đạo đã ly tham trong các dục, sự cúng dường được mong đợi có phước báu gấp trăm ngàn ức lần; sau khi cúng dường cho người đang thực hành để chứng ngộ quả Dự Lưu, sự cúng dường được mong đợi có phước báu vô số, vô lượng. Huống nữa là cúng dường cho bậc Dự Lưu, huống nữa là cho người đang thực hành để chứng ngộ quả Nhất Lai, huống nữa là cho bậc Nhất Lai, huống nữa là cho người đang thực hành để chứng ngộ quả Bất Lai, huống nữa là cho bậc Bất Lai, huống nữa là cho người đang thực hành để chứng ngộ quả A-la-hán, huống nữa là cho bậc A-la-hán, huống nữa là cho bậc Độc Giác Phật, huống nữa là cho bậc Như Lai, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác!
Satta kho panimānanda, saṅghagatā dakkhiṇā. Katamā satta? Buddhappamukhe ubhatosaṅghe dānaṁ deti—ayaṁ paṭhamā saṅghagatā dakkhiṇā. Tathāgate parinibbute ubhatosaṅghe dānaṁ deti—ayaṁ dutiyā saṅghagatā dakkhiṇā. Bhikkhusaṅghe dānaṁ deti—ayaṁ tatiyā saṅghagatā dakkhiṇā. Bhikkhunisaṅghe dānaṁ deti—ayaṁ catutthī saṅghagatā dakkhiṇā. ‘Ettakā me bhikkhū ca bhikkhuniyo ca saṅghato uddissathā’ti dānaṁ deti—ayaṁ pañcamī saṅghagatā dakkhiṇā. ‘Ettakā me bhikkhū saṅghato uddissathā’ti dānaṁ deti—ayaṁ chaṭṭhī saṅghagatā dakkhiṇā. ‘Ettakā me bhikkhuniyo saṅghato uddissathā’ti dānaṁ deti—ayaṁ sattamī saṅghagatā dakkhiṇā.
But there are, Ānanda, seven religious donations bestowed on a Saṅgha. What seven? One gives a gift to the communities of both monks and nuns headed by the Buddha. This is the first religious donation bestowed on a Saṅgha. One gives a gift to the communities of both monks and nuns after the Buddha has finally become quenched. This is the second religious donation bestowed on a Saṅgha. One gives a gift to the Saṅgha of monks. This is the third religious donation bestowed on a Saṅgha. One gives a gift to the Saṅgha of nuns. This is the fourth religious donation bestowed on a Saṅgha. One gives a gift, thinking: ‘Appoint this many monks and nuns for me from the Saṅgha.’ This is the fifth religious donation bestowed on a Saṅgha. One gives a gift, thinking: ‘Appoint this many monks for me from the Saṅgha.’ This is the sixth religious donation bestowed on a Saṅgha. One gives a gift, thinking: ‘Appoint this many nuns for me from the Saṅgha.’ This is the seventh religious donation bestowed on a Saṅgha.
380. Này Ānanda, lại nữa, có bảy sự cúng dường đến Tăng chúng này. Bảy là gì? Vị ấy cúng dường cho cả hai Tăng chúng với đức Phật là vị đứng đầu – đây là sự cúng dường đến Tăng chúng thứ nhất. Sau khi đức Như Lai đã nhập Niết-bàn, vị ấy cúng dường cho cả hai Tăng chúng – đây là sự cúng dường đến Tăng chúng thứ hai. Vị ấy cúng dường cho Tăng chúng tỳ khưu – đây là sự cúng dường đến Tăng chúng thứ ba. Vị ấy cúng dường cho Tăng chúng tỳ khưu ni – đây là sự cúng dường đến Tăng chúng thứ tư. Vị ấy cúng dường và nói rằng: ‘Xin hãy chỉ định cho tôi chừng này tỳ khưu và tỳ khưu ni từ Tăng chúng’ – đây là sự cúng dường đến Tăng chúng thứ năm. Vị ấy cúng dường và nói rằng: ‘Xin hãy chỉ định cho tôi chừng này tỳ khưu từ Tăng chúng’ – đây là sự cúng dường đến Tăng chúng thứ sáu. Vị ấy cúng dường và nói rằng: ‘Xin hãy chỉ định cho tôi chừng này tỳ khưu ni từ Tăng chúng’ – đây là sự cúng dường đến Tăng chúng thứ bảy.
Bhavissanti kho panānanda, anāgatamaddhānaṁ gotrabhuno kāsāvakaṇṭhā dussīlā pāpadhammā. Tesu dussīlesu saṅghaṁ uddissa dānaṁ dassanti. Tadāpāhaṁ, ānanda, saṅghagataṁ dakkhiṇaṁ asaṅkheyyaṁ appameyyaṁ vadāmi. Na tvevāhaṁ, ānanda, kenaci pariyāyena saṅghagatāya dakkhiṇāya pāṭipuggalikaṁ dānaṁ mahapphalataraṁ vadāmi.
In times to come there will be lambs of the flock wearing a scrap of ocher cloth, unethical and of bad character. People will give gifts to those unethical people in the name of the Saṅgha. Then too, I say, a religious donation bestowed on the Saṅgha is incalculable and immeasurable. But in any case, there is no way a personal offering can be more fruitful than one bestowed on a Saṅgha, I say.
Này Ānanda, lại nữa, trong tương lai sẽ có những người chỉ là dòng dõi tu sĩ, cổ quấn y vàng, là người ác giới, có pháp ác. Người ta sẽ cúng dường đến Tăng chúng nhắm đến những người ác giới ấy. Này Ānanda, ngay cả khi ấy, Ta cũng nói rằng sự cúng dường đến Tăng chúng là vô số, vô lượng. Này Ānanda, Ta không hề nói rằng, bằng bất cứ cách nào, sự cúng dường cá nhân lại có quả lớn hơn sự cúng dường đến Tăng chúng.
Catasso kho imā, ānanda, dakkhiṇā visuddhiyo. Katamā catasso? Atthānanda, dakkhiṇā dāyakato visujjhati no paṭiggāhakato. Atthānanda, dakkhiṇā paṭiggāhakato visujjhati no dāyakato. Atthānanda, dakkhiṇā neva dāyakato visujjhati no paṭiggāhakato. Atthānanda, dakkhiṇā dāyakato ceva visujjhati paṭiggāhakato ca.
Ānanda, there are these four ways of purifying a religious donation. What four? There’s a religious donation that’s purified by the giver, not the recipient. There’s a religious donation that’s purified by the recipient, not the giver. There’s a religious donation that’s purified by neither the giver nor the recipient. There’s a religious donation that’s purified by both the giver and the recipient.
381. Này Ānanda, có bốn sự thanh tịnh của cúng dường này. Bốn là gì? Này Ānanda, có sự cúng dường thanh tịnh về phía người cho, không thanh tịnh về phía người nhận. Này Ānanda, có sự cúng dường thanh tịnh về phía người nhận, không thanh tịnh về phía người cho. Này Ānanda, có sự cúng dường không thanh tịnh về phía người cho lẫn không thanh tịnh về phía người nhận. Này Ānanda, có sự cúng dường thanh tịnh về phía người cho và cả về phía người nhận.
Kathañcānanda, dakkhiṇā dāyakato visujjhati no paṭiggāhakato? Idhānanda, dāyako hoti sīlavā kalyāṇadhammo, paṭiggāhakā honti dussīlā pāpadhammā—evaṁ kho, ānanda, dakkhiṇā dāyakato visujjhati no paṭiggāhakato.
And how is a religious donation purified by the giver, not the recipient? It’s when the giver is ethical, of good character, but the recipient is unethical, of bad character.
Và này Ānanda, thế nào là sự cúng dường thanh tịnh về phía người cho, không thanh tịnh về phía người nhận? Này Ānanda, ở đây, người cho là người có giới, có thiện pháp; còn những người nhận là người ác giới, có pháp ác. Này Ānanda, như vậy là sự cúng dường thanh tịnh về phía người cho, không thanh tịnh về phía người nhận.
Kathañcānanda, dakkhiṇā paṭiggāhakato visujjhati no dāyakato? Idhānanda, dāyako hoti dussīlo pāpadhammo, paṭiggāhakā honti sīlavanto kalyāṇadhammā—evaṁ kho, ānanda, dakkhiṇā paṭiggāhakato visujjhati no dāyakato.
And how is a religious donation purified by the recipient, not the giver? It’s when the giver is unethical, of bad character, but the recipient is ethical, of good character.
Và này Ānanda, thế nào là sự cúng dường thanh tịnh về phía người nhận, không thanh tịnh về phía người cho? Này Ānanda, ở đây, người cho là người ác giới, có pháp ác; còn những người nhận là người có giới, có thiện pháp. Này Ānanda, như vậy là sự cúng dường thanh tịnh về phía người nhận, không thanh tịnh về phía người cho.
Kathañcānanda, dakkhiṇā neva dāyakato visujjhati no paṭiggāhakato? Idhānanda, dāyako ca hoti dussīlo pāpadhammo, paṭiggāhakā ca honti dussīlā pāpadhammā—evaṁ kho, ānanda, dakkhiṇā neva dāyakato visujjhati no paṭiggāhakato.
And how is a religious donation purified by neither the giver nor the recipient? It’s when both the giver and the recipient are unethical, of bad character.
Và này Ānanda, thế nào là sự cúng dường không thanh tịnh về phía người cho lẫn không thanh tịnh về phía người nhận? Này Ānanda, ở đây, người cho là người ác giới, có pháp ác; và những người nhận cũng là người ác giới, có pháp ác. Này Ānanda, như vậy là sự cúng dường không thanh tịnh về phía người cho lẫn không thanh tịnh về phía người nhận.
Kathañcānanda, dakkhiṇā dāyakato ceva visujjhati paṭiggāhakato ca? Idhānanda, dāyako ca hoti sīlavā kalyāṇadhammo, paṭiggāhakā ca honti sīlavanto kalyāṇadhammā—evaṁ kho, ānanda, dakkhiṇā dāyakato ceva visujjhati paṭiggāhakato ca. Imā kho, ānanda, catasso dakkhiṇā visuddhiyo”ti.
And how is a religious donation purified by both the giver and the recipient? It’s when both the giver and the recipient are ethical, of good character. These are the four ways of purifying a religious donation.”
Và này Ānanda, thế nào là sự cúng dường thanh tịnh về phía người cho và cả về phía người nhận? Này Ānanda, ở đây, người cho là người có giới, có thiện pháp; và những người nhận cũng là người có giới, có thiện pháp. Này Ānanda, như vậy là sự cúng dường thanh tịnh về phía người cho và cả về phía người nhận. Này Ānanda, đây là bốn sự thanh tịnh của cúng dường.
Idamavoca bhagavā. Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
That is what the Buddha said. Then the Holy One, the Teacher, went on to say:
Thế Tôn đã nói điều này. Sau khi nói điều này, bậc Thiện Thệ, bậc Đạo Sư lại nói thêm điều này:
“Yo sīlavā dussīlesu dadāti dānaṁ, Dhammena laddhaṁ supasannacitto; Abhisaddahaṁ kammaphalaṁ uḷāraṁ,
“When an ethical person with trusting heart gives a proper gift to unethical persons, trusting in the ample fruit of deeds,
Người có giới nào cúng dường cho những người ác giới, với vật thí được thu hoạch đúng pháp, với tâm hết sức trong sạch, tin tưởng vào quả nghiệp cao thượng, sự cúng dường ấy thanh tịnh về phía người cho.
Yo dussīlo sīlavantesu dadāti dānaṁ, Adhammena laddhaṁ appasannacitto; Anabhisaddahaṁ kammaphalaṁ uḷāraṁ, Sā dakkhiṇā paṭiggāhakato visujjhati.
When an unethical and untrusting person, gives an improper gift to ethical persons, not trusting in the ample fruit of deeds, that offering is purified by the receivers.
Người ác giới nào cúng dường cho những người có giới, với vật thí được thu hoạch không đúng pháp, với tâm không trong sạch, không tin tưởng vào quả nghiệp cao thượng, sự cúng dường ấy thanh tịnh về phía người nhận.
Yo dussīlo dussīlesu dadāti dānaṁ, Adhammena laddhaṁ appasannacitto; Anabhisaddahaṁ kammaphalaṁ uḷāraṁ, Na taṁ dānaṁ vipulapphalanti brūmi.
When an unethical and untrusting person, gives an improper gift to unethical persons, not trusting in the ample fruit of deeds, I declare that gift is not very fruitful.
Người ác giới nào cúng dường cho những người ác giới, với vật thí được thu hoạch không đúng pháp, với tâm không trong sạch, không tin tưởng vào quả nghiệp cao thượng, Ta không nói rằng sự cúng dường ấy có quả lớn.
Yo sīlavā sīlavantesu dadāti dānaṁ, Dhammena laddhaṁ supasannacitto; Abhisaddahaṁ kammaphalaṁ uḷāraṁ, Taṁ ve dānaṁ vipulapphalanti brūmi.
When an ethical person with trusting heart gives a proper gift to ethical persons, trusting in the ample fruit of deeds, I declare that gift is abundantly fruitful.
Người có giới nào cúng dường cho những người có giới, với vật thí được thu hoạch đúng pháp, với tâm hết sức trong sạch, tin tưởng vào quả nghiệp cao thượng, Ta nói rằng sự cúng dường ấy thật sự có quả lớn.
Yo vītarāgo vītarāgesu dadāti dānaṁ, Dhammena laddhaṁ supasannacitto; Abhisaddahaṁ kammaphalaṁ uḷāraṁ, Taṁ ve dānaṁ āmisadānānamaggan”ti.
But when a passionless one gives to the passionless a proper gift with trusting heart, trusting in the ample fruit of deeds, that’s truly the best of material gifts.”
Người đã ly tham nào cúng dường cho những người đã ly tham, với vật thí được thu hoạch đúng pháp, với tâm hết sức trong sạch, tin tưởng vào quả nghiệp cao thượng, Ta nói rằng sự cúng dường ấy thật sự là tối thượng trong các sự cúng dường vật chất.
Dakkhiṇāvibhaṅgasuttaṁ niṭṭhitaṁ dvādasamaṁ.
Kinh Phân Biệt Cúng Dường, thứ mười hai, đã chấm dứt.
Vibhaṅgavaggo niṭṭhito catuttho.
Tassuddānaṁ
Phẩm Phân Biệt, thứ tư, đã chấm dứt.
Bhaddekānandakaccāna, Lomasakaṅgiyāsubho; Mahākammasaḷāyatanavibhaṅgā, Uddesaaraṇā dhātu saccaṁ.
Phần tóm lược của phẩm ấy: Bhaddeka, Ānanda, và Kaccāna, Lomasakaṅgiya, và Subha; Mahākamma, Saḷāyatana-vibhaṅga, Uddesa, Araṇa, Dhātu, và Sacca.
Kinh Phân Biệt Cúng Dường.