- Majjhima Nikāya 135
Cūḷakammavibhaṅgasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Cūḷakammavibhaṅgasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời, Thế Tôn ở Sāvatthi (Xá-vệ) Jetavana (Kỳ-đà-lâm), tại tinh xá ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).
SC 2Rồi thanh niên Subha Todeyyaputta đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, thanh niên Subha Todeyyaputta bạch Thế Tôn
SC 3—Thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì giữa loài Người với nhau, khi họ là loài Người, lại thấy có người liệt, có người ưu?
SC 4Thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi thấy có người đoản thọ, có người trường thọ; chúng tôi thấy có người nhiều bệnh, có người ít bệnh; chúng tôi thấy có người xấu sắc, có người đẹp sắc; chúng tôi thấy có người quyền thế nhỏ, có người quyền thế lớn; chúng tôi thấy có người tài sản nhỏ, có người tài sản lớn; chúng tôi thấy có người thuộc gia đình hạ liệt, có người thuộc gia đình cao quý; chúng tôi thấy có người trí tuệ yếu kém, có người có đầy đủ trí tuệ.
SC 5Thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì, giữa loài Người với nhau, khi họ là loài Người, lại thấy có người liệt, có người ưu?
SC 6—Này Thanh niên, các loài hữu tình là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp. Nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa, nghiệp phân chia các loài hữu tình; nghĩa là có liệt, có ưu.
SC 7—Tôi không hiểu nghĩa một cách rộng rãi điều mà Tôn giả Gotama nói một cách vắn tắt, không có giải nghĩa rộng rãi. Lành thay, nếu Tôn giả Gotama thuyết pháp cho tôi để tôi có thể hiểu nghĩa một cách rộng rãi điều mà Tôn giả Gotama nói một cách vắn tắt, không có giải nghĩa rộng rãi.
SC 8—Vậy này Thanh niên, hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói.
—Thưa vâng, Tôn giả.
SC 9Thanh niên Subha Todeyyaputta vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau
SC 10—Ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay người đàn ông, sát sanh, tàn nhẫn, tay lấm máu, tâm chuyên sát hại đả thương, tâm không từ bi đối với các loại chúng sanh. Do nghiệp ấy, thành đạt như vậy, thành tựu như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nếu sau khi thân hoại mạng chung, người ấy không sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục, nếu được đi đến loài Người, chỗ nào người ấy sanh ra, người ấy phải đoản mạng. Con đường ấy đưa đến đoản mạng, này Thanh niên, tức là sát sanh, tàn nhẫn, tay lấm máu, tâm chuyên sát hại đả thương, tâm không từ bi đối với các loài hữu tình.
SC 11Nhưng ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay đàn ông, từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Do nghiệp ấy, thành đạt như vậy, thành tựu như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy được sanh vào thiện thú, Thiên giới, ở đời. Nếu sau khi thân hoại mạng chung, người ấy không sanh vào thiện thú, Thiên giới, ở đời, nếu người ấy đi đến loài Người, chỗ nào người ấy sanh ra, người ấy được trường thọ. Con đường ấy đưa đến trường thọ, này Thanh niên, tức là từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình.
SC 12Ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay người đàn ông, tánh hay não hại các loài hữu tình, với tay, hay với cục đất, hay với cây gậy, hay với cây đao. Do nghiệp ấy, thành đạt như vậy, thành tựu như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nếu sau khi thân hoại mạng chung, người ấy không sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục, nếu người ấy đi đến loài Người, chỗ nào người ấy sanh ra, người ấy phải bị nhiều bệnh hoạn. Con đường ấy đưa đến nhiều bệnh hoạn, này Thanh niên, tức là tánh hay não hại các loài hữu tình với tay, hay với cục đất, hay với cây gậy, hay với cây đao.
SC 13Nhưng ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay người đàn ông, tánh không hay não hại các loài hữu tình, với tay, hay với cục đất, hay với cây gậy, hay với cây đao. Do nghiệp ấy thành đạt như vậy. Thiện thú … người ấy được ít bệnh hoạn. Con đường ấy đưa đến ít bệnh hoạn … tánh không não hại … hay với cây đao.
SC 14Ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay người đàn ông, phẫn nộ, nhiều phật ý, bị nói đến một chút thời bất bình, phẫn nộ, sân hận, chống đối, và tỏ lộ phẫn nộ, sân hận, bất mãn. Do nghiệp ấy, thành đạt như vậy … cõi dữ … xấu sắc. Con đường ấy đưa đến xấu sắc, này Thanh niên, tức là phẫn nộ … bất mãn.
SC 15Ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay người đàn ông, không phẫn nộ, không nhiều phật ý, dầu cho bị nói đến nhiều, cũng không bất bình, phẫn nộ, sân hận, chống đối, và không tỏ lộ phẫn nộ, sân hận, bất mãn. Do nghiệp ấy, thành đạt như vậy … thiện thú … đẹp sắc (pasadika: hoan hỷ) Con đường ấy đưa đến đẹp sắc, này Thanh niên, tức là không phẫn nộ … không bất mãn.
SC 16Ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay người đàn ông, tật đố, đối với người khác được quyền lợi, được tôn trọng, cung kính, tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường, sanh tật đố, sanh tâm, ôm ấp tâm tật đố. Do nghiệp ấy, thành đạt như vậy … ác thú … quyền thế nhỏ. Con đường ấy đưa đến quyền thế nhỏ, này thanh niên, tức là tật đố … ôm ấp tâm tật đố.
SC 17Nhưng ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay người đàn ông, không có tật đố, đối với những người khác được quyền lợi, được tôn trọng, cung kính, tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường, không sanh tật đố, không sanh tâm, không ôm ấp tâm tật đố. Do nghiệp ấy … thiện thú … quyền thế lớn. Con đường ấy đưa đến quyền thế lớn, này Thanh niên, tức là không tật đố … không ôm ấp tật đố.
SC 18Ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay người đàn ông, không bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn, đồ ăn uống, y phục, xe cộ, vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, ngọa cụ, nhà cửa, đèn đuốc. Do nghiệp ấy. Đọa xứ … tài sản nhỏ. Con đường đưa đến tài sản nhỏ. Ngọa cụ, nhà cửa, đèn đuốc.
SC 19Nhưng ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay người đàn ông có bố thí cho Sa-môn hay cho Bà-la-môn các đồ ăn uống … ngọa cụ, nhà cửa, đèn đuốc. Do nghiệp ấy … thiện thú … nhiều tài sản. Con đường đưa đến nhiều tài sản nhỏ … ngọa cụ, nhà cửa, đèn đuốc.
SC 20Ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay người đàn ông ngạo nghễ, kiêu mạn, không đảnh lễ những người đáng đảnh lễ, không đứng dậy đối với người đáng đứng dậy, không mời ngồi những người đáng mời ngồi, không nhường chỗ đi cho những người đáng được nhường chỗ đi, không tôn trọng những người đáng tôn trọng, không cung kính những người đáng cung kính, không cúng dường những người đáng cúng dường. Do nghiệp ấy … đọa xứ … thuộc gia đình hạ liệt. Con đường đưa đến gia đình hạ liệt. Không cúng dường những người đáng cúng dường.
SC 21Nhưng ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay người đàn ông, không có ngạo nghễ quá mạn, đảnh lễ những người đáng đảnh lễ … cúng dường những người đáng cúng dường. Do nghiệp ấy … thiện thú … vào gia đình cao quý. Con đường đưa đến gia đình cao quý … cúng dường những người đáng cúng dường.
SC 22Ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay người đàn ông, sau khi đi đến Sa-môn hay Bà-la-môn, không hỏi: “Thưa Tôn giả, thế nào là thiện? Thế nào là bất thiện? Thế nào là phạm tội? Thế nào là không phạm tội? Thế nào là cần phải thực hành? Thế nào là không cần phải thực hành? Tôi đã làm gì để phải không lợi ích và đau khổ lâu dài? Hay tôi đã làm gì để được lợi ích và an lạc lâu dài? Do nghiệp ấy … đọa xứ … trí tuệ yếu kém. Con đường đưa đến trí tuệ yếu kém … lợi ích, hạnh phúc lâu dài?”
SC 23Nhưng ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay người đàn ông, sau khi đến Sa-môn hay Bà-la-môn, có hỏi: “Thưa Tôn giả, thế nào là thiện? Thế nào là bất thiện … lợi ích, an lạc lâu dài? Do nghiệp ấy … thiện thú … đầy đủ trí tuệ. Con đường đưa đến đầy đủ trí tuệ … lợi ích, an lạc lâu dài?”.
SC 24Ở đây, này Thanh niên, con đường đưa đến đoản thọ, dẫn đến đoản thọ, con đường đưa đến trường thọ, dẫn đến trường thọ; con đường đưa đến nhiều bệnh, dẫn đến nhiều bệnh; con đường đưa đến ít bệnh, dẫn đến ít bệnh; con đường đưa đến xấu sắc, dẫn đến xấu sắc; con đường đưa đến đẹp sắc, dẫn đến đẹp sắc; con đường đưa đến quyền thế nhỏ, dẫn đến quyền thế nhỏ; con đường đưa đến quyền thế lớn dẫn đến quyền thế lớn; con đường đưa đến tài sản nhỏ, dẫn đến tài sản nhỏ; con đường đưa đến tài sản lớn, dẫn đến tài sản lớn; con đường đưa đến gia đình hạ liệt, dẫn đến gia đình hạ liệt; con đường đưa đến gia đình cao quý, dẫn đến gia đình cao quý, con đường đưa đến trí tuệ yếu kém, dẫn đến trí tuệ yếu kém; con đường đưa đến đầy đủ trí tuệ, dẫn đến trí tuệ đầy đủ.
SC 25Này Thanh niên, các loài hữu tình là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp. Nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa, nghiệp phân chia các loài hữu tình; nghĩa là có liệt, có ưu.
SC 26Khi nghe nói vậy, thanh niên Subha Todeyyaputta nói với Thế Tôn
SC 27—Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho những người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và chúng Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). 15–07–2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
5. Kinh Tiểu Phân Biệt Nghiệp
Atha kho subho māṇavo todeyyaputto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho subho māṇavo todeyyaputto bhagavantaṁ etadavoca:
Then the student Subha, Todeyya’s son, approached the Buddha, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to the Buddha:
289. Tôi nghe như vầy: Một thời đức Thế Tôn đang trú tại Sāvatthī, trong khu vườn của ông Anāthapiṇḍika ở Jetavana. Khi ấy, thanh niên Subha, con của Todeyya, đã đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, vị ấy đã cùng đức Thế Tôn chào hỏi thân mật. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân thiện và đáng ghi nhớ, vị ấy ngồi sang một bên. Sau khi ngồi sang một bên, thanh niên Subha, con của Todeyya, đã nói với đức Thế Tôn điều này:
“Ko nu kho, bho gotama, hetu ko paccayo yena manussānaṁyeva sataṁ manussabhūtānaṁ dissanti hīnappaṇītatā? Dissanti hi, bho gotama, manussā appāyukā, dissanti dīghāyukā; dissanti bavhābādhā, dissanti appābādhā; dissanti dubbaṇṇā, dissanti vaṇṇavanto; dissanti appesakkhā, dissanti mahesakkhā; dissanti appabhogā, dissanti mahābhogā; dissanti nīcakulīnā, dissanti uccākulīnā; dissanti duppaññā, dissanti paññavanto. Ko nu kho, bho gotama, hetu ko paccayo yena manussānaṁyeva sataṁ manussabhūtānaṁ dissanti hīnappaṇītatā”ti?
“What is the cause, worthy Gotama, what is the reason why even among those who are human beings some are seen to be inferior and superior? For people are seen who are short-lived and long-lived, sickly and healthy, ugly and beautiful, insignificant and illustrious, poor and rich, from low and eminent families, witless and wise. What is the reason why even among those who are human beings some are seen to be inferior and superior?”
Thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì mà giữa loài người, trong khi họ là người, lại thấy có sự hạ liệt và cao sang? Thưa Tôn giả Gotama, vì rằng có người đoản thọ, có người trường thọ; có người nhiều bệnh, có người ít bệnh; có người xấu xí, có người xinh đẹp; có người ít uy thế, có người nhiều uy thế; có người ít tài sản, có người nhiều tài sản; có người thuộc dòng dõi hạ tiện, có người thuộc dòng dõi cao quý; có người trí tuệ thấp kém, có người có trí tuệ. Thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì mà giữa loài người, trong khi họ là người, lại thấy có sự hạ liệt và cao sang?
“Kammassakā, māṇava, sattā kammadāyādā kammayonī kammabandhū kammappaṭisaraṇā. Kammaṁ satte vibhajati yadidaṁ—hīnappaṇītatāyā”ti.
“Na kho ahaṁ imassa bhoto gotamassa saṅkhittena bhāsitassa vitthārena atthaṁ avibhattassa vitthārena atthaṁ ājānāmi. Sādhu me bhavaṁ gotamo tathā dhammaṁ desetu yathā ahaṁ imassa bhoto gotamassa saṅkhittena bhāsitassa vitthārena atthaṁ avibhattassa vitthārena atthaṁ ājāneyyan”ti.
“Student, sentient beings are the owners of their deeds and heir to their deeds. Deeds are their womb, their relative, and their refuge. It is deeds that divide beings into inferior and superior.”
“I don’t understand the meaning of what the worthy Gotama has said in brief, without explaining the details. Worthy Gotama, please teach me this matter in detail so I can understand the meaning.”
Này thanh niên, các chúng sanh là chủ nhân của nghiệp, là người thừa tự của nghiệp, có nghiệp là thai tạng, có nghiệp là quyến thuộc, có nghiệp là nơi nương tựa. Nghiệp phân chia các chúng sanh, nghĩa là có sự hạ liệt và cao sang. Con không hiểu rõ ý nghĩa một cách chi tiết của lời dạy mà Tôn giả Gotama đã nói một cách tóm tắt, chưa được giải thích chi tiết. Lành thay, mong Tôn giả Gotama hãy thuyết pháp cho con theo cách mà con có thể hiểu rõ ý nghĩa một cách chi tiết của lời dạy mà Tôn giả Gotama đã nói một cách tóm tắt, chưa được giải thích chi tiết.
“Tena hi, māṇava, suṇāhi, sādhukaṁ manasi karohi; bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bho”ti kho subho māṇavo todeyyaputto bhagavato paccassosi. Bhagavā etadavoca:
“Idha, māṇava, ekacco itthī vā puriso vā pāṇātipātī hoti luddo lohitapāṇi hatapahate niviṭṭho adayāpanno pāṇabhūtesu. So tena kammena evaṁ samattena evaṁ samādinnena kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati. No ce kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati, sace manussattaṁ āgacchati yattha yattha paccājāyati appāyuko hoti.
“Well then, student, listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, worthy sir,” replied Subha. The Buddha said this:
“Take some woman or man who kills living creatures. They’re violent, bloody-handed, a hardened killer, merciless to living beings. Because of undertaking such deeds, when their body breaks up, after death, they’re reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. If they’re not reborn in a place of loss, but return to the human realm, then wherever they’re reborn they’re short-lived.
290. Vậy thì, này thanh niên, hãy lắng nghe, hãy khéo tác ý, Ta sẽ nói. – Thưa vâng, Tôn giả. Thanh niên Subha, con của Todeyya, đã vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn đã nói điều này:
Này thanh niên, ở đây có người đàn bà hay đàn ông nào đó là người sát sanh, tàn nhẫn, tay vấy máu, chuyên tâm đập đánh, không có lòng từ đối với các loài hữu tình. Do nghiệp ấy đã được thực hiện, đã được tích lũy như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nếu sau khi thân hoại mạng chung, người ấy không sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục, mà được sanh làm người, thì dù sanh ở đâu, người ấy cũng bị đoản thọ. Này thanh niên, con đường này dẫn đến đoản thọ, tức là: là người sát sanh, tàn nhẫn, tay vấy máu, chuyên tâm đập đánh, không có lòng từ đối với các loài hữu tình.
Idha pana, māṇava, ekacco itthī vā puriso vā pāṇātipātaṁ pahāya pāṇātipātā paṭivirato hoti nihitadaṇḍo nihitasattho, lajjī dayāpanno sabbapāṇabhūtahitānukampī viharati. So tena kammena evaṁ samattena evaṁ samādinnena kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjati. No ce kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjati, sace manussattaṁ āgacchati yattha yattha paccājāyati dīghāyuko hoti. Dīghāyukasaṁvattanikā esā, māṇava, paṭipadā yadidaṁ—pāṇātipātaṁ pahāya pāṇātipātā paṭivirato hoti nihitadaṇḍo nihitasattho, lajjī dayāpanno sabbapāṇabhūtahitānukampī viharati.
But take some woman or man who gives up killing living creatures, renouncing the rod and the sword. They’re scrupulous and kind, living full of sympathy for all living beings. Because of undertaking such deeds, when their body breaks up, after death, they’re reborn in a good place, a heavenly realm. If they’re not reborn in a heavenly realm, but return to the human realm, then wherever they’re reborn they’re long-lived. For not killing living creatures is the path leading to a long lifespan.
Lại nữa, này thanh niên, ở đây có người đàn bà hay đàn ông nào đó từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, đã bỏ trượng, đã bỏ kiếm, có lòng tàm, có lòng bi, sống vì lợi ích và thương xót tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Do nghiệp ấy đã được thực hiện, đã được tích lũy như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào thiện thú, thiên giới. Nếu sau khi thân hoại mạng chung, người ấy không sanh vào thiện thú, thiên giới, mà được sanh làm người, thì dù sanh ở đâu, người ấy cũng được trường thọ. Này thanh niên, con đường này dẫn đến trường thọ, tức là: từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, đã bỏ trượng, đã bỏ kiếm, có lòng tàm, có lòng bi, sống vì lợi ích và thương xót tất cả chúng sanh và loài hữu tình.
Idha, māṇava, ekacco itthī vā puriso vā sattānaṁ viheṭhakajātiko hoti, pāṇinā vā leḍḍunā vā daṇḍena vā satthena vā. So tena kammena evaṁ samattena evaṁ samādinnena kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati. No ce kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati, sace manussattaṁ āgacchati yattha yattha paccājāyati bavhābādho hoti. Bavhābādhasaṁvattanikā esā, māṇava, paṭipadā yadidaṁ—sattānaṁ viheṭhakajātiko hoti pāṇinā vā leḍḍunā vā daṇḍena vā satthena vā.
Take some woman or man who habitually hurts living creatures with a fist, stone, rod, or sword. Because of undertaking such deeds, after death they’re reborn in a place of loss … or if they return to the human realm, they’re sickly …
291. Này thanh niên, ở đây có người đàn bà hay đàn ông nào đó có tính hay làm hại chúng sanh, bằng tay, bằng gạch đá, bằng gậy, hoặc bằng dao. Do nghiệp ấy đã được thực hiện, đã được tích lũy như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nếu sau khi thân hoại mạng chung, người ấy không sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục, mà được sanh làm người, thì dù sanh ở đâu, người ấy cũng nhiều bệnh. Này thanh niên, con đường này dẫn đến nhiều bệnh, tức là: có tính hay làm hại chúng sanh, bằng tay, bằng gạch đá, bằng gậy, hoặc bằng dao.
Idha pana, māṇava, ekacco itthī vā puriso vā sattānaṁ aviheṭhakajātiko hoti pāṇinā vā leḍḍunā vā daṇḍena vā satthena vā. So tena kammena evaṁ samattena evaṁ samādinnena kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjati. No ce kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjati, sace manussattaṁ āgacchati yattha yattha paccājāyati appābādho hoti. Appābādhasaṁvattanikā esā, māṇava, paṭipadā yadidaṁ—sattānaṁ aviheṭhakajātiko hoti pāṇinā vā leḍḍunā vā daṇḍena vā satthena vā.
But take some woman or man who would never hurt living creatures with a fist, stone, rod, or sword. Because of undertaking such deeds, after death they’re reborn in a heavenly realm … or if they return to the human realm, they’re healthy …
Lại nữa, này thanh niên, ở đây có người đàn bà hay đàn ông nào đó có tính không làm hại chúng sanh, bằng tay, bằng gạch đá, bằng gậy, hoặc bằng dao. Do nghiệp ấy đã được thực hiện, đã được tích lũy như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào thiện thú, thiên giới. Nếu sau khi thân hoại mạng chung, người ấy không sanh vào thiện thú, thiên giới, mà được sanh làm người, thì dù sanh ở đâu, người ấy cũng ít bệnh. Này thanh niên, con đường này dẫn đến ít bệnh, tức là: có tính không làm hại chúng sanh, bằng tay, bằng gạch đá, bằng gậy, hoặc bằng dao.
Idha, māṇava, ekacco itthī vā puriso vā kodhano hoti upāyāsabahulo. Appampi vutto samāno abhisajjati kuppati byāpajjati patiṭṭhīyati kopañca dosañca appaccayañca pātukaroti. So tena kammena evaṁ samattena evaṁ samādinnena kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati. No ce kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati, sace manussattaṁ āgacchati yattha yattha paccājāyati dubbaṇṇo hoti. Dubbaṇṇasaṁvattanikā esā, māṇava, paṭipadā yadidaṁ—kodhano hoti upāyāsabahulo; appampi vutto samāno abhisajjati kuppati byāpajjati patiṭṭhīyati kopañca dosañca appaccayañca pātukaroti.
Take some woman or man who is irritable and bad-tempered. Even when lightly criticized they lose their temper, becoming annoyed, hostile, and hard-hearted, and displaying annoyance, hate, and bitterness. Because of undertaking such deeds, after death they’re reborn in a place of loss … or if they return to the human realm, they’re ugly …
292. Này thanh niên, ở đây có người đàn bà hay đàn ông nào đó hay phẫn nộ, nhiều phiền muộn; dù bị nói chút ít cũng tức giận, sân hận, làm hại, chống đối, và biểu lộ sự phẫn nộ, sân hận, và bất bình. Do nghiệp ấy đã được thực hiện, đã được tích lũy như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nếu sau khi thân hoại mạng chung, người ấy không sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục, mà được sanh làm người, thì dù sanh ở đâu, người ấy cũng xấu xí. Này thanh niên, con đường này dẫn đến xấu xí, tức là: hay phẫn nộ, nhiều phiền muộn; dù bị nói chút ít cũng tức giận, sân hận, làm hại, chống đối, và biểu lộ sự phẫn nộ, sân hận, và bất bình.
Idha pana, māṇava, ekacco itthī vā puriso vā akkodhano hoti anupāyāsabahulo; bahumpi vutto samāno nābhisajjati na kuppati na byāpajjati na patiṭṭhīyati na kopañca dosañca appaccayañca pātukaroti. So tena kammena evaṁ samattena evaṁ samādinnena kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjati. No ce kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjati, sace manussattaṁ āgacchati yattha yattha paccājāyati pāsādiko hoti. Pāsādikasaṁvattanikā esā, māṇava, paṭipadā yadidaṁ—akkodhano hoti anupāyāsabahulo; bahumpi vutto samāno nābhisajjati na kuppati na byāpajjati na patiṭṭhīyati na kopañca dosañca appaccayañca pātukaroti.
But take some woman or man who isn’t irritable and bad-tempered. Even when heavily criticized, they don’t lose their temper, become annoyed, hostile, and hard-hearted, or display annoyance, hate, and bitterness. Because of undertaking such deeds, after death they’re reborn in a heavenly realm … or if they return to the human realm, they’re lovely …
“Lại nữa, này chàng thanh niên, ở đời này, có người đàn bà hay đàn ông không phẫn nộ, không nhiều phiền muộn; dù bị nói nhiều lời khó chịu cũng không bám víu, không tức giận, không làm hại, không chống đối, không biểu lộ sự phẫn nộ, sự sân hận, và sự bất bình. Do nghiệp ấy đã được thực hiện và chấp nhận như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào cõi lành, thiên giới. Nếu sau khi thân hoại mạng chung, người ấy không sanh vào cõi lành, thiên giới, mà nếu trở lại làm người, sanh vào nơi nào, người ấy cũng có ngoại hình đáng mến. Này chàng thanh niên, đây là con đường đưa đến ngoại hình đáng mến, tức là: không phẫn nộ, không nhiều phiền muộn; dù bị nói nhiều lời khó chịu cũng không bám víu, không tức giận, không làm hại, không chống đối, không biểu lộ sự phẫn nộ, sự sân hận, và sự bất bình.”
Idha, māṇava, ekacco itthī vā puriso vā issāmanako hoti; paralābhasakkāragarukāramānanavandanapūjanāsu issati upadussati issaṁ bandhati. So tena kammena evaṁ samattena evaṁ samādinnena kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati. No ce kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati, sace manussattaṁ āgacchati yattha yattha paccājāyati appesakkho hoti. Appesakkhasaṁvattanikā esā, māṇava, paṭipadā yadidaṁ—issāmanako hoti; paralābhasakkāragarukāramānanavandanapūjanāsu issati upadussati issaṁ bandhati.
Take some woman or man who is jealous. They envy, resent, and begrudge the possessions, honor, respect, reverence, homage, and veneration given to others. Because of undertaking such deeds, after death they’re reborn in a place of loss … or if they return to the human realm, they’re insignificant …
293. “Này chàng thanh niên, ở đời này, có người đàn bà hay đàn ông có tâm tật đố; đối với lợi lộc, cung kính, tôn trọng, quý mến, đảnh lễ, cúng dường của người khác thì ganh tỵ, làm hại, và buộc chặt lòng ganh tỵ. Do nghiệp ấy đã được thực hiện và chấp nhận như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nếu sau khi thân hoại mạng chung, người ấy không sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục, mà nếu trở lại làm người, sanh vào nơi nào, người ấy cũng có ít uy thế. Này chàng thanh niên, đây là con đường đưa đến ít uy thế, tức là: có tâm tật đố; đối với lợi lộc, cung kính, tôn trọng, quý mến, đảnh lễ, cúng dường của người khác thì ganh tỵ, làm hại, và buộc chặt lòng ganh tỵ.”
Idha pana, māṇava, ekacco itthī vā puriso vā anissāmanako hoti; paralābhasakkāragarukāramānanavandanapūjanāsu na issati na upadussati na issaṁ bandhati. So tena kammena evaṁ samattena evaṁ samādinnena kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjati. No ce kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjati, sace manussattaṁ āgacchati yattha yattha paccājāyati mahesakkho hoti. Mahesakkhasaṁvattanikā esā, māṇava, paṭipadā yadidaṁ—anissāmanako hoti; paralābhasakkāragarukāramānanavandanapūjanāsu na issati na upadussati na issaṁ bandhati.
But take some woman or man who is not jealous … Because of undertaking such deeds, after death they’re reborn in a heavenly realm … or if they return to the human realm, they’re illustrious …
“Lại nữa, này chàng thanh niên, ở đời này, có người đàn bà hay đàn ông không có tâm tật đố; đối với lợi lộc, cung kính, tôn trọng, quý mến, đảnh lễ, cúng dường của người khác thì không ganh tỵ, không làm hại, không buộc chặt lòng ganh tỵ. Do nghiệp ấy đã được thực hiện và chấp nhận như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào cõi lành, thiên giới. Nếu sau khi thân hoại mạng chung, người ấy không sanh vào cõi lành, thiên giới, mà nếu trở lại làm người, sanh vào nơi nào, người ấy cũng có nhiều uy thế. Này chàng thanh niên, đây là con đường đưa đến nhiều uy thế, tức là: không có tâm tật đố; đối với lợi lộc, cung kính, tôn trọng, quý mến, đảnh lễ, cúng dường của người khác thì không ganh tỵ, không làm hại, không buộc chặt lòng ganh tỵ.”
Idha, māṇava, ekacco itthī vā puriso vā na dātā hoti samaṇassa vā brāhmaṇassa vā annaṁ pānaṁ vatthaṁ yānaṁ mālāgandhavilepanaṁ seyyāvasathapadīpeyyaṁ. So tena kammena evaṁ samattena evaṁ samādinnena kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati. No ce kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati, sace manussattaṁ āgacchati yattha yattha paccājāyati appabhogo hoti. Appabhogasaṁvattanikā esā, māṇava, paṭipadā yadidaṁ—na dātā hoti samaṇassa vā brāhmaṇassa vā annaṁ pānaṁ vatthaṁ yānaṁ mālāgandhavilepanaṁ seyyāvasathapadīpeyyaṁ.
Take some woman or man who doesn’t give to ascetics or brahmins such things as food, drink, clothing, vehicles; garlands, fragrance, and makeup; and bed, house, and lighting. Because of undertaking such deeds, after death they’re reborn in a place of loss … or if they return to the human realm, they’re poor …
294. “Này chàng thanh niên, ở đời này, có người đàn bà hay đàn ông không phải là người bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn các món: cơm, nước uống, vải, xe cộ, vòng hoa, hương thơm, vật thoa, giường nằm, trú xứ, đèn dầu. Do nghiệp ấy đã được thực hiện và chấp nhận như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nếu sau khi thân hoại mạng chung, người ấy không sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục, mà nếu trở lại làm người, sanh vào nơi nào, người ấy cũng có ít tài sản. Này chàng thanh niên, đây là con đường đưa đến ít tài sản, tức là: không phải là người bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn các món: cơm, nước uống, vải, xe cộ, vòng hoa, hương thơm, vật thoa, giường nằm, trú xứ, đèn dầu.”
Idha pana, māṇava, ekacco itthī vā puriso vā dātā hoti samaṇassa vā brāhmaṇassa vā annaṁ pānaṁ vatthaṁ yānaṁ mālāgandhavilepanaṁ seyyāvasathapadīpeyyaṁ. So tena kammena evaṁ samattena evaṁ samādinnena kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjati. No ce kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjati, sace manussattaṁ āgacchati yattha yattha paccājāyati mahābhogo hoti. Mahābhogasaṁvattanikā esā, māṇava, paṭipadā yadidaṁ—dātā hoti samaṇassa vā brāhmaṇassa vā annaṁ pānaṁ vatthaṁ yānaṁ mālāgandhavilepanaṁ seyyāvasathapadīpeyyaṁ.
But take some woman or man who does give to ascetics or brahmins … Because of undertaking such deeds, after death they’re reborn in a heavenly realm … or if they return to the human realm, they’re rich …
“Lại nữa, này chàng thanh niên, ở đời này, có người đàn bà hay đàn ông là người bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn các món: cơm, nước uống, vải, xe cộ, vòng hoa, hương thơm, vật thoa, giường nằm, trú xứ, đèn dầu. Do nghiệp ấy đã được thực hiện và chấp nhận như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào cõi lành, thiên giới. Nếu sau khi thân hoại mạng chung, người ấy không sanh vào cõi lành, thiên giới, mà nếu trở lại làm người, sanh vào nơi nào, người ấy cũng có nhiều tài sản. Này chàng thanh niên, đây là con đường đưa đến nhiều tài sản, tức là: là người bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn các món: cơm, nước uống, vải, xe cộ, vòng hoa, hương thơm, vật thoa, giường nằm, trú xứ, đèn dầu.”
Idha, māṇava, ekacco itthī vā puriso vā thaddho hoti atimānī—abhivādetabbaṁ na abhivādeti, paccuṭṭhātabbaṁ na paccuṭṭheti, āsanārahassa na āsanaṁ deti, maggārahassa na maggaṁ deti, sakkātabbaṁ na sakkaroti, garukātabbaṁ na garukaroti, mānetabbaṁ na māneti, pūjetabbaṁ na pūjeti. So tena kammena evaṁ samattena evaṁ samādinnena kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati. No ce kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati, sace manussattaṁ āgacchati yattha yattha paccājāyati nīcakulīno hoti. Nīcakulīnasaṁvattanikā esā, māṇava, paṭipadā yadidaṁ—thaddho hoti atimānī; abhivādetabbaṁ na abhivādeti, paccuṭṭhātabbaṁ na paccuṭṭheti, āsanārahassa na āsanaṁ deti, maggārahassa na maggaṁ deti, sakkātabbaṁ na sakkaroti, garukātabbaṁ na garukaroti, mānetabbaṁ na māneti, pūjetabbaṁ na pūjeti.
Take some woman or man who is obstinate and arrogant. They don’t bow to those they should bow to. They don’t rise up for them, offer them a seat, make way for them, or honor, respect, esteem, or venerate those who are worthy of such. Because of undertaking such deeds, after death they’re reborn in a place of loss … or if they return to the human realm, they’re reborn in a low class family …
295. “Này chàng thanh niên, ở đời này, có người đàn bà hay đàn ông cứng rắn, quá kiêu mạn – không đảnh lễ người đáng đảnh lễ, không đứng dậy đón người đáng đứng dậy đón, không nhường chỗ ngồi cho người đáng được nhường chỗ ngồi, không nhường đường cho người đáng được nhường đường, không cung kính người đáng được cung kính, không tôn trọng người đáng được tôn trọng, không quý mến người đáng được quý mến, không cúng dường người đáng được cúng dường. Do nghiệp ấy đã được thực hiện và chấp nhận như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nếu sau khi thân hoại mạng chung, người ấy không sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục, mà nếu trở lại làm người, sanh vào nơi nào, người ấy cũng thuộc dòng họ hạ tiện. Này chàng thanh niên, đây là con đường đưa đến dòng họ hạ tiện, tức là: cứng rắn, quá kiêu mạn; không đảnh lễ người đáng đảnh lễ, không đứng dậy đón người đáng đứng dậy đón, không nhường chỗ ngồi cho người đáng được nhường chỗ ngồi, không nhường đường cho người đáng được nhường đường, không cung kính người đáng được cung kính, không tôn trọng người đáng được tôn trọng, không quý mến người đáng được quý mến, không cúng dường người đáng được cúng dường.”
Idha pana, māṇava, ekacco itthī vā puriso vā atthaddho hoti anatimānī; abhivādetabbaṁ abhivādeti, paccuṭṭhātabbaṁ paccuṭṭheti, āsanārahassa āsanaṁ deti, maggārahassa maggaṁ deti, sakkātabbaṁ sakkaroti, garukātabbaṁ garukaroti, mānetabbaṁ māneti, pūjetabbaṁ pūjeti. So tena kammena evaṁ samattena evaṁ samādinnena kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjati. No ce kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjati, sace manussattaṁ āgacchati yattha yattha paccājāyati uccākulīno hoti. Uccākulīnasaṁvattanikā esā, māṇava, paṭipadā yadidaṁ—atthaddho hoti anatimānī; abhivādetabbaṁ abhivādeti, paccuṭṭhātabbaṁ paccuṭṭheti, āsanārahassa āsanaṁ deti, maggārahassa maggaṁ deti, sakkātabbaṁ sakkaroti, garukātabbaṁ garukaroti, mānetabbaṁ māneti, pūjetabbaṁ pūjeti.
But take some woman or man who is not obstinate and arrogant … Because of undertaking such deeds, after death they’re reborn in a heavenly realm … or if they return to the human realm, they’re reborn in an eminent family …
Lại nữa, này thanh niên, ở đây, có người nữ hay người nam không cứng ngắc, không quá kiêu mạn; đảnh lễ người đáng đảnh lễ, đứng dậy đón người đáng đứng dậy đón, nhường chỗ ngồi cho người đáng được nhường chỗ ngồi, nhường đường cho người đáng được nhường đường, tôn trọng người đáng tôn trọng, kính trọng người đáng kính trọng, quý trọng người đáng quý trọng, cúng dường người đáng cúng dường. Do nghiệp ấy đã được thực hiện và hoàn tất như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy được sanh vào cõi lành, thiên giới. Nếu sau khi thân hoại mạng chung, người ấy không sanh vào cõi lành, thiên giới, mà nếu được trở lại làm người, người ấy sanh vào bất cứ nơi đâu cũng thuộc dòng dõi cao quý. Này thanh niên, đây là con đường đưa đến dòng dõi cao quý, tức là: không cứng ngắc, không quá kiêu mạn; đảnh lễ người đáng đảnh lễ, đứng dậy đón người đáng đứng dậy đón, nhường chỗ ngồi cho người đáng được nhường chỗ ngồi, nhường đường cho người đáng được nhường đường, tôn trọng người đáng tôn trọng, kính trọng người đáng kính trọng, quý trọng người đáng quý trọng, cúng dường người đáng cúng dường.
Idha, māṇava, ekacco itthī vā puriso vā samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā upasaṅkamitvā na paripucchitā hoti: ‘kiṁ, bhante, kusalaṁ, kiṁ akusalaṁ; kiṁ sāvajjaṁ, kiṁ anavajjaṁ; kiṁ sevitabbaṁ, kiṁ na sevitabbaṁ; kiṁ me karīyamānaṁ dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya hoti, kiṁ vā pana me karīyamānaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya hotī’ti? So tena kammena evaṁ samattena evaṁ samādinnena kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati. No ce kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati, sace manussattaṁ āgacchati yattha yattha paccājāyati duppañño hoti. Duppaññasaṁvattanikā esā, māṇava, paṭipadā yadidaṁ—samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā upasaṅkamitvā na paripucchitā hoti: ‘kiṁ, bhante, kusalaṁ, kiṁ akusalaṁ; kiṁ sāvajjaṁ, kiṁ anavajjaṁ; kiṁ sevitabbaṁ, kiṁ na sevitabbaṁ; kiṁ me karīyamānaṁ dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya hoti, kiṁ vā pana me karīyamānaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya hotī’ti?
Take some woman or man who doesn’t approach an ascetic or brahmin to ask: ‘Sir, what is skillful and what is unskillful? What is blameworthy and what is blameless? What should be cultivated and what should not be cultivated? What kind of action will lead to my lasting harm and suffering? Or what kind of action will lead to my lasting welfare and happiness?’ Because of undertaking such deeds, after death they’re reborn in a place of loss … or if they return to the human realm, they’re witless …
296. Này thanh niên, ở đây, có người nữ hay người nam, sau khi đến gần Sa-môn hay Bà-la-môn, đã không hỏi rằng: ‘Thưa ngài, thế nào là thiện, thế nào là bất thiện? Thế nào là có tội, thế nào là không có tội? Thế nào là nên thực hành, thế nào là không nên thực hành? Việc gì con làm sẽ đưa đến bất hạnh, đau khổ lâu dài cho con? Hay việc gì con làm sẽ đưa đến hạnh phúc, an lạc lâu dài cho con?’ Do nghiệp ấy đã được thực hiện và hoàn tất như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nếu sau khi thân hoại mạng chung, người ấy không sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục, mà nếu được trở lại làm người, người ấy sanh vào bất cứ nơi đâu cũng là người kém trí tuệ. Này thanh niên, đây là con đường đưa đến kém trí tuệ, tức là: sau khi đến gần Sa-môn hay Bà-la-môn, đã không hỏi rằng: ‘Thưa ngài, thế nào là thiện, thế nào là bất thiện? Thế nào là có tội, thế nào là không có tội? Thế nào là nên thực hành, thế nào là không nên thực hành? Việc gì con làm sẽ đưa đến bất hạnh, đau khổ lâu dài cho con? Hay việc gì con làm sẽ đưa đến hạnh phúc, an lạc lâu dài cho con?’
Idha pana, māṇava, ekacco itthī vā puriso vā samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā upasaṅkamitvā paripucchitā hoti: ‘kiṁ, bhante, kusalaṁ, kiṁ akusalaṁ; kiṁ sāvajjaṁ, kiṁ anavajjaṁ; kiṁ sevitabbaṁ, kiṁ na sevitabbaṁ; kiṁ me karīyamānaṁ dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya hoti, kiṁ vā pana me karīyamānaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya hotī’ti? So tena kammena evaṁ samattena evaṁ samādinnena kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjati. No ce kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjati, sace manussattaṁ āgacchati yattha yattha paccājāyati mahāpañño hoti. Mahāpaññasaṁvattanikā esā, māṇava, paṭipadā yadidaṁ—samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā upasaṅkamitvā paripucchitā hoti: ‘kiṁ, bhante, kusalaṁ, kiṁ akusalaṁ; kiṁ sāvajjaṁ, kiṁ anavajjaṁ; kiṁ sevitabbaṁ, kiṁ na sevitabbaṁ; kiṁ me karīyamānaṁ dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya hoti, kiṁ vā pana me karīyamānaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya hotī’ti?
But take some woman or man who does approach an ascetic or brahmin to ask: ‘Sir, what is skillful and what is unskillful? What is blameworthy and what is blameless? What should be cultivated and what should not be cultivated? What kind of action will lead to my lasting harm and suffering? Or what kind of action will lead to my lasting welfare and happiness?’ Because of undertaking such deeds, when their body breaks up, after death, they’re reborn in a good place, a heavenly realm. If they’re not reborn in a heavenly realm, but return to the human realm, then wherever they’re reborn they’re very wise. For asking questions of ascetics or brahmins is the path leading to wisdom.
Lại nữa, này thanh niên, ở đây, có người nữ hay người nam, sau khi đến gần Sa-môn hay Bà-la-môn, đã hỏi rằng: ‘Thưa ngài, thế nào là thiện, thế nào là bất thiện? Thế nào là có tội, thế nào là không có tội? Thế nào là nên thực hành, thế nào là không nên thực hành? Việc gì con làm sẽ đưa đến bất hạnh, đau khổ lâu dài cho con? Hay việc gì con làm sẽ đưa đến hạnh phúc, an lạc lâu dài cho con?’ Do nghiệp ấy đã được thực hiện và hoàn tất như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy được sanh vào cõi lành, thiên giới. Nếu sau khi thân hoại mạng chung, người ấy không sanh vào cõi lành, thiên giới, mà nếu được trở lại làm người, người ấy sanh vào bất cứ nơi đâu cũng là người có trí tuệ lớn. Này thanh niên, đây là con đường đưa đến trí tuệ lớn, tức là: sau khi đến gần Sa-môn hay Bà-la-môn, đã hỏi rằng: ‘Thưa ngài, thế nào là thiện, thế nào là bất thiện? Thế nào là có tội, thế nào là không có tội? Thế nào là nên thực hành, thế nào là không nên thực hành? Việc gì con làm sẽ đưa đến bất hạnh, đau khổ lâu dài cho con? Hay việc gì con làm sẽ đưa đến hạnh phúc, an lạc lâu dài cho con?’
Iti kho, māṇava, appāyukasaṁvattanikā paṭipadā appāyukattaṁ upaneti, dīghāyukasaṁvattanikā paṭipadā dīghāyukattaṁ upaneti; bavhābādhasaṁvattanikā paṭipadā bavhābādhattaṁ upaneti, appābādhasaṁvattanikā paṭipadā appābādhattaṁ upaneti; dubbaṇṇasaṁvattanikā paṭipadā dubbaṇṇattaṁ upaneti, pāsādikasaṁvattanikā paṭipadā pāsādikattaṁ upaneti; appesakkhasaṁvattanikā paṭipadā appesakkhattaṁ upaneti, mahesakkhasaṁvattanikā paṭipadā mahesakkhattaṁ upaneti; appabhogasaṁvattanikā paṭipadā appabhogattaṁ upaneti, mahābhogasaṁvattanikā paṭipadā mahābhogattaṁ upaneti; nīcakulīnasaṁvattanikā paṭipadā nīcakulīnattaṁ upaneti, uccākulīnasaṁvattanikā paṭipadā uccākulīnattaṁ upaneti; duppaññasaṁvattanikā paṭipadā duppaññattaṁ upaneti, mahāpaññasaṁvattanikā paṭipadā mahāpaññattaṁ upaneti.
Kammassakā, māṇava, sattā kammadāyādā kammayonī kammabandhū kammappaṭisaraṇā. Kammaṁ satte vibhajati yadidaṁ—hīnappaṇītatāyā”ti.
So it is the way people live that makes them how they are, whether short-lived or long-lived, sickly or healthy, ugly or lovely, insignificant or illustrious, poor or rich, in a low class or eminent family, or witless or wise.
Sentient beings are the owners of their deeds and heir to their deeds. Deeds are their womb, their relative, and their refuge. It is deeds that divide beings into inferior and superior.”
297. Như vậy, này thanh niên, con đường đưa đến đoản thọ dẫn đến sự đoản thọ, con đường đưa đến trường thọ dẫn đến sự trường thọ; con đường đưa đến nhiều bệnh tật dẫn đến tình trạng nhiều bệnh tật, con đường đưa đến ít bệnh tật dẫn đến tình trạng ít bệnh tật; con đường đưa đến xấu xí dẫn đến sự xấu xí, con đường đưa đến xinh đẹp dẫn đến sự xinh đẹp; con đường đưa đến ít quyền thế dẫn đến tình trạng ít quyền thế, con đường đưa đến nhiều quyền thế dẫn đến tình trạng nhiều quyền thế; con đường đưa đến ít tài sản dẫn đến tình trạng ít tài sản, con đường đưa đến nhiều tài sản dẫn đến tình trạng nhiều tài sản; con đường đưa đến dòng dõi thấp hèn dẫn đến tình trạng dòng dõi thấp hèn, con đường đưa đến dòng dõi cao quý dẫn đến tình trạng dòng dõi cao quý; con đường đưa đến kém trí tuệ dẫn đến tình trạng kém trí tuệ, con đường đưa đến trí tuệ lớn dẫn đến tình trạng có trí tuệ lớn. Này thanh niên, chúng sanh là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, có nghiệp là thai tạng, có nghiệp là quyến thuộc, có nghiệp là nơi nương tựa. Nghiệp phân chia chúng sanh, nghĩa là, thành các hạng liệt và ưu.
Evaṁ vutte, subho māṇavo todeyyaputto bhagavantaṁ etadavoca: “abhikkantaṁ, bho gotama, abhikkantaṁ, bho gotama. Seyyathāpi, bho gotama, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhotā gotamena anekapariyāyena dhammo pakāsito. Esāhaṁ bhavantaṁ gotamaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca. Upāsakaṁ maṁ bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
When he had spoken, Subha said to him, “Excellent, worthy Gotama! Excellent! As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark so people with clear eyes can see what’s there, worthy Gotama has made the Teaching clear in many ways. I go for refuge to the worthy Gotama, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. From this day forth, may the worthy Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
Khi được nói như vậy, thanh niên Subha, con của Todeyya, bạch với Thế Tôn rằng: – “Thật vi diệu, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu, thưa Tôn giả Gotama! Thưa Tôn giả Gotama, cũng giống như người ta lật ngửa vật bị úp, phơi bày vật bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc, hay đem đèn dầu vào trong bóng tối để người có mắt có thể thấy các sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama trình bày bằng nhiều phương tiện. Con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y Tỳ khưu Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm cư sĩ, từ nay cho đến trọn đời đã quy y.”
Cūḷakammavibhaṅgasuttaṁ niṭṭhitaṁ pañcamaṁ.
Kinh Tiểu Phân Biệt Nghiệp, thứ năm, chấm dứt.