- Majjhima Nikāya 141
Saccavibhaṅgasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Saccavibhaṅgasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời, Thế Tôn ở Bārāṇāsī (Ba la nại), Isipatana (chỗ chư Tiên đọa), tại Migadaya (Lộc Uyển).
SC 2Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. “Bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau
SC 3—Vô thượng Pháp luân đã được Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác chuyển vận ở vườn Lộc Uyển, chỗ chư Tiên đọa, tại Ba-la-nại. Không một Sa-môn, Bà-là-môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên hay một ai ở đời có thể chận đứng, chuyển vận ngược lại, tức là sự khai thị, tuyên thuyết, thi thiết, kiến lập, mở rộng, phân biệt, hiển lộ bốn Thánh-đế.
SC 4Thế nào là bốn? Sự khai thị, tuyên thuyết, thi thiết, kiến lập, mở rộng, phân biệt, hiển lộ Khổ Thánh đế; sự khai thị, tuyên thuyết … về Tập khổ Thánh đế; sự khai thị, tuyên thuyết … về Khổ diệt Thánh đế; sự khai thị, tuyên thuyết … về Khổ diệt đạo Thánh đế. Vô thượng Pháp luân, này các Tỷ-kheo, đã được Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác chuyển vận ở vườn Lộc Uyển, chỗ chư Tiên đọa, tại Ba la nại. Không một Sa-môn, Bà-la-môn … hay một ai ở đời có thể chận đứng, chuyển vận ngược lại, tức là sự khai thị, tuyên thuyết, thi thiết, kiến lập, mở rộng, phân biệt, hiển lộ bốn Thánh-đế.
SC 5Này các Tỷ-kheo, hãy thân cận Sāriputta và Moggallāna, Này các Tỷ-kheo, hãy gần gũi Sāriputta và Moggallāna; các vị ấy là những Tỷ-kheo hiền trí (pandita), là những vị sách tấn các đồng Phạm hạnh. Như một sanh mẫu, này các Tỷ-kheo, như vậy là Sāriputta! Như một dưỡng mẫu, như vậy là Moggalana! Này các Tỷ-kheo, Sāriputta hướng dẫn đến quả Dự lưu, còn Moggallāna hướng dẫn đến tối thượng nghĩa. Này Tỷ-kheo, Sāriputta có thể khai thị, tuyên thuyết, thi thiết, kiến lập, mở rộng, phân biệt hiển lộ một cách rộng rãi bốn Thánh đế.
SC 6Thế Tôn nói như vậy; nói như vậy xong, Thiện Thệ từ chỗ ngồi đứng dậy và đi vào tinh xá.
SC 7Tại đấy, Tôn giả Sāriputta, sau khi Thế Tôn đi không bao lâu, liền gọi các Tỷ-kheo: “Này chư Hiền”. “Thưa vâng, Hiền giả”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sāriputta. Tôn giả Sāriputta nói như sau
SC 8—Chư Hiền, Vô thượng Pháp luân đã được Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác chuyển vận ở vườn Lộc Uyển, chỗ chư Tiên đọa, tại Ba la nại … sự khai thị, tuyên thuyết, thi thiết, kiến lập, mở rộng, phân biệt, hiển lộ về Khổ diệt đạo Thánh đế.
SC 9Và này chư Hiền, thế nào là Khổ Thánh đế? Sanh là khổ, già là khổ, (bệnh là khổ), chết là khổ, sầu, bi, khổ, ưu, não là khổ; cầu không được là khổ. Tóm lại, năm thủ uẩn là khổ.
SC 10Này chư Hiền, thế nào là sanh? Mỗi mỗi hạng chúng sanh, trong từng giới loại, sự xuất sản, xuất sanh, xuất thành, tái sanh của chúng, sự xuất hiện các uẩn, sự hoạch đắc các căn. Này chư Hiền, như vậy gọi là sanh.
SC 11Này chư Hiền, thế nào là già? Mỗi mỗi hạng chúng sanh, trong từng giới loại, sự niên lão, sự hủ hoại, trạng thái rụng răng, trạng thái tóc bạc, da nhăn, tuổi thọ rút ngắn, các căn hủy hoại. Này chư Hiền, như vậy gọi là già.
SC 12Này chư Hiền, thế nào là chết? Mỗi mỗi hạng chúng sanh trong từng giới loại, sự tạ thế, sự từ trần, thân hoại, sự diệt vong, sự chết, sự tử vong, thời đã đến, các uẩn đã tận diệt, sự vất bỏ tử thi. Này chư Hiền, như vậy gọi là chết.
SC 13Này chư Hiền, thế nào là sầu? Này chư Hiền, với những ai gặp phải tai nạn này hay tai nạn khác; với những ai cảm thọ sự đau khổ này hay sự đau khổ khác, sự sầu của người ấy. Này chư Hiền, như vậy gọi là sầu.
SC 14Này chư Hiền, thế nào là bi? Này chư Hiền, với những ai gặp phải tai nạn này hay tai nạn khác; với những ai cảm thọ sự đau khổ này hay sự đau khổ khác, sự bi ai, sự bi thảm, sự than van, sự than khóc, sự bi thán, sự bi thống của người ấy. Này chư Hiền, như vậy gọi là bi.
SC 15Này chư Hiền, thế nào là khổ? Này chư Hiền, sự đau khổ về thân, sự không sảng khoái về thân, sự đau khổ do thân cảm thọ, sự không sảng khoái do thân cảm thọ. Này chư Hiền, như vậy gọi là khổ.
SC 16Này chư Hiền, thế nào là ưu? Này chư Hiền, sự đau khổ về tâm, sự không sảng khoái về tâm, sự đau khổ do tâm cảm thọ, sự không sảng khoái do tâm cảm thọ. Này chư Hiền, như vậy gọi là ưu.
SC 17Này chư Hiền, thế nào là não? Này chư Hiền, với những ai gặp tai nạn này hay tai nạn khác; với những ai cảm thọ sự đau khổ này hay sự đau khổ khác, sự áo não, sự bi não, sự thật vọng, sự tuyệt vọng của người ấy. Này chư Hiền, như vậy gọi là não.
SC 18Này chư Hiền, thế nào là cầu bất đắc khổ? Này chư Hiền, chúng sanh bị sanh chi phối, khởi sự mong cầu: “Mong rằng ta khỏi bị sanh chi phối! Mong rằng ta khỏi phải đi thác sanh”. Lời mong cầu ấy không được thành tựu. Như vậy gọi là cầu bất đắc khổ. Này chư Hiền, chúng sanh bị già chi phối … chúng sanh bị bệnh chi phối … chúng sanh bị chết chi phối … chúng sanh bị sầu, bi, khổ, ưu, não chi phối, khởi sự mong cầu: “Mong rằng ta khỏi bị sầu, bi, khổ, ưu, não chi phối!” Mong rằng ta khỏi đương chịu sầu, bi, khổ, ưu não!” Lời mong cầu ấy không được thành tựu. Như vậy gọi là cầu bất đắc khổ.
SC 19Này chư Hiền, như thế nào là tóm lại, năm thủ uẩn là khổ? Như sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này chư Hiền, như vậy gọi là tóm lại, năm thủ uẩn là khổ.
SC 20Này chư Hiền, thế nào là Khổ tập Thánh đế? Sự tham ái đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia; như dục ái, hữu ái, vô hữu ái. Này chư Hiền, như vậy gọi là Khổ tập Thánh đế.
SC 21Này chư Hiền, và thế nào là Khổ diệt Thánh đế? Sự diệt tận không còn luyến tiếc tham ái ấy, sự xả ly, sự khí xả, sự giải thoát, sự vô nhiễm (tham ái ấy). Này chư Hiền, như vậy gọi là Khổ diệt Thánh đế.
SC 22Này chư Hiền, thế nào là Khổ diệt đạo Thánh đế? Ðó là Thánh đạo tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
SC 23Này chư Hiền, thế nào là chánh tri kiến? Này chư Hiền, tri kiến về Khổ, tri kiến về Khổ tập, tri kiến về Khổ diệt, tri kiến về Khổ diệt đạo. Này chư Hiền, như vậy gọi là chánh tri kiến.
SC 24Này chư Hiền, thế nào là chánh tư duy? Tư duy về ly dục, tư duy về vô sân, tư duy về bất hại. Này chư Hiền, như vậy gọi là chánh tư duy.
SC 25Này chư Hiền, thế nào là chánh ngữ? Tự chế không nói láo, tự chế không nói hai lưỡi, tự chế không ác khẩu, tự chế không nói lời phù phiếm. Này chư Hiền, như vậy gọi là chánh ngữ.
SC 26Này chư Hiền, thế nào là chánh nghiệp? Tự chế không sát sanh, tự chế không trộm cắp, tự chế không tà dâm. Này chư Hiền, như vậy gọi là chánh nghiệp.
SC 27Này chư Hiền, thế nào là chánh mạng? Này chư Hiền, ở đây vị Thánh đệ tử từ bỏ tà mạng, sinh sống bằng chánh mạng. Này chư Hiền, như vậy gọi là chánh mạng.
SC 28Này chư Hiền, và thế nào là chánh tinh tấn? Này chư Hiền, ở đây Tỷ-kheo, đối với các ác, bất thiện pháp chưa sanh, khởi lên ý muốn không cho sanh khởi; vị này nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, trì chí. Ðối với các ác, bất thiện pháp đã sanh, khởi lên ý muốn trừ diệt; vị này nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, trì chí. Ðối với các thiện pháp chưa sanh, khởi lên ý muốn khiến cho sanh khởi; vị này nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, trì chí. Ðối với các thiện pháp đã sanh khởi, khởi lên ý muốn khiến cho an trú, không cho băng hoại, khiến cho tăng trưởng, phát triển, viên mãn; vị này nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, trì chí. Này chư Hiền, như vậy gọi là chánh tinh tấn.
SC 29Này chư Hiền, thế nào là chánh niệm? Này chư Hiền, ở đây, Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời … quán thọ trên các cảm thọ … quán tâm trên các tâm … quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời. Này chư Hiền, như vậy gọi là chánh niệm.
SC 30Này chư Hiền, thế nào là chánh định? Này chư Hiền, ở đây, Tỷ-kheo ly dục, ly ác bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm, với tứ. Vị Tỷ-kheo ấy diệt tầm, diệt tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Tỷ-kheo ấy xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này chư Hiền, như vậy gọi là chánh định.
SC 31Này chư Hiền, như vậy gọi là Khổ diệt đạo Thánh đế.
SC 32Chư Hiền, Vô thượng Pháp luân đã được Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác chuyển vận ở vườn Lộc Uyển, chỗ chư Tiên đọa, tại Ba-la-nại, Không một Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên hay một ai ở đời có thể chuyển vận ngược lại, tức là sự khai thị, tuyên thuyết, thi thiết, kiến lập, mở rộng, phân biệt, hiển lộ bốn Thánh đế.
SC 33Tôn giả Sāriputta thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Tôn giả Sāriputta dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). 15–07–2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
11. Kinh Phân Biệt Sự Thật
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
371. Tôi nghe như vầy – một thời đức Thế Tôn trú ở Bārāṇasī (Ba-la-nại), tại Isipatana (chư Tiên đọa xứ), trong Migadāya (vườn Lộc Uyển). Tại đấy, đức Thế Tôn gọi các vị tỳ khưu: "Này các tỳ khưu". "Bạch ngài" – các vị tỳ khưu ấy vâng đáp đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn đã nói điều này:
“Tathāgatena, bhikkhave, arahatā sammāsambuddhena bārāṇasiyaṁ isipatane migadāye anuttaraṁ dhammacakkaṁ pavattitaṁ appaṭivattiyaṁ samaṇena vā brāhmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasmiṁ, yadidaṁ—catunnaṁ ariyasaccānaṁ ācikkhanā desanā paññāpanā paṭṭhapanā vivaraṇā vibhajanā uttānīkammaṁ. Katamesaṁ catunnaṁ?
Dukkhassa ariyasaccassa ācikkhanā desanā paññāpanā paṭṭhapanā vivaraṇā vibhajanā uttānīkammaṁ, dukkhasamudayassa ariyasaccassa ācikkhanā desanā paññāpanā paṭṭhapanā vivaraṇā vibhajanā uttānīkammaṁ, dukkhanirodhassa ariyasaccassa ācikkhanā desanā paññāpanā paṭṭhapanā vivaraṇā vibhajanā uttānīkammaṁ, dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya ariyasaccassa ācikkhanā desanā paññāpanā paṭṭhapanā vivaraṇā vibhajanā uttānīkammaṁ.
Tathāgatena, bhikkhave, arahatā sammāsambuddhena bārāṇasiyaṁ isipatane migadāye anuttaraṁ dhammacakkaṁ pavattitaṁ appaṭivattiyaṁ samaṇena vā brāhmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasmiṁ, yadidaṁ—imesaṁ catunnaṁ ariyasaccānaṁ ācikkhanā desanā paññāpanā paṭṭhapanā vivaraṇā vibhajanā uttānīkammaṁ.
“Near Varanasi, in the deer park at Isipatana, the Realized One, the perfected one, the fully awakened Buddha rolled forth the supreme Wheel of Dhamma. And that wheel cannot be rolled back by any ascetic or brahmin or god or Māra or divinity or by anyone in the world. It is the teaching, advocating, establishing, clarifying, analyzing, and revealing of the four noble truths. What four?
The noble truths of suffering, the origin of suffering, the cessation of suffering, and the practice that leads to the cessation of suffering.
Near Varanasi, in the deer park at Isipatana, the Realized One, the perfected one, the fully awakened Buddha rolled forth the supreme Wheel of Dhamma. And that wheel cannot be rolled back by any ascetic or brahmin or god or Māra or divinity or by anyone in the world. It is the teaching, advocating, establishing, clarifying, analyzing, and revealing of the four noble truths.
"Này các tỳ khưu, tại Bārāṇasī, ở Isipatana, trong Migadāya, đức Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã chuyển vận bánh xe Pháp vô thượng, không thể bị ai trong đời, dù là sa-môn hay bà-la-môn, chư thiên, ma vương, hay phạm thiên, hay bất cứ ai khác, làm cho xoay ngược lại được, đó là: sự chỉ dạy, sự thuyết giảng, sự tuyên bố, sự thiết lập, sự khai mở, sự phân tích, sự làm cho hiển lộ về bốn Thánh đế. Bốn Thánh đế nào? Sự chỉ dạy, sự thuyết giảng, sự tuyên bố, sự thiết lập, sự khai mở, sự phân tích, sự làm cho hiển lộ về Thánh đế về Khổ; sự chỉ dạy, sự thuyết giảng, sự tuyên bố, sự thiết lập, sự khai mở, sự phân tích, sự làm cho hiển lộ về Thánh đế về Nguồn Gốc Của Khổ; sự chỉ dạy, sự thuyết giảng, sự tuyên bố, sự thiết lập, sự khai mở, sự phân tích, sự làm cho hiển lộ về Thánh đế về Sự Diệt Khổ; sự chỉ dạy, sự thuyết giảng, sự tuyên bố, sự thiết lập, sự khai mở, sự phân tích, sự làm cho hiển lộ về Thánh đế về Con Đường Đưa Đến Sự Diệt Khổ. Này các tỳ khưu, tại Bārāṇasī, ở Isipatana, trong Migadāya, đức Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã chuyển vận bánh xe Pháp vô thượng, không thể bị ai trong đời, dù là sa-môn hay bà-la-môn, chư thiên, ma vương, hay phạm thiên, hay bất cứ ai khác, làm cho xoay ngược lại được, đó là: sự chỉ dạy, sự thuyết giảng, sự tuyên bố, sự thiết lập, sự khai mở, sự phân tích, sự làm cho hiển lộ về bốn Thánh đế này."
Sevatha, bhikkhave, sāriputtamoggallāne; bhajatha, bhikkhave, sāriputtamoggallāne. Paṇḍitā bhikkhū anuggāhakā sabrahmacārīnaṁ. Seyyathāpi, bhikkhave, janetā, evaṁ sāriputto; seyyathāpi jātassa āpādetā, evaṁ moggallāno. Sāriputto, bhikkhave, sotāpattiphale vineti, moggallāno uttamatthe. Sāriputto, bhikkhave, pahoti cattāri ariyasaccāni vitthārena ācikkhituṁ desetuṁ paññāpetuṁ paṭṭhapetuṁ vivarituṁ vibhajituṁ uttānīkātun”ti.
Idamavoca bhagavā. Idaṁ vatvāna sugato uṭṭhāyāsanā vihāraṁ pāvisi.
Mendicants, you should cultivate friendship with Sāriputta and Moggallāna. You should associate with Sāriputta and Moggallāna. They’re astute, and they support their spiritual companions. Sāriputta is like one who gives birth, while Moggallāna is like one who raises the child. Sāriputta guides people to the fruit of stream-entry, Moggallāna to the highest goal. Sāriputta is able to explain, teach, assert, establish, clarify, analyze, and reveal the four noble truths in detail.”
That is what the Buddha said. When he had spoken, the Holy One rose from his seat and entered his dwelling.
"Này các tỳ khưu, hãy thân cận Sāriputta và Moggallāna; này các tỳ khưu, hãy gần gũi Sāriputta và Moggallāna. Các vị tỳ khưu có trí tuệ là những người hỗ trợ cho các bạn đồng phạm hạnh. Này các tỳ khưu, Sāriputta ví như người mẹ sanh, còn Moggallāna ví như người vú nuôi đứa trẻ đã được sanh ra. Này các tỳ khưu, Sāriputta dẫn dắt đến quả Tu-đà-hoàn, Moggallāna dẫn dắt đến mục đích tối thượng. Này các tỳ khưu, Sāriputta có khả năng chỉ dạy, thuyết giảng, tuyên bố, thiết lập, khai mở, phân tích, làm cho hiển lộ bốn Thánh đế một cách chi tiết." Đức Thế Tôn đã nói điều này. Sau khi nói điều này, bậc Thiện Thệ từ chỗ ngồi đứng dậy và đi vào tịnh xá.
Tatra kho āyasmā sāriputto acirapakkantassa bhagavato bhikkhū āmantesi: “āvuso bhikkhave”ti.
“Āvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato sāriputtassa paccassosuṁ. Āyasmā sāriputto etadavoca:
Then, not long after the Buddha left, Venerable Sāriputta said to the mendicants, “Reverends, mendicants!”
“Reverend,” they replied. Sāriputta said this:
372. Bấy giờ, không lâu sau khi đức Thế Tôn rời đi, tôn giả Sāriputta gọi các vị tỳ khưu: "Này chư hiền". "Thưa hiền giả" – các vị tỳ khưu ấy vâng đáp tôn giả Sāriputta. Tôn giả Sāriputta đã nói điều này:
“Tathāgatena, āvuso, arahatā sammāsambuddhena bārāṇasiyaṁ isipatane migadāye anuttaraṁ dhammacakkaṁ pavattitaṁ appaṭivattiyaṁ samaṇena vā brāhmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasmiṁ, yadidaṁ—catunnaṁ ariyasaccānaṁ ācikkhanā desanā paññāpanā paṭṭhapanā vivaraṇā vibhajanā uttānīkammaṁ. Katamesaṁ catunnaṁ?
Dukkhassa ariyasaccassa ācikkhanā desanā paññāpanā paṭṭhapanā vivaraṇā vibhajanā uttānīkammaṁ, dukkhasamudayassa ariyasaccassa ācikkhanā desanā paññāpanā paṭṭhapanā vivaraṇā vibhajanā uttānīkammaṁ, dukkhanirodhassa ariyasaccassa ācikkhanā desanā paññāpanā paṭṭhapanā vivaraṇā vibhajanā uttānīkammaṁ, dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya ariyasaccassa ācikkhanā desanā paññāpanā paṭṭhapanā vivaraṇā vibhajanā uttānīkammaṁ.
“Near Varanasi, in the deer park at Isipatana, the Realized One, the perfected one, the fully awakened Buddha rolled forth the supreme Wheel of Dhamma. And that wheel cannot be rolled back by any ascetic or brahmin or god or Māra or divinity or by anyone in the world. It is the teaching, advocating, establishing, clarifying, analyzing, and revealing of the four noble truths. What four?
The noble truths of suffering, the origin of suffering, the cessation of suffering, and the practice that leads to the cessation of suffering.
"Này chư hiền, tại Bārāṇasī, ở Isipatana, trong Migadāya, đức Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã chuyển vận bánh xe Pháp vô thượng, không thể bị ai trong đời, dù là sa-môn hay bà-la-môn, chư thiên, ma vương, hay phạm thiên, hay bất cứ ai khác, làm cho xoay ngược lại được, đó là: sự chỉ dạy, sự thuyết giảng, sự tuyên bố, sự thiết lập, sự khai mở, sự phân tích, sự làm cho hiển lộ về bốn Thánh đế. Bốn Thánh đế nào? Sự chỉ dạy, sự thuyết giảng, sự tuyên bố, sự thiết lập, sự khai mở, sự phân tích, sự làm cho hiển lộ về Thánh đế về Khổ; sự chỉ dạy, sự thuyết giảng, sự tuyên bố, sự thiết lập, sự khai mở, sự phân tích, sự làm cho hiển lộ về Thánh đế về Nguồn Gốc Của Khổ; sự chỉ dạy, sự thuyết giảng, sự tuyên bố, sự thiết lập, sự khai mở, sự phân tích, sự làm cho hiển lộ về Thánh đế về Sự Diệt Khổ; sự chỉ dạy, sự thuyết giảng, sự tuyên bố, sự thiết lập, sự khai mở, sự phân tích, sự làm cho hiển lộ về Thánh đế về Con Đường Đưa Đến Sự Diệt Khổ."
Katamañcāvuso, dukkhaṁ ariyasaccaṁ? Jātipi dukkhā, jarāpi dukkhā, maraṇampi dukkhaṁ, sokaparidevadukkhadomanassupāyāsāpi dukkhā, yampicchaṁ na labhati tampi dukkhaṁ; saṅkhittena pañcupādānakkhandhā dukkhā.
And what is the noble truth of suffering? Rebirth is suffering; old age is suffering; death is suffering; sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress are suffering; not getting what you wish for is suffering. In brief, the five grasping aggregates are suffering.
373. "Này chư hiền, Thánh đế về Khổ là gì? Sanh là khổ, già là khổ, chết là khổ; sầu, bi, khổ, ưu, não cũng là khổ; cầu không được cũng là khổ; tóm lại, năm thủ uẩn là khổ."
Katamā cāvuso, jāti? Yā tesaṁ tesaṁ sattānaṁ tamhi tamhi sattanikāye jāti sañjāti okkanti abhinibbatti khandhānaṁ pātubhāvo āyatanānaṁ paṭilābho, ayaṁ vuccatāvuso: ‘jāti’.
And what is rebirth? The rebirth, inception, conception, regeneration, manifestation of the aggregates, and acquisition of the sense fields of the various sentient beings in the various orders of sentient beings. This is called rebirth.
Này chư hiền, thế nào là sanh? Sự sanh, sự sanh khởi, sự nhập thai, sự tái sanh, sự xuất hiện của các uẩn, sự thành tựu các xứ của các chúng sanh ấy trong các loài chúng sanh ấy, này chư hiền, đây được gọi là sanh.
Katamā cāvuso, jarā? Yā tesaṁ tesaṁ sattānaṁ tamhi tamhi sattanikāye jarā jīraṇatā khaṇḍiccaṁ pāliccaṁ valittacatā āyuno saṁhāni indriyānaṁ paripāko, ayaṁ vuccatāvuso: ‘jarā’.
And what is old age? The old age, decrepitude, broken teeth, grey hair, wrinkly skin, diminished vitality, and failing faculties of the various sentient beings in the various orders of sentient beings. This is called old age.
Này chư hiền, thế nào là già? Sự già, sự lão hóa, răng rụng, tóc bạc, da nhăn, tuổi thọ suy giảm, các căn chín muồi của các chúng sanh ấy trong các loài chúng sanh ấy, này chư hiền, đây được gọi là già.
Katamañcāvuso, maraṇaṁ? Yā tesaṁ tesaṁ sattānaṁ tamhā tamhā sattanikāyā cuti cavanatā bhedo antaradhānaṁ maccu maraṇaṁ kālaṅkiriyā khandhānaṁ bhedo kaḷevarassa nikkhepo jīvitindriyassupacchedo, idaṁ vuccatāvuso: ‘maraṇaṁ’.
And what is death? The passing away, passing on, disintegration, demise, mortality, death, decease, breaking up of the aggregates, laying to rest of the corpse, and cutting off of the life faculty of the various sentient beings in the various orders of sentient beings. This is called death.
Này chư hiền, thế nào là chết? Sự từ bỏ, sự ra đi, sự tan rã, sự biến mất, sự chết, cái chết, sự mệnh chung, sự tan rã của các uẩn, sự vất bỏ thân xác, sự đoạn tuyệt của mạng căn của các chúng sanh ấy từ các loài chúng sanh ấy, này chư hiền, đây được gọi là chết.
Katamo cāvuso, soko? Yo kho, āvuso, aññataraññatarena byasanena samannāgatassa aññataraññatarena dukkhadhammena phuṭṭhassa soko socanā socitattaṁ antosoko antoparisoko, ayaṁ vuccatāvuso: ‘soko’.
And what is sorrow? The sorrow, sorrowing, state of sorrow, inner sorrow, inner deep sorrow in someone who has undergone misfortune, who has experienced suffering. This is called sorrow.
Này chư hiền, thế nào là sầu? Này chư hiền, đối với người gặp phải một tai họa nào đó, bị xúc chạm bởi một pháp khổ nào đó, sự sầu muộn, sự than van, trạng thái sầu muộn, nội sầu, nội sầu sâu sắc, này chư hiền, đây được gọi là sầu.
Katamo cāvuso, paridevo? Yo kho, āvuso, aññataraññatarena byasanena samannāgatassa aññataraññatarena dukkhadhammena phuṭṭhassa ādevo paridevo ādevanā paridevanā ādevitattaṁ paridevitattaṁ, ayaṁ vuccatāvuso: ‘paridevo’.
And what is lamentation? The wail, lament, wailing, lamenting, state of wailing and lamentation in someone who has undergone misfortune, who has experienced suffering. This is called lamentation.
Này chư hiền, thế nào là bi? Này chư hiền, đối với người gặp phải một tai họa nào đó, bị xúc chạm bởi một pháp khổ nào đó, sự than khóc, sự bi ai, sự than vãn, sự kể lể, trạng thái than khóc, trạng thái bi ai, này chư hiền, đây được gọi là bi.
Katamañcāvuso, dukkhaṁ? Yaṁ kho, āvuso, kāyikaṁ dukkhaṁ kāyikaṁ asātaṁ kāyasamphassajaṁ dukkhaṁ asātaṁ vedayitaṁ, idaṁ vuccatāvuso: ‘dukkhaṁ’.
And what is pain? Physical pain, physical unpleasantness, the painful, unpleasant feeling that’s born from physical contact. This is called pain.
Này chư hiền, thế nào là khổ? Này chư hiền, sự khổ thuộc về thân, sự không thoải mái thuộc về thân, cảm thọ khổ, không thoải mái sanh ra từ thân xúc, này chư hiền, đây được gọi là khổ.
Katamañcāvuso, domanassaṁ? Yaṁ kho, āvuso, cetasikaṁ dukkhaṁ cetasikaṁ asātaṁ manosamphassajaṁ dukkhaṁ asātaṁ vedayitaṁ, idaṁ vuccatāvuso: ‘domanassaṁ’.
And what is sadness? Mental pain, mental displeasure, the painful, unpleasant feeling that’s born from mind contact. This is called sadness.
Này chư hiền, thế nào là ưu? Này chư hiền, sự khổ thuộc về tâm, sự không thoải mái thuộc về tâm, cảm thọ khổ, không thoải mái sanh ra từ ý xúc, này chư hiền, đây được gọi là ưu.
Katamo cāvuso, upāyāso? Yo kho, āvuso, aññataraññatarena byasanena samannāgatassa aññataraññatarena dukkhadhammena phuṭṭhassa āyāso upāyāso āyāsitattaṁ upāyāsitattaṁ, ayaṁ vuccatāvuso: ‘upāyāso’.
And what is distress? The stress, distress, state of stress and distress in someone who has undergone misfortune, who has experienced suffering. This is called distress.
Này chư hiền, thế nào là não? Này chư hiền, đối với người gặp phải một tai họa nào đó, bị xúc chạm bởi một pháp khổ nào đó, sự mệt nhọc, sự kiệt sức, trạng thái mệt nhọc, trạng thái kiệt sức, này chư hiền, đây được gọi là não.
Katamañcāvuso, yampicchaṁ na labhati tampi dukkhaṁ? Jātidhammānaṁ, āvuso, sattānaṁ evaṁ icchā uppajjati: ‘aho vata mayaṁ na jātidhammā assāma; na ca vata no jāti āgaccheyyā’ti. Na kho panetaṁ icchāya pattabbaṁ. Idampi: ‘yampicchaṁ na labhati tampi dukkhaṁ’. Jarādhammānaṁ, āvuso, sattānaṁ …pe… byādhidhammānaṁ, āvuso, sattānaṁ … maraṇadhammānaṁ, āvuso, sattānaṁ … sokaparidevadukkhadomanassupāyāsadhammānaṁ, āvuso, sattānaṁ evaṁ icchā uppajjati: ‘aho vata mayaṁ na sokaparidevadukkhadomanassupāyāsadhammā assāma; na ca vata no sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā āgaccheyyun’ti. Na kho panetaṁ icchāya pattabbaṁ. Idampi: ‘yampicchaṁ na labhati tampi dukkhaṁ’.
And what is ‘not getting what you wish for is suffering’? In sentient beings who are liable to be reborn, such a wish arises: ‘Oh, if only we were not liable to be reborn! If only rebirth would not come to us!’ But you can’t get that by wishing. This is: ‘not getting what you wish for is suffering’. In sentient beings who are liable to grow old … fall ill … die … experience sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress, such a wish arises: ‘Oh, if only we were not liable to experience sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress! If only sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress would not come to us!’ But you can’t get that by wishing. This is: ‘not getting what you wish for is suffering’.
Này chư hiền, thế nào là cầu không được là khổ? Này chư hiền, đối với các chúng sanh có pháp sanh, ý muốn như vầy khởi lên: ‘Ôi, mong rằng chúng ta không có pháp sanh; mong rằng sự sanh không đến với chúng ta!’ Nhưng điều này không thể đạt được do ý muốn. Đây cũng là cầu không được là khổ. Này chư hiền, đối với các chúng sanh có pháp già... này chư hiền, đối với các chúng sanh có pháp bệnh... này chư hiền, đối với các chúng sanh có pháp chết... này chư hiền, đối với các chúng sanh có pháp sầu, bi, khổ, ưu, não, ý muốn như vầy khởi lên: ‘Ôi, mong rằng chúng ta không có pháp sầu, bi, khổ, ưu, não; mong rằng sầu, bi, khổ, ưu, não không đến với chúng ta!’ Nhưng điều này không thể đạt được do ý muốn. Đây cũng là cầu không được là khổ.
Katame cāvuso, saṅkhittena pañcupādānakkhandhā dukkhā? Seyyathidaṁ—rūpupādānakkhandho, vedanupādānakkhandho, saññupādānakkhandho, saṅkhārupādānakkhandho, viññāṇupādānakkhandho. Ime vuccantāvuso: ‘saṅkhittena pañcupādānakkhandhā dukkhā’. Idaṁ vuccatāvuso: ‘dukkhaṁ ariyasaccaṁ’.
And what is ‘in brief, the five grasping aggregates are suffering’? They are the grasping aggregates that consist of form, feeling, perception, choices, and consciousness. This is called ‘in brief, the five grasping aggregates are suffering’. This is called the noble truth of suffering.
Này chư hiền, thế nào là tóm lại năm thủ uẩn là khổ? Đó là: sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này chư hiền, đây được gọi là tóm lại năm thủ uẩn là khổ. Này chư hiền, đây được gọi là Thánh đế về Khổ.
Katamañcāvuso, dukkhasamudayaṁ ariyasaccaṁ? Yāyaṁ taṇhā ponobbhavikā nandīrāgasahagatā tatratatrābhinandinī, seyyathidaṁ—kāmataṇhā bhavataṇhā vibhavataṇhā, idaṁ vuccatāvuso: ‘dukkhasamudayaṁ ariyasaccaṁ’.
Katamañcāvuso, dukkhanirodhaṁ ariyasaccaṁ?
And what is the noble truth of the origin of suffering? It’s the craving that leads to future lives, mixed up with relishing and greed, taking pleasure there wherever it alights. That is, craving for sensual pleasures, craving for continued existence, and craving for nonexistence. This is called the noble truth of the origin of suffering.
And what is the noble truth of the cessation of suffering?
374. Này chư hiền, thế nào là Thánh đế về Nguồn gốc của Khổ? Chính là ái này, đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, thích thú chỗ này chỗ kia, tức là: dục ái, hữu ái, phi hữu ái. Này chư hiền, đây được gọi là Thánh đế về Nguồn gốc của Khổ.
Này chư hiền, thế nào là Thánh đế về sự Diệt Khổ? Chính là sự đoạn diệt, ly tham không còn dư tàn đối với chính ái ấy, sự từ bỏ, sự xả ly, sự giải thoát, sự không chấp thủ. Này chư hiền, đây được gọi là Thánh đế về sự Diệt Khổ.
Katamañcāvuso, dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccaṁ? Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi, sammāsaṅkappo, sammāvācā, sammākammanto, sammāājīvo, sammāvāyāmo, sammāsati, sammāsamādhi.
And what is the noble truth of the practice that leads to the cessation of suffering? It is simply this noble eightfold path, that is: right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion.
375. Này chư hiền, thế nào là Thánh đế về Con đường đưa đến Diệt Khổ? Chính là Thánh đạo Tám ngành này, tức là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
Katamā cāvuso, sammādiṭṭhi? Yaṁ kho, āvuso, dukkhe ñāṇaṁ, dukkhasamudaye ñāṇaṁ, dukkhanirodhe ñāṇaṁ, dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya ñāṇaṁ, ayaṁ vuccatāvuso: ‘sammādiṭṭhi’.
And what is right view? Knowing about suffering, the origin of suffering, the cessation of suffering, and the practice that leads to the cessation of suffering. This is called right view.
Này chư hiền, thế nào là chánh kiến? Này chư hiền, trí tuệ về khổ, trí tuệ về nguồn gốc của khổ, trí tuệ về sự diệt khổ, trí tuệ về con đường đưa đến diệt khổ, này chư hiền, đây được gọi là chánh kiến.
Katamo cāvuso, sammāsaṅkappo? Nekkhammasaṅkappo, abyāpādasaṅkappo, avihiṁsāsaṅkappo, ayaṁ vuccatāvuso: ‘sammāsaṅkappo’.
And what is right purpose? Purposes of renunciation, good will, and harmlessness. This is called right purpose.
Này chư hiền, thế nào là chánh tư duy? Tư duy về ly dục, tư duy về vô sân, tư duy về vô hại, này chư hiền, đây được gọi là chánh tư duy.
Katamā cāvuso, sammāvācā? Musāvādā veramaṇī, pisuṇāya vācāya veramaṇī, pharusāya vācāya veramaṇī, samphappalāpā veramaṇī, ayaṁ vuccatāvuso: ‘sammāvācā’.
Katamo cāvuso, sammākammanto?
And what is right speech? Refraining from lying, backbiting, harsh speech, and talking nonsense. This is called right speech.
And what is right action?
Này chư hiền, thế nào là chánh ngữ? Sự từ bỏ nói dối, sự từ bỏ nói đâm thọc, sự từ bỏ nói lời thô ác, sự từ bỏ nói lời vô ích, này chư hiền, đây được gọi là chánh ngữ.
Này chư hiền, thế nào là chánh nghiệp? Sự từ bỏ sát sanh, sự từ bỏ lấy của không cho, sự từ bỏ tà dâm trong các dục, này chư hiền, đây được gọi là chánh nghiệp.
Katamo cāvuso, sammāājīvo? Idhāvuso, ariyasāvako micchāājīvaṁ pahāya sammāājīvena jīvikaṁ kappeti, ayaṁ vuccatāvuso: ‘sammāājīvo’.
And what is right livelihood? It’s when a noble disciple gives up wrong livelihood and earns a living by right livelihood. This is called right livelihood.
Này chư hiền, thế nào là chánh mạng? Này chư hiền, ở đây, vị Thánh đệ tử từ bỏ tà mạng, nuôi sống bằng chánh mạng. Này chư hiền, đây được gọi là chánh mạng.
Katamo cāvuso, sammāvāyāmo? Idhāvuso, bhikkhu anuppannānaṁ pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ anuppādāya chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati, uppannānaṁ pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati, anuppannānaṁ kusalānaṁ dhammānaṁ uppādāya chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati, uppannānaṁ kusalānaṁ dhammānaṁ ṭhitiyā asammosāya bhiyyobhāvāya vepullāya bhāvanāya pāripūriyā chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati, ayaṁ vuccatāvuso: ‘sammāvāyāmo’.
And what is right effort? It’s when a mendicant generates enthusiasm, tries, makes an effort, exerts the mind, and strives so that bad, unskillful qualities don’t arise. They generate enthusiasm, try, make an effort, exert the mind, and strive so that bad, unskillful qualities that have arisen are given up. They generate enthusiasm, try, make an effort, exert the mind, and strive so that skillful qualities arise. They generate enthusiasm, try, make an effort, exert the mind, and strive so that skillful qualities that have arisen remain, are not lost, but increase, mature, and are fully developed. This is called right effort.
“Này chư hiền, thế nào là chánh tinh tấn? Này chư hiền, ở đây vị tỳ khưu đối với các pháp ác, bất thiện chưa sanh, khởi lên ý muốn không cho sanh khởi, cố gắng, khởi sự tinh tấn, nâng đỡ tâm, nỗ lực; đối với các pháp ác, bất thiện đã sanh, khởi lên ý muốn đoạn trừ, cố gắng, khởi sự tinh tấn, nâng đỡ tâm, nỗ lực; đối với các pháp thiện chưa sanh, khởi lên ý muốn làm cho sanh khởi, cố gắng, khởi sự tinh tấn, nâng đỡ tâm, nỗ lực; đối với các pháp thiện đã sanh, khởi lên ý muốn duy trì, không bị lu mờ, được tăng trưởng, quảng đại, tu tập, viên mãn, cố gắng, khởi sự tinh tấn, nâng đỡ tâm, nỗ lực. Này chư hiền, đây được gọi là ‘chánh tinh tấn’.”
Katamā cāvuso, sammāsati? Idhāvuso, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṁ. Vedanāsu vedanānupassī viharati …pe… citte cittānupassī viharati … dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṁ, ayaṁ vuccatāvuso: ‘sammāsati’.
And what is right mindfulness? It’s when a mendicant meditates by observing an aspect of the body—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world. They meditate observing an aspect of feelings … mind … principles—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world. This is called right mindfulness.
“Này chư hiền, thế nào là chánh niệm? Này chư hiền, ở đây vị tỳ khưu trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Vị ấy trú, quán thọ trên các thọ... này... vị ấy trú, quán tâm trên tâm... vị ấy trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Này chư hiền, đây được gọi là ‘chánh niệm’.”
Katamo cāvuso, sammāsamādhi? Idhāvuso, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati, vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati, pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharati …pe… tatiyaṁ jhānaṁ …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati, ayaṁ vuccatāvuso: ‘sammāsamādhi’. Idaṁ vuccatāvuso: ‘dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccaṁ’.
And what is right immersion? It’s when a mendicant, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected. As the placing of the mind and keeping it connected are stilled, they enter and remain in the second absorption, which has the rapture and bliss born of immersion, with internal clarity and mind at one, without placing the mind and keeping it connected. And with the fading away of rapture, they enter and remain in the third absorption, where they meditate with equanimity, mindful and aware, experiencing for themselves the bliss of which the noble ones declare, ‘Equanimous and mindful, one meditates in bliss.’ With the giving up of pleasure and pain and the disappearance of former happiness and sadness, they enter and remain in the fourth absorption, without pleasure or pain, with pure equanimity and mindfulness. This is called right immersion. This is called the noble truth of the practice that leads to the cessation of suffering.
“Này chư hiền, thế nào là chánh định? Này chư hiền, ở đây vị tỳ khưu ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Do diệt tầm và tứ, vị ấy chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, nội tĩnh nhất tâm, không tầm không tứ. Do ly hỷ, vị ấy trú xả... này... thiền thứ ba... trú. Này chư hiền, đây được gọi là ‘chánh định’. Này chư hiền, đây được gọi là ‘Khổ Diệt Đạo Thánh Đế’.”
Tathāgatenāvuso, arahatā sammāsambuddhena bārāṇasiyaṁ isipatane migadāye anuttaraṁ dhammacakkaṁ pavattitaṁ appaṭivattiyaṁ samaṇena vā brāhmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasmiṁ, yadidaṁ—imesaṁ catunnaṁ ariyasaccānaṁ ācikkhanā desanā paññāpanā paṭṭhapanā vivaraṇā vibhajanā uttānīkamman”ti.
Near Varanasi, in the deer park at Isipatana, the Realized One, the perfected one, the fully awakened Buddha rolled forth the supreme Wheel of Dhamma. And that wheel cannot be rolled back by any ascetic or brahmin or god or Māra or divinity or by anyone in the world. It is the teaching, advocating, establishing, clarifying, analyzing, and revealing of the four noble truths.”
“Này chư hiền, bởi đức Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, tại Bārāṇasī, ở Isipatana, trong vườn Lộc Uyển, bánh xe Pháp vô thượng đã được chuyển vận, không thể bị đảo ngược bởi sa-môn hay bà-la-môn, hay chư thiên, hay ma vương, hay phạm thiên, hay bởi bất cứ ai ở trên đời; tức là, sự chỉ rõ, sự thuyết giảng, sự tuyên bố, sự thiết lập, sự khai mở, sự phân tích, sự làm cho sáng tỏ về bốn Thánh đế này.”
Idamavoca āyasmā sāriputto. Attamanā te bhikkhū āyasmato sāriputtassa bhāsitaṁ abhinandunti.
That is what Venerable Sāriputta said. Satisfied, the mendicants approved what Sāriputta said.
Tôn giả Sāriputta đã nói như vậy. Các vị tỳ khưu ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Tôn giả Sāriputta.
Saccavibhaṅgasuttaṁ niṭṭhitaṁ ekādasamaṁ.
Kinh Phân Tích về Sự Thật, kinh thứ mười một, chấm dứt.