- Majjhima Nikāya 13
Mahādukkhakkhandhasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Mahādukkhakkhandhasutta
Tôi nghe như vầy:
SC 1Một thời, Thế Tôn ở Sāvatthi, tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), trong vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).
SC 2Lúc ấy nhiều Tỷ-kheo buổi sáng đắp y, cầm y bát, vào thành Sāvatthi khất thực. Rồi các Tỷ-kheo ấy suy nghĩ: “Nay còn quá sớm để đi khất thực ở Sāvatthi. Chúng ta hãy đi đến ngôi vườn các Du sĩ ngoại đạo”. Các Tỷ-kheo ấy đi đến ngôi vườn các Du sĩ ngoại đạo, nói lên những lời chúc tụng hỏi thăm xã giao rồi ngồi xuống một bên. Các Du sĩ ngoại đạo ấy nói với các Tỷ-kheo đang ngồi xuống một bên.
SC 3—Chư Hiền, Sa-môn Gotama nêu rõ sự hiểu biết hoàn toàn về các dục, chúng tôi cũng nêu rõ sự hiểu biết hoàn toàn về các dục. Chư Hiền, Sa-môn Gotama nêu rõ sự hiểu biết hoàn toàn về các sắc pháp, chúng tôi cũng nêu rõ sự hiểu biết hoàn toàn về các sắc pháp. Chư Hiền, Sa-môn Gotama nêu rõ sự hiểu biết hoàn toàn về các cảm thọ, chúng tôi cũng nêu rõ sự hiểu biết hoàn toàn về các cảm thọ. Chư Hiền, ở đây có sự đặc thù nào, sự dị biệt nào, sự sai khác nào giữa Sa-môn Gotama và chúng tôi về vấn đề thuyết pháp hay vấn đề giáo huấn?
SC 4Các Tỷ-kheo ấy không hoan hỷ cũng không chỉ trích những lời nói của các Du sĩ ngoại đạo, không hoan hỷ, không chỉ trích, các Tỷ-kheo từ chỗ ngồi đứng dậy, từ biệt với ý nghĩ: “Chúng ta sẽ học ý nghĩa lời nói này từ Thế Tôn”.
SC 5Rồi các Tỷ-kheo ấy, sau khi khất thực ở Sāvatthi, khi ăn xong và đi khất thực trở về, liền đến chỗ Thế Tôn ở, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn
SC 6—Bạch Thế Tôn, ở đây chúng con buổi sáng đắp y, cầm y bát vào thành Sāvatthi khất thực. Bạch Thế Tôn, rồi chúng con suy nghĩ: “Nay còn quá sớm để đi khất thực ở Sāvatthi. Chúng ta hãy nghĩ đến ngôi vườn các Du sĩ ngoại đạo”. Bạch Thế Tôn, rồi chúng con đi đến ngôi vườn các Du sĩ ngoại đạo, sau khi đến xong, nói lên những lời chúc tụng hỏi thăm xã giao rồi ngồi xuống một bên, Bạch Thế Tôn, các Du sĩ ngoại đạo ấy nói với chúng con đang ngồi một bên: “Chư Hiền, Sa-môn Gotama nêu rõ sự hiểu biết hoàn toàn về các dục, chúng tôi cũng nêu rõ sự hiểu biết hoàn toàn về các dục. Chư Hiền, Sa-môn Gotama nêu rõ sự hiểu biết hoàn toàn về các sắc pháp, chúng tôi cũng nêu rõ sự hiểu biết hoàn toàn về các sắc pháp. Chư Hiền, Sa-môn Gotama nêu rõ sự hiểu biết hoàn toàn về các cảm thọ, chúng tôi cũng nêu rõ sự hiểu biết hoàn toàn về các cảm thọ. Chư Hiền ở đây có sự đặc thù nào, sự dị biệt nào, sự sai khác nào giữa Sa-môn Gotama và chúng tôi về vấn đề thuyết pháp hay vấn đề giảng huấn?” Bạch Thế Tôn, chúng con không hoan hỷ, không chỉ trích những lời nói của các Du sĩ ngoại đạo. Không hoan hỷ, không chỉ trích, chúng con từ chỗ ngồi đứng dậy, từ biệt với ý nghĩ: “Chúng ta sẽ học ý nghĩa lời nói này từ Thế Tôn”.
SC 7—Này các Tỷ-kheo, các Du sĩ ngoại đạo nói như vậy cần được trả lời như sau: “Chư Hiền, thế nào là vị ngọt các dục? Thế nào là sự nguy hiểm, thế nào là sự xuất ly? Thế nào là vị ngọt các sắc pháp, thế nào là sự nguy hiểm, thế nào là sự xuất ly? Thế nào là vị ngọt các cảm thọ, thế nào là sự nguy hiểm, thế nào là sự xuất ly?” Này các Tỷ-kheo, khi được hỏi vậy, các Du sĩ ngoại đạo không thể trả lời được và sẽ bị mắc vào các khó khăn khác. Vì sao vậy? Này các Tỷ-kheo, vì vấn đề này không thuộc khả năng hiểu biết của họ. Này các Tỷ-kheo, Ta không thấy một ai trong thế giới này với chư Thiên, Māra, Phạm thiên, với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người, mà câu trả lời các câu hỏi được chấp nhận, trừ Như Lai, đệ tử Như Lai và những ai được nghe hai vị này.
SC 8Và này các Tỷ-kheo, thế nào là vị ngọt các dục? Này các Tỷ-kheo, có năm pháp tăng trưởng dục này: Các sắc pháp do nhãn căn nhận thức, khả ái, khả lạc, khả ý, khả hỷ, tương ứng với dục, hấp dẫn, các tiếng do nhĩ căn nhận thức … các hương do tỷ căn nhận thức … các vị do thiệt căn nhận thức … các xúc do thân căn nhận thức, khả ái, khả lạc, khả ý, khả hỷ, tương ứng với dục, hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo, có năm pháp tăng trưởng dục như vậy. Này các Tỷ-kheo, y cứ vào năm pháp tăng trưởng dục này, có lạc hỷ khởi lên, như vậy là vị ngọt các dục.
SC 9Này các Tỷ-kheo, thế nào là sự nguy hiểm các dục? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có thiện nam tử nuôi sống với nghề nghiệp, như đếm ngón tay, như tính toán, như ước toán, như làm ruộng, như buôn bán, như chăn bò, như bắn cung, như làm công cho vua, như làm một nghề nào khác. Người ấy phải chống đỡ lạnh, phải chống đỡ nóng, phải chịu đựng sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng, mặt trời, các loài bò sát, bị chết đói chết khát. Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các dục, thiết thực hiện tại, thuộc khổ uẩn, lấy dục làm nhân, lấy dục làm duyên, là nguồn gốc của dục, là nguyên nhân của dục.
SC 10Này các Tỷ-kheo, nếu thiện nam tử ấy nỗ lực như vậy, tinh cần như vậy, tinh tấn như vậy, nhưng các tài sản ấy không được đến tay mình, vị ấy than vãn, buồn phiền khóc than, đấm ngực, mê man bất tỉnh: “Ôi! Sự nỗ lực của ta thật sự là vô ích, sự tinh cần của ta thật sự không kết quả”. Này các Tỷ-kheo, như vậy, là sự nguy hiểm các dục … (như trên) … là nguyên nhân của dục.
SC 11Này các Tỷ-kheo, nếu thiện nam tử ấy nỗ lực như vậy, tinh cần như vậy, tinh tấn như vậy, và các tài sản ấy được đến tay mình, vì phải hộ trì các tài sản ấy, vị ấy cảm thọ sự đau khổ, ưu tư: “Làm sao các vua chúa khỏi cướp đoạt chúng, làm sao trộm cướp khỏi cướp đoạt chúng, làm sao lửa khỏi đốt cháy, nước khỏi cuốn trôi, hay các kẻ thừa tự không xứng đáng khỏi cướp đoạt chúng?” Dầu vị ấy hộ trì như vậy, giữ gìn như vậy, vua chúa vẫn cướp đoạt các tài sản ấy, trộm cướp vẫn cướp đoạt, lửa vẫn đốt cháy, nước vẫn cuốn trôi hay các kẻ thừa tự không xứng đáng vẫn cướp đoạt chúng. Vị ấy than vãn, buồn phiền, khóc than, đấm ngực, mê man bất tỉnh: “Cái đã thuộc của ta, nay ta không có nữa”. Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các dục … (như trên) … là nguyên nhân của dục.
SC 12Lại nữa, này các Tỷ-kheo, do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm nguyên nhân, do chính dục làm nhân, vua tranh đoạt với vua, Sát-đế-lị tranh đoạt với Sát-đế-lị, Bà-la-môn tranh đoạt với Bà-la-môn, gia chủ tranh đoạt với gia chủ, mẹ tranh đoạt với con, con tranh đoạt với mẹ, cha tranh đoạt với con, con tranh đoạt với cha, anh em tranh đoạt với anh em, anh tranh đoạt với chị, chị tranh đoạt với anh, bạn bè tranh đoạt với bạn bè. Khi họ đã dấn mình vào tranh chấp, tranh luận, tranh đoạt; họ công phá nhau bằng tay; họ công phá nhau bằng đá; họ công phá nhau bằng gậy; họ công phá nhau bằng kiếm. Ở đây họ đi đến tử vong, đi đến sự đau khổ gần như tử vong. Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các dục … (như trên) … là nguyên nhân của dục.
SC 13Lại nữa, này các Tỷ-kheo, do dục làm nhân … do chính dục làm nhân, họ cầm mâu và thuẫn, họ đeo cung và tên, họ dàn trận hai mặt, và tên được nhắm bắn nhau, đao được quăng ném nhau, kiếm được vung chém nhau. Họ bắn đâm nhau bằng tên, họ quăng đâm nhau bằng đao, họ chặt đầu nhau bằng kiếm. Ở đây họ đi đến tử vong, đi đến sự đau khổ gần như tử vong. Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các dục … (như trên) … là nguyên nhân của dục.
SC 14Lại nữa, này các Tỷ-kheo, do dục làm nhân … do chính dục làm nhân, họ cầm mâu và thuẫn, họ đeo cung và tên, họ công phá thành quách mới trét vôi hồ và tên được nhắm bắn nhau, đao được quăng ném nhau, kiếm được vung chém nhau. Ở đây, họ bắn đâm nhau bằng tên, họ quăng đâm nhau bằng đao, họ đổ nước phân sôi, họ đè bẹp nhau bằng đá, họ chặt đầu nhau bằng kiếm. Ở đây họ đi đến tử vong, đi đến sự đau khổ gần như tử vong. Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các dục … (như trên) … là nguyên nhân của dục.
SC 15Lại nữa, này các Tỷ-kheo, do dục làm nhân … do chính dục làm nhân, họ đột nhập nhà cửa, họ cướp giật đồ đạc, họ hành động như kẻ cướp, họ phục kích các đường lớn, họ đi đến vợ người. Các vua chúa khi bắt được một người như vậy liền áp dụng nhiều hình phạt sai khác. Họ đánh bằng roi, họ đánh bằng gậy, họ đánh bằng côn, họ chặt tay, họ chặt chân, họ chặt tay chân, họ xẻo tai, họ cắt mũi, họ xẻo tai cắt mũi, họ dùng hình phạt vạc dầu, họ dùng hình phạt bối đồi hình (xẻo đỉnh đầu thành hình con sò), họ dùng hình phạt la hầu khẩu hình … Hỏa man hình (lấy lửa đốt thành vòng hoa) … chúc thủ hình (đốt tay) … khu hành hình (lấy rơm bện lại rồi siết chặt) … bì y hình (lấy vỏ cây làm áo) … linh dương hình (hình phạt con dê núi) … câu nhục hình (lấy câu móc vào thịt) … tiền hình (cắt thịt thành hình đồng tiền) … khối trấp hình … chuyển hình … cao đạp đài … họ tưới bằng dầu sôi, họ cho chó ăn, họ đóng cọc những người sống, họ lấy gươm chặt đầu. Ở đây họ đi đến tử vong, đi đến sự đau khổ gần như tử vong. Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm của dục … (như trên) … là nguyên nhân của dục.
SC 16Lại nữa, này các Tỷ-kheo, do dục làm nhân … do chính dục làm nhân, họ sống làm các ác hạnh về thân, làm các ác hạnh về lời nói, làm các ác hạnh về ý. Do họ sống làm các ác hạnh về thân, làm các ác hạnh về lời nói, làm các ác hạnh về ý, khi thân hoại mạng chung, họ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các dục, đưa đến đau khổ tương lai, là khổ uẩn, do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm nhân duyên, do chính dục làm nhân.
SC 17Này các Tỷ-kheo, thế nào là sự xuất ly các dục? Này các Tỷ-kheo, đây là sự điều phục dục tham đối với các dục, sự đoạn trừ dục tham, như vậy là sự xuất ly các dục.
SC 18Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn nào không như thật tuệ tri vị ngọt các dục là vị ngọt như vậy, sự nguy hiểm là sự nguy hiểm như vậy, sự xuất ly là sự xuất ly như vậy, những vị này nhất định sẽ không như thật tuệ tri các dục của họ, họ cũng không có thể đặt người khác trong một địa vị tương tự, nghĩa là như thật tuệ tri các dục, sự kiện như vậy không thể xảy ra. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn nào như thật tuệ tri vị ngọt các dục là vị ngọt như vậy, sự nguy hiểm là sự nguy hiểm như vậy, sự xuất ly là sự xuất ly như vậy, những vị này nhất định sẽ như thật tuệ tri các dục của họ, họ cũng có thể đặt người khác trong một địa vị tương tự, nghĩa là như thật tuệ tri các dục, sự kiện như vậy có xảy ra.
SC 19Và này các Tỷ-kheo, thế nào là vị ngọt các sắc pháp? Này các Tỷ-kheo, như các thiếu nữ Sát-đế-lị, thiếu nữ Bà-la-môn hay thiếu nữ Gia chủ, tuổi khoảng độ mười lăm hay mười sáu tuổi, không quá lớn, không quá thấp, không quá ốm, không quá mập, không quá đen, không quá trắng, này các Tỷ-kheo, có phải trong thời ấy, họ đạt đến mỹ diệu tối thượng, sắc đẹp tối thượng?
—Bạch Thế Tôn, phải.
SC 20—Này các Tỷ-kheo, y cứ sắc đẹp mỹ diệu ấy khởi lên lạc thọ và hỷ thọ, như vậy là vị ngọt các sắc pháp.
SC 21Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sự nguy hiểm các sắc pháp? Này các Tỷ-kheo, ở đây người ta có thể thấy bà chị ấy trong một thời khác, khoảng tám mươi tuổi, chín mươi tuổi hay một trăm tuổi, già yếu, cong như nóc nhà, lưng còm, phải dựa gậy để chống đỡ, vừa đi vừa run rẩy, đau ốm, tuổi trẻ đã tận, râu rụng, tóc bạc, hư rụng, sói đầu, da nhăn, tay chân bị khô đét tái xám. Này các Tỷ-kheo, các Người nghĩ thế nào? Có phải sự mỹ diệu về sắc đẹp xưa kia của người đó nay đã biến mất và sự nguy hiểm đã hiện ra?
SC 22—Bạch Thế Tôn, sự thật là vậy.
SC 23—Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các sắc pháp. Lại nữa này các Tỷ-kheo, người ta có thể thấy bà chị ấy bị bệnh hoạn đau khổ, trầm bệnh, nằm đắm mình trong phân tiểu của mình, phải có người nâng dậy, phải có người đỡ nằm. Này các Tỷ-kheo, các Người nghĩ thế nào? Có phải sự mỹ diệu về sắc đẹp xưa kia của người đó nay đã biến mất và sự nguy hiểm đã hiện ra?
SC 24—Bạch Thế Tôn, sự thật là vậy.
SC 25—Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các sắc pháp. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, người ta thấy cô gái ấy, thi thể bị quăng vào nghĩa địa, một ngày hay hai ngày hay ba ngày, thi thể ấy trương phồng lên, xanh đen lại, nát thối ra. Này các Tỷ-kheo, các Người nghĩ thế nào? Có phải sự mỹ diệu sắc đẹp xưa kia của cô gái đã biến mất và sự nguy hiểm đã hiện ra?
SC 26—Bạch Thế Tôn, sự thật là vậy.
SC 27—Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các sắc pháp. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, người ta thấy cô gái ấy, thi thể bị quăng vào nghĩa địa, bị các loài quạ ăn, hay bị các loài diều hâu ăn, hay bị các chim kên ăn, hay bị các loài chó ăn, hay bị các loài giả can ăn, hay bị các loài côn trùng ăn. Này các Tỷ-kheo, các Người nghĩ thế nào? Có phải sự mỹ diệu về sắc đẹp xưa kia của cô gái nay đã biến mất và sự nguy hiểm đã hiện ra?
SC 28—Bạch Thế Tôn, sự thật là vậy.
SC 29—Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các sắc pháp. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, người ta thấy cô gái ấy, thi thể bị quăng trong nghĩa địa, với các bộ xương còn liên kết với nhau, còn dính thịt và máu, còn được các đường gân cột lại … với các bộ xương còn liên kết với nhau, không còn dính thịt nhưng còn dính máu, còn được các đường gân cột bộ xương, không còn thịt, không có máu, còn được gân cột lại, chỉ còn có xương không dính lại với nhau, rải rác chỗ này chỗ kia, ở đây là xương tay, ở đây là xương chân, ở đây là xương ống, ở đây là xương bắp vế, ở đây là xương mông, ở đây là xương sống, ở đây là xương đầu. Này các Tỷ-kheo, các Người nghĩ thế nào? Có phải sự mỹ diệu về sắc đẹp xưa kia của cô gái nay đã biến mất, và sự nguy hiểm đã hiện ra?
SC 30—Bạch Thế Tôn, sự thật là vậy.
SC 31—Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các sắc pháp. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, người ta thấy cô gái ấy, thi thể bị quăng vào nghĩa địa, chỉ có toàn xương trắng màu vỏ ốc … chỉ còn một đống xương lâu hơn một năm … chỉ còn các xương thối trở thành bột. Này các Tỷ-kheo, các Người nghĩ thế nào? Có phải sự mỹ diệu về sắc đẹp xưa kia của cô gái nay đã biến mất, và sự nguy hiểm hiện ra?
SC 32—Bạch Thế Tôn, sự thật là vậy.
SC 33—Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các sắc pháp.
SC 34Này các Tỷ-kheo và thế nào là sự xuất ly các sắc pháp? Này các Tỷ-kheo, đây là sự điều phục dục tham đối với các sắc pháp, sự đoạn trừ dục tham, như vậy là sự xuất ly các sắc pháp.
SC 35Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn nào không như thật tuệ tri vị ngọt các sắc pháp là vị ngọt như vậy, sự nguy hiểm là sự nguy hiểm như vậy, sự xuất ly là sự xuất ly như vậy, những vị này nhất định sẽ không như thật tuệ tri các sắc pháp của họ, họ cũng không có thể đặt người khác trong một địa vị tương tự, nghĩa là như thật tuệ tri các sắc pháp, sự kiện như vậy không xảy ra. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn nào như thật tuệ tri vị ngọt các sắc pháp là vị ngọt như vậy, sự nguy hiểm là sự nguy hiểm như vậy, sự xuất ly là sự xuất ly như vậy, những vị này nhất định như thật tuệ tri các sắc pháp của họ, họ cũng có thể đặt người khác trong một địa vị tương tự, nghĩa là như thật tuệ tri các sắc pháp, sự kiện như vậy có xảy ra.
SC 36Và này các Tỷ-kheo, thế nào là vị ngọt các cảm thọ? Ở đây các Tỷ-kheo ly các dục, ly các bất thiện pháp, tự chứng và an trú vào Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Trong khi ấy, nếu vị ấy không nghĩ đến tự hại, không nghĩ đến hại người, không nghĩ đến hại cả hai, trong khi ấy vị ấy cảm giác một cảm thọ vô hại. Này các Tỷ-kheo, tối thượng vô hại ấy, Ta nói là vị ngọt các cảm thọ.
SC 37Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú vào Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tỉnh nhất tâm … Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba … Tỷ-kheo xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Trong khi ấy nếu vị ấy không nghĩ đến tự hại, không nghĩ đến hại người, không nghĩ đến hại cả hai, trong khi ấy vị ấy cảm giác một cảm thọ vô hại. Này các Tỷ-kheo, tối thượng vô hại ấy, Ta nói là vị ngọt các cảm thọ.
SC 38Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sự nguy hiểm các cảm thọ? Này các Tỷ-kheo, các cảm thọ là vô thường, khổ, biến hoại, như vậy là sự nguy hiểm các cảm thọ.
SC 39Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sự xuất ly các cảm thọ? Này các Tỷ-kheo, sự điều phục dục tham đối với các cảm thọ, sự đoạn trừ dục tham, như vậy gọi là sự xuất ly các cảm thọ.
SC 40Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn nào không như thật tuệ tri vị ngọt các cảm thọ là vị ngọt như vậy, sự nguy hiểm là sự nguy hiểm như vậy, sự xuất ly là sự xuất ly như vậy, những vị này nhất định sẽ không như thật tuệ tri các cảm thọ của họ, họ cũng không có thể đặt người khác trong một địa vị tương tự, nghĩa là như thật tuệ tri các cảm thọ, sự kiện như vậy không xảy ra. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn nào như thật tuệ tri vị ngọt các cảm thọ là vị ngọt như vậy, sự nguy hiểm là sự nguy hiểm như vậy, sự xuất ly là sự xuất ly như vậy, những vị này nhất định như thật tuệ tri các cảm thọ của họ, họ có thể đặt các người khác trong một địa vị tương tự, nghĩa là như thật tuệ tri các cảm thọ, sự kiện như vậy có xảy ra.
SC 41Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 10–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
3. Kinh Đại Khổ Uẩn
Atha kho sambahulā bhikkhū pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiṁ piṇḍāya pāvisiṁsu. Atha kho tesaṁ bhikkhūnaṁ etadahosi: “atippago kho tāva sāvatthiyaṁ piṇḍāya carituṁ, yaṁ nūna mayaṁ yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ ārāmo tenupasaṅkameyyāmā”ti. Atha kho te bhikkhū yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ ārāmo tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā tehi aññatitthiyehi paribbājakehi saddhiṁ sammodiṁsu; sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinne kho te bhikkhū te aññatitthiyā paribbājakā etadavocuṁ:
“samaṇo, āvuso, gotamo kāmānaṁ pariññaṁ paññapeti, mayampi kāmānaṁ pariññaṁ paññapema; samaṇo, āvuso, gotamo rūpānaṁ pariññaṁ paññapeti, mayampi rūpānaṁ pariññaṁ paññapema; samaṇo, āvuso, gotamo vedanānaṁ pariññaṁ paññapeti, mayampi vedanānaṁ pariññaṁ paññapema; idha no, āvuso, ko viseso, ko adhippayāso, kiṁ nānākaraṇaṁ samaṇassa vā gotamassa amhākaṁ vā—yadidaṁ dhammadesanāya vā dhammadesanaṁ, anusāsaniyā vā anusāsanin”ti?
Atha kho te bhikkhū tesaṁ aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ bhāsitaṁ neva abhinandiṁsu, nappaṭikkosiṁsu; anabhinanditvā appaṭikkositvā uṭṭhāyāsanā pakkamiṁsu: “bhagavato santike etassa bhāsitassa atthaṁ ājānissāmā”ti.
Then several mendicants robed up in the morning and, taking their bowls and robes, entered Sāvatthī for alms. Then it occurred to them, “It’s too early to wander for alms in Sāvatthī. Why don’t we visit the monastery for the wanderers of other religions?” Then they went to the monastery for the wanderers of other religions and exchanged greetings with the wanderers there. When the greetings and polite conversation were over, they sat down to one side. The wanderers said to them:
“Reverends, the ascetic Gotama advocates the complete understanding of sensual pleasures, and so do we. The ascetic Gotama advocates the complete understanding of forms, and so do we. The ascetic Gotama advocates the complete understanding of feelings, and so do we. What, then, is the difference between the ascetic Gotama’s teaching and instruction and ours?”
Those mendicants neither approved nor rejected that statement of the wanderers of other religions. They rose from their seats, thinking, “We will learn the meaning of this statement from the Buddha himself.”
163. Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Lúc bấy giờ, một số đông Tỳ khưu, vào buổi sáng, đắp y, mang bát và y, vào thành Sāvatthī để khất thực. Rồi các Tỳ khưu ấy suy nghĩ: 'Còn quá sớm để đi khất thực ở Sāvatthī. Hay là chúng ta hãy đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo.' Rồi các Tỳ khưu ấy đi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo; sau khi đến, họ cùng các du sĩ ngoại đạo ấy nói chuyện chào hỏi thân hữu; sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân hữu đáng ghi nhớ, họ ngồi xuống một bên. Khi các Tỳ khưu ấy đang ngồi một bên, các du sĩ ngoại đạo ấy nói với họ rằng: 'Thưa các hiền hữu, Sa-môn Gotama tuyên thuyết sự liễu tri các dục, chúng tôi cũng tuyên thuyết sự liễu tri các dục. Thưa các hiền hữu, Sa-môn Gotama tuyên thuyết sự liễu tri các sắc, chúng tôi cũng tuyên thuyết sự liễu tri các sắc. Thưa các hiền hữu, Sa-môn Gotama tuyên thuyết sự liễu tri các thọ, chúng tôi cũng tuyên thuyết sự liễu tri các thọ. Ở đây, thưa các hiền hữu, có sự đặc biệt gì, có sự khác biệt gì, có sự dị biệt gì giữa Sa-môn Gotama và chúng tôi, tức là về pháp thoại và pháp thoại, về giáo huấn và giáo huấn?' Lúc bấy giờ, các Tỳ khưu ấy không hoan hỷ, cũng không phản đối lời nói của các du sĩ ngoại đạo ấy; không hoan hỷ, không phản đối, họ từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi, với ý nghĩ: 'Chúng ta sẽ hiểu ý nghĩa của lời nói này nơi Thế Tôn.'
Atha kho te bhikkhū sāvatthiyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkantā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ: “idha mayaṁ, bhante, pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiṁ piṇḍāya pāvisimha. Tesaṁ no, bhante, amhākaṁ etadahosi: ‘atippago kho tāva sāvatthiyaṁ piṇḍāya carituṁ, yaṁ nūna mayaṁ yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ ārāmo tenupasaṅkameyyāmā’ti. Atha kho mayaṁ, bhante, yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ ārāmo tenupasaṅkamimha; upasaṅkamitvā tehi aññatitthiyehi paribbājakehi saddhiṁ sammodimha; sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdimha. Ekamantaṁ nisinne kho amhe, bhante, te aññatitthiyā paribbājakā etadavocuṁ: ‘samaṇo, āvuso, gotamo kāmānaṁ pariññaṁ paññapeti, mayampi kāmānaṁ pariññaṁ paññapema. Samaṇo, āvuso, gotamo rūpānaṁ pariññaṁ paññapeti, mayampi rūpānaṁ pariññaṁ paññapema. Samaṇo, āvuso, gotamo vedanānaṁ pariññaṁ paññapeti, mayampi vedanānaṁ pariññaṁ paññapema. Idha no, āvuso, ko viseso, ko adhippayāso, kiṁ nānākaraṇaṁ samaṇassa vā gotamassa amhākaṁ vā, yadidaṁ dhammadesanāya vā dhammadesanaṁ anusāsaniyā vā anusāsanin’ti. Atha kho mayaṁ, bhante, tesaṁ aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ bhāsitaṁ neva abhinandimha, nappaṭikkosimha; anabhinanditvā appaṭikkositvā uṭṭhāyāsanā pakkamimha: ‘bhagavato santike etassa bhāsitassa atthaṁ ājānissāmā’”ti.
Then, after the meal, when they returned from almsround, they went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened. The Buddha said:
164. Rồi các Tỳ khưu ấy, sau khi đi khất thực ở Sāvatthī, sau bữa ăn, khi đã đi khất thực trở về, liền đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, họ đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi một bên, các Tỳ khưu ấy bạch với Thế Tôn: 'Bạch Thế Tôn, ở đây, chúng con vào buổi sáng, đắp y, mang bát và y, vào thành Sāvatthī để khất thực. Bạch Thế Tôn, chúng con đã suy nghĩ: 'Còn quá sớm để đi khất thực ở Sāvatthī. Hay là chúng ta hãy đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo.' Rồi, bạch Thế Tôn, chúng con đã đi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo; sau khi đến, chúng con đã cùng các du sĩ ngoại đạo ấy nói chuyện chào hỏi thân hữu; sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân hữu đáng ghi nhớ, chúng con đã ngồi xuống một bên. Bạch Thế Tôn, khi chúng con đang ngồi một bên, các du sĩ ngoại đạo ấy đã nói với chúng con rằng: 'Thưa các hiền hữu, Sa-môn Gotama tuyên thuyết sự liễu tri các dục, chúng tôi cũng tuyên thuyết sự liễu tri các dục. Thưa các hiền hữu, Sa-môn Gotama tuyên thuyết sự liễu tri các sắc, chúng tôi cũng tuyên thuyết sự liễu tri các sắc. Thưa các hiền hữu, Sa-môn Gotama tuyên thuyết sự liễu tri các thọ, chúng tôi cũng tuyên thuyết sự liễu tri các thọ. Ở đây, thưa các hiền hữu, có sự đặc biệt gì, có sự khác biệt gì, có sự dị biệt gì giữa Sa-môn Gotama và chúng tôi, tức là về pháp thoại và pháp thoại, về giáo huấn và giáo huấn?' Rồi, bạch Thế Tôn, chúng con đã không hoan hỷ, cũng không phản đối lời nói của các du sĩ ngoại đạo ấy; không hoan hỷ, không phản đối, chúng con đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi, với ý nghĩ: 'Chúng ta sẽ hiểu ý nghĩa của lời nói này nơi Thế Tôn.'
“Evaṁvādino, bhikkhave, aññatitthiyā paribbājakā evamassu vacanīyā: ‘ko panāvuso, kāmānaṁ assādo, ko ādīnavo, kiṁ nissaraṇaṁ? Ko rūpānaṁ assādo, ko ādīnavo, kiṁ nissaraṇaṁ? Ko vedanānaṁ assādo, ko ādīnavo, kiṁ nissaraṇan’ti? Evaṁ puṭṭhā, bhikkhave, aññatitthiyā paribbājakā na ceva sampāyissanti, uttariñca vighātaṁ āpajjissanti. Taṁ kissa hetu? Yathā taṁ, bhikkhave, avisayasmiṁ. Nāhaṁ taṁ, bhikkhave, passāmi sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya yo imesaṁ pañhānaṁ veyyākaraṇena cittaṁ ārādheyya, aññatra tathāgatena vā tathāgatasāvakena vā, ito vā pana sutvā.
“Mendicants, when wanderers of other religions say this, you should say to them: ‘But reverends, what’s the gratification, the drawback, and the escape when it comes to sensual pleasures? What’s the gratification, the drawback, and the escape when it comes to forms? What’s the gratification, the drawback, and the escape when it comes to feelings?’ Questioned like this, the wanderers of other religions would be stumped, and, in addition, would get frustrated. Why is that? Because they’re out of their element. I don’t see anyone in this world—with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, its gods and humans—who could provide a satisfying answer to these questions except the Realized One or his disciple or someone who has heard it from them.
165. Này các Tỳ khưu, các du sĩ ngoại đạo có quan điểm như vậy, các ông nên nói với họ như sau: 'Thưa các hiền hữu, vị ngọt của các dục là gì, sự nguy hại là gì, sự xuất ly là gì? Vị ngọt của các sắc là gì, sự nguy hại là gì, sự xuất ly là gì? Vị ngọt của các thọ là gì, sự nguy hại là gì, sự xuất ly là gì?' Này các Tỳ khưu, khi được hỏi như vậy, các du sĩ ngoại đạo sẽ không thể trả lời được, và hơn nữa, họ sẽ rơi vào tình trạng khốn đốn. Vì sao vậy? Này các Tỳ khưu, vì đó không phải là lĩnh vực của họ. Này các Tỳ khưu, Ta không thấy một ai trong thế giới này với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, trong chúng Sa-môn, Bà-la-môn, trong loài người và chư Thiên, có thể làm cho tâm hài lòng bằng cách giải đáp những câu hỏi này, ngoại trừ Như Lai, hoặc đệ tử của Như Lai, hoặc người đã nghe từ đây.
Ko ca, bhikkhave, kāmānaṁ assādo? Pañcime, bhikkhave, kāmaguṇā. Katame pañca? Cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā, sotaviññeyyā saddā …pe… ghānaviññeyyā gandhā … jivhāviññeyyā rasā … kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā—ime kho, bhikkhave, pañca kāmaguṇā. Yaṁ kho, bhikkhave, ime pañca kāmaguṇe paṭicca uppajjati sukhaṁ somanassaṁ—ayaṁ kāmānaṁ assādo.
And what is the gratification of sensual pleasures? There are these five kinds of sensual stimulation. What five? Sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. Sounds known by the ear … Smells known by the nose … Tastes known by the tongue … Touches known by the body, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. These are the five kinds of sensual stimulation. The pleasure and happiness that arise from these five kinds of sensual stimulation: this is the gratification of sensual pleasures.
166. Và này các Tỳ khưu, vị ngọt của các dục là gì? Này các Tỳ khưu, có năm dục trưởng dưỡng này. Năm loại nào? Các sắc do mắt nhận biết, khả ái, khả hỷ, khả ý, đẹp đẽ, liên hệ đến dục, hấp dẫn; các tiếng do tai nhận biết... các mùi do mũi nhận biết... các vị do lưỡi nhận biết... các vật xúc chạm do thân nhận biết, khả ái, khả hỷ, khả ý, đẹp đẽ, liên hệ đến dục, hấp dẫn – này các Tỳ khưu, đó là năm dục trưởng dưỡng. Này các Tỳ khưu, do duyên năm dục trưởng dưỡng này mà khởi lên lạc và hỷ -- đây là vị ngọt của các dục.
Ko ca, bhikkhave, kāmānaṁ ādīnavo? Idha, bhikkhave, kulaputto yena sippaṭṭhānena jīvikaṁ kappeti—
And what is the drawback of sensual pleasures? It’s when a gentleman earns a living by means such as
167. Này các Tỳ khưu, sự nguy hại của các dục là gì? Này các Tỳ khưu, ở đây, một thiện nam tử mưu sinh bằng một nghề nghiệp nào đó – hoặc bằng nghề ấn tín, hoặc bằng nghề kế toán, hoặc bằng nghề tính toán, hoặc bằng nghề nông, hoặc bằng nghề buôn bán, hoặc bằng nghề chăn nuôi, hoặc bằng nghề bắn cung, hoặc bằng nghề phục vụ vua chúa, hoặc bằng một nghề nào khác – bị cái lạnh áp bức, bị cái nóng áp bức, bị muỗi, ruồi, gió, nắng, các loài bò sát xúc chạm, chịu đựng đói khát đến chết; Này các Tỳ khưu, đây cũng là sự nguy hại của các dục, là khối khổ hiện tại, do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm nơi nương tựa, chính vì nhân duyên các dục.
Này Mahānāma, sự nguy hại của các dục là gì? Này Mahānāma, ở đây, người thiện nam tử sinh sống bằng nghề nghiệp nào đó – hoặc bằng nghề tính tay, hoặc bằng nghề kế toán, hoặc bằng nghề tính toán tổng hợp, hoặc bằng nghề nông, hoặc bằng nghề buôn bán, hoặc bằng nghề chăn nuôi gia súc, hoặc bằng nghề bắn cung, hoặc bằng nghề phục vụ vua chúa, hoặc bằng một nghề nào khác; bị cái lạnh áp bức, bị cái nóng áp bức, bị tổn hại bởi sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, nắng, các loài bò sát, chết vì đói khát. Này Mahānāma, đây cũng là sự nguy hại của các dục, là một khối khổ hiện tại, do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm nơi nương tựa, chính vì nhân duyên là các dục.
Tassa ce, bhikkhave, kulaputtassa evaṁ uṭṭhahato ghaṭato vāyamato te bhogā nābhinipphajjanti. So socati kilamati paridevati urattāḷiṁ kandati, sammohaṁ āpajjati: ‘moghaṁ vata me uṭṭhānaṁ, aphalo vata me vāyāmo’ti. Ayampi, bhikkhave, kāmānaṁ ādīnavo sandiṭṭhiko dukkhakkhandho kāmahetu kāmanidānaṁ kāmādhikaraṇaṁ kāmānameva hetu.
Tassa ce, bhikkhave, kulaputtassa evaṁ uṭṭhahato ghaṭato vāyamato te bhogā abhinipphajjanti.
That gentleman might try hard, strive, and make an effort, but fail to accrue riches. If this happens, they sorrow and wail and lament, beating their breast and falling into confusion, saying: ‘Oh, my hard work is wasted. My efforts are fruitless!’ This too is a drawback of sensual pleasures apparent in the present life, a mass of suffering caused by sensual pleasures.
That gentleman might try hard, strive, and make an effort, and succeed in accruing riches.
Này Mahānāma, nếu người thiện nam tử ấy, trong khi nỗ lực, cố gắng, tinh tấn như vậy, mà những tài sản ấy không thành tựu, người ấy sầu muộn, mệt mỏi, than khóc, đấm ngực kêu la, đi đến si mê (nghĩ rằng): ‘Ôi, sự nỗ lực của ta thật là vô ích! Ôi, sự cố gắng của ta thật là không kết quả!’. Này Mahānāma, đây cũng là sự nguy hại của các dục, là một khối khổ hiện tại, do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm nơi nương tựa, chính vì nhân duyên là các dục.
Này Mahānāma, nếu người thiện nam tử ấy, trong khi nỗ lực, cố gắng, tinh tấn như vậy, mà những tài sản ấy được thành tựu, người ấy vì lý do phải bảo vệ những tài sản ấy mà cảm nhận sự khổ, ưu (nghĩ rằng): ‘Làm sao để tài sản của ta không bị vua chúa lấy đi, không bị trộm cướp lấy đi, không bị lửa thiêu, không bị nước cuốn, không bị những người thừa kế không thương mến lấy đi?’. Trong khi người ấy bảo vệ, gìn giữ như vậy, những tài sản ấy bị vua chúa lấy đi, hoặc bị trộm cướp lấy đi, hoặc bị lửa thiêu, hoặc bị nước cuốn, hoặc bị những người thừa kế không thương mến lấy đi. Người ấy sầu muộn, mệt mỏi, than khóc, đấm ngực kêu la, đi đến si mê (nghĩ rằng): ‘Cái gì ta đã có, cái đó nay cũng không còn!’. Này Mahānāma, đây cũng là sự nguy hại của các dục, là một khối khổ hiện tại, do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm nơi nương tựa, chính vì nhân duyên là các dục.
Puna caparaṁ, bhikkhave, kāmahetu kāmanidānaṁ kāmādhikaraṇaṁ kāmānameva hetu rājānopi rājūhi vivadanti, khattiyāpi khattiyehi vivadanti, brāhmaṇāpi brāhmaṇehi vivadanti, gahapatīpi gahapatīhi vivadanti, mātāpi puttena vivadati, puttopi mātarā vivadati, pitāpi puttena vivadati, puttopi pitarā vivadati, bhātāpi bhātarā vivadati, bhātāpi bhaginiyā vivadati, bhaginīpi bhātarā vivadati, sahāyopi sahāyena vivadati. Te tattha kalahaviggahavivādāpannā aññamaññaṁ pāṇīhipi upakkamanti, leḍḍūhipi upakkamanti, daṇḍehipi upakkamanti, satthehipi upakkamanti. Te tattha maraṇampi nigacchanti, maraṇamattampi dukkhaṁ. Ayampi, bhikkhave, kāmānaṁ ādīnavo sandiṭṭhiko, dukkhakkhandho kāmahetu kāmanidānaṁ kāmādhikaraṇaṁ kāmānameva hetu.
Puna caparaṁ, bhikkhave, kāmahetu kāmanidānaṁ kāmādhikaraṇaṁ kāmānameva hetu asicammaṁ gahetvā, dhanukalāpaṁ sannayhitvā, ubhatobyūḷhaṁ saṅgāmaṁ pakkhandanti usūsupi khippamānesu, sattīsupi khippamānāsu, asīsupi vijjotalantesu.
Furthermore, for the sake of sensual pleasures kings fight with kings, aristocrats fight with aristocrats, brahmins fight with brahmins, and householders fight with householders. A mother fights with her child, child with mother, father with child, and child with father. Brother fights with brother, brother with sister, sister with brother, and friend fights with friend. Once they’ve started quarreling, arguing, and disputing, they attack each other with fists, stones, rods, and swords, resulting in death and deadly pain. This too is a drawback of sensual pleasures apparent in the present life, a mass of suffering caused by sensual pleasures.
Furthermore, for the sake of sensual pleasures they don their sword and shield, fasten their bow and arrows, and plunge into a battle massed on both sides, with arrows and spears flying and swords flashing.
Lại nữa, này Mahānāma, do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm nơi nương tựa, chính vì nhân duyên là các dục, vua chúa cũng tranh cãi với vua chúa, giai cấp Sát-đế-lỵ cũng tranh cãi với giai cấp Sát-đế-lỵ, giai cấp Bà-la-môn cũng tranh cãi với giai cấp Bà-la-môn, gia chủ cũng tranh cãi với gia chủ, mẹ cũng tranh cãi với con trai, con trai cũng tranh cãi với mẹ, cha cũng tranh cãi với con trai, con trai cũng tranh cãi với cha, anh em trai tranh cãi với nhau, anh em trai tranh cãi với chị em gái, chị em gái tranh cãi với anh em trai, bạn bè cũng tranh cãi với bạn bè. Họ ở đó, khi đã rơi vào cãi vã, xung đột, tranh chấp, họ tấn công lẫn nhau bằng tay, tấn công bằng cục đất, tấn công bằng gậy, tấn công bằng vũ khí. Họ ở đó đi đến cái chết, hoặc (chịu) sự khổ gần bằng cái chết. Này Mahānāma, đây cũng là sự nguy hại của các dục, là một khối khổ hiện tại, do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm nơi nương tựa, chính vì nhân duyên là các dục.
Puna caparaṁ, bhikkhave, kāmahetu kāmanidānaṁ kāmādhikaraṇaṁ kāmānameva hetu asicammaṁ gahetvā, dhanukalāpaṁ sannayhitvā, addāvalepanā upakāriyo pakkhandanti usūsupi khippamānesu, sattīsupi khippamānāsu, asīsupi vijjotalantesu.
Furthermore, for the sake of sensual pleasures they don their sword and shield, fasten their bow and arrows, and charge wetly plastered bastions, with arrows and spears flying and swords flashing.
Lại nữa, này Mahānāma, do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm nơi nương tựa, chính vì nhân duyên là các dục, họ cầm lấy gươm và khiên, đeo cung và ống tên, xông vào trận chiến nơi hai bên dàn trận, trong khi tên đang được bắn, lao đang được phóng, gươm đang loé sáng. Họ ở đó bị bắn bằng tên, bị đâm bằng lao, bị chém đầu bằng gươm. Họ ở đó đi đến cái chết, hoặc (chịu) sự khổ gần bằng cái chết. Này Mahānāma, đây cũng là sự nguy hại của các dục, là một khối khổ hiện tại, do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm nơi nương tựa, chính vì nhân duyên là các dục.
Puna caparaṁ, bhikkhave, kāmahetu kāmanidānaṁ kāmādhikaraṇaṁ kāmānameva hetu sandhimpi chindanti, nillopampi haranti, ekāgārikampi karonti, paripanthepi tiṭṭhanti, paradārampi gacchanti.
Furthermore, for the sake of sensual pleasures they break into houses, plunder wealth, steal from isolated buildings, commit highway robbery, and commit adultery.
Lại nữa, này Mahānāma, do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm nơi nương tựa, chính vì nhân duyên là các dục, họ cầm lấy gươm và khiên, đeo cung và ống tên, xông vào các công sự được trát bằng vữa nóng, trong khi tên đang được bắn, lao đang được phóng, gươm đang loé sáng. Họ ở đó bị bắn bằng tên, bị đâm bằng lao, bị dội bằng phân bò sôi, bị đè bẹp bằng những khúc gỗ, bị chém đầu bằng gươm. Họ ở đó đi đến cái chết, hoặc (chịu) sự khổ gần bằng cái chết. Này Mahānāma, đây cũng là sự nguy hại của các dục, là một khối khổ hiện tại, do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm nơi nương tựa, chính vì nhân duyên là các dục.
Puna caparaṁ, bhikkhave, kāmahetu kāmanidānaṁ kāmādhikaraṇaṁ kāmānameva hetu kāyena duccaritaṁ caranti, vācāya duccaritaṁ caranti, manasā duccaritaṁ caranti.
Furthermore, for the sake of sensual pleasures, they conduct themselves badly by way of body, speech, and mind.
“Lại nữa, này Mahānāma, do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm nguyên nhân, chính vì dục mà họ phá vách tường, cướp phá, đột nhập nhà, chặn đường, thông gian với vợ người. Rồi các vua chúa bắt kẻ ấy và áp dụng nhiều hình phạt khác nhau: đánh bằng roi da, đánh bằng roi mây, đánh bằng gậy ngắn; chặt tay, chặt chân, chặt cả tay chân; cắt tai, cắt mũi, cắt cả tai mũi; họ thực hiện hình phạt ‘cháo sọ người’, hình phạt ‘đầu ốc xà cừ’, hình phạt ‘miệng Rāhu’, hình phạt ‘vòng hoa lửa’, hình phạt ‘đuốc tay’, hình phạt ‘cuộn cỏ lau’, hình phạt ‘áo vỏ cây’, hình phạt ‘con nai’, hình phạt ‘móc câu thịt’, hình phạt ‘đồng tiền’, hình phạt ‘tẩm kiềm’, hình phạt ‘xoay chốt cửa’, hình phạt ‘ghế rơm’; họ tưới dầu sôi, cho chó đói ăn thịt, đóng cọc xiên qua người lúc còn sống, và dùng gươm chặt đầu. Tại đó, họ phải chịu cái chết hoặc đau khổ đến chết. Này Mahānāma, đây cũng là sự nguy hại của các dục, một khối đau khổ ngay trong hiện tại, do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm nguyên nhân, chính vì dục.”
Kiñca, bhikkhave, kāmānaṁ nissaraṇaṁ? Yo kho, bhikkhave, kāmesu chandarāgavinayo chandarāgappahānaṁ—idaṁ kāmānaṁ nissaraṇaṁ.
Ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā evaṁ kāmānaṁ assādañca assādato ādīnavañca ādīnavato nissaraṇañca nissaraṇato yathābhūtaṁ nappajānanti te vata sāmaṁ vā kāme parijānissanti, paraṁ vā tathattāya samādapessanti yathā paṭipanno kāme parijānissatīti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
And what is the escape from sensual pleasures? Removing and giving up desire and greed for sensual pleasures: this is the escape from sensual pleasures.
There are ascetics and brahmins who don’t truly understand sensual pleasures’ gratification, drawback, and escape in this way for what they are. It’s impossible for them to completely understand sensual pleasures themselves, or to instruct another so that, practicing accordingly, they will completely understand sensual pleasures.
“Lại nữa, này Mahānāma, do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm nguyên nhân, chính vì dục mà họ thực hành thân ác hạnh, khẩu ác hạnh, ý ác hạnh. Do thực hành thân ác hạnh, khẩu ác hạnh, ý ác hạnh, sau khi thân hoại mạng chung, họ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này Mahānāma, đây cũng là sự nguy hại của các dục, một khối đau khổ trong tương lai, do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm nguyên nhân, chính vì dục.”
Này các Tỳ khưu, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không tuệ tri như thật vị ngọt là vị ngọt, sự nguy hại là sự nguy hại, và sự xuất ly là sự xuất ly của các dục, thì việc họ chắc chắn sẽ tự mình liễu tri các dục, hoặc sẽ khích lệ người khác để đạt được điều đó, để người thực hành sẽ liễu tri các dục – trường hợp này không xảy ra. Và này các Tỳ khưu, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào tuệ tri như thật vị ngọt là vị ngọt, sự nguy hại là sự nguy hại, và sự xuất ly là sự xuất ly của các dục, thì việc họ chắc chắn sẽ tự mình liễu tri các dục, hoặc sẽ khích lệ người khác để đạt được điều đó, để người thực hành sẽ liễu tri các dục – trường hợp này có xảy ra.
Ko ca, bhikkhave, rūpānaṁ assādo? Seyyathāpi, bhikkhave, khattiyakaññā vā brāhmaṇakaññā vā gahapatikaññā vā pannarasavassuddesikā vā soḷasavassuddesikā vā, nātidīghā nātirassā nātikisā nātithūlā nātikāḷī nāccodātā paramā sā, bhikkhave, tasmiṁ samaye subhā vaṇṇanibhāti?
‘Evaṁ, bhante’.
Yaṁ kho, bhikkhave, subhaṁ vaṇṇanibhaṁ paṭicca uppajjati sukhaṁ somanassaṁ—ayaṁ rūpānaṁ assādo.
And what is the gratification of forms? Suppose there was a girl of the brahmins, aristocrats, or householders in her fifteenth or sixteenth year, neither too tall nor too short, neither too thin nor too fat, neither too dark nor too fair. Is she not at the height of her beauty and prettiness?”
“Yes, sir.”
“The pleasure and happiness that arise from this beauty and prettiness is the gratification of forms.
171. Này các Tỳ khưu, vị ngọt của các sắc là gì? Ví như, này các Tỳ khưu, một thiếu nữ dòng Sát-đế-lỵ, hay dòng Bà-la-môn, hay dòng gia chủ, khoảng mười lăm hay mười sáu tuổi, không quá cao, không quá thấp, không quá gầy, không quá mập, không quá đen, không quá trắng. Này các Tỳ khưu, vào lúc ấy, vẻ đẹp của nàng có phải là tuyệt hảo không? ‘Thưa vâng, bạch Thế Tôn’. Này các Tỳ khưu, do duyên vào vẻ đẹp ấy mà lạc và hỷ sanh khởi – đây là vị ngọt của các sắc.
Ko ca, bhikkhave, rūpānaṁ ādīnavo? Idha, bhikkhave, tameva bhaginiṁ passeyya aparena samayena āsītikaṁ vā nāvutikaṁ vā vassasatikaṁ vā jātiyā, jiṇṇaṁ gopānasivaṅkaṁ bhoggaṁ daṇḍaparāyanaṁ pavedhamānaṁ gacchantiṁ āturaṁ gatayobbanaṁ khaṇḍadantaṁ palitakesaṁ, vilūnaṁ khalitasiraṁ valinaṁ tilakāhatagattaṁ.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, yā purimā subhā vaṇṇanibhā sā antarahitā, ādīnavo pātubhūtoti?
‘Evaṁ, bhante’.
Ayampi, bhikkhave, rūpānaṁ ādīnavo.
And what is the drawback of forms? Suppose that some time later you were to see that same sister—eighty, ninety, or a hundred years old—bent double, crooked, leaning on a staff, trembling as they walk, ailing, past their prime, with teeth broken, hair grey and scanty or bald, skin wrinkled, and limbs blotchy.
What do you think, mendicants? Has not that former beauty vanished and the drawback become clear?”
“Yes, sir.”
“This is the drawback of forms.
Này các Tỳ khưu, sự nguy hại của các sắc là gì? Ở đây, này các Tỳ khưu, vào một thời gian sau, người ta có thể thấy chính người phụ nữ ấy, tám mươi, chín mươi, hay một trăm tuổi, già nua, lưng còng như kèo nhà, gù lưng, phải chống gậy, đi run rẩy, bệnh hoạn, tuổi xuân đã qua, răng rụng, tóc bạc, tóc lơ thơ, đầu hói, da nhăn, thân lốm đốm tàn nhang. Này các Tỳ khưu, các ông nghĩ thế nào? Vẻ đẹp trước kia đã biến mất, sự nguy hại đã hiện rõ, phải không? ‘Thưa vâng, bạch Thế Tôn’. Này các Tỳ khưu, đây cũng là sự nguy hại của các sắc.
Puna caparaṁ, bhikkhave, tameva bhaginiṁ passeyya ābādhikaṁ dukkhitaṁ bāḷhagilānaṁ, sake muttakarīse palipannaṁ semānaṁ, aññehi vuṭṭhāpiyamānaṁ, aññehi saṁvesiyamānaṁ.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, yā purimā subhā vaṇṇanibhā sā antarahitā, ādīnavo pātubhūtoti?
‘Evaṁ, bhante’.
Ayampi, bhikkhave, rūpānaṁ ādīnavo.
Furthermore, suppose that you were to see that same sister sick, suffering, gravely ill, collapsed in her own urine and feces, being picked up by some and put down by others.
What do you think, mendicants? Has not that former beauty vanished and the drawback become clear?”
“Yes, sir.”
“This too is the drawback of forms.
Này các Tỳ khưu, lại nữa, người ta có thể thấy chính người phụ nữ ấy bị bệnh, đau khổ, bệnh nặng, nằm vấy bẩn trong phân và nước tiểu của chính mình, được người khác đỡ dậy, được người khác đặt nằm xuống. Này các Tỳ khưu, các ông nghĩ thế nào? Vẻ đẹp trước kia đã biến mất, sự nguy hại đã hiện rõ, phải không? ‘Thưa vâng, bạch Thế Tôn’. Này các Tỳ khưu, đây cũng là sự nguy hại của các sắc.
Puna caparaṁ, bhikkhave, tameva bhaginiṁ passeyya sarīraṁ sivathikāya chaḍḍitaṁ—ekāhamataṁ vā dvīhamataṁ vā tīhamataṁ vā, uddhumātakaṁ vinīlakaṁ vipubbakajātaṁ.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, yā purimā subhā vaṇṇanibhā sā antarahitā, ādīnavo pātubhūtoti?
‘Evaṁ, bhante’.
Ayampi, bhikkhave, rūpānaṁ ādīnavo.
Furthermore, suppose that you were to see that same sister as a corpse discarded in a charnel ground. And it had been dead for one, two, or three days, bloated, livid, and festering.
What do you think, mendicants? Has not that former beauty vanished and the drawback become clear?”
“Yes, sir.”
“This too is the drawback of forms.
172. Này các Tỳ khưu, lại nữa, người ta có thể thấy thi thể của chính người phụ nữ ấy bị quăng bỏ trong nghĩa địa – chết một ngày, hai ngày, hay ba ngày, sình trương, xanh bầm, chảy mủ. Này các Tỳ khưu, các ông nghĩ thế nào? Vẻ đẹp trước kia đã biến mất, sự nguy hại đã hiện rõ, phải không? ‘Thưa vâng, bạch Thế Tôn’. Này các Tỳ khưu, đây cũng là sự nguy hại của các sắc.
Puna caparaṁ, bhikkhave, tameva bhaginiṁ passeyya sarīraṁ sivathikāya chaḍḍitaṁ—kākehi vā khajjamānaṁ, kulalehi vā khajjamānaṁ, gijjhehi vā khajjamānaṁ, kaṅkehi vā khajjamānaṁ, sunakhehi vā khajjamānaṁ, byagghehi vā khajjamānaṁ, dīpīhi vā khajjamānaṁ, siṅgālehi vā khajjamānaṁ, vividhehi vā pāṇakajātehi khajjamānaṁ.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, yā purimā subhā vaṇṇanibhā sā antarahitā, ādīnavo pātubhūtoti? ‘Evaṁ, bhante’. Ayampi, bhikkhave, rūpānaṁ ādīnavo.
Furthermore, suppose that you were to see that same sister as a corpse discarded in a charnel ground. And it was being devoured by crows, hawks, vultures, herons, hounds, tigers, leopards, jackals, and many kinds of little creatures …
Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị ấy có thể thấy chính thân thể của người chị em ấy bị quăng bỏ trong nghĩa địa – đang bị quạ mổ ăn, hoặc đang bị diều hâu mổ ăn, hoặc đang bị kên kên mổ ăn, hoặc đang bị chim ưng mổ ăn, hoặc đang bị chó ăn, hoặc đang bị cọp ăn, hoặc đang bị báo ăn, hoặc đang bị chó rừng ăn, hoặc đang bị các loài sinh vật khác nhau ăn. Này các Tỳ khưu, các ông nghĩ thế nào về điều ấy? Sắc tướng xinh đẹp trước kia, nó đã biến mất, sự nguy hại đã hiện rõ phải không? ‘Bạch Thế Tôn, đúng vậy’. Này các Tỳ khưu, đây cũng là sự nguy hại của các sắc.
Puna caparaṁ, bhikkhave, tameva bhaginiṁ passeyya sarīraṁ sivathikāya chaḍḍitaṁ—aṭṭhikasaṅkhalikaṁ samaṁsalohitaṁ nhārusambandhaṁ, aṭṭhikasaṅkhalikaṁ nimaṁsalohitamakkhitaṁ nhārusambandhaṁ, aṭṭhikasaṅkhalikaṁ apagatamaṁsalohitaṁ nhārusambandhaṁ, aṭṭhikāni apagatasambandhāni disāvidisāvikkhittāni—aññena hatthaṭṭhikaṁ, aññena pādaṭṭhikaṁ, aññena gopphakaṭṭhikaṁ, aññena jaṅghaṭṭhikaṁ, aññena ūruṭṭhikaṁ, aññena kaṭiṭṭhikaṁ, aññena phāsukaṭṭhikaṁ, aññena piṭṭhiṭṭhikaṁ, aññena khandhaṭṭhikaṁ, aññena gīvaṭṭhikaṁ, aññena hanukaṭṭhikaṁ, aññena dantaṭṭhikaṁ, aññena sīsakaṭāhaṁ.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, yā purimā subhā vaṇṇanibhā sā antarahitā, ādīnavo pātubhūtoti? ‘Evaṁ, bhante’. Ayampi, bhikkhave, rūpānaṁ ādīnavo.
Furthermore, suppose that you were to see that same sister as a corpse discarded in a charnel ground. And it had been reduced to a skeleton with flesh and blood, held together by sinews … A skeleton rid of flesh but smeared with blood, and held together by sinews … A skeleton rid of flesh and blood, held together by sinews … Bones rid of sinews scattered in every direction. Here a hand-bone, there a foot-bone, here an ankle bone, there a shin-bone, here a thigh-bone, there a hip-bone, here a rib-bone, there a back-bone, here an arm-bone, there a neck-bone, here a jaw-bone, there a tooth, here the skull. …
Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị ấy có thể thấy chính thân thể của người chị em ấy bị quăng bỏ trong nghĩa địa – một bộ xương còn dính thịt và máu, được nối với nhau bằng gân; một bộ xương không còn thịt nhưng dính đầy máu, được nối với nhau bằng gân; một bộ xương không còn thịt và máu, được nối với nhau bằng gân; các xương không còn nối với nhau, vương vãi khắp các phương và các hướng phụ – một nơi là xương tay, một nơi là xương chân, một nơi là xương mắt cá, một nơi là xương ống chân, một nơi là xương đùi, một nơi là xương hông, một nơi là xương sườn, một nơi là xương sống, một nơi là xương vai, một nơi là xương cổ, một nơi là xương hàm, một nơi là xương răng, một nơi là hộp sọ. Này các Tỳ khưu, các ông nghĩ thế nào về điều ấy? Sắc tướng xinh đẹp trước kia, nó đã biến mất, sự nguy hại đã hiện rõ phải không? ‘Bạch Thế Tôn, đúng vậy’. Này các Tỳ khưu, đây cũng là sự nguy hại của các sắc.
Puna caparaṁ, bhikkhave, tameva bhaginiṁ passeyya sarīraṁ sivathikāya chaḍḍitaṁ—aṭṭhikāni setāni saṅkhavaṇṇapaṭibhāgāni, aṭṭhikāni puñjakitāni terovassikāni, aṭṭhikāni pūtīni cuṇṇakajātāni.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, yā purimā subhā vaṇṇanibhā sā antarahitā, ādīnavo pātubhūtoti?
‘Evaṁ, bhante’.
Ayampi, bhikkhave, rūpānaṁ ādīnavo.
Furthermore, suppose that you were to see that same sister as a corpse discarded in a charnel ground. And it had been reduced to white bones, the color of shells … Decrepit bones, heaped in a pile … Bones rotted and crumbled to powder.
What do you think, mendicants? Has not that former beauty vanished and the drawback become clear?”
“Yes, sir.”
“This too is the drawback of forms.
Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị ấy có thể thấy chính thân thể của người chị em ấy bị quăng bỏ trong nghĩa địa – những khúc xương trắng, có màu như vỏ ốc xà cừ; những khúc xương chất thành đống, đã qua nhiều năm; những khúc xương đã mục rã, trở thành bột. Này các Tỳ khưu, các ông nghĩ thế nào về điều ấy? Sắc tướng xinh đẹp trước kia, nó đã biến mất, sự nguy hại đã hiện rõ phải không? ‘Bạch Thế Tôn, đúng vậy’. Này các Tỳ khưu, đây cũng là sự nguy hại của các sắc.
Kiñca, bhikkhave, rūpānaṁ nissaraṇaṁ? Yo, bhikkhave, rūpesu chandarāgavinayo chandarāgappahānaṁ—idaṁ rūpānaṁ nissaraṇaṁ.
And what is the escape from forms? Removing and giving up desire and greed for forms: this is the escape from forms.
Và này các Tỳ khưu, sự xuất ly khỏi các sắc là gì? Này các Tỳ khưu, sự điều phục dục tham, sự đoạn tận dục tham đối với các sắc – đây là sự xuất ly khỏi các sắc.
Ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā evaṁ rūpānaṁ assādañca assādato ādīnavañca ādīnavato nissaraṇañca nissaraṇato yathābhūtaṁ nappajānanti te vata sāmaṁ vā rūpe parijānissanti, paraṁ vā tathattāya samādapessanti yathā paṭipanno rūpe parijānissatīti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati. Ye ca kho keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā evaṁ rūpānaṁ assādañca assādato ādīnavañca ādīnavato nissaraṇañca nissaraṇato yathābhūtaṁ pajānanti te vata sāmaṁ vā rūpe parijānissanti paraṁ vā tathattāya samādapessanti yathā paṭipanno rūpe parijānissatīti—ṭhānametaṁ vijjati.
There are ascetics and brahmins who don’t truly understand forms’ gratification, drawback, and escape in this way for what they are. It’s impossible for them to completely understand forms themselves, or to instruct another so that, practicing accordingly, they will completely understand forms. There are ascetics and brahmins who do truly understand forms’ gratification, drawback, and escape in this way for what they are. It is possible for them to completely understand forms themselves, or to instruct another so that, practicing accordingly, they will completely understand forms.
Này các Tỳ khưu, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không tuệ tri như thật vị ngọt là vị ngọt, sự nguy hại là sự nguy hại, và sự xuất ly là sự xuất ly của các sắc, thì chắc chắn rằng họ sẽ tự mình liễu tri các sắc, hoặc sẽ khuyến khích người khác để đạt được điều ấy, để người thực hành theo sẽ liễu tri các sắc – trường hợp này không xảy ra. Và này các Tỳ khưu, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào tuệ tri như thật vị ngọt là vị ngọt, sự nguy hại là sự nguy hại, và sự xuất ly là sự xuất ly của các sắc, thì chắc chắn rằng họ sẽ tự mình liễu tri các sắc, hoặc sẽ khuyến khích người khác để đạt được điều ấy, để người thực hành theo sẽ liễu tri các sắc – trường hợp này có xảy ra.
Ko ca, bhikkhave, vedanānaṁ assādo? Idha, bhikkhave, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Yasmiṁ samaye, bhikkhave, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati, neva tasmiṁ samaye attabyābādhāyapi ceteti, na parabyābādhāyapi ceteti, na ubhayabyābādhāyapi ceteti; abyābajjhaṁyeva tasmiṁ samaye vedanaṁ vedeti. Abyābajjhaparamāhaṁ, bhikkhave, vedanānaṁ assādaṁ vadāmi.
And what is the gratification of feelings? It’s when a mendicant, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected. At that time a mendicant doesn’t intend to hurt themselves, hurt others, or hurt both; they feel only feelings that are not hurtful. Freedom from being hurt is the ultimate gratification of feelings, I say.
173. Và này các Tỳ khưu, vị ngọt của các cảm thọ là gì? Ở đây, này các Tỳ khưu, Tỳ khưu ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Này các Tỳ khưu, vào lúc mà Tỳ khưu ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ, vào lúc ấy, vị ấy không có tác ý làm khổ mình, không có tác ý làm khổ người, cũng không có tác ý làm khổ cả hai; vào lúc ấy, vị ấy chỉ cảm thọ một cảm giác không có phiền não. Này các Tỳ khưu, Ta tuyên bố rằng sự không phiền não là vị ngọt tối thượng của các cảm thọ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati …pe… yasmiṁ samaye, bhikkhave, bhikkhu pītiyā ca virāgā, upekkhako ca viharati, sato ca sampajāno sukhañca kāyena paṭisaṁvedeti yaṁ taṁ ariyā ācikkhanti: ‘upekkhako satimā sukhavihārī’ti tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati …pe… yasmiṁ samaye, bhikkhave, bhikkhu sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati, neva tasmiṁ samaye attabyābādhāyapi ceteti, na parabyābādhāyapi ceteti, na ubhayabyābādhāyapi ceteti; abyābajjhaṁyeva tasmiṁ samaye vedanaṁ vedeti. Abyābajjhaparamāhaṁ, bhikkhave, vedanānaṁ assādaṁ vadāmi.
Furthermore, a mendicant enters and remains in the second absorption … third absorption … fourth absorption. At that time a mendicant doesn’t intend to hurt themselves, hurt others, or hurt both; they feel only feelings that are not hurtful. Freedom from being hurt is the ultimate gratification of feelings, I say.
Lại nữa, này các Tỳ khưu, Tỳ khưu với sự chấm dứt tầm và tứ, chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm... (v.v.)... Này các Tỳ khưu, vào lúc Tỳ khưu, do ly hỷ, trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là ‘xả niệm lạc trú’, chứng và trú thiền thứ ba... (v.v.)... Này các Tỳ khưu, vào lúc Tỳ khưu, do xả lạc và xả khổ, do diệt trừ hỷ và ưu đã có từ trước, chứng và trú thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh, vào lúc ấy, vị ấy không có tác ý làm khổ mình, không có tác ý làm khổ người, cũng không có tác ý làm khổ cả hai; vào lúc ấy, vị ấy chỉ cảm thọ một cảm giác không có phiền não. Này các Tỳ khưu, Ta tuyên bố rằng sự không phiền não là vị ngọt tối thượng của các cảm thọ.
Ko ca, bhikkhave, vedanānaṁ ādīnavo? Yaṁ, bhikkhave, vedanā aniccā dukkhā vipariṇāmadhammā—ayaṁ vedanānaṁ ādīnavo.
And what is the drawback of feelings? That feelings are impermanent, suffering, and perishable: this is their drawback.
174. Và này các Tỳ khưu, sự nguy hại của các cảm thọ là gì? Này các Tỳ khưu, việc các cảm thọ là vô thường, là khổ, có tính chất biến hoại – đây là sự nguy hại của các cảm thọ.
Kiñca, bhikkhave, vedanānaṁ nissaraṇaṁ? Yo, bhikkhave, vedanāsu chandarāgavinayo, chandarāgappahānaṁ—idaṁ vedanānaṁ nissaraṇaṁ.
And what is the escape from feelings? Removing and giving up desire and greed for feelings: this is the escape from feelings.
Và này các Tỳ khưu, sự xuất ly khỏi các cảm thọ là gì? Này các Tỳ khưu, sự điều phục dục tham, sự đoạn tận dục tham đối với các cảm thọ – đây là sự xuất ly khỏi các cảm thọ.
Ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā evaṁ vedanānaṁ assādañca assādato ādīnavañca ādīnavato nissaraṇañca nissaraṇato yathābhūtaṁ nappajānanti, te vata sāmaṁ vā vedanaṁ parijānissanti, paraṁ vā tathattāya samādapessanti yathā paṭipanno vedanaṁ parijānissatīti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati. Ye ca kho keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā evaṁ vedanānaṁ assādañca assādato ādīnavañca ādīnavato nissaraṇañca nissaraṇato yathābhūtaṁ pajānanti te vata sāmaṁ vā vedanaṁ parijānissanti, paraṁ vā tathattāya samādapessanti yathā paṭipanno vedanaṁ parijānissatīti—ṭhānametaṁ vijjatī”ti.
There are ascetics and brahmins who don’t truly understand feelings’ gratification, drawback, and escape in this way for what they are. It’s impossible for them to completely understand feelings themselves, or to instruct another so that, practicing accordingly, they will completely understand feelings. There are ascetics and brahmins who do truly understand feelings’ gratification, drawback, and escape in this way for what they are. It is possible for them to completely understand feelings themselves, or to instruct another so that, practicing accordingly, they will completely understand feelings.”
Này các Tỳ khưu, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không như thật tuệ tri vị ngọt của các cảm thọ là vị ngọt, sự nguy hiểm là sự nguy hiểm, và sự xuất ly là sự xuất ly, thì không thể có trường hợp này: rằng tự mình họ sẽ liễu tri cảm thọ, hoặc sẽ khuyến khích người khác thực hành để liễu tri cảm thọ. Và này các Tỳ khưu, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào như thật tuệ tri vị ngọt của các cảm thọ là vị ngọt, sự nguy hiểm là sự nguy hiểm, và sự xuất ly là sự xuất ly, thì có thể có trường hợp này: rằng tự mình họ sẽ liễu tri cảm thọ, và sẽ khuyến khích người khác thực hành để liễu tri cảm thọ.
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
Thế Tôn đã thuyết như vậy. Các Tỳ khưu ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Mahādukkhakkhandhasuttaṁ niṭṭhitaṁ tatiyaṁ.
Kinh Đại Khổ Uẩn, phẩm thứ ba, kết thúc.