- Majjhima Nikāya 134
Lomasakaṅgiyabhaddekarattasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Lomasakaṅgiyabhaddekarattasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), tại tinh xá ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).
SC 2Lúc bấy giờ, Tôn giả Lomasakangiya trú ở giữa dòng họ Sakya (Thích-ca), tại Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ), ở tinh xá Nigrodha (Ni Câu Luật). Rồi Thiên tử Candana sau khi đêm vừa mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng cả vùng tinh xá Nigrodha, đi đến Tôn giả Lomasakangiya, sau khi đến liền đứng một bên. Ðứng một bên, Thiên tử Candana thưa với Tôn giả Lomasakangiya
SC 3—Này Tỷ-kheo, Ngài có thọ trì tổng thuyết và biệt thuyết về Nhứt Dạ Hiền Giả không?
SC 4—Này Hiền giả, tôi không thọ trì tổng thuyết và biệt thuyết về Nhứt Dạ Hiền Giả. Này Hiền giả, Hiền giả có thọ trì tổng thuyết và biệt thuyết về Nhứt Dạ Hiền Giả không?
SC 5—Này Tỷ-kheo, tôi cũng không thọ trì tổng thuyết và biệt thuyết về Nhứt Dạ Hiền Giả. Nhưng này Tỷ-kheo, Ngài có thọ trì bài kệ về Nhứt Dạ Hiền Giả không?
SC 6—Này Hiền giả, tôi không thọ trì bài kệ về Nhứt Dạ Hiền Giả. Này Hiền giả, Hiền giả có thọ trì bài kệ về Nhứt Dạ Hiền Giả không?
SC 7—Này Tỷ-kheo, tôi có thọ trì bài kệ về Nhứt Dạ Hiền Giả.
SC 8—Này Hiền giả, Hiền giả thọ trì như thế nào bài kệ về Nhứt Dạ Hiền Giả?
SC 9—Một thời, này Tỷ-kheo, Thế Tôn trú giữa chư Thiên Tam thập tam thiên, dưới cây Pārichattaka (Trú độ thọ), trên hòn đá Paṇḍukambala (Vô cấu bạch thạch). Tại đấy, Thế Tôn đọc lên tổng thuyết và biệt thuyết về Nhứt Dạ Hiền Giả cho chư Thiên ở Tam thập tam thiên:
SC 10Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng,
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ có pháp hiện tại,
Tuệ quán chính ở đây.
Không động, không rung chuyển,
Biết vậy nên tu tập
Hôm nay nhiệt tâm làm
Ai biết chết ngày mai?
Không ai điều đình được
Với đại quân thần chết,
Trú như vậy nhiệt tâm
Ðêm ngày không mệt mỏi,
Xứng gọi Nhứt dạ Hiền,
Bậc an tịnh, trầm lặng.
SC 11Này Tỷ-kheo, tôi thọ trì về bài kệ Nhứt Dạ Hiền Giả như vậy. Này Tỷ-kheo, hãy học tổng thuyết và biệt thuyết về Nhứt Dạ Hiền Giả. Này Tỷ-kheo, hãy học cho thuần thục tổng thuyết và biệt thuyết về Nhứt Dạ Hiền Giả. Này Tỷ-kheo, hãy thọ trì tổng thuyết và biệt thuyết về Nhứt Dạ Hiền Giả. Vì rằng này Tỷ-kheo, tổng thuyết và biệt thuyết về Nhứt Dạ Hiền Giả liên hệ đến mục đích, là căn bản của Phạm hạnh.
SC 12Rồi Tôn giả Lomasakangiya, sau khi đêm ấy đã mãn, dọn dẹp sàng tọa, lấy y áo và lên đường đi đến Sāvatthi. Tuần tự du hành, Tôn giả đi đến Sāvatthi, Jetavana, tinh xá ông Anāthapiṇḍika, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Lomasakangiya bạch Thế Tôn:
SC 13—Bạch Thế Tôn, một thời con trú giữa dòng họ Sakya, tại Kapilavatthu, tinh xá ông Anāthapiṇḍika. Rồi bạch Thế Tôn, một Thiên tử, sau khi đêm vừa mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng cả vùng tinh xá Nigrodha, đến con và đứng một bên. Ðứng một bên, bạch Thế Tôn, Thiên tử ấy thưa với con: “Này Tỷ-kheo, Ngài có thọ trì tổng thuyết và biệt thuyết về Nhứt Dạ Hiền Giả không?” Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con nói với Thiên tử ấy: “Này Hiền giả, tôi không thọ trì tổng thuyết và biệt thuyết về Nhứt Dạ Hiền Giả”. ” —Này Hiền giả, Hiền giả có thọ trì … là căn bản của Phạm hạnh.
SC 14Bạch Thế Tôn, Thiên tử ấy nói như vậy. Nói như vậy xong, vị ấy biến mất tại đấy. Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn giảng cho con tổng thuyết và biệt thuyết về bài kệ Nhứt Dạ Hiền Giả.
SC 15—Này Tỷ-kheo, Ông có biết Thiên tử ấy không? Bạch Thế Tôn, con không biết Thiên tử ấy.
SC 16—Này Tỷ-kheo, Thiên tử ấy tên là Candana. Này Tỷ-kheo, Candana là Thiên tử, sau khi chú tâm, sau khi tác ý, sau khi tập trung nội tâm, lóng tai nghe pháp. Vậy này Tỷ-kheo, hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói.
SC 17—Thưa vâng, bạch Thế Tôn, Tôn giả Lomasakangiya vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
SC 18Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng,
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ có pháp hiện tại,
Tuệ quán chính ở đây.
Không động, không rung chuyển,
Biết vậy nên tu tập
Hôm nay nhiệt tâm làm
Ai biết chết ngày mai?
Không ai điều đình được
Với đại quân thần chết,
Trú như vậy nhiệt tâm
Ðêm ngày không mệt mỏi,
Xứng gọi Nhứt dạ Hiền,
Bậc an tịnh, trầm lặng.
SC 19Và này Tỷ-kheo, thế nào là truy tìm quá khứ? Vị ấy nghĩ: “Như vậy là sắc của tôi trong quá khứ”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Như vậy là thọ của tôi trong quá khứ”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Như vậy là tưởng của tôi trong quá khứ”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Như vậy là hành của tôi trong quá khứ”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy, “Như vậy, là thức của tôi trong quá khứ”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này Tỷ-kheo, là truy tìm quá khứ.
SC 20Và này Tỷ-kheo, thế nào là không truy tìm quá khứ? Vị ấy nghĩ: “Như vậy là sắc của tôi trong quá khứ”, và không truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Như vậy là thọ của tôi trong quá khứ”, và không truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Như vậy là tưởng của tôi … Như vậy là hành của tôi … Như vậy là thức của tôi trong quá khứ”; và không truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này Tỷ-kheo, là không truy tìm quá khứ.
SC 21Và này Tỷ-kheo, thế nào ước vọng trong tương lai? Vị ấy nghĩ: “Mong rằng như vậy sẽ là sắc của tôi trong tương lai”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Mong rằng như vậy sẽ là thọ của tôi trong tương lai”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Mong rằng như vậy là tưởng của tôi … là hành của tôi … là thức của tôi trong tương lai”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này Tỷ-kheo, là ước vọng trong tương lai.
SC 22Và này Tỷ-kheo, thế nào là không ước vọng trong tương lai? Vị ấy nghĩ: “Mong rằng như vậy sẽ là sắc của tôi trong tương lai”, và không truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Mong rằng như vậy sẽ là thọ của tôi trong tương lai”, và không truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Mong rằng như vậy sẽ là tưởng … sẽ là hành … sẽ là thức của tôi trong tương lai, “và không truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này Tỷ-kheo, là không ước vọng trong tương lai.
SC 23Và này Tỷ-kheo, như thế nào là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại? Ở đây, này Tỷ-kheo, có kẻ vô văn phàm phu không đi đến các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh; không đi đến các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân; quán sắc là tự ngã, hay quán tự ngã là có sắc, hay quán sắc là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong sắc; hay vị ấy quán thọ là tự ngã, hay quán tự ngã là có thọ, hay quán thọ là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong thọ; hay vị ấy quán tưởng là tự ngã, hay quán tự ngã là có tưởng, hay vị ấy quán tưởng là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong tưởng; hay vị ấy quán hành là tự ngã, hay vị ấy quán tự ngã là có hành, hay vị ấy quán hành là trong tự ngã, hay vị ấy quán tự ngã là trong hành; hay vị ấy quán thức là tự ngã, hay quán tự ngã là có thức, hay quán thức là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong thức. Như vậy, này Tỷ-kheo, là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại.
SC 24Và này Tỷ-kheo, thế nào là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại? Ở đây, này Tỷ-kheo, có vị Ða văn Thánh đệ tử đi đến các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, đi đến các bậc Chân nhân, thuần thục pháp các bậc Chân nhân, tu tập pháp các bậc Chân nhân. Vị này không quán sắc là tự ngã, không quán tự ngã là có sắc, không quán sắc là trong tự ngã, không quán tự ngã trong sắc; không quán thọ … không quán tưởng … không quán hành … không quán thức là tự ngã, không quán tự ngã là có thức, không quán thức trong tự ngã, không quán tự ngã trong thức. Như vậy, này Tỷ-kheo, là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại.
SC 25Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng,
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ có pháp hiện tại,
Tuệ quán chính ở đây.
Không động, không rung chuyển,
Biết vậy nên tu tập
Hôm nay nhiệt tâm làm
Ai biết chết ngày mai?
Không ai điều đình được
Với đại quân thần chết,
Trú như vậy nhiệt tâm
Ðêm ngày không mệt mỏi,
Xứng gọi Nhứt dạ Hiền,
Bậc an tịnh, trầm lặng.
SC 26Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Lomasakangiya hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). 15–07–2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
4. Kinh Lomasakaṅgiya Bhaddekaratta
Tena kho pana samayena āyasmā lomasakaṅgiyo sakkesu viharati kapilavatthusmiṁ nigrodhārāme.
Atha kho candano devaputto abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇo kevalakappaṁ nigrodhārāmaṁ obhāsetvā yenāyasmā lomasakaṅgiyo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho candano devaputto āyasmantaṁ lomasakaṅgiyaṁ etadavoca:
“dhāresi tvaṁ, bhikkhu, bhaddekarattassa uddesañca vibhaṅgañcā”ti?
“Na kho ahaṁ, āvuso, dhāremi bhaddekarattassa uddesañca vibhaṅgañca. Tvaṁ panāvuso, dhāresi bhaddekarattassa uddesañca vibhaṅgañcā”ti?
“Ahampi kho, bhikkhu, na dhāremi bhaddekarattassa uddesañca vibhaṅgañca. Dhāresi pana tvaṁ, bhikkhu, bhaddekarattiyo gāthā”ti?
“Na kho ahaṁ, āvuso, dhāremi bhaddekarattiyo gāthā. Tvaṁ panāvuso, dhāresi bhaddekarattiyo gāthā”ti?
“Dhāremi kho ahaṁ, bhikkhu, bhaddekarattiyo gāthā”ti.
“Yathā kathaṁ pana tvaṁ, āvuso, dhāresi bhaddekarattiyo gāthā”ti?
“Ekamidaṁ, bhikkhu, samayaṁ bhagavā devesu tāvatiṁsesu viharati pāricchattakamūle paṇḍukambalasilāyaṁ. Tatra bhagavā devānaṁ tāvatiṁsānaṁ bhaddekarattassa uddesañca vibhaṅgañca abhāsi:
Now at that time Venerable Lomasakaṅgiya was staying in the Sakyan country at Kapilavatthu in the Banyan Tree Monastery.
Then, late at night, the glorious godling Candana, lighting up the entire Banyan Tree Monastery, went up to the Venerable Lomasakaṅgiya, and stood to one side. Standing to one side, he said to Lomasakaṅgiya:
“Mendicant, do you remember the summary recital and the analysis of the one who has one fine night?”
“No, reverend, I do not. Do you?”
“I also do not. But do you remember just the verses on the one who has one fine night?”
“I do not. Do you?”
“I do.”
“How do you remember the verses on the one who has one fine night?”
“This one time, the Buddha was staying among the gods of the thirty-three at the root of the Orchid Tree on the stone spread with a cream rug. There he taught the summary recital and the analysis of the one who has one fine night to the gods of the thirty-three:
286. Tôi nghe như vầy: Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi, tại Jetavana, trong khu vườn của Anāthapiṇḍika. Lúc bấy giờ, Tôn giả Lomasakaṅgiya đang ở tại Nigrodhārāma, ở Kapilavatthu, trong xứ của những người Sakka. Rồi thiên tử Candana, vào lúc đêm đã khuya, với dung sắc thù thắng, làm sáng rực toàn bộ Nigrodhārāma, đã đi đến Tôn giả Lomasakaṅgiya; sau khi đến, vị ấy đứng một bên. Đứng một bên, thiên tử Candana nói với Tôn giả Lomasakaṅgiya: ‘Này Tỳ khưu, ngài có ghi nhớ phần tóm tắt và phần giải rộng của kinh Nhất Dạ Hiền Giả không?’ ‘Này hiền giả, tôi không ghi nhớ phần tóm tắt và phần giải rộng của kinh Nhất Dạ Hiền Giả. Còn hiền giả, hiền giả có ghi nhớ phần tóm tắt và phần giải rộng của kinh Nhất Dạ Hiền Giả không?’ ‘Này Tỳ khưu, tôi cũng không ghi nhớ phần tóm tắt và phần giải rộng của kinh Nhất Dạ Hiền Giả. Nhưng này Tỳ khưu, ngài có ghi nhớ các bài kệ của kinh Nhất Dạ Hiền Giả không?’ ‘Này hiền giả, tôi không ghi nhớ các bài kệ của kinh Nhất Dạ Hiền Giả. Còn hiền giả, hiền giả có ghi nhớ các bài kệ của kinh Nhất Dạ Hiền Giả không?’ ‘Này Tỳ khưu, tôi có ghi nhớ các bài kệ của kinh Nhất Dạ Hiền Giả.’ ‘Vậy, này hiền giả, hiền giả ghi nhớ các bài kệ của kinh Nhất Dạ Hiền Giả như thế nào?’ ‘Này Tỳ khưu, có một thời, Thế Tôn đang ở tại cõi trời Tāvatiṃsa, dưới gốc cây Pāricchattaka, trên phiến đá Paṇḍukambala. Tại đó, Thế Tôn đã thuyết giảng cho các chư thiên Tāvatiṃsa về phần tóm tắt và phần giải rộng của kinh Nhất Dạ Hiền Giả:
‘Atītaṁ nānvāgameyya, nappaṭikaṅkhe anāgataṁ; Yadatītaṁ pahīnaṁ taṁ, appattañca anāgataṁ.
‘Don’t run back to the past, don’t anticipate the future. What’s past is left behind, the future has not arrived;
Không truy tìm quá khứ, không ước vọng tương lai. Quá khứ đã đoạn tận, tương lai lại chưa đến.
Paccuppannañca yo dhammaṁ, tattha tattha vipassati; Asaṁhīraṁ asaṅkuppaṁ, taṁ vidvā manubrūhaye.
and any present phenomenon you clearly discern in every case. The unfaltering, the unshakable: having known that, foster it.
Chỉ có pháp hiện tại, tuệ quán chính ở đây. Không động, không lay chuyển, biết vậy nên tu tập.
Ajjeva kiccamātappaṁ, ko jaññā maraṇaṁ suve; Na hi no saṅgaraṁ tena, mahāsenena maccunā.
Today’s the day to keenly work—who knows, tomorrow may bring death! For there is no bargain to be struck with Death and his mighty horde.
Hôm nay cần phải nỗ lực, ai biết được cái chết ngày mai? Vì chúng ta không có hẹn ước với tử thần, kẻ có đại quân kia.
Evaṁvihāriṁ ātāpiṁ, ahorattamatanditaṁ; Taṁ ve bhaddekarattoti, santo ācikkhate munī’ti.
One who keenly meditates like this, tireless all night and day: that’s who has one fine night—so declares the peaceful sage.’
Người sống như vậy, nhiệt tâm, không mệt mỏi ngày đêm, vị ấy thật sự được bậc Thánh nhân, bậc Mâu-ni tịch tịnh, gọi là người có một đêm an lành.
Evaṁ kho ahaṁ, bhikkhu, dhāremi bhaddekarattiyo gāthā. Uggaṇhāhi tvaṁ, bhikkhu, bhaddekarattassa uddesañca vibhaṅgañca; pariyāpuṇāhi tvaṁ, bhikkhu, bhaddekarattassa uddesañca vibhaṅgañca; dhārehi tvaṁ, bhikkhu, bhaddekarattassa uddesañca vibhaṅgañca. Atthasaṁhito, bhikkhu, bhaddekarattassa uddeso ca vibhaṅgo ca ādibrahmacariyako”ti.
Idamavoca candano devaputto. Idaṁ vatvā tatthevantaradhāyi.
That’s how I remember the verses of the one who has one fine night. Learn the summary recital and the analysis of the one who has one fine night, mendicant, memorize it, and remember it. It is beneficial and relevant to the fundamentals of the spiritual life.”
That is what the godling Candana said before vanishing right there.
‘Này Tỳ khưu, tôi ghi nhớ các bài kệ của kinh Nhất Dạ Hiền Giả như vậy đó. Này Tỳ khưu, ngài hãy học thuộc lòng phần tóm tắt và phần giải rộng của kinh Nhất Dạ Hiền Giả; này Tỳ khưu, ngài hãy nắm vững phần tóm tắt và phần giải rộng của kinh Nhất Dạ Hiền Giả; này Tỳ khưu, ngài hãy ghi nhớ phần tóm tắt và phần giải rộng của kinh Nhất Dạ Hiền Giả. Này Tỳ khưu, phần tóm tắt và phần giải rộng của kinh Nhất Dạ Hiền Giả liên hệ đến lợi ích, là khởi đầu của phạm hạnh.’ Thiên tử Candana đã nói như vậy. Nói xong, vị ấy biến mất ngay tại chỗ.
Atha kho āyasmā lomasakaṅgiyo tassā rattiyā accayena senāsanaṁ saṁsāmetvā pattacīvaramādāya yena sāvatthi tena cārikaṁ pakkāmi. Anupubbena cārikaṁ caramāno yena sāvatthi jetavanaṁ anāthapiṇḍikassa ārāmo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā lomasakaṅgiyo bhagavantaṁ etadavoca:
Then Lomasakaṅgiya set his lodgings in order and, taking his bowl and robe, set out for Sāvatthī. Eventually he came to Sāvatthī and Jeta’s Grove. He went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened. Then he added:
287. Rồi Tôn giả Lomasakaṅgiya, sau khi đêm ấy đã qua, dọn dẹp chỗ ở, cầm y bát, lên đường du hành đến Sāvatthi. Du hành tuần tự, ngài đi đến Sāvatthi, Jetavana, khu vườn của Anāthapiṇḍika, nơi Thế Tôn đang ở. Sau khi đến, ngài đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Lomasakaṅgiya bạch với Thế Tôn rằng:
“Ekamidāhaṁ, bhante, samayaṁ sakkesu viharāmi kapilavatthusmiṁ nigrodhārāme. Atha kho, bhante, aññataro devaputto abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇo kevalakappaṁ nigrodhārāmaṁ obhāsetvā yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho, bhante, so devaputto maṁ etadavoca: ‘dhāresi tvaṁ, bhikkhu, bhaddekarattassa uddesañca vibhaṅgañcā’ti? Evaṁ vutte, ahaṁ, bhante, taṁ devaputtaṁ etadavocaṁ: ‘na kho ahaṁ, āvuso, dhāremi bhaddekarattassa uddesañca vibhaṅgañca. Tvaṁ panāvuso, dhāresi bhaddekarattassa uddesañca vibhaṅgañcā’ti? ‘Ahampi kho, bhikkhu, na dhāremi bhaddekarattassa uddesañca vibhaṅgañca. Dhāresi pana tvaṁ, bhikkhu, bhaddekarattiyo gāthā’ti? ‘Na kho ahaṁ, āvuso, dhāremi bhaddekarattiyo gāthā. Tvaṁ panāvuso, dhāresi bhaddekarattiyo gāthā’ti? ‘Dhāremi kho ahaṁ, bhikkhu, bhaddekarattiyo gāthā’ti. ‘Yathā kathaṁ pana tvaṁ, āvuso, dhāresi bhaddekarattiyo gāthā’ti? ‘Ekamidaṁ, bhikkhu, samayaṁ bhagavā devesu tāvatiṁsesu viharati pāricchattakamūle paṇḍukambalasilāyaṁ. Tatra kho bhagavā devānaṁ tāvatiṁsānaṁ bhaddekarattassa uddesañca vibhaṅgañca abhāsi:
Bạch ngài, có một thời con đang trú tại xứ Sakka, trong tu viện Nigrodhārāma ở Kapilavatthu. Bạch ngài, khi ấy, vào lúc đêm đã gần tàn, có một vị thiên tử với dung sắc thù thắng, tỏa ánh sáng khắp toàn bộ tu viện Nigrodhārāma, đã đi đến chỗ con; sau khi đến, vị ấy đứng sang một bên. Bạch ngài, sau khi đứng sang một bên, vị thiên tử ấy đã nói với con điều này: ‘Này tỳ khưu, ngài có ghi nhớ phần tóm lược và phần phân tích của kinh Nhất Dạ Hiền Giả không?’ Bạch ngài, khi được nói vậy, con đã nói với vị thiên tử ấy điều này: ‘Này hiền hữu, tôi không ghi nhớ phần tóm lược và phần phân tích của kinh Nhất Dạ Hiền Giả. Còn hiền hữu, hiền hữu có ghi nhớ phần tóm lược và phần phân tích của kinh Nhất Dạ Hiền Giả không?’ ‘Này tỳ khưu, tôi cũng không ghi nhớ phần tóm lược và phần phân tích của kinh Nhất Dạ Hiền Giả. Nhưng này tỳ khưu, ngài có ghi nhớ các bài kệ của kinh Nhất Dạ Hiền Giả không?’ ‘Này hiền hữu, tôi không ghi nhớ các bài kệ của kinh Nhất Dạ Hiền Giả. Còn hiền hữu, hiền hữu có ghi nhớ các bài kệ của kinh Nhất Dạ Hiền Giả không?’ ‘Này tỳ khưu, tôi có ghi nhớ các bài kệ của kinh Nhất Dạ Hiền Giả.’ ‘Nhưng này hiền hữu, hiền hữu ghi nhớ các bài kệ của kinh Nhất Dạ Hiền Giả như thế nào?’ ‘Này tỳ khưu, có một thời, đức Thế Tôn đang trú tại cõi trời Ba Mươi Ba, dưới gốc cây Pāricchattaka, trên tảng đá Paṇḍukambala. Tại đó, đức Thế Tôn đã thuyết giảng cho các vị trời ở cõi Ba Mươi Ba về phần tóm lược và phần phân tích của kinh Nhất Dạ Hiền Giả –
“Atītaṁ nānvāgameyya, …pe… Taṁ ve bhaddekarattoti, santo ācikkhate munī”ti.
‘Không truy tìm quá khứ... ...v.v... Bậc Thánh, bậc Mâu-ni Tịch tịnh gọi người ấy là bậc Nhất Dạ Hiền Giả.’
Evaṁ kho ahaṁ, bhikkhu, dhāremi bhaddekarattiyo gāthā. Uggaṇhāhi tvaṁ, bhikkhu, bhaddekarattassa uddesañca vibhaṅgañca; pariyāpuṇāhi tvaṁ, bhikkhu, bhaddekarattassa uddesañca vibhaṅgañca; dhārehi tvaṁ, bhikkhu, bhaddekarattassa uddesañca vibhaṅgañca. Atthasaṁhito, bhikkhu, bhaddekarattassa uddeso ca vibhaṅgo ca ādibrahmacariyako’ti.
Idamavoca, bhante, so devaputto. Idaṁ vatvā tatthevantaradhāyi. Sādhu me, bhante, bhagavā bhaddekarattassa uddesañca vibhaṅgañca desetū”ti.
“Sir, please teach me the summary recital and the analysis of the one who has one fine night.”
‘Này tỳ khưu, tôi ghi nhớ các bài kệ của kinh Nhất Dạ Hiền Giả như vậy đó. Này tỳ khưu, ngài hãy học thuộc lòng phần tóm lược và phần phân tích của kinh Nhất Dạ Hiền Giả; này tỳ khưu, ngài hãy thông thạo phần tóm lược và phần phân tích của kinh Nhất Dạ Hiền Giả; này tỳ khưu, ngài hãy ghi nhớ phần tóm lược và phần phân tích của kinh Nhất Dạ Hiền Giả. Này tỳ khưu, phần tóm lược và phần phân tích của kinh Nhất Dạ Hiền Giả có liên quan đến lợi ích, là phần khởi đầu của phạm hạnh.’ Bạch ngài, vị thiên tử ấy đã nói điều này; sau khi nói điều này, vị ấy đã biến mất ngay tại chỗ. Bạch ngài, lành thay nếu đức Thế Tôn thuyết giảng cho con về phần tóm lược và phần phân tích của kinh Nhất Dạ Hiền Giả.
“Jānāsi pana tvaṁ, bhikkhu, taṁ devaputtan”ti?
“Na kho ahaṁ, bhante, jānāmi taṁ devaputtan”ti.
“Candano nāma so, bhikkhu, devaputto. Candano, bhikkhu, devaputto aṭṭhiṁ katvā manasikatvā sabbacetasā samannāharitvā ohitasoto dhammaṁ suṇāti. Tena hi, bhikkhu, suṇāhi, sādhukaṁ manasi karohi; bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā lomasakaṅgiyo bhagavato paccassosi. Bhagavā etadavoca:
“But mendicant, do you know that god?”
“I do not, sir.”
“That godling was named Candana. Candana pays attention, applies the mind, concentrates wholeheartedly, and actively listens to the teaching. Well then, mendicant, listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” Lomasakaṅgiya replied. The Buddha said this:
288. ‘Này tỳ khưu, ngài có biết vị thiên tử ấy không?’ ‘Bạch ngài, con không biết vị thiên tử ấy.’ ‘Này tỳ khưu, vị thiên tử ấy tên là Candana. Này tỳ khưu, thiên tử Candana lắng nghe Pháp với sự chú tâm, tác ý, tập trung toàn bộ tâm ý, và lắng tai nghe. Vậy thì, này tỳ khưu, hãy lắng nghe, hãy khéo tác ý; Ta sẽ giảng.’ ‘Vâng, bạch ngài,’ trưởng lão Lomasakaṅgiya đã vâng đáp đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn đã nói điều này:
“Atītaṁ nānvāgameyya, nappaṭikaṅkhe anāgataṁ; Yadatītaṁ pahīnaṁ taṁ, appattañca anāgataṁ.
“Don’t run back to the past, don’t anticipate the future. What’s past is left behind, the future has not arrived;
‘Không truy tìm quá khứ, không trông chờ tương lai; Cái gì quá khứ, đã được đoạn tận, cái gì tương lai, thì chưa đến.
Paccuppannañca yo dhammaṁ, tattha tattha vipassati; Asaṁhīraṁ asaṅkuppaṁ, taṁ vidvā manubrūhaye.
and any present phenomenon you clearly discern in every case. The unfaltering, the unshakable: having known that, foster it.
Và pháp nào hiện tại, ở nơi này nơi kia, người ấy tuệ quán; Không bị lôi cuốn, không bị lay động, bậc trí nên phát triển điều ấy.
Ajjeva kiccamātappaṁ, ko jaññā maraṇaṁ suve; Na hi no saṅgaraṁ tena, mahāsenena maccunā.
Today’s the day to keenly work—who knows, tomorrow may bring death! For there is no bargain to be struck with Death and his mighty horde.
Hôm nay cần phải nỗ lực, ai biết ngày mai sẽ chết; Vì chúng ta không có thỏa thuận nào với tử thần và đại quân của nó;
Evaṁvihāriṁ ātāpiṁ, ahorattamatanditaṁ; Taṁ ve bhaddekarattoti, santo ācikkhate muni.
One who keenly meditates like this, tireless all night and day: that’s who has one fine night—so declares the peaceful sage.
Người sống như vậy, nhiệt tâm, không mệt mỏi ngày đêm; Bậc Thánh, bậc Mâu-ni Tịch tịnh gọi người ấy là bậc Nhất Dạ Hiền Giả.’
Kathañca, bhikkhu, atītaṁ anvāgameti …pe…
evaṁ kho, bhikkhu, atītaṁ anvāgameti.
Kathañca, bhikkhu, atītaṁ nānvāgameti …pe…
evaṁ kho, bhikkhu, atītaṁ nānvāgameti.
Kathañca, bhikkhu, anāgataṁ paṭikaṅkhati …pe…
evaṁ kho, bhikkhu, anāgataṁ paṭikaṅkhati.
Kathañca, bhikkhu, anāgataṁ nappaṭikaṅkhati …pe…
evaṁ kho, bhikkhu, anāgataṁ nappaṭikaṅkhati.
Kathañca, bhikkhu, paccuppannesu dhammesu saṁhīrati …pe…
evaṁ kho, bhikkhu, paccuppannesu dhammesu saṁhīrati.
Kathañca, bhikkhu, paccuppannesu dhammesu na saṁhīrati …pe…
evaṁ kho, bhikkhu, paccuppannesu dhammesu na saṁhīrati.
And how do you run back to the past? …”
‘Và này tỳ khưu, thế nào là truy tìm quá khứ? ...v.v... Này tỳ khưu, như vậy là truy tìm quá khứ. Và này tỳ khưu, thế nào là không truy tìm quá khứ? ...v.v... Này tỳ khưu, như vậy là không truy tìm quá khứ. Và này tỳ khưu, thế nào là trông chờ tương lai? ...v.v... Này tỳ khưu, như vậy là trông chờ tương lai. Và này tỳ khưu, thế nào là không trông chờ tương lai? ...v.v... Này tỳ khưu, như vậy là không trông chờ tương lai. Và này tỳ khưu, thế nào là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại? ...v.v... Này tỳ khưu, như vậy là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại. Và này tỳ khưu, thế nào là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại? ...v.v... Này tỳ khưu, như vậy là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại.
Atītaṁ nānvāgameyya, nappaṭikaṅkhe anāgataṁ; Yadatītaṁ pahīnaṁ taṁ, appattañca anāgataṁ.
Không truy tìm quá khứ, không trông chờ tương lai; Cái gì quá khứ, đã được đoạn tận, cái gì tương lai, thì chưa đến.
Paccuppannañca yo dhammaṁ, tattha tattha vipassati; Asaṁhīraṁ asaṅkuppaṁ, taṁ vidvā manubrūhaye.
Và pháp nào hiện tại, ở nơi này nơi kia, người ấy tuệ quán; Không bị lôi cuốn, không bị lay động, bậc trí nên phát triển điều ấy.
Ajjeva kiccamātappaṁ, ko jaññā maraṇaṁ suve; Na hi no saṅgaraṁ tena, mahāsenena maccunā.
Hôm nay cần phải nỗ lực, ai biết ngày mai sẽ chết; Vì chúng ta không có thỏa thuận nào với tử thần và đại quân của nó.
Evaṁvihāriṁ ātāpiṁ, ahorattamatanditaṁ; Taṁ ve bhaddekarattoti, santo ācikkhate munī”ti.
Người sống như vậy, nhiệt tâm, không mệt mỏi ngày đêm; Bậc Thánh, bậc Mâu-ni Tịch tịnh gọi người ấy là bậc Nhất Dạ Hiền Giả.’
Idamavoca bhagavā. Attamano āyasmā lomasakaṅgiyo bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
That is what the Buddha said. Satisfied, Venerable Lomasakaṅgiya approved what the Buddha said.
Đức Thế Tôn đã nói điều này. Trưởng lão Lomasakaṅgiya hoan hỷ, tín thọ lời dạy của đức Thế Tôn.
Lomasakaṅgiyabhaddekarattasuttaṁ niṭṭhitaṁ catutthaṁ.
Kinh Nhất Dạ Hiền Giả Lomasakaṅgiya, bài kinh thứ tư, kết thúc.