- Majjhima Nikāya 14
Cūḷadukkhakkhandhasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Cūḷadukkhakkhandhasutta
Như vầy tôi nghe:
SC 1Một thời, Thế Tôn sống giữa giòng họ Sakka (Thích-ca), trong thành Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ) tại vườn Nigrodha (Ni-câu-luật Viên).
SC 2Lúc ấy, có người Sakka tên Mahānāma đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến xong, đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Mahānāma, dòng họ Sakka bạch Thế Tôn
SC 3—Bạch Thế Tôn, đã lâu rồi, con đã hiểu như thế này lời dạy của Thế Tôn: “Tham là cấu uế của tâm, sân là cấu uế của tâm, si là cấu uế của tâm”. Bạch Thế Tôn, con đã hiểu như thế này lời dạy của Thế Tôn: “Tham là cấu uế của tâm, sân là cấu uế của tâm, si là cấu uế của tâm”. Tuy vậy, đôi lúc các tham pháp chiếm cứ tâm con và an trú, các sân pháp chiếm cứ tâm con và an trú, các si pháp chiếm cứ tâm con và an trú. Bạch Thế Tôn, con tự suy nghĩ: “Pháp nào tự trong ta không đoạn trừ được, do vậy các tham pháp xâm nhập tâm ta và an trú, các sân pháp xâm nhập tâm ta và an trú, các si pháp xâm nhập tâm ta và an trú?”
SC 4—Này Mahānāma, có một pháp trong Ông chưa được đoạn trừ, do vậy các tham pháp xâm nhập tâm Ông và an trú, các sân pháp xâm nhập tâm Ông và an trú, các si pháp xâm nhập tâm Ông và an trú. Và này Mahānāma, pháp ấy trong Ông có thể đoạn trừ được, nếu Ông không sống trong gia đình, nếu Ông không thụ hưởng các dục vọng. Và này Mahānāma, vì pháp ấy trong Ông chưa được đoạn trừ, nên Ông sống trong gia đình và thụ hưởng các dục vọng.
SC 5Các dục vọng, vui ít, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hiểm ở đây lại nhiều hơn. Này Mahānāma, nếu một vị Thánh đệ tử khéo thấy như vậy với như thật chánh trí tuệ, nhưng nếu vị này chưa chứng được hỷ lạc do ly dục, ly ác bất thiện pháp sanh, hay một pháp nào khác cao thượng hơn, như vậy vị ấy chưa khỏi bị các dục chi phối. Này Mahānāma, khi nào vị Thánh đệ tử khéo thấy như vậy với như thật chánh trí tuệ: “Các dục, vui ít, khổ nhiều, não nhiều. Sự nguy hiểm ở đây lại nhiều hơn”, và vị này chứng được hỷ lạc do ly dục, ly ác bất thiện pháp sanh hay một pháp nào cao thượng hơn, như vậy vị ấy không bị các dục chi phối.
SC 6Này Mahānāma, thuở xưa, khi Ta còn là Bồ-tát, chưa chứng được Bồ-đề, chưa thành Chánh Ðẳng Chánh Giác, Ta khéo thấy với như thật chánh trí tuệ: “Các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hiểm ở đây lại nhiều hơn”, dầu Ta có thấy với như thật chánh trí tuệ như vậy, nhưng Ta chưa chứng được hỷ lạc do ly dục, ly ác bất thiện pháp sanh hay một pháp nào khác cao thượng hơn. Và như vậy Ta biết rằng, Ta chưa khỏi bị các dục chi phối. Và này Mahānāma, khi nào Ta khéo thấy với như thật chánh trí tuệ: “Các dục, vui ít, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hiểm ở đây lại nhiều hơn”, và Ta chứng được hỷ lạc do ly dục, ly ác bất thiện pháp sanh hay một pháp nào khác cao thượng hơn, như vậy Ta khỏi bị các dục chi phối.
SC 7Và này Mahānāma, thế nào là vị ngọt các dục? Này Mahānāma, có năm pháp tăng trưởng các dục này: Các sắc pháp do mắt nhận thức, khả ái, khả lạc, khả ý, khả hỷ, tương ưng với dục, hấp dẫn; các tiếng do tai nhận thức…; các hương do mũi nhận thức…; các vị do lưỡi nhận thức…; các xúc do thân nhận thức, khả ái, khả lạc, khả ý, khả hỷ, tương ưng với dục, hấp dẫn. Này Mahānāma, có năm pháp tăng trưởng các dục như vậy. Này Mahānāma, y cứ vào năm pháp tăng trưởng các dục này, có lạc và hỷ khởi lên, như vậy là vị ngọt các dục.
SC 8Và này Mahānāma, thế nào là sự nguy hiểm các dục? Ở đây, này Mahānāma, có thiện nam tử nuôi sống với nghề nghiệp, như đếm ngón tay, như tính toán, như ước toán, như làm ruộng, như buôn bán, như chăn bò, như bắn cung, như làm công cho vua, như làm một nghề nào khác. Người ấy phải chống đỡ lạnh, phải chống đỡ nóng, phải chịu đựng sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng, mặt trời, các loài bò sát, bị chết đói chết khát. Này Mahānāma, như vậy là sự nguy hiểm các dục, thiết thực hiện tại, thuộc khổ uẩn, lấy dục làm nhân, lấy dục làm duyên, là nguồn gốc của dục, là nguyên nhân của dục.
SC 9Này Mahānāma, nếu thiện nam tử ấy nỗ lực như vậy, tinh cần như vậy, tinh tấn như vậy, nhưng các tài sản ấy không được đến tay mình, vị ấy than vãn, buồn phiền khóc than, đấm ngực, mê man bất tỉnh: “Ôi! Sự nỗ lực của ta thật sự là vô ích, sự tinh cần của ta thật sự không kết quả”. Này Mahānāma, như vậy, là sự nguy hiểm các dục … (như trên) … là nguyên nhân của dục.
SC 10Này Mahānāma, nếu thiện nam tử ấy nỗ lực như vậy, tinh cần như vậy, tinh tấn như vậy, và các tài sản ấy được đến tay mình, vì phải hộ trì các tài sản ấy, vị ấy cảm thọ sự đau khổ, ưu tư: “Làm sao các vua chúa khỏi cướp đoạt chúng, làm sao trộm cướp khỏi cướp đoạt chúng, làm sao lửa khỏi đốt cháy, nước khỏi cuốn trôi, hay các kẻ thừa tự không xứng đáng khỏi cướp đoạt chúng?” Dầu vị ấy hộ trì như vậy, giữ gìn như vậy, vua chúa vẫn cướp đoạt các tài sản ấy, trộm cướp vẫn cướp đoạt, lửa vẫn đốt cháy, nước vẫn cuốn trôi hay các kẻ thừa tự không xứng đáng vẫn cướp đoạt chúng. Vị ấy than vãn, buồn phiền, khóc than, đấm ngực, mê man bất tỉnh: “Cái đã thuộc của ta, nay ta không có nữa”. Này Mahānāma, như vậy là sự nguy hiểm các dục … (như trên) … là nguyên nhân của dục.
SC 11Lại nữa, này Mahānāma, do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm nguyên nhân, do chính dục làm nhân, vua tranh đoạt với vua, Sát-đế-lị tranh đoạt với Sát-đế-lị, Bà-la-môn tranh đoạt với Bà-la-môn, gia chủ tranh đoạt với gia chủ, mẹ tranh đoạt với con, con tranh đoạt với mẹ, cha tranh đoạt với con, con tranh đoạt với cha, anh em tranh đoạt với anh em, anh tranh đoạt với chị, chị tranh đoạt với anh, bạn bè tranh đoạt với bạn bè. Khi họ đã dấn mình vào tranh chấp, tranh luận, tranh đoạt; họ công phá nhau bằng tay; họ công phá nhau bằng đá; họ công phá nhau bằng gậy; họ công phá nhau bằng kiếm. Ở đây họ đi đến tử vong, đi đến sự đau khổ gần như tử vong. Này Mahānāma, như vậy là sự nguy hiểm các dục … (như trên) … là nguyên nhân của dục.
SC 12Lại nữa, này Mahānāma, do dục làm nhân … do chính dục làm nhân, họ cầm mâu và thuẫn, họ đeo cung và tên, họ dàn trận hai mặt, và tên được nhắm bắn nhau, đao được quăng ném nhau, kiếm được vung chém nhau. Họ bắn đâm nhau bằng tên, họ quăng đâm nhau bằng đao, họ chặt đầu nhau bằng kiếm. Ở đây họ đi đến tử vong, đi đến sự đau khổ gần như tử vong. Này Mahānāma, như vậy là sự nguy hiểm các dục … (như trên) … là nguyên nhân của dục.
SC 13Lại nữa, này Mahānāma, do dục làm nhân … do chính dục làm nhân, họ cầm mâu và thuẫn, họ đeo cung và tên, họ công phá thành quách mới trét vôi hồ và tên được nhắm bắn nhau, đao được quăng ném nhau, kiếm được vung chém nhau. Ở đây, họ bắn đâm nhau bằng tên, họ quăng đâm nhau bằng đao, họ đổ nước phân sôi, họ đè bẹp nhau bằng đá, họ chặt đầu nhau bằng kiếm. Ở đây họ đi đến tử vong, đi đến sự đau khổ gần như tử vong. Này Mahānāma, như vậy là sự nguy hiểm các dục … (như trên) … là nguyên nhân của dục.
SC 14Lại nữa, này Mahānāma, do dục làm nhân … do chính dục làm nhân, họ đột nhập nhà cửa, họ cướp giật đồ đạc, họ hành động như kẻ cướp, họ phục kích các đường lớn, họ đi đến vợ người. Các vua chúa khi bắt được một người như vậy liền áp dụng nhiều hình phạt sai khác. Họ đánh bằng roi, họ đánh bằng gậy, họ đánh bằng côn, họ chặt tay, họ chặt chân, họ chặt tay chân, họ xẻo tai, họ cắt mũi, họ xẻo tai cắt mũi, họ dùng hình phạt vạc dầu, họ dùng hình phạt bối đồi hình (xẻo đỉnh đầu thành hình con sò), họ dùng hình phạt la hầu khẩu hình … Hỏa man hình (lấy lửa đốt thành vòng hoa) … chúc thủ hình (đốt tay) … khu hành hình (lấy rơm bện lại rồi siết chặt) … bì y hình (lấy vỏ cây làm áo) … linh dương hình (hình phạt con dê núi) … câu nhục hình (lấy câu móc vào thịt) … tiền hình (cắt thịt thành hình đồng tiền) … khối trấp hình … chuyển hình … cao đạp đài … họ tưới bằng dầu sôi, họ cho chó ăn, họ đóng cọc những người sống, họ lấy gươm chặt đầu. Ở đây họ đi đến tử vong, đi đến sự đau khổ gần như tử vong. Này Mahānāma, như vậy là sự nguy hiểm của dục … (như trên) … là nguyên nhân của dục.
SC 15Lại nữa, này Mahānāma, do dục làm nhân … do chính dục làm nhân, họ sống làm các ác hạnh về thân, làm các ác hạnh về lời nói, làm các ác hạnh về ý. Do họ sống làm các ác hạnh về thân, làm các ác hạnh về lời nói, làm các ác hạnh về ý, khi thân hoại mạng chung, họ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này Mahānāma, như vậy là sự nguy hiểm các dục, đưa đến đau khổ tương lai, là khổ uẩn, do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm nhân duyên, do chính dục làm nhân.
SC 16Này Mahānāma, một thời Ta ở tại Rājagaha (Vương Xá), trên núi Gijjhakūta (Linh Thứu). Lúc bấy giờ, rất nhiều Nigaṇṭha (Ni-kiền Tử) tại sườn núi Isigili, trên Kalasila (Hắc Nham), đứng thẳng người, không chịu ngồi và cảm giác những cảm thọ thống thiết, khổ đau, khốc liệt, bén nhạy. Này Mahānāma, rồi Ta vào buổi chiều, từ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến sườn núi Isigili, tại Kalasila chỗ các Nigaṇṭha ấy ở, khi đến nơi Ta nói với các Nigaṇṭha ấy: “Chư Hiền, tại sao các Ngươi lại đứng thẳng người, không chịu ngồi xuống và cảm giác những cảm thọ thống thiết, khổ đau, khốc liệt, bén nhạy như vậy?”
SC 17Này Mahānāma, được nói vậy các Nigaṇṭha ấy trả lời Ta như sau: “Này Hiền giả, Nigaṇṭha Nātaputta—là bậc toàn tri, toàn kiến, tự xưng là có tri kiến toàn diện như sau: ‘Dầu ta có đi, có đứng, có ngủ và có thức, tri kiến luôn luôn được tồn tại liên tục ở nơi ta ‘. Vị ấy nói như sau: ‘Này các Nigaṇṭha, nếu xưa kia Ngươi có làm ác nghiệp, hãy làm cho nghiệp ấy tiêu mòn bằng khổ hạnh khốc liệt này. Sự không làm ác nghiệp trong tương lai chính do sự hộ trì về thân, sự hộ trì về lời nói, sự hộ trì về ý ngay trong hiện tại, ở tại nơi đây. Như vậy chính nhờ sự thiêu đốt, sự chấm dứt các nghiệp quá khứ, sự không làm các nghiệp mới, mà không có sự tiếp tục trong tương lai. Do sự không tiếp tục trong tương lai, các nghiệp được diệt trừ; do nghiệp được diệt trừ, khổ được diệt trừ; do khổ được diệt trừ, cảm thọ được diệt trừ; do cảm thọ được diệt trừ, tất cả khổ đau sẽ được tiêu mòn’. Và vì chúng tôi chấp nhận điều ấy, và chúng tôi kham nhẫn điều ấy, nên chúng tôi được hoan hỷ.”
SC 18Này Mahānāma, khi được nói vậy Ta nói với các Nigaṇṭha ấy như sau: “Chư Hiền Nigaṇṭha, các Ngươi có biết chăng, trong quá khứ, các Ngươi có mặt hay các Ngươi không có mặt?” —“ Thưa Hiền giả, chúng tôi không biết.” —“ Chư Hiền Nigaṇṭha, các Ngươi có biết chăng, trong quá khứ, các Ngươi không làm ác nghiệp hay có làm ác nghiệp?” —“ Thưa Hiền giả, chúng tôi không biết.” —“ Chư Hiền Nigaṇṭha, các Ngươi có biết chăng, các Ngươi không làm các nghiệp như thế này hay như thế kia?” —“ Thưa Hiền giả, chúng tôi không biết.” —“ Chư Hiền Nigaṇṭha, các Ngươi có biết chăng: Mức độ đau khổ như thế này đã trừ diệt, mức độ đau khổ như thế này cần phải trừ diệt? Hay, khi mức độ đau khổ như thế này đã được trừ diệt, thời tất cả đau khổ sẽ được trừ diệt?” —“ Thưa Hiền giả, chúng tôi không biết.” —“ Chư Hiền Nigaṇṭha, các Ngươi có biết chăng, sự đoạn trừ ngay trong hiện tại các bất thiện pháp và sự thành tựu các thiện pháp?” —“ Thưa Hiền giả, chúng tôi không biết.”
SC 19:: “Chư Hiền, theo các Ngươi nói, Nigaṇṭha các Ngươi không biết: Trong quá khứ các Ngươi có mặt hay các Ngươi không có mặt; các Ngươi không biết, trong quá khứ các Ngươi không làm các ác nghiệp hay có làm các ác nghiệp; các Ngươi không biết, các Ngươi không làm ác nghiệp như thế này hay như thế kia; các Ngươi không biết, mức độ đau khổ như thế này đã được trừ diệt, mức độ đau khổ như thế này cần phải trừ diệt; mức độ đau khổ như thế này đã được trừ diệt thời tất cả đau khổ sẽ được trừ diệt; các Ngươi không biết, sự đoạn trừ ngay trong hiện tại các bất thiện pháp và sự thành tựu các thiện pháp. Chư Hiền Nigaṇṭha, sự kiện là như vậy thì những kẻ săn bắn ở đời, với bàn tay đẫm máu, làm các nghiệp hung dữ, được tái sanh trong loài người, những hạng ấy có xuất gia trong hàng ngũ Nigaṇṭha các Ngươi không?”
SC 20:: “Hiền giả Gotama, hạnh phúc không có thể thành tựu nhờ hạnh phúc. Hạnh phúc phải thành tựu nhờ đau khổ. Hiền giả Gotama, nếu hạnh phúc có thể thành tựu nhờ hạnh phúc thì vua Magadha Seniya Bimbisāra (Tần-bà-ta-la) có thể đạt được hạnh phúc, và vua Magadha Seniya Bimbisāra sống hạnh phúc hơn Tôn giả Gotama.
SC 21“Lời nói này thật sự đã được các Tôn giả Nigaṇṭha nói lên một cách hấp tấp, không có suy tư. Hiền giả Gotama, hạnh phúc không có thể thành tựu nhờ hạnh phúc. Hạnh phúc phải thành tựu nhờ đau khổ. Hiền giả Gotama, nếu hạnh phúc có thể thành tựu nhờ hạnh phúc, thời vua Magadha Seniya Bimbisāra có thể đạt được hạnh phúc; và vua Magadha Seniya Bimbisāra sống hạnh phúc hơn Tôn giả Gotama. Và chính ta ở đây cần phải được hỏi như sau: ‘Giữa các bậc Tôn Giả, ai sống hạnh phúc hơn, vua Magadha Seniya Bimbisāra hay Tôn giả Gotama?’
SC 22“Hiền giả Gotama, lời nói này thật sự đã được chúng tôi nói lên một cách hấp tấp, không có suy tư: Hiền giả Gotama, hạnh phúc không có thể thành tựu nhờ hạnh phúc, thời vua Magadha Seniya Bimbisāra có thể đạt được hạnh phúc; và vua Magadha Seniya Bimbisāra sống hạnh phúc hơn Tôn giả Gotama. Hãy để yên sự việc như vậy. Nay chúng tôi hỏi Tôn giả Gotama: ‘Giữa quý vị Tôn giả, ai sống hạnh phúc hơn, vua Magadha Seniya Bimbisāra hay Tôn giả Gotama?’
SC 23:: “Chư Hiền Nigaṇṭha, nay Ta sẽ hỏi các Ngươi một câu, cũng vấn đề này. Nếu các Ngươi vui lòng, hãy trả lời câu hỏi ấy. Chư Hiền Nigaṇṭha, các Ngươi nghĩ thế nào? Vua Magadha Seniya Bimbisāra có thể không di động thân thể, không nói lên một tiếng, sống cảm giác thuần túy lạc thọ luôn bảy ngày bảy đêm có được không?
SC 24:: “Này Hiền giả, không thể được.
SC 25:: “Chư Hiền Nigaṇṭha, các Ngươi nghĩ thế nào? Vua Magadha Seniya Bimbisāra có thể không di động thân thể, không nói lên một tiếng, sống cảm giác thuần túy lạc thọ luôn sáu ngày sáu đêm, luôn năm ngày năm đêm, luôn bốn ngày bốn đêm, luôn ba ngày ba đêm, luôn hai ngày hai đêm, luôn một ngày một đêm không?
SC 26:: “Này Hiền giả, không thể được.
SC 27:: “Chư Hiền Nigaṇṭha, Ta có thể không di động thân thể, không nói lên một lời, sống cảm giác thuần túy lạc thọ luôn trong một ngày một đêm. Chư Hiền Nigaṇṭha, Ta có thể không di động thân thể, không nói lên một lời, sống cảm giác thuần túy lạc thọ luôn trong hai ngày hai đêm, luôn trong ba ngày ba đêm, luôn trong bốn ngày bốn đêm, luôn trong năm ngày năm đêm, luôn trong sáu ngày sáu đêm, luôn trong bảy ngày bảy đêm. Chư Hiền Nigaṇṭha, các Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, ai sống hạnh phúc hơn, vua Magadha Seniya Bimbisāra hay Ta?
SC 28:: “Sự kiện là như vậy, Tôn giả Gotama sống hạnh phúc hơn vua Magadha Seniya Bimbisāra.”
SC 29Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Mahānāma thuộc giòng họ Sakka hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 10–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
4. Kinh Tiểu Khổ Uẩn
Atha kho mahānāmo sakko yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho mahānāmo sakko bhagavantaṁ etadavoca: “dīgharattāhaṁ, bhante, bhagavatā evaṁ dhammaṁ desitaṁ ājānāmi: ‘lobho cittassa upakkileso, doso cittassa upakkileso, moho cittassa upakkileso’ti. Evañcāhaṁ, bhante, bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi: ‘lobho cittassa upakkileso, doso cittassa upakkileso, moho cittassa upakkileso’ti. Atha ca pana me ekadā lobhadhammāpi cittaṁ pariyādāya tiṭṭhanti, dosadhammāpi cittaṁ pariyādāya tiṭṭhanti, mohadhammāpi cittaṁ pariyādāya tiṭṭhanti. Tassa mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti: ‘kosu nāma me dhammo ajjhattaṁ appahīno yena me ekadā lobhadhammāpi cittaṁ pariyādāya tiṭṭhanti, dosadhammāpi cittaṁ pariyādāya tiṭṭhanti, mohadhammāpi cittaṁ pariyādāya tiṭṭhantī’”ti.
Then Mahānāma the Sakyan went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him, “For a long time, sir, I have understood your teaching like this: ‘Greed, hate, and delusion are corruptions of the mind.’ Despite understanding this, sometimes my mind is occupied by thoughts of greed, hate, and delusion. I wonder what qualities remain in me that I have such thoughts?”
175. Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở giữa các vị trong dòng họ Sakka (Thích-ca), tại Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ), trong tu viện Nigrodha (Ni-câu-luật). Bấy giờ, Mahānāma (Đại Danh) thuộc dòng họ Sakka đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Mahānāma thuộc dòng họ Sakka bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, từ lâu con đã biết Pháp được Thế Tôn thuyết giảng như sau: ‘Tham là một tùy phiền não của tâm, sân là một tùy phiền não của tâm, si là một tùy phiền não của tâm.’ Và bạch Thế Tôn, mặc dù con biết Pháp được Thế Tôn thuyết giảng như vậy: ‘Tham là một tùy phiền não của tâm, sân là một tùy phiền não của tâm, si là một tùy phiền não của tâm,’ nhưng đôi khi các pháp tham vẫn chiếm cứ tâm con và tồn tại, các pháp sân vẫn chiếm cứ tâm con và tồn tại, các pháp si vẫn chiếm cứ tâm con và tồn tại. Bạch Thế Tôn, con suy nghĩ thế này: ‘Pháp nào trong nội tâm con chưa được đoạn trừ, do đó mà đôi khi các pháp tham vẫn chiếm cứ tâm con và tồn tại, các pháp sân vẫn chiếm cứ tâm con và tồn tại, các pháp si vẫn chiếm cứ tâm con và tồn tại?’”
“So eva kho te, mahānāma, dhammo ajjhattaṁ appahīno yena te ekadā lobhadhammāpi cittaṁ pariyādāya tiṭṭhanti, dosadhammāpi cittaṁ pariyādāya tiṭṭhanti, mohadhammāpi cittaṁ pariyādāya tiṭṭhanti. So ca hi te, mahānāma, dhammo ajjhattaṁ pahīno abhavissa, na tvaṁ agāraṁ ajjhāvaseyyāsi, na kāme paribhuñjeyyāsi. Yasmā ca kho te, mahānāma, so eva dhammo ajjhattaṁ appahīno tasmā tvaṁ agāraṁ ajjhāvasasi, kāme paribhuñjasi.
“Mahānāma, there is a quality that remains in you that makes you have such thoughts. For if you had given up that quality you would not still be living at home and enjoying sensual pleasures. But because you haven’t given up that quality you are still living at home and enjoying sensual pleasures.
176. Này Mahānāma, chính pháp ấy trong nội tâm ông chưa được đoạn trừ, do đó mà đôi khi các pháp tham vẫn chiếm cứ tâm ông và tồn tại, các pháp sân vẫn chiếm cứ tâm ông và tồn tại, các pháp si vẫn chiếm cứ tâm ông và tồn tại. Này Mahānāma, nếu pháp ấy trong nội tâm ông đã được đoạn trừ, ông sẽ không sống đời tại gia, sẽ không hưởng thụ các dục. Này Mahānāma, chính vì pháp ấy trong nội tâm ông chưa được đoạn trừ, nên ông sống đời tại gia, hưởng thụ các dục.
‘Appassādā kāmā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo’ti—iti cepi, mahānāma, ariyasāvakassa yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhaṁ hoti, so ca aññatreva kāmehi aññatra akusalehi dhammehi pītisukhaṁ nādhigacchati, aññaṁ vā tato santataraṁ; atha kho so neva tāva anāvaṭṭī kāmesu hoti. Yato ca kho, mahānāma, ariyasāvakassa ‘appassādā kāmā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo’ti—evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhaṁ hoti, so ca aññatreva kāmehi aññatra akusalehi dhammehi pītisukhaṁ adhigacchati aññaṁ vā tato santataraṁ; atha kho so anāvaṭṭī kāmesu hoti.
Sensual pleasures give little gratification and much suffering and distress, and they are all the more full of drawbacks. So, Mahānāma, even though a noble disciple has clearly seen this with right wisdom, as long as they do not achieve the rapture and bliss that are apart from sensual pleasures and unskillful qualities, or something even more peaceful than that, they can return to sensual pleasures. But when they do achieve that rapture and bliss, or something more peaceful than that, they do not return to sensual pleasures.
177. Này Mahānāma, dù cho vị Thánh đệ tử đã thấy rõ như thật bằng chánh trí tuệ rằng: ‘Các dục có ít vị ngọt, nhiều khổ đau, nhiều phiền não; sự nguy hiểm ở đây còn nhiều hơn,’ nhưng nếu vị ấy, ngoài các dục, ngoài các pháp bất thiện, không chứng được hỷ lạc, hoặc một trạng thái nào khác an tịnh hơn, thì vị ấy vẫn chưa phải là người không quay trở lại với các dục. Nhưng này Mahānāma, khi vị Thánh đệ tử đã thấy rõ như thật bằng chánh trí tuệ rằng: ‘Các dục có ít vị ngọt, nhiều khổ đau, nhiều phiền não; sự nguy hiểm ở đây còn nhiều hơn,’ và vị ấy, ngoài các dục, ngoài các pháp bất thiện, chứng được hỷ lạc, hoặc một trạng thái nào khác an tịnh hơn, thì vị ấy là người không quay trở lại với các dục.
Mayhampi kho, mahānāma, pubbeva sambodhā, anabhisambuddhassa bodhisattasseva sato, ‘appassādā kāmā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo’ti—evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhaṁ hoti, so ca aññatreva kāmehi aññatra akusalehi dhammehi pītisukhaṁ nājjhagamaṁ, aññaṁ vā tato santataraṁ; atha khvāhaṁ neva tāva anāvaṭṭī kāmesu paccaññāsiṁ. Yato ca kho me, mahānāma, ‘appassādā kāmā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo’ti—evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhaṁ ahosi, so ca aññatreva kāmehi aññatra akusalehi dhammehi pītisukhaṁ ajjhagamaṁ, aññaṁ vā tato santataraṁ; athāhaṁ anāvaṭṭī kāmesu paccaññāsiṁ.
Before my awakening—when I was still unawakened but intent on awakening—I too clearly saw with right wisdom that: ‘Sensual pleasures give little gratification and much suffering and distress, and they are all the more full of drawbacks.’ But so long as I didn’t achieve the rapture and bliss that are apart from sensual pleasures and unskillful qualities, or something even more peaceful than that, I didn’t announce that I would not return to sensual pleasures. But when I did achieve that rapture and bliss, or something more peaceful than that, I announced that I would not return to sensual pleasures.
Này Mahānāma, đối với Ta cũng vậy, trước khi giác ngộ, khi chưa chứng ngộ, còn là Bồ-tát, Ta đã thấy rõ như thật bằng chánh trí tuệ rằng: ‘Các dục có ít vị ngọt, nhiều khổ đau, nhiều phiền não; sự nguy hiểm ở đây còn nhiều hơn.’ Nhưng Ta, ngoài các dục, ngoài các pháp bất thiện, đã không chứng được hỷ lạc, hoặc một trạng thái nào khác an tịnh hơn; khi ấy, Ta chưa tự nhận mình là người không quay trở lại với các dục. Nhưng này Mahānāma, khi Ta đã thấy rõ như thật bằng chánh trí tuệ rằng: ‘Các dục có ít vị ngọt, nhiều khổ đau, nhiều phiền não; sự nguy hiểm ở đây còn nhiều hơn,’ và Ta, ngoài các dục, ngoài các pháp bất thiện, đã chứng được hỷ lạc, và một trạng thái khác an tịnh hơn; khi ấy, Ta tự nhận mình là người không quay trở lại với các dục.
Ko ca, mahānāma, kāmānaṁ assādo? Pañcime, mahānāma, kāmaguṇā. Katame pañca? Cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā; sotaviññeyyā saddā …pe… ghānaviññeyyā gandhā … jivhāviññeyyā rasā … kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā—ime kho, mahānāma, pañca kāmaguṇā. Yaṁ kho, mahānāma, ime pañca kāmaguṇe paṭicca uppajjati sukhaṁ somanassaṁ—ayaṁ kāmānaṁ assādo.
And what is the gratification of sensual pleasures? There are these five kinds of sensual stimulation. What five? Sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. Sounds known by the ear … Smells known by the nose … Tastes known by the tongue … Touches known by the body, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. These are the five kinds of sensual stimulation. The pleasure and happiness that arise from these five kinds of sensual stimulation: this is the gratification of sensual pleasures.
178. Và này Mahānāma, thế nào là vị ngọt của các dục? Này Mahānāma, có năm loại dục công đức này. Năm loại nào? Các sắc do mắt nhận biết, khả ý, khả ái, khả lạc, đẹp đẽ, liên hệ đến dục, hấp dẫn; các tiếng do tai nhận biết... các hương do mũi nhận biết... các vị do lưỡi nhận biết... các vật xúc chạm do thân nhận biết, khả ý, khả ái, khả lạc, đẹp đẽ, liên hệ đến dục, hấp dẫn — này Mahānāma, đây là năm loại dục công đức. Này Mahānāma, do duyên năm loại dục công đức này mà khởi lên lạc và hỷ — đây là vị ngọt của các dục.
Ko ca, mahānāma, kāmānaṁ ādīnavo? Idha, mahānāma, kulaputto yena sippaṭṭhānena jīvikaṁ kappeti—yadi muddāya yadi gaṇanāya yadi saṅkhānena yadi kasiyā yadi vaṇijjāya yadi gorakkhena yadi issatthena yadi rājaporisena yadi sippaññatarena, sītassa purakkhato uṇhassa purakkhato ḍaṁsamakasavātātapasarīsapasamphassehi rissamāno khuppipāsāya mīyamāno; ayampi, mahānāma, kāmānaṁ ādīnavo sandiṭṭhiko dukkhakkhandho kāmahetu kāmanidānaṁ kāmādhikaraṇaṁ kāmānameva hetu.
And what is the drawback of sensual pleasures? It’s when a gentleman earns a living by means such as arithmetic, accounting, calculating, farming, trade, raising cattle, archery, government service, or one of the professions. But they must face cold and heat, being hurt by the touch of flies, mosquitoes, wind, sun, and reptiles, and risking death from hunger and thirst. This is a drawback of sensual pleasures apparent in the present life, a mass of suffering caused by sensual pleasures.
Này Mahānāma, sự nguy hại của các dục là gì? Này Mahānāma, ở đây, người thiện nam tử sinh sống bằng nghề nghiệp nào đó – hoặc bằng nghề tính tay, hoặc bằng nghề kế toán, hoặc bằng nghề tính toán tổng hợp, hoặc bằng nghề nông, hoặc bằng nghề buôn bán, hoặc bằng nghề chăn nuôi gia súc, hoặc bằng nghề bắn cung, hoặc bằng nghề phục vụ vua chúa, hoặc bằng một nghề nào khác; bị cái lạnh áp bức, bị cái nóng áp bức, bị tổn hại bởi sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, nắng, các loài bò sát, chết vì đói khát. Này Mahānāma, đây cũng là sự nguy hại của các dục, là một khối khổ hiện tại, do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm nơi nương tựa, chính vì nhân duyên là các dục.
Tassa ce, mahānāma, kulaputtassa evaṁ uṭṭhahato ghaṭato vāyamato te bhogā nābhinipphajjanti, so socati kilamati paridevati urattāḷiṁ kandati sammohaṁ āpajjati ‘moghaṁ vata me uṭṭhānaṁ, aphalo vata me vāyāmo’ti. Ayampi, mahānāma, kāmānaṁ ādīnavo sandiṭṭhiko dukkhakkhandho kāmahetu kāmanidānaṁ kāmādhikaraṇaṁ kāmānameva hetu.
That gentleman might try hard, strive, and make an effort, but fail to accrue riches. If this happens, they sorrow and wail and lament, beating their breast and falling into confusion, saying: ‘Oh, my hard work is wasted. My efforts are fruitless!’ This too is a drawback of sensual pleasures apparent in the present life, a mass of suffering caused by sensual pleasures.
Này Mahānāma, nếu người thiện nam tử ấy, trong khi nỗ lực, cố gắng, tinh tấn như vậy, mà những tài sản ấy không thành tựu, người ấy sầu muộn, mệt mỏi, than khóc, đấm ngực kêu la, đi đến si mê (nghĩ rằng): ‘Ôi, sự nỗ lực của ta thật là vô ích! Ôi, sự cố gắng của ta thật là không kết quả!’. Này Mahānāma, đây cũng là sự nguy hại của các dục, là một khối khổ hiện tại, do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm nơi nương tựa, chính vì nhân duyên là các dục.
Tassa ce, mahānāma, kulaputtassa evaṁ uṭṭhahato ghaṭato vāyamato te bhogā abhinipphajjanti. So tesaṁ bhogānaṁ ārakkhādhikaraṇaṁ dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti: ‘kinti me bhoge neva rājāno hareyyuṁ, na corā hareyyuṁ, na aggi daheyya, na udakaṁ vaheyya, na appiyā vā dāyādā hareyyun’ti. Tassa evaṁ ārakkhato gopayato te bhoge rājāno vā haranti, corā vā haranti, aggi vā dahati, udakaṁ vā vahati, appiyā vā dāyādā haranti. So socati kilamati paridevati urattāḷiṁ kandati sammohaṁ āpajjati: ‘yampi me ahosi tampi no natthī’ti. Ayampi, mahānāma, kāmānaṁ ādīnavo sandiṭṭhiko dukkhakkhandho kāmahetu kāmanidānaṁ kāmādhikaraṇaṁ kāmānameva hetu.
That gentleman might try hard, strive, and make an effort, and succeed in accruing riches. But they experience pain and sadness when they try to protect it, thinking: ‘How can I prevent my wealth from being taken by rulers or bandits, consumed by fire, swept away by flood, or taken by unloved heirs?’ And even though they protect it and ward it, rulers or bandits take it, or fire consumes it, or flood sweeps it away, or unloved heirs take it. They sorrow and wail and lament, beating their breast and falling into confusion: ‘What once was mine is gone.’ This too is a drawback of sensual pleasures apparent in the present life, a mass of suffering caused by sensual pleasures.
Này Mahānāma, nếu người thiện nam tử ấy, trong khi nỗ lực, cố gắng, tinh tấn như vậy, mà những tài sản ấy được thành tựu, người ấy vì lý do phải bảo vệ những tài sản ấy mà cảm nhận sự khổ, ưu (nghĩ rằng): ‘Làm sao để tài sản của ta không bị vua chúa lấy đi, không bị trộm cướp lấy đi, không bị lửa thiêu, không bị nước cuốn, không bị những người thừa kế không thương mến lấy đi?’. Trong khi người ấy bảo vệ, gìn giữ như vậy, những tài sản ấy bị vua chúa lấy đi, hoặc bị trộm cướp lấy đi, hoặc bị lửa thiêu, hoặc bị nước cuốn, hoặc bị những người thừa kế không thương mến lấy đi. Người ấy sầu muộn, mệt mỏi, than khóc, đấm ngực kêu la, đi đến si mê (nghĩ rằng): ‘Cái gì ta đã có, cái đó nay cũng không còn!’. Này Mahānāma, đây cũng là sự nguy hại của các dục, là một khối khổ hiện tại, do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm nơi nương tựa, chính vì nhân duyên là các dục.
Puna caparaṁ, mahānāma, kāmahetu kāmanidānaṁ kāmādhikaraṇaṁ kāmānameva hetu rājānopi rājūhi vivadanti, khattiyāpi khattiyehi vivadanti, brāhmaṇāpi brāhmaṇehi vivadanti, gahapatīpi gahapatīhi vivadanti, mātāpi puttena vivadati, puttopi mātarā vivadati, pitāpi puttena vivadati, puttopi pitarā vivadati, bhātāpi bhātarā vivadati, bhātāpi bhaginiyā vivadati, bhaginīpi bhātarā vivadati, sahāyopi sahāyena vivadati. Te tattha kalahaviggahavivādāpannā aññamaññaṁ pāṇīhipi upakkamanti, leḍḍūhipi upakkamanti, daṇḍehipi upakkamanti, satthehipi upakkamanti. Te tattha maraṇampi nigacchanti, maraṇamattampi dukkhaṁ. Ayampi, mahānāma, kāmānaṁ ādīnavo sandiṭṭhiko dukkhakkhandho kāmahetu kāmanidānaṁ kāmādhikaraṇaṁ kāmānameva hetu.
Furthermore, for the sake of sensual pleasures kings fight with kings, aristocrats fight with aristocrats, brahmins fight with brahmins, and householders fight with householders. A mother fights with her child, child with mother, father with child, and child with father. Brother fights with brother, brother with sister, sister with brother, and friend fights with friend. Once they’ve started quarreling, arguing, and disputing, they attack each other with fists, stones, rods, and swords, resulting in death and deadly pain. This too is a drawback of sensual pleasures apparent in the present life, a mass of suffering caused by sensual pleasures.
Lại nữa, này Mahānāma, do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm nơi nương tựa, chính vì nhân duyên là các dục, vua chúa cũng tranh cãi với vua chúa, giai cấp Sát-đế-lỵ cũng tranh cãi với giai cấp Sát-đế-lỵ, giai cấp Bà-la-môn cũng tranh cãi với giai cấp Bà-la-môn, gia chủ cũng tranh cãi với gia chủ, mẹ cũng tranh cãi với con trai, con trai cũng tranh cãi với mẹ, cha cũng tranh cãi với con trai, con trai cũng tranh cãi với cha, anh em trai tranh cãi với nhau, anh em trai tranh cãi với chị em gái, chị em gái tranh cãi với anh em trai, bạn bè cũng tranh cãi với bạn bè. Họ ở đó, khi đã rơi vào cãi vã, xung đột, tranh chấp, họ tấn công lẫn nhau bằng tay, tấn công bằng cục đất, tấn công bằng gậy, tấn công bằng vũ khí. Họ ở đó đi đến cái chết, hoặc (chịu) sự khổ gần bằng cái chết. Này Mahānāma, đây cũng là sự nguy hại của các dục, là một khối khổ hiện tại, do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm nơi nương tựa, chính vì nhân duyên là các dục.
Puna caparaṁ, mahānāma, kāmahetu kāmanidānaṁ kāmādhikaraṇaṁ kāmānameva hetu asicammaṁ gahetvā, dhanukalāpaṁ sannayhitvā, ubhatobyūḷhaṁ saṅgāmaṁ pakkhandanti usūsupi khippamānesu, sattīsupi khippamānāsu, asīsupi vijjotalantesu. Te tattha usūhipi vijjhanti, sattiyāpi vijjhanti, asināpi sīsaṁ chindanti. Te tattha maraṇampi nigacchanti, maraṇamattampi dukkhaṁ. Ayampi, mahānāma, kāmānaṁ ādīnavo sandiṭṭhiko dukkhakkhandho kāmahetu kāmanidānaṁ kāmādhikaraṇaṁ kāmānameva hetu.
Furthermore, for the sake of sensual pleasures they don their sword and shield, fasten their bow and arrows, and plunge into a battle massed on both sides, with arrows and spears flying and swords flashing. There they are struck with arrows and spears, and their heads are chopped off, resulting in death and deadly pain. This too is a drawback of sensual pleasures apparent in the present life, a mass of suffering caused by sensual pleasures.
Lại nữa, này Mahānāma, do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm nơi nương tựa, chính vì nhân duyên là các dục, họ cầm lấy gươm và khiên, đeo cung và ống tên, xông vào trận chiến nơi hai bên dàn trận, trong khi tên đang được bắn, lao đang được phóng, gươm đang loé sáng. Họ ở đó bị bắn bằng tên, bị đâm bằng lao, bị chém đầu bằng gươm. Họ ở đó đi đến cái chết, hoặc (chịu) sự khổ gần bằng cái chết. Này Mahānāma, đây cũng là sự nguy hại của các dục, là một khối khổ hiện tại, do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm nơi nương tựa, chính vì nhân duyên là các dục.
Puna caparaṁ, mahānāma, kāmahetu kāmanidānaṁ kāmādhikaraṇaṁ kāmānameva hetu asicammaṁ gahetvā, dhanukalāpaṁ sannayhitvā, addāvalepanā upakāriyo pakkhandanti usūsupi khippamānesu, sattīsupi khippamānāsu, asīsupi vijjotalantesu. Te tattha usūhipi vijjhanti, sattiyāpi vijjhanti, chakaṇakāyapi osiñcanti, abhivaggenapi omaddanti, asināpi sīsaṁ chindanti. Te tattha maraṇampi nigacchanti, maraṇamattampi dukkhaṁ. Ayampi, mahānāma, kāmānaṁ ādīnavo sandiṭṭhiko dukkhakkhandho kāmahetu kāmanidānaṁ kāmādhikaraṇaṁ kāmānameva hetu.
Furthermore, for the sake of sensual pleasures they don their sword and shield, fasten their bow and arrows, and charge wetly plastered bastions, with arrows and spears flying and swords flashing. There they are struck with arrows and spears, splashed with dung, crushed by a superior force, and their heads are chopped off, resulting in death and deadly pain. This too is a drawback of sensual pleasures apparent in the present life, a mass of suffering caused by sensual pleasures.
Lại nữa, này Mahānāma, do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm nơi nương tựa, chính vì nhân duyên là các dục, họ cầm lấy gươm và khiên, đeo cung và ống tên, xông vào các công sự được trát bằng vữa nóng, trong khi tên đang được bắn, lao đang được phóng, gươm đang loé sáng. Họ ở đó bị bắn bằng tên, bị đâm bằng lao, bị dội bằng phân bò sôi, bị đè bẹp bằng những khúc gỗ, bị chém đầu bằng gươm. Họ ở đó đi đến cái chết, hoặc (chịu) sự khổ gần bằng cái chết. Này Mahānāma, đây cũng là sự nguy hại của các dục, là một khối khổ hiện tại, do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm nơi nương tựa, chính vì nhân duyên là các dục.
Puna caparaṁ, mahānāma, kāmahetu kāmanidānaṁ kāmādhikaraṇaṁ kāmānameva hetu sandhimpi chindanti, nillopampi haranti, ekāgārikampi karonti, paripanthepi tiṭṭhanti, paradārampi gacchanti. Tamenaṁ rājāno gahetvā vividhā kammakāraṇā kārenti—kasāhipi tāḷenti, vettehipi tāḷenti, aḍḍhadaṇḍakehipi tāḷenti; hatthampi chindanti, pādampi chindanti, hatthapādampi chindanti, kaṇṇampi chindanti, nāsampi chindanti, kaṇṇanāsampi chindanti; bilaṅgathālikampi karonti, saṅkhamuṇḍikampi karonti, rāhumukhampi karonti, jotimālikampi karonti, hatthapajjotikampi karonti, erakavattikampi karonti, cīrakavāsikampi karonti, eṇeyyakampi karonti, baḷisamaṁsikampi karonti, kahāpaṇikampi karonti, khārāpatacchikampi karonti, palighaparivattikampi karonti, palālapīṭhakampi karonti, tattenapi telena osiñcanti, sunakhehipi khādāpenti, jīvantampi sūle uttāsenti, asināpi sīsaṁ chindanti. Te tattha maraṇampi nigacchanti, maraṇamattampi dukkhaṁ. Ayampi, mahānāma, kāmānaṁ ādīnavo sandiṭṭhiko dukkhakkhandho kāmahetu kāmanidānaṁ kāmādhikaraṇaṁ kāmānameva hetu.
Furthermore, for the sake of sensual pleasures they break into houses, plunder wealth, steal from isolated buildings, commit highway robbery, and commit adultery. The rulers would arrest them and subject them to various punishments—whipping, caning, and clubbing; cutting off hands or feet, or both; cutting off ears or nose, or both; the ‘porridge pot’, the ‘shell-shave’, the ‘Rāhu’s mouth’, the ‘garland of fire’, the ‘burning hand’, the ‘bulrush twist’, the ‘bark dress’, the ‘antelope’, the ‘meat hook’, the ‘coins’, the ‘caustic pickle’, the ‘twisting bar’, the ‘straw mat’; being splashed with hot oil, being fed to the hounds, being impaled alive, and being beheaded. These result in death and deadly pain. This too is a drawback of sensual pleasures apparent in the present life, a mass of suffering caused by sensual pleasures.
“Lại nữa, này Mahānāma, do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm nguyên nhân, chính vì dục mà họ phá vách tường, cướp phá, đột nhập nhà, chặn đường, thông gian với vợ người. Rồi các vua chúa bắt kẻ ấy và áp dụng nhiều hình phạt khác nhau: đánh bằng roi da, đánh bằng roi mây, đánh bằng gậy ngắn; chặt tay, chặt chân, chặt cả tay chân; cắt tai, cắt mũi, cắt cả tai mũi; họ thực hiện hình phạt ‘cháo sọ người’, hình phạt ‘đầu ốc xà cừ’, hình phạt ‘miệng Rāhu’, hình phạt ‘vòng hoa lửa’, hình phạt ‘đuốc tay’, hình phạt ‘cuộn cỏ lau’, hình phạt ‘áo vỏ cây’, hình phạt ‘con nai’, hình phạt ‘móc câu thịt’, hình phạt ‘đồng tiền’, hình phạt ‘tẩm kiềm’, hình phạt ‘xoay chốt cửa’, hình phạt ‘ghế rơm’; họ tưới dầu sôi, cho chó đói ăn thịt, đóng cọc xiên qua người lúc còn sống, và dùng gươm chặt đầu. Tại đó, họ phải chịu cái chết hoặc đau khổ đến chết. Này Mahānāma, đây cũng là sự nguy hại của các dục, một khối đau khổ ngay trong hiện tại, do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm nguyên nhân, chính vì dục.”
Puna caparaṁ, mahānāma, kāmahetu kāmanidānaṁ kāmādhikaraṇaṁ kāmānameva hetu kāyena duccaritaṁ caranti, vācāya duccaritaṁ caranti, manasā duccaritaṁ caranti. Te kāyena duccaritaṁ caritvā, vācāya duccaritaṁ caritvā, manasā duccaritaṁ caritvā, kāyassa bhedā paraṁ maraṇā, apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjanti. Ayampi, mahānāma, kāmānaṁ ādīnavo samparāyiko, dukkhakkhandho kāmahetu kāmanidānaṁ kāmādhikaraṇaṁ kāmānameva hetu.
Furthermore, for the sake of sensual pleasures, they conduct themselves badly by way of body, speech, and mind. When their body breaks up, after death, they’re reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. This is a drawback of sensual pleasures to do with lives to come, a mass of suffering caused by sensual pleasures.
“Lại nữa, này Mahānāma, do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm nguyên nhân, chính vì dục mà họ thực hành thân ác hạnh, khẩu ác hạnh, ý ác hạnh. Do thực hành thân ác hạnh, khẩu ác hạnh, ý ác hạnh, sau khi thân hoại mạng chung, họ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này Mahānāma, đây cũng là sự nguy hại của các dục, một khối đau khổ trong tương lai, do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm nguyên nhân, chính vì dục.”
Ekamidāhaṁ, mahānāma, samayaṁ rājagahe viharāmi gijjhakūṭe pabbate. Tena kho pana samayena sambahulā nigaṇṭhā isigilipasse kāḷasilāyaṁ ubbhaṭṭhakā honti āsanapaṭikkhittā, opakkamikā dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vedayanti.
Atha khvāhaṁ, mahānāma, sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yena isigilipasse kāḷasilā yena te nigaṇṭhā tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā te nigaṇṭhe etadavocaṁ: ‘kiṁ nu tumhe, āvuso nigaṇṭhā, ubbhaṭṭhakā āsanapaṭikkhittā, opakkamikā dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vedayathā’ti?
Evaṁ vutte, mahānāma, te nigaṇṭhā maṁ etadavocuṁ: ‘nigaṇṭho, āvuso, nāṭaputto sabbaññū sabbadassāvī aparisesaṁ ñāṇadassanaṁ paṭijānāti: “carato ca me tiṭṭhato ca suttassa ca jāgarassa ca satataṁ samitaṁ ñāṇadassanaṁ paccupaṭṭhitan”ti.
So evamāha: “atthi kho vo, nigaṇṭhā, pubbe pāpakammaṁ kataṁ, taṁ imāya kaṭukāya dukkarakārikāya nijjīretha; yaṁ panettha etarahi kāyena saṁvutā vācāya saṁvutā manasā saṁvutā taṁ āyatiṁ pāpassa kammassa akaraṇaṁ; iti purāṇānaṁ kammānaṁ tapasā byantibhāvā, navānaṁ kammānaṁ akaraṇā, āyatiṁ anavassavo; āyatiṁ anavassavā kammakkhayo, kammakkhayā dukkhakkhayo, dukkhakkhayā vedanākkhayo, vedanākkhayā sabbaṁ dukkhaṁ nijjiṇṇaṁ bhavissatī”ti. Tañca panamhākaṁ ruccati ceva khamati ca, tena camha attamanā’ti.
Mahānāma, this one time I was staying near Rājagaha, on the Vulture’s Peak Mountain. Now at that time several Jain ascetics on the slopes of Isigili at the Black Rock were constantly standing, turning down seats. And they felt painful, sharp, severe, acute feelings due to exertion.
Then in the late afternoon, I came out of retreat and went to the Black Rock to visit those Jain ascetics. I said to them, ‘Reverends, why are you constantly standing, turning down seats, so that you suffer painful, sharp, severe, acute feelings due to exertion?’
When I said this, those Jain ascetics said to me, ‘Reverend, the Jain ascetic of the Ñātika clan claims to be all-knowing and all-seeing, to know and see everything without exception, thus: “Knowledge and vision are constantly and continually present to me, while walking, standing, sleeping, and waking.”
He says, “O Jain ascetics, you have done bad deeds in a past life. Wear them away with these severe and grueling austerities. And when in the present you are restrained in body, speech, and mind, you’re not doing any bad deeds for the future. So, due to eliminating past deeds by fervent mortification, and not doing any new deeds, there’s nothing to come up in the future. With no future consequence, deeds end. With the ending of deeds, suffering ends. With the ending of suffering, feeling ends. And with the ending of feeling, all suffering will have been worn away.” We endorse and accept this, and we are satisfied with it.’
179. “Này Mahānāma, một thời ta ở tại Rājagaha, trên núi Gijjhakūṭa. Khi ấy, có nhiều Nigaṇṭha ở sườn núi Isigili, trên phiến đá đen, đứng thẳng, không chịu ngồi, cảm thọ những cảm giác đau đớn, dữ dội, khốc liệt, nhói buốt. Này Mahānāma, vào buổi chiều, sau khi xuất thiền, ta đi đến chỗ các Nigaṇṭha ấy; sau khi đến, ta nói với các Nigaṇṭha ấy rằng: ‘Này các hiền giả Nigaṇṭha, tại sao quý vị đứng thẳng, không chịu ngồi, cảm thọ những cảm giác đau đớn, dữ dội, khốc liệt, nhói buốt như vậy?’ Khi được hỏi vậy, này Mahānāma, các Nigaṇṭha ấy nói với ta rằng: ‘Hiền giả, Nigaṇṭha Nāṭaputta là bậc toàn tri, toàn kiến, tự nhận có tri kiến không dư sót rằng: “Khi đi, khi đứng, khi ngủ, khi thức, tri kiến luôn luôn, thường trực hiện hữu nơi ta.” Vị ấy nói như sau: “Này các Nigaṇṭha, các ông có nghiệp ác đã làm trong quá khứ, hãy làm cho nó tiêu mòn bằng khổ hạnh khốc liệt này. Và việc các ông hiện tại đây thu thúc thân, khẩu, ý, chính là không tạo nghiệp ác trong tương lai. Như vậy, do khổ hạnh làm tiêu mòn các nghiệp cũ, do không tạo các nghiệp mới, sẽ không có kết quả trong tương lai. Do không có kết quả trong tương lai, nghiệp được đoạn tận. Do nghiệp đoạn tận, khổ được đoạn tận. Do khổ đoạn tận, thọ được đoạn tận. Do thọ đoạn tận, tất cả đau khổ sẽ được tiêu trừ.” Lời dạy ấy chúng tôi chấp nhận và hài lòng, và do vậy chúng tôi hoan hỷ.’”
Evaṁ vutte, ahaṁ, mahānāma, te nigaṇṭhe etadavocaṁ: ‘kiṁ pana tumhe, āvuso nigaṇṭhā, jānātha—ahuvamheva mayaṁ pubbe na nāhuvamhā’ti?
‘No hidaṁ, āvuso’.
‘Kiṁ pana tumhe, āvuso nigaṇṭhā, jānātha—akaramheva mayaṁ pubbe pāpakammaṁ na nākaramhā’ti?
‘No hidaṁ, āvuso’.
‘Kiṁ pana tumhe, āvuso nigaṇṭhā, jānātha—evarūpaṁ vā evarūpaṁ vā pāpakammaṁ akaramhā’ti?
‘No hidaṁ, āvuso’.
‘Kiṁ pana tumhe, āvuso nigaṇṭhā, jānātha—ettakaṁ vā dukkhaṁ nijjiṇṇaṁ, ettakaṁ vā dukkhaṁ nijjīretabbaṁ, ettakamhi vā dukkhe nijjiṇṇe sabbaṁ dukkhaṁ nijjiṇṇaṁ bhavissatī’ti?
‘No hidaṁ, āvuso’.
‘Kiṁ pana tumhe, āvuso nigaṇṭhā, jānātha—diṭṭheva dhamme akusalānaṁ dhammānaṁ pahānaṁ, kusalānaṁ dhammānaṁ upasampadan’ti?
‘No hidaṁ, āvuso’.
When they said this, I said to them, ‘But reverends, do you know for sure that you existed in the past, and it is not the case that you did not exist?’
‘No we don’t, reverend.’
‘But reverends, do you know for sure that you did bad deeds in the past?’
‘No we don’t, reverend.’
‘But reverends, do you know that you did bad deeds of this type or that?’
‘No we don’t, reverend.’
‘But reverends, do you know that so much suffering has already been worn away? Or that so much suffering still remains to be worn away? Or that when so much suffering is worn away all suffering will have been worn away?’
‘No we don’t, reverend.’
‘But reverends, do you know about giving up unskillful qualities in this very life and embracing skillful qualities?’
‘No we don’t, reverend.’
180. “Khi họ nói vậy, này Mahānāma, ta nói với các Nigaṇṭha ấy rằng: ‘Này các hiền giả Nigaṇṭha, quý vị có biết rằng: “Chúng ta đã từng có mặt trong quá khứ, không phải là không từng có mặt” không?’ ‘Thưa hiền giả, không.’ ‘Này các hiền giả Nigaṇṭha, quý vị có biết rằng: “Chúng ta đã từng làm nghiệp ác trong quá khứ, không phải là không từng làm” không?’ ‘Thưa hiền giả, không.’ ‘Này các hiền giả Nigaṇṭha, quý vị có biết rằng: “Chúng ta đã làm nghiệp ác như thế này hay như thế kia” không?’ ‘Thưa hiền giả, không.’ ‘Này các hiền giả Nigaṇṭha, quý vị có biết rằng: “Từng này khổ đã được tiêu trừ, hay từng này khổ cần phải được tiêu trừ, hay khi từng này khổ được tiêu trừ thì tất cả khổ sẽ được tiêu trừ” không?’ ‘Thưa hiền giả, không.’ ‘Này các hiền giả Nigaṇṭha, quý vị có biết sự đoạn trừ các pháp bất thiện và sự thành tựu các pháp thiện ngay trong hiện tại không?’ ‘Thưa hiền giả, không.’”
‘Iti kira tumhe, āvuso nigaṇṭhā, na jānātha—ahuvamheva mayaṁ pubbe na nāhuvamhāti, na jānātha—akaramheva mayaṁ pubbe pāpakammaṁ na nākaramhāti, na jānātha—evarūpaṁ vā evarūpaṁ vā pāpakammaṁ akaramhāti, na jānātha—ettakaṁ vā dukkhaṁ nijjiṇṇaṁ, ettakaṁ vā dukkhaṁ nijjīretabbaṁ, ettakamhi vā dukkhe nijjiṇṇe sabbaṁ dukkhaṁ nijjiṇṇaṁ bhavissatīti. Na jānātha—diṭṭheva dhamme akusalānaṁ dhammānaṁ pahānaṁ, kusalānaṁ dhammānaṁ upasampadaṁ. Evaṁ sante, āvuso nigaṇṭhā, ye loke luddā lohitapāṇino kurūrakammantā manussesu paccājātā te nigaṇṭhesu pabbajantī’ti?
‘Na kho, āvuso gotama, sukhena sukhaṁ adhigantabbaṁ, dukkhena kho sukhaṁ adhigantabbaṁ; sukhena cāvuso gotama, sukhaṁ adhigantabbaṁ abhavissa, rājā māgadho seniyo bimbisāro sukhaṁ adhigaccheyya, rājā māgadho seniyo bimbisāro sukhavihāritaro āyasmatā gotamenā’ti.
‘So it seems that you don’t know any of these things. That being so, when those in the world who are violent and bloody-handed and of cruel livelihood are reborn among humans they go forth as Jain ascetics.’
‘Reverend Gotama, pleasure is not gained through pleasure; pleasure is gained through pain. For if pleasure were to be gained through pleasure, King Seniya Bimbisāra of Magadha would gain pleasure, since he lives in greater pleasure than Venerable Gotama.’
‘Này các hiền giả Nigantha, có phải các ông không biết rằng: ‘Chúng ta đã từng hiện hữu trong quá khứ, chứ không phải là không hiện hữu’? Các ông không biết rằng: ‘Chúng ta đã từng làm ác nghiệp trong quá khứ, chứ không phải là không làm’? Các ông không biết rằng: ‘Chúng ta đã làm ác nghiệp như thế này, như thế này’? Các ông không biết rằng: ‘Chừng này khổ đã được đoạn tận, chừng này khổ cần phải được đoạn tận, khi chừng này khổ được đoạn tận thì tất cả khổ sẽ được đoạn tận’? Các ông không biết sự từ bỏ các pháp bất thiện, sự thành tựu các pháp thiện ngay trong hiện tại? Này các hiền giả Nigantha, khi sự việc là như vậy, phải chăng những người nào ở đời hung bạo, tay vấy máu, làm các việc tàn ác, sau khi tái sanh làm người, họ xuất gia theo các Nigantha?’ ‘Này hiền giả Gotama, không phải lạc được chứng đắc bằng lạc, mà lạc được chứng đắc bằng khổ. Này hiền giả Gotama, nếu lạc được chứng đắc bằng lạc, thì vua Bimbisāra xứ Māgadha, thuộc dòng Seniya, đã chứng đắc được lạc rồi; vua Bimbisāra xứ Māgadha, thuộc dòng Seniya, đã sống an lạc hơn tôn giả Gotama rồi.’”
‘Addhāyasmantehi nigaṇṭhehi sahasā appaṭisaṅkhā vācā bhāsitā: “na kho, āvuso gotama, sukhena sukhaṁ adhigantabbaṁ, dukkhena kho sukhaṁ adhigantabbaṁ; sukhena cāvuso gotama, sukhaṁ adhigantabbaṁ abhavissa, rājā māgadho seniyo bimbisāro sukhaṁ adhigaccheyya, rājā māgadho seniyo bimbisāro sukhavihāritaro āyasmatā gotamenā”ti. Api ca ahameva tattha paṭipucchitabbo: “ko nu kho āyasmantānaṁ sukhavihāritaro rājā vā māgadho seniyo bimbisāro āyasmā vā gotamo”ti?
Addhāvuso gotama, amhehi sahasā appaṭisaṅkhā vācā bhāsitā, na kho, āvuso gotama, sukhena sukhaṁ adhigantabbaṁ, dukkhena kho sukhaṁ adhigantabbaṁ; sukhena cāvuso gotama, sukhaṁ adhigantabbaṁ abhavissa, rājā māgadho seniyo bimbisāro sukhaṁ adhigaccheyya, rājā māgadho seniyo bimbisāro sukhavihāritaro āyasmatā gotamenāti. Api ca tiṭṭhatetaṁ, idānipi mayaṁ āyasmantaṁ gotamaṁ pucchāma: “ko nu kho āyasmantānaṁ sukhavihāritaro rājā vā māgadho seniyo bimbisāro āyasmā vā gotamo”ti?
‘Clearly the venerables have spoken rashly, without reflection. Rather, I’m the one who should be asked about who lives in greater pleasure, King Bimbisāra or Venerable Gotama?’
‘Clearly we spoke rashly and without reflection. But let that be. Now we ask Venerable Gotama: “Who lives in greater pleasure, King Bimbisāra or Venerable Gotama?”’
‘‘‘Chắc chắn các hiền giả Nigantha đã vội vàng, không suy xét mà nói ra lời nói rằng: ‘Này hiền giả Gotama, không phải lạc được chứng đắc bằng lạc, mà lạc được chứng đắc bằng khổ. Này hiền giả Gotama, nếu lạc được chứng đắc bằng lạc, thì vua Bimbisāra xứ Māgadha, thuộc dòng Seniya, đã chứng đắc được lạc rồi; vua Bimbisāra xứ Māgadha, thuộc dòng Seniya, đã sống an lạc hơn tôn giả Gotama rồi.’ Hơn nữa, chính ta nên được hỏi lại về vấn đề đó: ‘Trong số các vị, ai là người sống an lạc hơn, vua Bimbisāra xứ Māgadha, thuộc dòng Seniya, hay tôn giả Gotama?’ ‘Thật vậy, hiền giả Gotama, chúng tôi đã vội vàng, không suy xét mà nói ra lời nói rằng: ‘Này hiền giả Gotama, không phải lạc được chứng đắc bằng lạc, mà lạc được chứng đắc bằng khổ. Này hiền giả Gotama, nếu lạc được chứng đắc bằng lạc, thì vua Bimbisāra xứ Māgadha, thuộc dòng Seniya, đã chứng đắc được lạc rồi; vua Bimbisāra xứ Māgadha, thuộc dòng Seniya, đã sống an lạc hơn tôn giả Gotama rồi.’ Hơn nữa, hãy gác chuyện đó lại, ngay bây giờ, chúng tôi xin hỏi tôn giả Gotama: ‘Trong số các vị, ai là người sống an lạc hơn, vua Bimbisāra xứ Māgadha, thuộc dòng Seniya, hay tôn giả Gotama?’”
Tena hāvuso nigaṇṭhā, tumheva tattha paṭipucchissāmi, yathā vo khameyya tathā naṁ byākareyyātha. Taṁ kiṁ maññathāvuso nigaṇṭhā, pahoti rājā māgadho seniyo bimbisāro, aniñjamāno kāyena, abhāsamāno vācaṁ, satta rattindivāni ekantasukhaṁ paṭisaṁvedī viharitun’ti?
‘No hidaṁ, āvuso’.
‘Well then, reverends, I’ll ask you about this in return, and you can answer as you like. What do you think, reverends? Is King Bimbisāra capable of experiencing absolute happiness for seven days and nights without moving his body or speaking?’
‘No he is not, reverend.’
‘‘‘Này các hiền giả Nigantha, nếu vậy, ta sẽ hỏi lại chính các ông về vấn đề đó, các ông hãy trả lời theo như các ông thấy thích hợp. Này các hiền giả Nigantha, các ông nghĩ thế nào về điều này, vua Bimbisāra xứ Māgadha, thuộc dòng Seniya, có thể an trú, thân không lay động, lời không nói ra, cảm thọ lạc thuần nhất trong suốt bảy ngày bảy đêm không?’ ‘Thưa hiền giả, không thể được.’”
‘Taṁ kiṁ maññathāvuso nigaṇṭhā, pahoti rājā māgadho seniyo bimbisāro, aniñjamāno kāyena, abhāsamāno vācaṁ, cha rattindivāni …pe… pañca rattindivāni … cattāri rattindivāni … tīṇi rattindivāni … dve rattindivāni … ekaṁ rattindivaṁ ekantasukhaṁ paṭisaṁvedī viharitun’ti?
‘No hidaṁ, āvuso’.
‘What do you think, reverends? Is King Bimbisāra capable of experiencing absolute happiness for six days … five days … four days … three days … two days … one day?’
‘No he is not, reverend.’
‘‘‘Này các hiền giả Nigantha, các ông nghĩ thế nào về điều này, vua Bimbisāra xứ Māgadha, thuộc dòng Seniya, có thể an trú, thân không lay động, lời không nói ra, trong sáu ngày đêm... vân vân... năm ngày đêm... bốn ngày đêm... ba ngày đêm... hai ngày đêm... một ngày một đêm, cảm thọ lạc thuần nhất không?’ ‘Thưa hiền giả, không thể được.’”
‘Ahaṁ kho, āvuso nigaṇṭhā, pahomi aniñjamāno kāyena, abhāsamāno vācaṁ, ekaṁ rattindivaṁ ekantasukhaṁ paṭisaṁvedī viharituṁ. Ahaṁ kho, āvuso nigaṇṭhā, pahomi aniñjamāno kāyena, abhāsamāno vācaṁ, dve rattindivāni … tīṇi rattindivāni … cattāri rattindivāni … pañca rattindivāni … cha rattindivāni … satta rattindivāni ekantasukhaṁ paṭisaṁvedī viharituṁ. Taṁ kiṁ maññathāvuso nigaṇṭhā, evaṁ sante ko sukhavihāritaro rājā vā māgadho seniyo bimbisāro ahaṁ vā’ti?
‘Evaṁ sante āyasmāva gotamo sukhavihāritaro raññā māgadhena seniyena bimbisārenā’”ti.
‘But I am capable of experiencing absolute happiness for one day and night without moving my body or speaking. I am capable of experiencing perfect happiness for two days … three days … four days … five days … six days … seven days. What do you think, reverends? This being so, who lives in greater pleasure, King Bimbisāra or I?’
‘This being so, Venerable Gotama lives in greater pleasure than King Bimbisāra.’”
‘‘‘Còn ta, này các hiền giả Nigantha, ta có thể an trú, thân không lay động, lời không nói ra, cảm thọ lạc thuần nhất trong suốt một ngày một đêm. Còn ta, này các hiền giả Nigantha, ta có thể an trú, thân không lay động, lời không nói ra, trong hai ngày đêm... ba ngày đêm... bốn ngày đêm... năm ngày đêm... sáu ngày đêm... bảy ngày đêm, cảm thọ lạc thuần nhất. Này các hiền giả Nigantha, các ông nghĩ thế nào về điều này, khi sự việc là như vậy, ai là người sống an lạc hơn, vua Bimbisāra xứ Māgadha, thuộc dòng Seniya, hay là ta?’ ‘Khi sự việc là như vậy, chính tôn giả Gotama là người sống an lạc hơn vua Bimbisāra xứ Māgadha, thuộc dòng Seniya.’”
Idamavoca bhagavā. Attamano mahānāmo sakko bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
That is what the Buddha said. Satisfied, Mahānāma the Sakyan approved what the Buddha said.
Đức Thế Tôn đã thuyết giảng điều này. Mahānāma thuộc dòng Thích Ca, với tâm hoan hỷ, đã tín thọ lời dạy của Đức Thế Tôn.
Cūḷadukkhakkhandhasuttaṁ niṭṭhitaṁ catutthaṁ.
Kinh Tiểu Khổ Uẩn, thứ tư, đã chấm dứt.