- Majjhima Nikāya 133
Mahākaccānabhaddekarattasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Mahākaccānabhaddekarattasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Rājagaha (Vương Xá), tại Tinh xá Tapoda.
SC 2Lúc bấy giờ, Tôn giả Samiddhi, thức dậy vừa lúc bình minh đi đến Tapoda để tắm rửa tay chân. Tắm rửa tay chân ở Tapoda xong, sau khi lên khỏi nước, vị ấy đứng mặc một y để tay chân cho khô. Rồi sau khi đêm vừa mãn, một Thiên thần, chói sáng với dung sắc thù thắng cả vùng Tapoda, đi đến Tôn giả Samiddhi, sau khi đến, liền đứng một bên. Ðứng một bên, Thiên Thần ấy thưa Tôn giả Samiddhi
SC 3—Này Tỷ-kheo, Ngài có thọ trì tổng thuyết và biệt thuyết về Nhứt Dạ Hiền Giả không?
SC 4—Này Hiền giả, tôi không có thọ trì tổng thuyết và biệt thuyết về Nhứt Dạ Hiền Giả. Nhưng này Hiền giả, Hiền giả có thọ trì tổng thuyết và biệt thuyết về Nhứt Dạ Hiền Giả không?
SC 5—Này Tỷ-kheo, tôi cũng không có thọ trì tổng thuyết và biệt thuyết về Nhứt Dạ Hiền Giả. Nhưng này Tỷ-kheo, Ngài có thọ trì bài kệ về Nhứt Dạ Hiền Giả không?
SC 6—Này Hiền giả, tôi không có thọ trì bài kệ về Nhứt Dạ Hiền Giả. Nhưng này Hiền giả, Hiền giả có thọ trì bài kệ về Nhứt Dạ Hiền Giả không?
SC 7—Này Tỷ-kheo, tôi không có thọ trì bài kệ về Nhứt Dạ Hiền Giả. Này Tỷ-kheo, hãy học tổng thuyết và biệt thuyết về Nhứt Dạ Hiền Giả. Này Tỷ-kheo, hãy học cho thuần thục tổng thuyết và biệt thuyết về Nhứt Dạ Hiền Giả. Này Tỷ-kheo, hãy thọ trì tổng thuyết và biệt thuyết về Nhứt Dạ Hiền Giả. Vì rằng, này Tỷ-kheo, tổng thuyết và biệt thuyết về Nhứt Dạ Hiền Giả là liên hệ đến mục đích và căn bản của Phạm hạnh.
SC 8Thiên thần ấy nói như vậy. Sau khi nói vậy, vị ấy biến mất ở đấy. Rồi Tôn giả Samiddhi sau khi đêm ấy đã mãn, liền đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Samiddhi bạch Thế Tôn:
SC 9—Ở đây, bạch Thế Tôn, con thức dậy vừa lúc bình mình đi đến Tapoda để tắm rửa tay chân. Tắm rửa tay chân ở Tapoda xong, sau khi lên khỏi nước, con đứng mặc một y để tay chân cho khô. Rồi bạch Thế Tôn, sau khi đêm vừa mãn, một Thiên thần, chói sáng với dung sắc thù thắng cả vùng Tapoda, … và là căn bản Phạm hạnh”. Thiên thần ấy nói như vậy. Sau khi nói như vậy, vị ấy biến mất ở đấy. Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn thuyết giảng cho tổng thuyết và biệt thuyết về Nhứt Dạ Hiền Giả!
SC 10—Vậy này Tỷ-kheo, hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói.
SC 11—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 12Tôn giả Samiddhi vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
SC 13Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng,
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ có pháp hiện tại,
Tuệ quán chính ở đây.
Không động, không rung chuyển,
Biết vậy nên tu tập
Hôm nay nhiệt tâm làm
Ai biết chết ngày mai?
Không ai điều đình được
Với đại quân thần chết,
Trú như vậy nhiệt tâm
Ðêm ngày không mệt mỏi,
Xứng gọi Nhứt dạ Hiền,
Bậc an tịnh, trầm lặng.
SC 14Thế Tôn nói như vậy. Sau khi nói như vậy, Thiện Thệ từ chỗ ngồi đứng dậy và đi vào tinh xá,
SC 15Rồi các Tỷ-kheo ấy, sau khi Thế Tôn đi không bao lâu, liền suy nghĩ: “Này chư Hiền, Thế Tôn sau khi thuyết giảng phần tổng thuyết một cách vắn tắt cho chúng ta, không giải nghĩa một cách rộng rãi, từ chỗ ngồi đứng dậy và đi vào tinh xá:
SC 16Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng,
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ có pháp hiện tại,
Tuệ quán chính ở đây.
Không động, không rung chuyển,
Biết vậy nên tu tập
Hôm nay nhiệt tâm làm
Ai biết chết ngày mai?
Không ai điều đình được
Với đại quân thần chết,
Trú như vậy nhiệt tâm
Ðêm ngày không mệt mỏi,
Xứng gọi Nhứt dạ Hiền,
Bậc an tịnh, trầm lặng.
SC 17Nay không biết ai có thể giải nghĩa một cách rộng rãi tổng thuyết này, phần này chỉ được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt, không được giải nghĩa một cách rộng rãi”.
SC 18Rồi các Tỷ-kheo ấy suy nghĩ như sau: “Tôn giả Mahākaccāna (Ðại Ca-chiên-diên) này đã được Thế Tôn tán thán và được các đồng Phạm hạnh có trí kính trọng; Tôn giả Mahākaccāna có thể giải nghĩa một cách rộng rãi tổng thuyết này, phần này chỉ được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt, không giải nghĩa một cách rộng rãi. Vậy chúng ta hãy đến Tôn giả Mahākaccāna, sau khi đến chúng ta hãy hỏi Tôn giả Mahākaccāna về ý nghĩa này”.
SC 19Rồi các Tỷ-kheo ấy đi đến Tôn giả Mahākaccāna, sau khi đến nói lên với Tôn giả Mahākaccāna những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy thưa với Tôn giả Mahākaccāna:
SC 20—Thưa Hiền giả Kaccāna, Thế Tôn sau khi đọc tổng thuyết này, không giải nghĩa một cách rộng rãi, từ chỗ ngồi đứng dậy và đi vào tinh xá:
SC 21Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng,
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ có pháp hiện tại,
Tuệ quán chính ở đây.
Không động, không rung chuyển,
Biết vậy nên tu tập
Hôm nay nhiệt tâm làm
Ai biết chết ngày mai?
Không ai điều đình được
Với đại quân thần chết,
Trú như vậy nhiệt tâm
Ðêm ngày không mệt mỏi,
Xứng gọi Nhứt dạ Hiền,
Bậc an tịnh, trầm lặng.
SC 22Nay không biết ai có thể giải nghĩa một cách rộng rãi tổng thuyết này, phần này chỉ được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt, không được giải nghĩa một cách rộng rãi. Rồi này Hiền giả Kaccāna, chúng tôi suy nghĩ như sau: “Tôn giả Mahākaccāna này đã được Thế Tôn tán thán … chúng ta hãy hỏi Tôn giả Mahākaccāna về ý nghĩa này”. Tôn giả Mahākaccāna hãy giải thích cho.
SC 23—Này chư Hiền, ví như một người cần thiết lõi cây, tìm cầu lõi cây, đang đi tìm cầu lõi cây, đứng trước một cây lớn có lõi cây. Người ấy bỏ rễ, bỏ thân cây, nghĩ rằng lõi cây cần phải tìm trong các nhánh cây, lá cây. Cũng vậy, là việc làm của chư Tôn giả … Chư Tôn giả đứng trước mặt Thế Tôn, chư Tôn giả lại vượt qua Thế Tôn, và nghĩ rằng cần phải hỏi tôi về ý nghĩa này. Nhưng này chư Hiền, Thế Tôn biết những gì cần biết, thấy những gì cần thấy, bậc có mắt, bậc Trí giả, bậc Pháp giả, bậc Phạm thiên, bậc Thuyết giả, bậc Tuyên thuyết giả, bậc dẫn đến mục đích, bậc đem cho bất tử, bậc Pháp chủ, bậc Như Lai. Nay đã đến thời, chư Hiền hãy đến hỏi Thế Tôn về ý nghĩa này. Thế Tôn giải thích cho chư Hiền như thế nào, chư Hiền hãy như vậy thọ trì.
SC 24—Thưa Hiền giả Kaccāna, chắc chắn Thế Tôn biết những gì cần biết, thấy những gì cần thấy, bậc có mắt, bậc Trí giả, bậc Pháp giả, bậc Phạm thiên, bậc Thuyết giả, bậc Tuyên thuyết giả, bậc dẫn đến mục đích, bậc đem cho bất tử, bậc Pháp chủ, bậc Như Lai. Nay đã đến thời chúng tôi đến hỏi Thế Tôn về ý nghĩa này. Thế Tôn giải thích cho chúng tôi như thế nào, chúng tôi sẽ như vậy thọ trì. Nhưng Tôn giả Mahākaccāna được Thế Tôn tán thán, được các vị đồng Phạm hạnh kính trọng. Tôn giả Mahākaccāna có thể giải thích một cách rộng rãi tổng thuyết này, phần này chỉ được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt, không được giải nghĩa một cách rộng rãi. Mong Tôn giả Mahākaccāna giải thích cho nếu Tôn giả không cảm thấy phiền phức.
SC 25—Vậy chư hiền, hãy nghe và suy nghiệm kỹ, tôi sẽ nói.
—Thưa vâng, Hiền giả.
SC 26Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Mahākaccāna. Tôn giả Mahākaccāna nói như sau:
SC 27—Này Hiền giả, phần tổng thuyết Thế Tôn đọc lên một cách vắn tắt, không giải nghĩa một cách rộng rãi, từ chỗ ngồi đứng dậy và đã đi vào trong tinh xá:
SC 28Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng,
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ có pháp hiện tại,
Tuệ quán chính ở đây.
Không động, không rung chuyển,
Biết vậy nên tu tập
Hôm nay nhiệt tâm làm
Ai biết chết ngày mai?
Không ai điều đình được
Với đại quân thần chết,
Trú như vậy nhiệt tâm
Ðêm ngày không mệt mỏi,
Xứng gọi Nhứt dạ Hiền,
Bậc an tịnh, trầm lặng.
SC 29Về phần tổng thuyết này chỉ được Thế Tôn đọc lên một cách vắn tắt, không được giải nghĩa một cách rộng rãi, này chư Hiền, tôi hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như sau:
SC 30Này chư Hiền, thế nào là truy tìm quá khứ? “Mắt của tôi trong thời quá khứ là như vậy, các sắc pháp là như vậy”, và thức ở đây bị dục và ái trói chặt. Vì thức bị dục và ái trói chặt, vị ấy hân hoan trong ấy. Vì hân hoan trong ấy, vị ấy truy tìm quá khứ. “Tai của tôi trong quá khứ là như vậy, các tiếng là như vậy” … “Mũi của tôi trong quá khứ là như vậy, các hương là như vậy” … “Lưỡi của tôi trong quá khứ là như vậy, các vị là như vậy” … “Thân của tôi trong quá khứ là như vậy, các xúc là như vậy” … “Ý của tôi trong quá khứ là như vậy, các pháp là như vậy”, và thức ở đây, bị dục và ái trói chặt. Vì rằng thức bị dục và ái trói chặt, vị ấy hân hoan trong ấy. Vì hân hoan trong ấy, vị ấy truy tìm quá khứ.
SC 31Và này chư Hiền, thế nào là không truy tìm quá khứ? “Mắt của tôi trong thời quá khứ là như vậy, các sắc pháp là như vậy”, và thức ở đây không bị dục và ái trói chặt. Vì thức không bị dục và ái trói chặt, vị ấy không hân hoan trong ấy. Vì không hân hoan trong ấy, vị ấy không truy tìm quá khứ. “Tai của tôi trong quá khứ là như vậy, các tiếng là như vậy”, … “Mũi của tôi trong quá khứ là như vậy, các hương là như vậy”, … “Lưỡi của tôi trong quá khứ là như vậy, các vị là như vậy”, … “Thân của tôi trong quá khứ là như vậy, các xúc là như vậy”, … “Ý của tôi trong quá khứ là như vậy, các pháp là như vậy”, và thức ở đây không bị dục và ái trói chặt. Vì thức không bị dục và ái trói chặt, vị ấy không hân hoan trong ấy. Vì không hân hoan trong ấy, vị ấy không truy tìm quá khứ. Như vậy, này chư Hiền, là không truy tìm quá khứ.
SC 32Và này chư Hiền, thế nào là ước vọng tương lai? “Mong rằng mắt của tôi trong tương lai sẽ là như vậy, các sắc pháp là như vậy”, và vị ấy hướng tâm lấy cho được cái gì chưa được. Vì duyên hướng tâm như vậy, vị ấy hân hoan trong ấy. Do hân hoan trong ấy, vị ấy ước vọng tương lai. “Mong rằng tai của tôi trong tương lai sẽ là như vậy, các tiếng là như vậy”, … “Mong rằng mũi của tôi trong tương lai sẽ là như vậy, các hương là như vậy”, … “Mong rằng lưỡi của tôi trong tương lai sẽ là như vậy, các vị là như vậy”, … “Mong rằng thân của tôi trong tương lai sẽ là như vậy, các xúc là như vậy”, … “Mong rằng ý của tôi trong tương lai sẽ là như vậy, các pháp là như vậy”, và vị ấy hướng tâm lấy cho được cái gì chưa được. Vì duyên hướng tâm như vậy, vị ấy hân hoan trong ấy. Do hân hoan trong ấy, vị ấy ước vọng tương lai. Như vậy, này chư Hiền, là ước vọng tương lai.
SC 33Và này chư Hiền, thế nào là không ước vọng tương lai? “Mong rằng mắt của tôi trong tương lai sẽ là như vậy, các sắc pháp là như vậy”, vị ấy không hướng tâm lấy cho được cái gì chưa được. Do duyên không hướng tâm, vị ấy không hân hoan trong ấy, vị ấy không có ước vọng tương lai. “Mong rằng tai của tôi trong tương lai sẽ là như vậy, các tiếng là như vậy”, … “Mong rằng mũi của tôi trong tương lai sẽ là như vậy, các hương là như vậy”, … “Mong rằng lưỡi của tôi trong tương lai sẽ là như vậy, các vị là như vậy”, … “Mong rằng thân của tôi trong tương lai sẽ là như vậy, các xúc là như vậy”, … “Mong rằng ý của tôi trong tương lai sẽ là như vậy, các pháp là như vậy”, vị ấy không hướng tâm lấy cho được cái gì chưa được. Do duyên không hướng tâm, vị ấy không hân hoan trong ấy. Do không hân hoan trong ấy, vị ấy không có ước vọng tương lai. Như vậy, này chư Hiền, là không ước vọng tương lai.
SC 34Và này chư Hiền, thế nào là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại? Này chư Hiền, nếu mắt và các sắc pháp, cả hai đều có mặt trong hiện tại này, và thức của vị ấy bị dục và ái trói chặt cũng trong hiện tại này. Vì thức của vị ấy bị dục và ái trói chặt, vị ấy hân hoan trong ấy. Do hân hoan trong ấy, vị ấy bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại. Này chư Hiền, nếu tai và các tiếng … nếu mũi và các hương … nếu lưỡi và các vị … nếu thân và các xúc … Này chư Hiền nếu ý và các pháp, cả hai đều có mặt trong hiện tại này, và thức của vị ấy bị dục và ái trói chặt cũng trong hiện tại này. Vì thức của vị ấy bị dục và ái trói chặt, vị ấy hân hoan trong ấy. Do hân hoan trong ấy, vị ấy bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại. Như vậy, này chư Hiền, là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại.
SC 35Và này chư Hiền, thế nào là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại? Này chư Hiền, nếu mắt và các sắc pháp, cả hai đều có mặt trong hiện tại này, và thức của vị ấy không bị dục và ái trói chặt cũng trong hiện tại này. Vì thức của vị ấy không bị dục và ái trói chặt, vị ấy không hân hoan trong ấy. Do không hân hoan trong ấy, vị ấy không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại. Này chư Hiền, nếu tai và các tiếng … Này chư Hiền, nếu mũi và các hương … Này chư Hiền, nếu lưỡi và các vị … Này chư Hiền, nếu thân và các xúc … Này chư Hiền, nếu ý và các pháp, cả hai đều có mặt trong hiện tại này, và thức của vị ấy không bị dục và ái trói chặt cũng trong hiện tại này. Vì thức của vị ấy không bị dục và ái trói chặt, vị ấy không hân hoan trong ấy. Do không hân hoan trong ấy, vị ấy không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại. Như vậy, này chư Hiền là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại.
SC 36Này chư Hiền, phần tổng thuyết Thế Tôn đọc lên một cách vắn tắt, không giải nghĩa một cách rộng rãi, từ chỗ ngồi đứng dậy và đã đi vào trong tinh xá:
SC 37Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng,
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ có pháp hiện tại,
Tuệ quán chính ở đây.
Không động, không rung chuyển,
Biết vậy nên tu tập
Hôm nay nhiệt tâm làm
Ai biết chết ngày mai?
Không ai điều đình được
Với đại quân thần chết,
Trú như vậy nhiệt tâm
Ðêm ngày không mệt mỏi,
Xứng gọi Nhứt dạ Hiền,
Bậc an tịnh, trầm lặng.
SC 38Phần tổng thuyết này, này chư Hiền, được Thế Tôn đọc lên một cách vắn tắt, không được giải nghĩa một cách rộng rãi; này chư Hiền, tôi hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy. Và nếu chư Tôn giả muốn, hãy đi đến Thế Tôn và hỏi ý nghĩa này. Thế Tôn giải thích các Tôn giả như thế nào, hãy như vậy thọ trì.
SC 39Rồi các Tỷ-kheo ấy, sau khi hoan hỷ tín thọ lời Tôn giả Mahākaccāna giảng, từ chỗ ngồi đứng dậy đi đến Thế Tôn; sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
SC 40—Bạch Thế Tôn, Thế Tôn sau khi đọc phần tổng thuyết một cách vắn tắt cho chúng con, không giải nghĩa một cách rộng rãi, từ chỗ ngồi đứng dậy, và đi vào tinh xá:
SC 41Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng,
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ có pháp hiện tại,
Tuệ quán chính ở đây.
Không động, không rung chuyển,
Biết vậy nên tu tập
Hôm nay nhiệt tâm làm
Ai biết chết ngày mai?
Không ai điều đình được
Với đại quân thần chết,
Trú như vậy nhiệt tâm
Ðêm ngày không mệt mỏi,
Xứng gọi Nhứt dạ Hiền,
Bậc an tịnh, trầm lặng.
SC 42Bạch Thế Tôn, sau khi Thế Tôn đi không bao lâu, chúng con suy nghĩ như sau: “Thế Tôn sau khi đọc phần tổng thuyết một cách vắn tắt cho chúng con, không giải nghĩa một cách rộng rãi, và đã đi vào tinh xá:
SC 43Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng,
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ có pháp hiện tại,
Tuệ quán chính ở đây.
Không động, không rung chuyển,
Biết vậy nên tu tập
Hôm nay nhiệt tâm làm
Ai biết chết ngày mai?
Không ai điều đình được
Với đại quân thần chết,
Trú như vậy nhiệt tâm
Ðêm ngày không mệt mỏi,
Xứng gọi Nhứt dạ Hiền,
Bậc an tịnh, trầm lặng.
SC 44Nay không biết ai có thể giải nghĩa một cách rộng rãi tổng thuyết này, phần này chỉ được Thế Tôn đọc lên một cách vắn tắt, không được giải nghĩa một cách rộng rãi”.
SC 45Rồi bạch Thế Tôn, chúng con suy nghĩ như sau: “Tôn giả Mahākaccāna (Ðại Ca chiên diên) này … chúng ta hãy hỏi Tôn giả Mahākaccāna về ý nghĩa này. “Rồi bạch Thế Tôn, chúng con đi đến Tôn giả Mahākaccāna, sau khi đến chúng con hỏi Tôn giả Mahākaccāna về ý nghĩa này. Ý nghĩa của những chữ ấy đã được Tôn giả Mahākaccāna giải thích cho chúng con với những phương pháp này, các những câu này, với những chữ này.
SC 46—Này các Tỷ-kheo, Mahākaccāna là bậc Hiền trí. Này các Tỷ-kheo, Mahākaccāna là bậc Ðại trí tuệ. Này các Tỷ-kheo, nếu các Ông hỏi Ta về ý nghĩa này, Ta cũng giải thích cho các Ông như vậy, như Mahākaccāna đã giải thích. Thật sự ý nghĩa ấy là vậy, và các Ông hãy thọ trì như vậy.
SC 47Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). 15-07-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
3. Kinh Nhất Dạ Hiền Giả do Mahākaccāna thuyết
Atha kho āyasmā samiddhi rattiyā paccūsasamayaṁ paccuṭṭhāya yena tapodo tenupasaṅkami gattāni parisiñcituṁ. Tapode gattāni parisiñcitvā paccuttaritvā ekacīvaro aṭṭhāsi gattāni pubbāpayamāno.
Atha kho aññatarā devatā abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṁ tapodaṁ obhāsetvā yenāyasmā samiddhi tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhitā kho sā devatā āyasmantaṁ samiddhiṁ etadavoca:
“dhāresi tvaṁ, bhikkhu, bhaddekarattassa uddesañca vibhaṅgañcā”ti?
“Na kho ahaṁ, āvuso, dhāremi bhaddekarattassa uddesañca vibhaṅgañca. Tvaṁ panāvuso, dhāresi bhaddekarattassa uddesañca vibhaṅgañcā”ti?
“Ahampi kho, bhikkhu, na dhāremi bhaddekarattassa uddesañca vibhaṅgañca. Dhāresi pana tvaṁ, bhikkhu, bhaddekarattiyo gāthā”ti?
“Na kho ahaṁ, āvuso, dhāremi bhaddekarattiyo gāthāti. Tvaṁ panāvuso, dhāresi bhaddekarattiyo gāthā”ti?
“Ahampi kho, bhikkhu na dhāremi bhaddekarattiyo gāthāti. Uggaṇhāhi tvaṁ, bhikkhu, bhaddekarattassa uddesañca vibhaṅgañca; pariyāpuṇāhi tvaṁ, bhikkhu, bhaddekarattassa uddesañca vibhaṅgañca; dhārehi tvaṁ, bhikkhu, bhaddekarattassa uddesañca vibhaṅgañca. Atthasaṁhito, bhikkhu, bhaddekarattassa uddeso ca vibhaṅgo ca ādibrahmacariyako”ti.
Idamavoca sā devatā. Idaṁ vatvā tatthevantaradhāyi.
Then Venerable Samiddhi rose at the crack of dawn and went to the hot springs to bathe. When he had bathed and emerged from the water he stood in one robe drying his limbs.
Then, late at night, a glorious deity, lighting up the entire hot springs, went up to Samiddhi, stood to one side, and said to Samiddhi:
“Mendicant, do you remember the summary recital and the analysis of the one who has one fine night?”
“No, reverend, I do not. Do you?”
“I also do not. But do you remember just the verses on the one who has one fine night?”
“I do not. Do you?”
“I also do not. Learn the summary recital and the analysis of the one who has one fine night, mendicant, memorize it, and remember it. It is beneficial and relevant to the fundamentals of the spiritual life.”
That is what that deity said, before vanishing right there.
279. Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở Rājagaha, tại Tapodārāma. Lúc bấy giờ, Tôn giả Samiddhi, vào lúc rạng đông, sau khi thức dậy, đã đi đến suối nước nóng để tắm. Sau khi tắm ở suối nước nóng, ngài lên bờ, chỉ mặc một y, đứng hong khô thân mình. Lúc bấy giờ, một vị thiên nhân, khi đêm đã gần tàn, với dung sắc thù thắng, làm sáng rực cả vùng Tapodā, đã đi đến chỗ Tôn giả Samiddhi; sau khi đến, vị ấy đứng một bên. Đứng một bên, vị thiên nhân ấy nói với Tôn giả Samiddhi: 'Này Tỳ khưu, ngài có ghi nhớ đề cương và phân tích của kinh Nhất Dạ Hiền Giả không?' 'Này hiền hữu, tôi không ghi nhớ đề cương và phân tích của kinh Nhất Dạ Hiền Giả. Còn hiền hữu, hiền hữu có ghi nhớ đề cương và phân tích của kinh Nhất Dạ Hiền Giả không?' 'Này Tỳ khưu, tôi cũng không ghi nhớ đề cương và phân tích của kinh Nhất Dạ Hiền Giả. Nhưng này Tỳ khưu, ngài có ghi nhớ các kệ頌 của kinh Nhất Dạ Hiền Giả không?' 'Này hiền hữu, tôi không ghi nhớ các kệ頌 của kinh Nhất Dạ Hiền Giả. Còn hiền hữu, hiền hữu có ghi nhớ các kệ頌 của kinh Nhất Dạ Hiền Giả không?' 'Này Tỳ khưu, tôi cũng không ghi nhớ các kệ頌 của kinh Nhất Dạ Hiền Giả. Này Tỳ khưu, ngài hãy học thuộc đề cương và phân tích của kinh Nhất Dạ Hiền Giả; này Tỳ khưu, ngài hãy tụng đọc đề cương và phân tích của kinh Nhất Dạ Hiền Giả; này Tỳ khưu, ngài hãy ghi nhớ đề cương và phân tích của kinh Nhất Dạ Hiền Giả. Này Tỳ khưu, đề cương và phân tích của kinh Nhất Dạ Hiền Giả có liên quan đến lợi ích, là khởi đầu của phạm hạnh.' Vị thiên nhân ấy nói như vậy; sau khi nói xong, liền biến mất tại chỗ.
Atha kho āyasmā samiddhi tassā rattiyā accayena yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā samiddhi bhagavantaṁ etadavoca:
Then, when the night had passed, Samiddhi went to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened. Then he added:
280. Lúc bấy giờ, Tôn giả Samiddhi, sau khi đêm ấy đã qua, đã đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Samiddhi bạch với Thế Tôn như sau –
“Idhāhaṁ, bhante, rattiyā paccūsasamayaṁ paccuṭṭhāya yena tapodo tenupasaṅkamiṁ gattāni parisiñcituṁ. Tapode gattāni parisiñcitvā paccuttaritvā ekacīvaro aṭṭhāsiṁ gattāni pubbāpayamāno. Atha kho bhante, aññatarā devatā abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṁ tapodaṁ obhāsetvā yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhitā kho sā devatā maṁ etadavoca: ‘dhāresi tvaṁ, bhikkhu, bhaddekarattassa uddesañca vibhaṅgañcā’ti?
“Bạch Thế Tôn, tại đây, vào lúc rạng đông, con thức dậy và đi đến hồ Tapodā để tắm rửa thân thể. Sau khi tắm rửa thân thể ở hồ Tapodā, con lên bờ, chỉ đắp một y, đứng làm khô thân thể. Rồi, bạch Thế Tôn, khi đêm đã gần tàn, một vị thiên nhân với dung sắc thù thắng, chiếu sáng toàn bộ hồ Tapodā, đã đi đến chỗ con; sau khi đến, vị ấy đứng một bên. Vị thiên nhân ấy, sau khi đứng một bên, đã nói với con điều này: ‘Này Tỳ-khưu, ngài có ghi nhớ đề cương và phần giải rộng của kinh Nhất Dạ Hiền Giả không?’”
Evaṁ vutte, ahaṁ, bhante, taṁ devataṁ etadavocaṁ: ‘na kho ahaṁ, āvuso, dhāremi bhaddekarattassa uddesañca vibhaṅgañca. Tvaṁ panāvuso, dhāresi bhaddekarattassa uddesañca vibhaṅgañcā’ti? ‘Ahampi kho, bhikkhu, na dhāremi bhaddekarattassa uddesañca vibhaṅgañca. Dhāresi pana tvaṁ, bhikkhu, bhaddekarattiyo gāthā’ti? ‘Na kho ahaṁ, āvuso, dhāremi bhaddekarattiyo gāthāti. Tvaṁ panāvuso, dhāresi bhaddekarattiyo gāthā’ti? ‘Ahampi kho, bhikkhu, na dhāremi bhaddekarattiyo gāthāti. Uggaṇhāhi tvaṁ, bhikkhu, bhaddekarattassa uddesañca vibhaṅgañca; pariyāpuṇāhi tvaṁ, bhikkhu, bhaddekarattassa uddesañca vibhaṅgañca; dhārehi tvaṁ, bhikkhu, bhaddekarattassa uddesañca vibhaṅgañca. Atthasaṁhito, bhikkhu, bhaddekarattassa uddeso ca vibhaṅgo ca ādibrahmacariyako’ti.
Idamavoca, bhante, sā devatā. Idaṁ vatvā tatthevantaradhāyi. Sādhu me, bhante, bhagavā bhaddekarattassa uddesañca vibhaṅgañca desetū”ti.
“Tena hi, bhikkhu, suṇāhi, sādhukaṁ manasi karohi; bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā samiddhi bhagavato paccassosi. Bhagavā etadavoca:
“Sir, please teach me the summary recital and the analysis of the one who has one fine night.”
“Well then, mendicant, listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” Samiddhi replied. The Buddha said this:
“Bạch Thế Tôn, khi được nói vậy, con đã nói với vị thiên nhân ấy rằng: ‘Này hiền giả, tôi không ghi nhớ đề cương và phần giải rộng của kinh Nhất Dạ Hiền Giả. Còn hiền giả, hiền giả có ghi nhớ đề cương và phần giải rộng của kinh Nhất Dạ Hiền Giả không?’ ‘Này Tỳ-khưu, tôi cũng không ghi nhớ đề cương và phần giải rộng của kinh Nhất Dạ Hiền Giả. Vậy, này Tỳ-khưu, ngài có ghi nhớ các kệ của kinh Nhất Dạ Hiền Giả không?’ ‘Này hiền giả, tôi không ghi nhớ các kệ của kinh Nhất Dạ Hiền Giả. Còn hiền giả, hiền giả có ghi nhớ các kệ của kinh Nhất Dạ Hiền Giả không?’ ‘Này Tỳ-khưu, tôi cũng không ghi nhớ các kệ của kinh Nhất Dạ Hiền Giả. Này Tỳ-khưu, ngài hãy học thuộc đề cương và phần giải rộng của kinh Nhất Dạ Hiền Giả; này Tỳ-khưu, ngài hãy thông suốt đề cương và phần giải rộng của kinh Nhất Dạ Hiền Giả; này Tỳ-khưu, ngài hãy ghi nhớ đề cương và phần giải rộng của kinh Nhất Dạ Hiền Giả. Này Tỳ-khưu, đề cương và phần giải rộng của kinh Nhất Dạ Hiền Giả liên quan đến lợi ích, là khởi đầu của phạm hạnh.’ Bạch Thế Tôn, vị thiên nhân ấy đã nói điều này; sau khi nói xong, vị ấy biến mất ngay tại đó. Lành thay, bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy thuyết giảng cho con đề cương và phần giải rộng của kinh Nhất Dạ Hiền Giả.” “Vậy thì, này Tỳ-khưu, hãy lắng nghe, hãy khéo tác ý, Ta sẽ nói.” “Vâng, bạch Thế Tôn,” Tôn giả Samiddhi đã vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn đã nói điều này:
“Atītaṁ nānvāgameyya, nappaṭikaṅkhe anāgataṁ; Yadatītaṁ pahīnaṁ taṁ, appattañca anāgataṁ.
“Don’t run back to the past, don’t anticipate the future. What’s past is left behind, the future has not arrived;
“Đừng truy tìm quá khứ, đừng mong đợi tương lai. Cái gì đã qua thì đã đoạn tận, và tương lai thì chưa đến.
Paccuppannañca yo dhammaṁ, tattha tattha vipassati; Asaṁhīraṁ asaṅkuppaṁ, taṁ vidvā manubrūhaye.
and any present phenomenon you clearly discern in every case. The unfaltering, the unshakable: having known that, foster it.
“Ai thấy rõ pháp hiện tại, ở ngay tại đó, không lay động, không đổi dời, bậc trí nên phát triển điều ấy.
Ajjeva kiccamātappaṁ, ko jaññā maraṇaṁ suve; Na hi no saṅgaraṁ tena, mahāsenena maccunā.
Today’s the day to keenly work—who knows, tomorrow may bring death! For there is no bargain to be struck with Death and his mighty horde.
“Hôm nay phải tinh tấn làm, ai biết cái chết ngày mai? Vì chúng ta không có sự thỏa thuận nào với thần chết có đại quân kia.
Evaṁvihāriṁ ātāpiṁ, ahorattamatanditaṁ; Taṁ ve bhaddekarattoti, santo ācikkhate munī”ti.
One who keenly meditates like this, tireless all night and day: that’s who has one fine night—so declares the peaceful sage.”
“Người sống như vậy, tinh cần, không mệt mỏi ngày đêm, bậc Thánh, bậc Mâu-ni gọi người ấy là bậc Nhất Dạ Hiền Giả.”
Idamavoca bhagavā; idaṁ vatvāna sugato uṭṭhāyāsanā vihāraṁ pāvisi.
Atha kho tesaṁ bhikkhūnaṁ, acirapakkantassa bhagavato, etadahosi: “idaṁ kho no, āvuso, bhagavā saṅkhittena uddesaṁ uddisitvā vitthārena atthaṁ avibhajitvā uṭṭhāyāsanā vihāraṁ paviṭṭho:
That is what the Buddha said. When he had spoken, the Holy One rose from his seat and entered his dwelling.
Soon after the Buddha left, those mendicants considered, “The Buddha gave this brief summary recital, then entered his dwelling without explaining the meaning in detail. …
Thế Tôn đã nói điều này; sau khi nói điều này, Thiện Thệ đứng dậy từ chỗ ngồi và đi vào tịnh xá. Bấy giờ, không lâu sau khi Thế Tôn rời đi, các Tỳ-khưu ấy đã có suy nghĩ này: “Này chư hiền, Thế Tôn đã nêu lên đề cương này cho chúng ta một cách tóm tắt, không giải thích ý nghĩa một cách rộng rãi, rồi đứng dậy từ chỗ ngồi và đi vào tịnh xá –
‘Atītaṁ nānvāgameyya, nappaṭikaṅkhe anāgataṁ; Yadatītaṁ pahīnaṁ taṁ, appattañca anāgataṁ.
“Đừng truy tìm quá khứ, đừng mong đợi tương lai. Cái gì đã qua thì đã đoạn tận, và tương lai thì chưa đến.
Paccuppannañca yo dhammaṁ, tattha tattha vipassati; Asaṁhīraṁ asaṅkuppaṁ, taṁ vidvā manubrūhaye.
“Ai thấy rõ pháp hiện tại, ở ngay tại đó, không lay động, không đổi dời, bậc trí nên phát triển điều ấy.
Ajjeva kiccamātappaṁ, ko jaññā maraṇaṁ suve; Na hi no saṅgaraṁ tena, mahāsenena maccunā.
“Hôm nay phải tinh tấn làm, ai biết cái chết ngày mai? Vì chúng ta không có sự thỏa thuận nào với thần chết có đại quân kia.
Evaṁvihāriṁ ātāpiṁ, ahorattamatanditaṁ; Taṁ ve bhaddekarattoti, santo ācikkhate munī’ti.
“Người sống như vậy, tinh cần, không mệt mỏi ngày đêm, bậc Thánh, bậc Mâu-ni gọi người ấy là bậc Nhất Dạ Hiền Giả.”
Ko nu kho imassa bhagavatā saṅkhittena uddesassa uddiṭṭhassa vitthārena atthaṁ avibhattassa vitthārena atthaṁ vibhajeyyā”ti?
Who can explain in detail the meaning of this brief summary given by the Buddha?”
“Ai có thể giải thích rộng rãi ý nghĩa của đề cương này, đã được Thế Tôn nêu lên một cách tóm tắt mà không giải thích rộng rãi ý nghĩa đây?”
Atha kho tesaṁ bhikkhūnaṁ etadahosi:
“ayaṁ kho āyasmā mahākaccāno satthu ceva saṁvaṇṇito sambhāvito ca viññūnaṁ sabrahmacārīnaṁ; pahoti cāyasmā mahākaccāno imassa bhagavatā saṅkhittena uddesassa uddiṭṭhassa vitthārena atthaṁ avibhattassa vitthārena atthaṁ vibhajituṁ. Yannūna mayaṁ yenāyasmā mahākaccāno tenupasaṅkameyyāma; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ mahākaccānaṁ etamatthaṁ paṭipuccheyyāmā”ti.
Then those mendicants thought:
“This Venerable Mahākaccāna is praised by the Buddha and esteemed by his sensible spiritual companions. He is capable of explaining in detail the meaning of this brief summary recital given by the Buddha. Let’s go to him, and ask him about this matter.”
Bấy giờ, các Tỳ-khưu ấy có suy nghĩ này: “Tôn giả Mahākaccāno này được Bậc Đạo Sư tán thán và được các vị đồng phạm hạnh có trí tôn trọng; Tôn giả Mahākaccāno có khả năng giải thích rộng rãi ý nghĩa của đề cương này, đã được Thế Tôn nêu lên một cách tóm tắt mà không giải thích rộng rãi ý nghĩa. Thật tốt nếu chúng ta đến gặp Tôn giả Mahākaccāno; sau khi đến, chúng ta sẽ hỏi Tôn giả Mahākaccāno về ý nghĩa này.”
Atha kho te bhikkhū yenāyasmā mahākaccāno tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā āyasmatā mahākaccānena saddhiṁ sammodiṁsu. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū āyasmantaṁ mahākaccānaṁ etadavocuṁ: “idaṁ kho no, āvuso kaccāna, bhagavā saṅkhittena uddesaṁ uddisitvā vitthārena atthaṁ avibhajitvā uṭṭhāyāsanā vihāraṁ paviṭṭho:
Then those mendicants went to Mahākaccāna, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, they sat down to one side. They told him what had happened, and said:
281. Bấy giờ, các Tỳ-khưu ấy đã đi đến chỗ Tôn giả Mahākaccāno; sau khi đến, họ đã cùng Tôn giả Mahākaccāno trao đổi những lời chào hỏi thân mật. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi đáng ghi nhớ, họ ngồi xuống một bên. Các Tỳ-khưu ấy, sau khi ngồi xuống một bên, đã nói với Tôn giả Mahākaccāno điều này: “Này hiền giả Kaccāna, Thế Tôn đã nêu lên đề cương này cho chúng tôi một cách tóm tắt, không giải thích ý nghĩa một cách rộng rãi, rồi đứng dậy từ chỗ ngồi và đi vào tịnh xá –
‘Atītaṁ nānvāgameyya, …pe… Taṁ ve bhaddekarattoti, santo ācikkhate munī’ti.
‘Không nén truy tìm quá khứ... (v.v...)... Quả thật là bậc Nhất Dạ Hiền Giả, bậc Thánh tịch tĩnh, bậc Mâu-ni tuyén bố như vậy.’
Tesaṁ no, āvuso kaccāna, amhākaṁ, acirapakkantassa bhagavato, etadahosi—idaṁ kho no, āvuso, bhagavā saṅkhittena uddesaṁ uddisitvā vitthārena atthaṁ avibhajitvā uṭṭhāyāsanā vihāraṁ paviṭṭho:
“Này hiền giả Kaccāna, không lâu sau khi Thế Tôn rời đi, chúng tôi đã có suy nghĩ này: ‘Này chư hiền, Thế Tôn đã nêu lên đề cương này cho chúng tôi một cách tóm tắt, không giải thích ý nghĩa một cách rộng rãi, rồi đứng dậy từ chỗ ngồi và đi vào tịnh xá –
‘Atītaṁ nānvāgameyya, …pe… Taṁ ve bhaddekarattoti, santo ācikkhate munī’ti.
“Đừng truy tìm quá khứ... Bậc Thánh, bậc Mâu-ni gọi người ấy là bậc Nhất Dạ Hiền Giả.”
Ko nu kho imassa bhagavatā saṅkhittena uddesassa uddiṭṭhassa vitthārena atthaṁ avibhattassa vitthārena atthaṁ vibhajeyyāti? Tesaṁ no, āvuso kaccāna, amhākaṁ etadahosi: ‘ayaṁ kho āyasmā mahākaccāno satthu ceva saṁvaṇṇito sambhāvito ca viññūnaṁ sabrahmacārīnaṁ. Pahoti cāyasmā mahākaccāno imassa bhagavatā saṅkhittena uddesassa uddiṭṭhassa vitthārena atthaṁ avibhattassa vitthārena atthaṁ vibhajituṁ. Yannūna mayaṁ yenāyasmā mahākaccāno tenupasaṅkameyyāma; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ mahākaccānaṁ etamatthaṁ paṭipuccheyyāmā’ti. Vibhajatāyasmā mahākaccāno”ti.
“May Venerable Mahākaccāna please explain this.”
‘Ai có thể phân tích rộng rãi ý nghĩa của lời chỉ dạy vắn tắt này đã được Đức Thế Tôn nêu lên, mà ý nghĩa chưa được phân tích rộng rãi?’ Này hiền giả Kaccāna, chúng tôi đã khởi lên ý nghĩ như sau: ‘Vị Tôn giả Mahākaccāna này được chính Bậc Đạo Sư tán thán và được các vị đồng phạm hạnh có trí tôn trọng. Tôn giả Mahākaccāna có khả năng phân tích rộng rãi ý nghĩa của lời chỉ dạy vắn tắt này đã được Đức Thế Tôn nêu lên, mà ý nghĩa chưa được phân tích rộng rãi. Hay là chúng ta hãy đi đến chỗ Tôn giả Mahākaccāna; sau khi đến, chúng ta sẽ hỏi Tôn giả Mahākaccāna về ý nghĩa này’. Mong Tôn giả Mahākaccāna hãy phân tích.
“Seyyathāpi, āvuso, puriso sāratthiko sāragavesī sārapariyesanaṁ caramāno mahato rukkhassa tiṭṭhato sāravato atikkammeva mūlaṁ atikkamma khandhaṁ sākhāpalāse sāraṁ pariyesitabbaṁ maññeyya; evaṁsampadamidaṁ āyasmantānaṁ satthari sammukhībhūte taṁ bhagavantaṁ atisitvā amhe etamatthaṁ paṭipucchitabbaṁ maññatha. So hāvuso, bhagavā jānaṁ jānāti, passaṁ passati, cakkhubhūto ñāṇabhūto dhammabhūto brahmabhūto vattā pavattā atthassa ninnetā amatassa dātā dhammassāmī tathāgato. So ceva panetassa kālo ahosi yaṁ bhagavantaṁyeva etamatthaṁ paṭipuccheyyātha, yathā vo bhagavā byākareyya tathā naṁ dhāreyyāthā”ti.
“Reverends, suppose there was a person in need of heartwood. And while wandering in search of heartwood he’d come across a large tree standing with heartwood. But he’d pass over the roots and trunk, imagining that the heartwood should be sought in the branches and leaves. Such is the consequence for the venerables. Though you were face to face with the Buddha, you bypassed him, imagining that you should ask me about this matter. For he is the Buddha, the one who knows and sees. He is vision, he is knowledge, he is the manifestation of principle, he is the manifestation of divinity. He is the preacher, the proclaimer, the elucidator of meaning, the bestower of freedom from death, the lord of truth, the Realized One. That was the time to approach the Buddha and ask about this matter. You should have remembered it in line with the Buddha’s answer.”
Này chư hiền, ví như một người cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, trong khi đi tìm lõi cây, lại đi qua gốc, đi qua thân của một cây lớn có lõi cây đang đứng sừng sững, và nghĩ rằng nên tìm lõi cây ở cành lá. Sự việc này cũng tương tự như vậy đối với các Tôn giả, khi Bậc Đạo Sư đang hiện diện trước mặt, các ngài lại bỏ qua Đức Thế Tôn ấy và nghĩ rằng nên hỏi chúng tôi về ý nghĩa này. Này chư hiền, Đức Thế Tôn ấy, vị biết những gì cần biết, thấy những gì cần thấy, là con mắt, là trí tuệ, là Pháp, là Phạm thiên, là người nói ra, là người làm cho phát sanh, là người dẫn đến ý nghĩa, là người ban cho sự bất tử, là Pháp chủ, là Như Lai. Đó chính là lúc mà các ngài nên hỏi chính Đức Thế Tôn về ý nghĩa này. Đức Thế Tôn giải thích cho các ngài như thế nào, các ngài nên ghi nhớ như thế ấy.
“Addhāvuso kaccāna, bhagavā jānaṁ jānāti, passaṁ passati, cakkhubhūto ñāṇabhūto dhammabhūto brahmabhūto vattā pavattā atthassa ninnetā amatassa dātā dhammassāmī tathāgato. So ceva panetassa kālo ahosi yaṁ bhagavantaṁyeva etamatthaṁ paṭipuccheyyāma; yathā no bhagavā byākareyya tathā naṁ dhāreyyāma. Api cāyasmā mahākaccāno satthu ceva saṁvaṇṇito sambhāvito ca viññūnaṁ sabrahmacārīnaṁ; pahoti cāyasmā mahākaccāno imassa bhagavatā saṅkhittena uddesassa uddiṭṭhassa vitthārena atthaṁ avibhattassa vitthārena atthaṁ vibhajituṁ. Vibhajatāyasmā mahākaccāno agaruṁ karitvā”ti.
“Certainly he is the Buddha, the one who knows and sees. He is vision, he is knowledge, he is the manifestation of principle, he is the manifestation of divinity. He is the preacher, the proclaimer, the elucidator of meaning, the bestower of freedom from death, the lord of truth, the Realized One. That was the time to approach the Buddha and ask about this matter. We should have remembered it in line with the Buddha’s answer. Still, Venerable Mahākaccāna is praised by the Buddha and esteemed by his sensible spiritual companions. He is capable of explaining in detail the meaning of this brief summary recital given by the Buddha. Please explain this, if it’s no trouble.”
Thật vậy, thưa hiền giả Kaccāna, Đức Thế Tôn biết những gì cần biết, thấy những gì cần thấy, là con mắt, là trí tuệ, là Pháp, là Phạm thiên, là người nói ra, là người làm cho phát sanh, là người dẫn đến ý nghĩa, là người ban cho sự bất tử, là Pháp chủ, là Như Lai. Đó chính là lúc mà chúng tôi nên hỏi chính Đức Thế Tôn về ý nghĩa này; Đức Thế Tôn giải thích cho chúng tôi như thế nào, chúng tôi sẽ ghi nhớ như thế ấy. Hơn nữa, Tôn giả Mahākaccāna được chính Bậc Đạo Sư tán thán và được các vị đồng phạm hạnh có trí tôn trọng; và Tôn giả Mahākaccāna có khả năng phân tích rộng rãi ý nghĩa của lời chỉ dạy vắn tắt này đã được Đức Thế Tôn nêu lên, mà ý nghĩa chưa được phân tích rộng rãi. Mong Tôn giả Mahākaccāna, xin đừng xem đó là gánh nặng, hãy phân tích cho.
“Tena hāvuso, suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evamāvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato mahākaccānassa paccassosuṁ. Āyasmā mahākaccāno etadavoca:
“Well then, reverends, listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, reverend,” they replied. Venerable Mahākaccāna said this:
Này chư hiền, vậy thì hãy lắng nghe và khéo tác ý, tôi sẽ nói. Các vị tỳ khưu ấy vâng đáp Tôn giả Mahākaccāna: Thưa vâng, hiền giả. Tôn giả Mahākaccāna nói như sau:
“Yaṁ kho no, āvuso, bhagavā saṅkhittena uddesaṁ uddisitvā vitthārena atthaṁ avibhajitvā uṭṭhāyāsanā vihāraṁ paviṭṭho:
“Reverends, the Buddha gave this brief summary recital, then entered his dwelling without explaining the meaning in detail:
Này chư hiền, về lời chỉ dạy mà Đức Thế Tôn đã nêu lên vắn tắt cho chúng ta, rồi không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, đã từ chỗ ngồi đứng dậy và đi vào tịnh xá –
‘Atītaṁ nānvāgameyya, …pe… Taṁ ve bhaddekarattoti, santo ācikkhate munī’ti.
‘Don’t run back to the past … that’s who has one fine night—so declares the peaceful sage.’
‘Không truy tìm quá khứ... (vân vân)... Vị ấy, bậc Thánh nhân, bậc Mâu-ni tĩnh lặng tuyên bố, là người có một đêm an lành’.
Imassa kho ahaṁ, āvuso, bhagavatā saṅkhittena uddesassa uddiṭṭhassa vitthārena atthaṁ avibhattassa evaṁ vitthārena atthaṁ ājānāmi—
And this is how I understand the detailed meaning of this summary recital.
Này chư hiền, đối với lời chỉ dạy vắn tắt này đã được Đức Thế Tôn nêu lên, mà ý nghĩa chưa được phân tích rộng rãi, tôi hiểu ý nghĩa rộng rãi của nó như sau:
Kathañca, āvuso, atītaṁ anvāgameti? Iti me cakkhu ahosi atītamaddhānaṁ iti rūpāti—tattha chandarāgappaṭibaddhaṁ hoti viññāṇaṁ, chandarāgappaṭibaddhattā viññāṇassa tadabhinandati, tadabhinandanto atītaṁ anvāgameti.
Iti me sotaṁ ahosi atītamaddhānaṁ iti saddāti …pe… iti me ghānaṁ ahosi atītamaddhānaṁ iti gandhāti … iti me jivhā ahosi atītamaddhānaṁ iti rasāti … iti me kāyo ahosi atītamaddhānaṁ iti phoṭṭhabbāti … iti me mano ahosi atītamaddhānaṁ iti dhammāti—
And how do you run back to the past? Consciousness gets tied up there with desire and lust, thinking: ‘In the past I had such eyes and such sights.’ So you take pleasure in that, and that’s when you run back to the past.
Consciousness gets tied up there with desire and lust, thinking: ‘In the past I had such ears and such sounds … such a nose and such smells … such a tongue and such tastes … such a body and such touches … such a mind and such ideas.’
282. Và này chư hiền, thế nào là truy tìm quá khứ? ‘Mắt của ta trong quá khứ đã như thế này, các sắc đã như thế này’ – ở đó, thức bị trói buộc bởi tham dục. Vì thức bị trói buộc bởi tham dục, người ấy hoan hỷ trong đó. Do hoan hỷ trong đó, người ấy truy tìm quá khứ. ‘Tai của ta trong quá khứ đã như thế này, các tiếng đã như thế này’... (vân vân)... ‘Ý của ta trong quá khứ đã như thế này, các pháp đã như thế này’ – ở đó, thức bị trói buộc bởi tham dục. Vì thức bị trói buộc bởi tham dục, người ấy hoan hỷ trong đó. Do hoan hỷ trong đó, người ấy truy tìm quá khứ. Này chư hiền, như vậy là truy tìm quá khứ.
Kathañca, āvuso, atītaṁ nānvāgameti? Iti me cakkhu ahosi atītamaddhānaṁ iti rūpāti—tattha na chandarāgappaṭibaddhaṁ hoti viññāṇaṁ, na chandarāgappaṭibaddhattā viññāṇassa na tadabhinandati, na tadabhinandanto atītaṁ nānvāgameti.
Iti me sotaṁ ahosi atītamaddhānaṁ iti saddāti …pe… iti me ghānaṁ ahosi atītamaddhānaṁ iti gandhāti … iti me jivhā ahosi atītamaddhānaṁ iti rasāti … iti me kāyo ahosi atītamaddhānaṁ iti phoṭṭhabbāti … iti me mano ahosi atītamaddhānaṁ iti dhammāti—tattha na chandarāgappaṭibaddhaṁ hoti viññāṇaṁ, na chandarāgappaṭibaddhattā viññāṇassa, na tadabhinandati, na tadabhinandanto atītaṁ nānvāgameti—evaṁ kho, āvuso, atītaṁ nānvāgameti.
And how do you not run back to the past? Consciousness doesn’t get tied up there with desire and lust, thinking: ‘In the past I had such eyes and such sights.’ So you don’t take pleasure in that, and that’s when you no longer run back to the past.
Consciousness doesn’t get tied up there with desire and lust, thinking: ‘In the past I had such ears and such sounds … such a nose and such smells … such a tongue and such tastes … such a body and such touches … such a mind and such ideas.’ So you don’t take pleasure in that, and that’s when you no longer run back to the past. That’s how you don’t run back to the past.
Và này chư hiền, thế nào là không truy tìm quá khứ? ‘Mắt của ta trong quá khứ đã như thế này, các sắc đã như thế này’ – ở đó, thức không bị trói buộc bởi tham dục. Vì thức không bị trói buộc bởi tham dục, người ấy không hoan hỷ trong đó. Do không hoan hỷ trong đó, người ấy không truy tìm quá khứ. ‘Tai của ta trong quá khứ đã như thế này, các tiếng đã như thế này’... (vân vân)... ‘Ý của ta trong quá khứ đã như thế này, các pháp đã như thế này’ – ở đó, thức không bị trói buộc bởi tham dục. Vì thức không bị trói buộc bởi tham dục, người ấy không hoan hỷ trong đó. Do không hoan hỷ trong đó, người ấy không truy tìm quá khứ. Này chư hiền, như vậy là không truy tìm quá khứ.
Kathañca, āvuso, anāgataṁ paṭikaṅkhati? Iti me cakkhu siyā anāgatamaddhānaṁ iti rūpāti—appaṭiladdhassa paṭilābhāya cittaṁ paṇidahati, cetaso paṇidhānapaccayā tadabhinandati, tadabhinandanto anāgataṁ paṭikaṅkhati. Iti me sotaṁ siyā anāgatamaddhānaṁ iti saddāti …pe… iti me ghānaṁ siyā anāgatamaddhānaṁ iti gandhāti … iti me jivhā siyā anāgatamaddhānaṁ iti rasāti … iti me kāyo siyā anāgatamaddhānaṁ iti phoṭṭhabbāti … iti me mano siyā anāgatamaddhānaṁ iti dhammāti—appaṭiladdhassa paṭilābhāya cittaṁ paṇidahati, cetaso paṇidhānapaccayā tadabhinandati, tadabhinandanto anāgataṁ paṭikaṅkhati—evaṁ kho, āvuso, anāgataṁ paṭikaṅkhati.
And how do you anticipate the future? The heart is set on getting what it does not have, thinking: ‘May I have such eyes and such sights in the future.’ So you take pleasure in that, and that’s when you anticipate the future. The heart is set on getting what it does not have, thinking: ‘May I have such ears and such sounds … such a nose and such smells … such a tongue and such tastes … such a body and such touches … such a mind and such ideas in the future.’ So you take pleasure in that, and that’s when you anticipate the future. That’s how you anticipate the future.
283. “Này chư hiền, thế nào là mong cầu tương lai? ‘Mong rằng mắt của ta sẽ như thế này trong tương lai, mong rằng các sắc trần sẽ như thế này’ – đối với cái chưa đạt được, tâm hướng đến để đạt được; do duyên hướng đến của tâm nên hoan hỷ điều ấy; do hoan hỷ điều ấy nên mong cầu tương lai. ‘Mong rằng tai của ta sẽ như thế này trong tương lai, mong rằng các thanh trần sẽ như thế này’... tóm tắt... ‘Mong rằng mũi của ta sẽ như thế này trong tương lai, mong rằng các hương trần sẽ như thế này’... ‘Mong rằng lưỡi của ta sẽ như thế này trong tương lai, mong rằng các vị trần sẽ như thế này’... ‘Mong rằng thân của ta sẽ như thế này trong tương lai, mong rằng các xúc trần sẽ như thế này’... ‘Mong rằng ý của ta sẽ như thế này trong tương lai, mong rằng các pháp trần sẽ như thế này’ – đối với cái chưa đạt được, tâm hướng đến để đạt được; do duyên hướng đến của tâm nên hoan hỷ điều ấy; do hoan hỷ điều ấy nên mong cầu tương lai – này chư hiền, chính là như vậy mà mong cầu tương lai.”
Kathañca, āvuso, anāgataṁ nappaṭikaṅkhati? Iti me cakkhu siyā anāgatamaddhānaṁ iti rūpāti—appaṭiladdhassa paṭilābhāya cittaṁ nappaṇidahati, cetaso appaṇidhānapaccayā na tadabhinandati, na tadabhinandanto anāgataṁ nappaṭikaṅkhati. Iti me sotaṁ siyā anāgatamaddhānaṁ iti saddāti …pe… iti me ghānaṁ siyā anāgatamaddhānaṁ iti gandhāti … iti me jivhā siyā anāgatamaddhānaṁ iti rasāti … iti me kāyo siyā anāgatamaddhānaṁ iti phoṭṭhabbāti … iti me mano siyā anāgatamaddhānaṁ iti dhammāti—appaṭiladdhassa paṭilābhāya cittaṁ nappaṇidahati, cetaso appaṇidhānapaccayā na tadabhinandati, na tadabhinandanto anāgataṁ nappaṭikaṅkhati—evaṁ kho, āvuso, anāgataṁ nappaṭikaṅkhati.
And how do you not anticipate the future? The heart is not set on getting what it does not have, thinking: ‘May I have such eyes and such sights in the future.’ So you don’t take pleasure in that, and that’s when you no longer anticipate the future. The heart is not set on getting what it does not have, thinking: ‘May I have such ears and such sounds … such a nose and such smells … such a tongue and such tastes … such a body and such touches … such a mind and such ideas in the future.’ So you don’t take pleasure in that, and that’s when you no longer anticipate the future. That’s how you don’t anticipate the future.
“Này chư hiền, thế nào là không mong cầu tương lai? ‘Mong rằng mắt của ta sẽ như thế này trong tương lai, mong rằng các sắc trần sẽ như thế này’ – đối với cái chưa đạt được, tâm không hướng đến để đạt được; do duyên không hướng đến của tâm nên không hoan hỷ điều ấy; do không hoan hỷ điều ấy nên không mong cầu tương lai. ‘Mong rằng tai của ta sẽ như thế này trong tương lai, mong rằng các thanh trần sẽ như thế này’... tóm tắt... ‘Mong rằng mũi của ta sẽ như thế này trong tương lai, mong rằng các hương trần sẽ như thế này’... ‘Mong rằng lưỡi của ta sẽ như thế này trong tương lai, mong rằng các vị trần sẽ như thế này’... ‘Mong rằng thân của ta sẽ như thế này trong tương lai, mong rằng các xúc trần sẽ như thế này’... ‘Mong rằng ý của ta sẽ như thế này trong tương lai, mong rằng các pháp trần sẽ như thế này’ – đối với cái chưa đạt được, tâm không hướng đến để đạt được; do duyên không hướng đến của tâm nên không hoan hỷ điều ấy; do không hoan hỷ điều ấy nên không mong cầu tương lai – này chư hiền, chính là như vậy mà không mong cầu tương lai.”
Kathañca, āvuso, paccuppannesu dhammesu saṁhīrati? Yañcāvuso, cakkhu ye ca rūpā—ubhayametaṁ paccuppannaṁ. Tasmiñce paccuppanne chandarāgappaṭibaddhaṁ hoti viññāṇaṁ, chandarāgappaṭibaddhattā viññāṇassa tadabhinandati, tadabhinandanto paccuppannesu dhammesu saṁhīrati. Yañcāvuso, sotaṁ ye ca saddā …pe… yañcāvuso, ghānaṁ ye ca gandhā … yā cāvuso, jivhā ye ca rasā … yo cāvuso, kāyo ye ca phoṭṭhabbā … yo cāvuso, mano ye ca dhammā—ubhayametaṁ paccuppannaṁ. Tasmiñce paccuppanne chandarāgappaṭibaddhaṁ hoti viññāṇaṁ, chandarāgappaṭibaddhattā viññāṇassa tadabhinandati, tadabhinandanto paccuppannesu dhammesu saṁhīrati—evaṁ kho, āvuso, paccuppannesu dhammesu saṁhīrati.
And how do you falter amid presently arisen phenomena? Both the eye and sights are presently arisen. If consciousness gets tied up there in the present with desire and lust, you take pleasure in that, and that’s when you falter amid presently arisen phenomena. Both the ear and sounds … nose and smells … tongue and tastes … body and touches … mind and ideas are presently arisen. If consciousness gets tied up there in the present with desire and lust, you take pleasure in that, and that’s when you falter amid presently arisen phenomena. That’s how you falter amid presently arisen phenomena.
284. “Này chư hiền, thế nào là bị lôi cuốn vào các pháp hiện tại? Này chư hiền, mắt và các sắc trần – cả hai điều này là hiện tại. Nếu trong cái hiện tại ấy, thức bị trói buộc bởi dục và tham, do vì thức bị trói buộc bởi dục và tham nên hoan hỷ điều ấy; do hoan hỷ điều ấy nên bị lôi cuốn vào các pháp hiện tại. Này chư hiền, tai và các thanh trần... tóm tắt... Này chư hiền, mũi và các hương trần... Này chư hiền, lưỡi và các vị trần... Này chư hiền, thân và các xúc trần... Này chư hiền, ý và các pháp trần – cả hai điều này là hiện tại. Nếu trong cái hiện tại ấy, thức bị trói buộc bởi dục và tham, do vì thức bị trói buộc bởi dục và tham nên hoan hỷ điều ấy; do hoan hỷ điều ấy nên bị lôi cuốn vào các pháp hiện tại – này chư hiền, chính là như vậy mà bị lôi cuốn vào các pháp hiện tại.”
Kathañca, āvuso, paccuppannesu dhammesu na saṁhīrati? Yañcāvuso, cakkhu ye ca rūpā—ubhayametaṁ paccuppannaṁ. Tasmiñce paccuppanne na chandarāgappaṭibaddhaṁ hoti viññāṇaṁ, na chandarāgappaṭibaddhattā viññāṇassa na tadabhinandati, na tadabhinandanto paccuppannesu dhammesu na saṁhīrati. Yañcāvuso, sotaṁ ye ca saddā …pe… yañcāvuso, ghānaṁ ye ca gandhā … yā cāvuso, jivhā ye ca rasā … yo cāvuso, kāyo ye ca phoṭṭhabbā … yo cāvuso, mano ye ca dhammā—ubhayametaṁ paccuppannaṁ. Tasmiñce paccuppanne na chandarāgappaṭibaddhaṁ hoti viññāṇaṁ, na chandarāgappaṭibaddhattā viññāṇassa na tadabhinandati, na tadabhinandanto paccuppannesu dhammesu na saṁhīrati—evaṁ kho, āvuso, paccuppannesu dhammesu na saṁhīrati.
And how do you not falter amid presently arisen phenomena? Both the eye and sights are presently arisen. If consciousness doesn’t get tied up there in the present with desire and lust, you don’t take pleasure in that, and that’s when you no longer falter amid presently arisen phenomena. Both the ear and sounds … nose and smells … tongue and tastes … body and touches … mind and ideas are presently arisen. If consciousness doesn’t get tied up there in the present with desire and lust, you don’t take pleasure in that, and that’s when you no longer falter amid presently arisen phenomena. That’s how you don’t falter amid presently arisen phenomena.
“Này chư hiền, thế nào là không bị lôi cuốn vào các pháp hiện tại? Này chư hiền, mắt và các sắc trần – cả hai điều này là hiện tại. Nếu trong cái hiện tại ấy, thức không bị trói buộc bởi dục và tham, do vì thức không bị trói buộc bởi dục và tham nên không hoan hỷ điều ấy; do không hoan hỷ điều ấy nên không bị lôi cuốn vào các pháp hiện tại. Này chư hiền, tai và các thanh trần... tóm tắt... Này chư hiền, mũi và các hương trần... Này chư hiền, lưỡi và các vị trần... Này chư hiền, thân và các xúc trần... Này chư hiền, ý và các pháp trần – cả hai điều này là hiện tại. Nếu trong cái hiện tại ấy, thức không bị trói buộc bởi dục và tham, do vì thức không bị trói buộc bởi dục và tham nên không hoan hỷ điều ấy; do không hoan hỷ điều ấy nên không bị lôi cuốn vào các pháp hiện tại – này chư hiền, chính là như vậy mà không bị lôi cuốn vào các pháp hiện tại.”
Yaṁ kho no, āvuso, bhagavā saṅkhittena uddesaṁ uddisitvā vitthārena atthaṁ avibhajitvā uṭṭhāyāsanā vihāraṁ paviṭṭho:
This is how I understand the detailed meaning of that brief summary recital given by the Buddha.
285. “Này chư hiền, quả thật Đức Thế Tôn của chúng ta, sau khi đã nêu lên đề mục một cách tóm tắt mà không phân tích ý nghĩa một cách chi tiết, đã đứng dậy khỏi chỗ ngồi và đi vào tịnh xá –”
‘Atītaṁ nānvāgameyya, …pe… Taṁ ve bhaddekarattoti, santo ācikkhate munī’ti.
‘Không nén truy tìm quá khứ... (v.v...)... Quả thật là bậc Nhất Dạ Hiền Giả, bậc Thánh tịch tĩnh, bậc Mâu-ni tuyén bố như vậy.’
Imassa kho ahaṁ, āvuso, bhagavatā saṅkhittena uddesassa uddiṭṭhassa vitthārena atthaṁ avibhattassa evaṁ vitthārena atthaṁ ājānāmi. Ākaṅkhamānā ca pana tumhe āyasmanto bhagavantaṁyeva upasaṅkamitvā etamatthaṁ paṭipuccheyyātha, yathā vo bhagavā byākaroti tathā naṁ dhāreyyāthā”ti.
If you wish, you may go to the Buddha and ask him about this. You should remember it in line with the Buddha’s answer.”
“Này chư hiền, đối với đề mục này đã được Đức Thế Tôn nêu lên một cách tóm tắt mà không phân tích ý nghĩa một cách chi tiết, tôi hiểu ý nghĩa chi tiết như thế này. Tuy nhiên, nếu chư tôn giả mong muốn, hãy đến yết kiến chính Đức Thế Tôn và hỏi lại về ý nghĩa này. Như Đức Thế Tôn giải thích cho quý vị, hãy ghi nhớ như vậy.”
Atha kho te bhikkhū āyasmato mahākaccānassa bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ: “yaṁ kho no, bhante, bhagavā saṅkhittena uddesaṁ uddisitvā vitthārena atthaṁ avibhajitvā uṭṭhāyāsanā vihāraṁ paviṭṭho:
Then those mendicants, approving and agreeing with what Mahākaccāna said, rose from their seats and went to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened, adding:
Bấy giờ, các vị tỳ khưu ấy, sau khi hoan hỷ và tán thán lời nói của tôn giả Mahākaccāna, đã đứng dậy khỏi chỗ ngồi và đi đến nơi Đức Thế Tôn; sau khi đến, họ đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các vị tỳ khưu ấy bạch với Đức Thế Tôn điều này – “Bạch Thế Tôn, quả thật Đức Thế Tôn của chúng con, sau khi đã nêu lên đề mục một cách tóm tắt mà không phân tích ý nghĩa một cách chi tiết, đã đứng dậy khỏi chỗ ngồi và đi vào tịnh xá –”
‘Atītaṁ nānvāgameyya, …pe… Taṁ ve bhaddekarattoti, santo ācikkhate munī’ti.
‘Không nén truy tìm quá khứ... (v.v...)... Quả thật là bậc Nhất Dạ Hiền Giả, bậc Thánh tịch tĩnh, bậc Mâu-ni tuyén bố như vậy.’
Tesaṁ no, bhante, amhākaṁ, acirapakkantassa bhagavato, etadahosi: ‘idaṁ kho no, āvuso, bhagavā saṅkhittena uddesaṁ uddisitvā vitthārena atthaṁ avibhajitvā uṭṭhāyāsanā vihāraṁ paviṭṭho:
“Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, khi Đức Thế Tôn vừa mới đi khỏi, ý nghĩ này đã khởi lên – ‘Này chư hiền, quả thật Đức Thế Tôn của chúng ta, sau khi đã nêu lên đề mục này một cách tóm tắt mà không phân tích ý nghĩa một cách chi tiết, đã đứng dậy khỏi chỗ ngồi và đi vào tịnh xá –”
“Atītaṁ nānvāgameyya, nappaṭikaṅkhe anāgataṁ; Yadatītaṁ pahīnaṁ taṁ, appattañca anāgataṁ.
“‘Không nên truy tìm quá khứ, không nên mong cầu tương lai; vì cái gì đã qua thì đã được từ bỏ, và cái tương lai thì chưa đến.”
Paccuppannañca yo dhammaṁ, tattha tattha vipassati; Asaṁhīraṁ asaṅkuppaṁ, taṁ vidvā manubrūhaye.
“‘Và pháp nào hiện tại, hãy quán chiếu pháp ấy ngay tại đó; không bị lôi cuốn, không bị lay động, biết được điều ấy, hãy nên tu tập.”
Ajjeva kiccamātappaṁ, ko jaññā maraṇaṁ suve; Na hi no saṅgaraṁ tena, mahāsenena maccunā.
Hôm nay cần phải nỗ lực, ai biết được cái chết ngày mai? Vì chúng ta không có hẹn ước với tử thần, kẻ có đại quân kia.
Evaṁvihāriṁ ātāpiṁ, ahorattamatanditaṁ; Taṁ ve bhaddekarattoti, santo ācikkhate munī”ti.
Người sống như vậy, nhiệt tâm, không mệt mỏi ngày đêm, vị ấy thật sự được bậc Thánh nhân, bậc Mâu-ni tịch tịnh, gọi là người có một đêm an lành.
Ko nu kho imassa bhagavatā saṅkhittena uddesassa uddiṭṭhassa vitthārena atthaṁ avibhattassa vitthārena atthaṁ vibhajeyyā’ti? Tesaṁ no, bhante, amhākaṁ etadahosi: ‘ayaṁ kho āyasmā mahākaccāno satthu ceva saṁvaṇṇito sambhāvito ca viññūnaṁ sabrahmacārīnaṁ. Pahoti cāyasmā mahākaccāno imassa bhagavatā saṅkhittena uddesassa uddiṭṭhassa vitthārena atthaṁ avibhattassa vitthārena atthaṁ vibhajituṁ. Yannūna mayaṁ yenāyasmā mahākaccāno tenupasaṅkameyyāma; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ mahākaccānaṁ etamatthaṁ paṭipuccheyyāmā’ti. Atha kho mayaṁ, bhante, yenāyasmā mahākaccāno tenupasaṅkamimha; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ mahākaccānaṁ etamatthaṁ paṭipucchimha. Tesaṁ no, bhante, āyasmatā mahākaccānena imehi ākārehi imehi padehi imehi byañjanehi attho vibhatto”ti.
“Mahākaccāna clearly explained the meaning to us in this manner, with these words and phrases.”
Bạch Thế Tôn, chúng con đã suy nghĩ: ‘Ai có thể phân tích chi tiết ý nghĩa của lời chỉ dạy vắn tắt này mà Thế Tôn đã nêu lên nhưng chưa giải thích chi tiết?’ Bạch Thế Tôn, rồi chúng con lại nghĩ: ‘Tôn giả Mahākaccāno này được chính Bậc Đạo Sư tán thán và được các vị đồng phạm hạnh có trí ca ngợi. Tôn giả Mahākaccāno có khả năng phân tích chi tiết ý nghĩa của lời chỉ dạy vắn tắt này mà Thế Tôn đã nêu lên nhưng chưa giải thích chi tiết. Vậy chúng ta hãy đi đến Tôn giả Mahākaccāno; sau khi đến, chúng ta hãy hỏi Tôn giả Mahākaccāno về ý nghĩa này.’ Bạch Thế Tôn, rồi chúng con đã đi đến Tôn giả Mahākaccāno; sau khi đến, chúng con đã hỏi Tôn giả Mahākaccāno về ý nghĩa này. Bạch Thế Tôn, Tôn giả Mahākaccāno đã phân tích ý nghĩa cho chúng con bằng những cách thức này, những câu chữ này, những từ ngữ này.
“Paṇḍito, bhikkhave, mahākaccāno; mahāpañño, bhikkhave mahākaccāno. Mañcepi tumhe, bhikkhave, etamatthaṁ paṭipuccheyyātha, ahampi taṁ evamevaṁ byākareyyaṁ yathā taṁ mahākaccānena byākataṁ. Eso cevetassa attho. Evañca naṁ dhārethā”ti.
“Mahākaccāna is astute, mendicants, he has great wisdom. If you came to me and asked this question, I would answer it in exactly the same way as Mahākaccāna. That is what it means, and that’s how you should remember it.”
Này các Tỳ khưu, Mahākaccāno là bậc hiền trí; này các Tỳ khưu, Mahākaccāno là bậc đại trí tuệ. Này các Tỳ khưu, nếu các ông hỏi Ta về ý nghĩa này, Ta cũng sẽ giải thích y như Tôn giả Mahākaccāno đã giải thích. Đây chính là ý nghĩa của nó. Và các ông hãy ghi nhớ như vậy.
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
Thế Tôn đã nói như vậy. Các Tỳ khưu ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Mahākaccānabhaddekarattasuttaṁ niṭṭhitaṁ tatiyaṁ.
Kinh Mahākaccāna Bhaddekaratta, kinh thứ ba, chấm dứt.