- Majjhima Nikāya 132
Ānandabhaddekarattasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Ānandabhaddekarattasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời, Thế Tôn ở Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà lâm), tại tinh xá ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).
SC 2Lúc bấy giờ, Tôn giả Ānanda (A-nan) tại hội trường thuyết thị, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các Tỷ-kheo với bài thuyết pháp. Tôn giả giảng Nhứt Dạ Hiền Giả, tổng thuyết và biệt thuyết. Rồi Thế Tôn vào buổi chiều, từ Thiền tịnh độc cư đứng dậy đi đến hội trường, sau khi đến, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo
SC 3—Này các Tỷ-kheo, ai tại hội trường đã thuyết thị, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các Tỷ-kheo với bài thuyết pháp. Ai đã giảng Nhứt Dạ Hiền Giả, tổng thuyết và biệt thuyết?
SC 4—Bạch Thế Tôn, Tôn giả Ānanda tại hội trường đã thuyết thị, khích lệ, làm cho thích thú, làm cho hoan hỷ các Tỷ-kheo với bài thuyết pháp. Tôn giả đã giảng Nhứt Dạ Hiền Giả, tổng thuyết và biệt thuyết.
SC 5Rồi Thế Tôn bảo Tôn giả Ānanda
SC 6—Nhưng như thế nào, này Ānanda, Ông đã thuyết thị, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các Tỷ-kheo với bài thuyết pháp? Ông có phải đã giảng Nhứt Dạ Hiền Giả, tổng thuyết và biệt thuyết?
SC 7—Ðúng vậy, bạch Thế Tôn, con đã thuyết thị, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các Tỷ-kheo với bài thuyết pháp. Con đã giảng Nhứt Dạ Hiền Giả, tổng thuyết và biệt thuyết:
SC 8Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng.
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ có pháp hiện tại
Tuệ quán chính ở đây.
Không động, không rung chuyển
Biết vậy, nên tu tập,
Hôm nay nhiệt tâm làm,
Ai biết chết ngày mai?
Không ai điều đình được,
Với đại quân thần chết,
Trú như vậy nhiệt tâm,
Ðêm ngày không mệt mỏi,
Xứng gọi Nhứt dạ Hiền,
Bậc an tịnh, trầm lặng.
SC 9Và này các Hiền giả, thế nào là truy tìm quá khứ? Vị ấy nghĩ: “Như vậy là sắc của tôi trong quá khứ”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Như vậy là thọ của tôi trong quá khứ”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Như vậy là tưởng của tôi trong quá khứ”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Như vậy là hành của tôi trong quá khứ”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy, “Như vậy, là thức của tôi trong quá khứ”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này các Hiền giả, là truy tìm quá khứ.
SC 10Và này các Hiền giả, thế nào là không truy tìm quá khứ? Vị ấy nghĩ: “Như vậy là sắc của tôi trong quá khứ”, và không truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Như vậy là thọ của tôi trong quá khứ”, và không truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Như vậy là tưởng của tôi … Như vậy là hành của tôi … Như vậy là thức của tôi trong quá khứ”, và không truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này các Hiền giả, là không truy tìm quá khứ.
SC 11Và này các Hiền giả, thế nào ước vọng trong tương lai? Vị ấy nghĩ: “Mong rằng như vậy sẽ là sắc của tôi trong tương lai”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Mong rằng như vậy sẽ là thọ của tôi trong tương lai”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Mong rằng như vậy là tưởng của tôi … là hành của tôi … là thức của tôi trong tương lai”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này các Hiền giả, là ước vọng trong tương lai.
SC 12Và này các Hiền giả, thế nào là không ước vọng trong tương lai? Vị ấy nghĩ: “Mong rằng như vậy sẽ là sắc của tôi trong tương lai”, và không truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Mong rằng như vậy sẽ là thọ của tôi trong tương lai”, và không truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Mong rằng như vậy sẽ là tưởng … sẽ là hành … sẽ là thức của tôi trong tương lai, “và không truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này các Hiền giả, là không ước vọng trong tương lai.
SC 13Và này các Hiền giả, như thế nào là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại? Ở đây, này các Hiền giả, có kẻ vô văn phàm phu không đi đến các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh; không đi đến các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân; quán sắc là tự ngã, hay quán tự ngã là có sắc, hay quán sắc là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong sắc, hay vị ấy quán thọ là tự ngã, hay quán tự ngã là có thọ; hay quán thọ là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong thọ, hay vị ấy quán tưởng là trong tự ngã, hay quán tự ngã là có tưởng, hay vị ấy quán tưởng là tự ngã, hay quán tự ngã là có tưởng, hay vị ấy quán hành là tự ngã, hay vị ấy quán tự ngã là có hành, hay vị ấy quán hành là trong tự ngã, hay vị ấy quán tự ngã là trong hành; hay vị ấy quán thức là tự ngã, hay quán tự ngã là có thức, hay quán thức là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong thức. Như vậy, này các Hiền giả, là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại.
SC 14Và này các Hiền giả, thế nào là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại? Ở đây, này các Hiền giả, có vị Ða văn Thánh đệ tử đi đến các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, đi đến các bậc Chân nhân, thuần thục pháp các bậc Chân nhân, tu tập pháp các bậc Chân nhân. Vị này không quán sắc là tự ngã, không quán tự ngã là có sắc, không quán sắc là trong tự ngã, không quán tự ngã trong sắc; không quán thọ … không quán tưởng … không quán hành … không quán thức là tự ngã, không quán tự ngã là có thức, không quán thức trong tự ngã, không quán tự ngã trong thức. Như vậy, này các Hiền giả, là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại.
SC 15Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng.
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ có pháp hiện tại
Tuệ quán chính ở đây.
Không động, không rung chuyển
Biết vậy, nên tu tập,
Hôm nay nhiệt tâm làm,
Ai biết chết ngày mai?
Không ai điều đình được,
Với đại quân thần chết,
Trú như vậy nhiệt tâm,
Ðêm ngày không mệt mỏi,
Xứng gọi Nhứt dạ Hiền,
Bậc an tịnh, trầm lặng.
SC 16Như vậy, bạch Thế Tôn, con đã thuyết thị, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các Tỷ-kheo. Con đã giảng Nhứt Dạ Hiền Giả, tổng thuyết và biệt thuyết.
SC 17—Lành thay, lành thay, này Ānanda! Lành thay, này Ānanda! Ông đã thuyết thị, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các Tỷ-kheo với bài thuyết pháp. Ông đã giảng Nhứt Dạ Hiền Giả, tổng thuyết và biệt thuyết.
SC 18Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng.
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ có pháp hiện tại
Tuệ quán chính ở đây.
Không động, không rung chuyển
Biết vậy, nên tu tập,
Hôm nay nhiệt tâm làm,
Ai biết chết ngày mai?
Không ai điều đình được,
Với đại quân thần chết,
Trú như vậy nhiệt tâm,
Ðêm ngày không mệt mỏi,
Xứng gọi Nhứt dạ Hiền,
Bậc an tịnh, trầm lặng.
SC 19—Và này Ānanda, thế nào là truy tìm quá khứ? Vị ấy nghĩ: “Như vậy là sắc của tôi trong quá khứ”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Như vậy là thọ của tôi trong quá khứ”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Như vậy là tưởng của tôi trong quá khứ”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Như vậy là hành của tôi trong quá khứ”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy, “Như vậy là thức của tôi trong quá khứ”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này Ānanda, là truy tìm quá khứ.
SC 20Và này Ānanda, thế nào là không truy tìm quá khứ? Vị ấy nghĩ: “Như vậy là sắc của tôi trong quá khứ”, và không truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Như vậy là thọ của tôi trong quá khứ”, và không truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Như vậy là tưởng của tôi … Như vậy là hành của tôi … Như vậy là thức của tôi trong quá khứ”, và không truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này Ānanda, là không truy tìm quá khứ.
SC 21Và này Ānanda, thế nào ước vọng trong tương lai? Vị ấy nghĩ: “Mong rằng như vậy sẽ là sắc của tôi trong tương lai”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Mong rằng như vậy sẽ là thọ của tôi trong tương lai”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Mong rằng như vậy là tưởng của tôi … là hành của tôi … là thức của tôi trong tương lai”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này Ānanda, là ước vọng trong tương lai.
SC 22Và này Ānanda, thế nào là không ước vọng trong tương lai? Vị ấy nghĩ: “Mong rằng như vậy sẽ là sắc của tôi trong tương lai”, và không truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Mong rằng như vậy sẽ là thọ của tôi trong tương lai”, và không truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Mong rằng như vậy sẽ là tưởng … sẽ là hành … sẽ là thức của tôi trong tương lai, “và không truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này Ānanda, là không ước vọng trong tương lai.
SC 23Và này Ānanda, như thế nào là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại? Ở đây, này Ānanda, có kẻ vô văn phàm phu không đi đến các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh; không đi đến các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân; quán sắc là tự ngã, hay quán tự ngã là có sắc, hay quán sắc là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong sắc; hay vị ấy quán thọ là tự ngã, hay quán tự ngã là có thọ, hay quán thọ là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong thọ; hay vị ấy quán tưởng là trong tự ngã, hay quán tự ngã là có tưởng, hay vị ấy quán tưởng là tự ngã, hay quán tự ngã là có tưởng; hay vị ấy quán hành là tự ngã, hay vị ấy quán tự ngã là có hành, hay vị ấy quán hành là trong tự ngã, hay vị ấy quán tự ngã là trong hành; hay vị ấy quán thức là tự ngã, hay quán tự ngã là có thức, hay quán thức là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong thức. Như vậy, này Ānanda, là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại.
SC 24Và này Ānanda, thế nào là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại? Ở đây, này Ānanda, có vị Ða văn Thánh đệ tử đi đến các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, đi đến các bậc Chân nhân, thuần thục pháp các bậc Chân nhân, tu tập pháp các bậc Chân nhân. Vị này không quán sắc là tự ngã, không quán tự ngã là có sắc, không quán sắc là trong tự ngã, không quán tự ngã trong sắc; không quán thọ … không quán tưởng … không quán hành … không quán thức là tự ngã, không quán tự ngã là có thức, không quán thức trong tự ngã, không quán tự ngã trong thức. Như vậy, này Ānanda, là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại.
SC 25Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng.
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ có pháp hiện tại
Tuệ quán chính ở đây.
Không động, không rung chuyển
Biết vậy, nên tu tập,
Hôm nay nhiệt tâm làm,
Ai biết chết ngày mai?
Không ai điều đình được,
Với đại quân thần chết,
Trú như vậy nhiệt tâm,
Ðêm ngày không mệt mỏi,
Xứng gọi Nhứt dạ Hiền,
Bậc an tịnh, trầm lặng.
SC 26Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ānanda hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). 15-07-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
2. Kinh Ānanda Bhaddekaratta
Tena kho pana samayena āyasmā ānando upaṭṭhānasālāyaṁ bhikkhūnaṁ dhammiyā kathāya sandasseti samādapeti samuttejeti sampahaṁseti, bhaddekarattassa uddesañca vibhaṅgañca bhāsati.
Now at that time Venerable Ānanda was educating, encouraging, firing up, and inspiring the mendicants in the assembly hall with a Dhamma talk on the topic of the summary recital and the analysis of the one who has one fine night.
276. Tôi nghe như vầy. Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Lúc bấy giờ, Tôn giả Ānanda đang ở tại giảng đường, dùng pháp thoại để chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn và làm cho hoan hỷ các Tỳ-khưu; ngài thuyết giảng phần tóm tắt và phần phân tích của kinh Nhất Dạ Hiền Giả.
Atha kho bhagavā sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yenupaṭṭhānasālā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Nisajja kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “ko nu kho, bhikkhave, upaṭṭhānasālāyaṁ bhikkhūnaṁ dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi, bhaddekarattassa uddesañca vibhaṅgañca abhāsī”ti?
“Āyasmā, bhante, ānando upaṭṭhānasālāyaṁ bhikkhūnaṁ dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi, bhaddekarattassa uddesañca vibhaṅgañca abhāsī”ti.
Then in the late afternoon, the Buddha came out of retreat, went to the assembly hall, where he sat down on the seat spread out, and addressed the mendicants: “Who was inspiring the mendicants with a talk on the summary recital and the analysis of the one who has one fine night?”
“It was Venerable Ānanda, sir.”
Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều, sau khi xuất khỏi nơi độc cư, đã đi đến giảng đường; sau khi đến, Ngài ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Khi đã ngồi, Thế Tôn gọi các Tỳ-khưu: ‘Này các Tỳ-khưu, ai đã ở tại giảng đường, dùng pháp thoại để chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn và làm cho hoan hỷ các Tỳ-khưu; ai đã thuyết giảng phần tóm tắt và phần phân tích của kinh Nhất Dạ Hiền Giả?’ ‘Bạch Thế Tôn, chính Tôn giả Ānanda đã ở tại giảng đường, dùng pháp thoại để chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn và làm cho hoan hỷ các Tỳ-khưu; ngài đã thuyết giảng phần tóm tắt và phần phân tích của kinh Nhất Dạ Hiền Giả.’
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi: “yathā kathaṁ pana tvaṁ, ānanda, bhikkhūnaṁ dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi, bhaddekarattassa uddesañca vibhaṅgañca abhāsī”ti?
“Evaṁ kho ahaṁ, bhante, bhikkhūnaṁ dhammiyā kathāya sandassesiṁ samādapesiṁ samuttejesiṁ sampahaṁsesiṁ, bhaddekarattassa uddesañca vibhaṅgañca abhāsiṁ—
Then the Buddha said to Venerable Ānanda, “But in what way were you inspiring the mendicants with a talk on the summary recital and the analysis of the one who has one fine night?”
“I was doing so in this way, sir,” replied Ānanda.
Rồi Thế Tôn gọi Tôn giả Ānanda: ‘N y Ānanda, ng đ d ng ph p thoại để chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, và làm cho hoan hỷ các Tỳ khư như thế nào; ng đ thuyết giảng phần tóm tắt và phần phân tích của kinh Nhất Dạ Hiền Giả như thế nào?’ ‘Bạch Thế Tôn, con đ d ng ph p thoại để chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, và làm cho hoan hỷ các Tỳ khư như thế này; con đ thuyết giảng phần tóm tắt và phần phân tích của kinh Nhất Dạ Hiền Giả như thế này: –
Atītaṁ nānvāgameyya, nappaṭikaṅkhe anāgataṁ; Yadatītaṁ pahīnaṁ taṁ, appattañca anāgataṁ.
“Don’t run back to the past, don’t anticipate the future. What’s past is left behind, the future has not arrived;
‘Không nén truy tìm quá khứ, không nén ước vọng tương lai; vì quá khứ đ đoạn tận, và tương lai thì chưa đến.
Paccuppannañca yo dhammaṁ, tattha tattha vipassati; Asaṁhīraṁ asaṅkuppaṁ, taṁ vidvā manubrūhaye.
and any present phenomenon you clearly discern in every case. The unfaltering, the unshakable: having known that, foster it.
‘Vị nào quán chiếu pháp hiện tại, ở ngay nơi này nơi kia; không lay động, không bị chuyển động, bậc có trí sau khi biết rõ điều ấy, nén làm cho nó tăng trưởng.
Ajjeva kiccamātappaṁ, ko jaññā maraṇaṁ suve; Na hi no saṅgaraṁ tena, mahāsenena maccunā.
Today’s the day to keenly work—who knows, tomorrow may bring death! For there is no bargain to be struck with Death and his mighty horde.
‘Hôm nay phải nén tinh tấn, ai biết ngày mai sẽ chết; vì không thể nào thương lượng được với tử thần và đại quân của nó.
Evaṁvihāriṁ ātāpiṁ, ahorattamatanditaṁ; Taṁ ve bhaddekarattoti, santo ācikkhate muni.
One who keenly meditates like this, tireless all night and day: that’s who has one fine night—so declares the peaceful sage.
‘Người sống như vậy, nhiệt tâm, không mệt mỏ i ngày đém; bậc Thánh tịch tĩnh, bậc Mâu-ni gềi người ấy là bậc Nhất Dạ Hiền Giả.’
‘Kathañca, āvuso, atītaṁ anvāgameti? Evaṁrūpo ahosiṁ atītamaddhānanti tattha nandiṁ samanvāneti, evaṁvedano ahosiṁ atītamaddhānanti tattha nandiṁ samanvāneti, evaṁsañño ahosiṁ atītamaddhānanti tattha nandiṁ samanvāneti, evaṁsaṅkhāro ahosiṁ atītamaddhānanti tattha nandiṁ samanvāneti, evaṁviññāṇo ahosiṁ atītamaddhānanti tattha nandiṁ samanvāneti—evaṁ kho, āvuso, atītaṁ anvāgameti.
And how do you run back to the past? …
277. ‘Này chư Hiền, thế nào là truy tìm quá khứ? ‘Trong quá khứ, ta đã có sắc như thế này,’ người ấy khởi lên sự hoan hỷ ở nơi đó. ‘Trong quá khứ, ta đã có thọ như thế này,’ người ấy khởi lên sự hoan hỷ ở nơi đó. ‘Trong quá khứ, ta đã có tưởng như thế này,’ người ấy khởi lên sự hoan hỷ ở nơi đó. ‘Trong quá khứ, ta đã có các hành như thế này,’ người ấy khởi lên sự hoan hỷ ở nơi đó. ‘Trong quá khứ, ta đã có thức như thế này,’ người ấy khởi lên sự hoan hỷ ở nơi đó. Này chư Hiền, như vậy là truy tìm quá khứ.
Kathañca, āvuso, atītaṁ nānvāgameti? Evaṁrūpo ahosiṁ atītamaddhānanti tattha nandiṁ na samanvāneti, evaṁvedano ahosiṁ atītamaddhānanti tattha nandiṁ na samanvāneti, evaṁsañño ahosiṁ atītamaddhānanti tattha nandiṁ na samanvāneti, evaṁsaṅkhāro ahosiṁ atītamaddhānanti tattha nandiṁ na samanvāneti, evaṁviññāṇo ahosiṁ atītamaddhānanti tattha nandiṁ na samanvāneti—evaṁ kho, āvuso, atītaṁ nānvāgameti.
And how do you not run back to the past? …
Này chư Hiền, thế nào là không truy tìm quá khứ? ‘Trong quá khứ, ta đã có sắc như thế này,’ người ấy không khởi lên sự hoan hỷ ở nơi đó. ‘Trong quá khứ, ta đã có thọ như thế này,’ người ấy không khởi lên sự hoan hỷ ở nơi đó. ‘Trong quá khứ, ta đã có tưởng như thế này,’ người ấy không khởi lên sự hoan hỷ ở nơi đó. ‘Trong quá khứ, ta đã có các hành như thế này,’ người ấy không khởi lên sự hoan hỷ ở nơi đó. ‘Trong quá khứ, ta đã có thức như thế này,’ người ấy không khởi lên sự hoan hỷ ở nơi đó. Này chư Hiền, như vậy là không truy tìm quá khứ.
Kathañca, āvuso, anāgataṁ paṭikaṅkhati? Evaṁrūpo siyaṁ anāgatamaddhānanti tattha nandiṁ samanvāneti, evaṁvedano siyaṁ …pe… evaṁsañño siyaṁ … evaṁsaṅkhāro siyaṁ … evaṁviññāṇo siyaṁ anāgatamaddhānanti tattha nandiṁ samanvāneti—evaṁ kho, āvuso, anāgataṁ paṭikaṅkhati.
And how do you anticipate the future? …
Này chư Hiền, thế nào là ước vọng tương lai? ‘Mong rằng trong tương lai, ta sẽ có sắc như thế này,’ người ấy khởi lên sự hoan hỷ ở nơi đó. ‘Mong rằng trong tương lai, ta sẽ có thọ như thế này,’... ‘Mong rằng trong tương lai, ta sẽ có tưởng như thế này,’... ‘Mong rằng trong tương lai, ta sẽ có các hành như thế này,’... ‘Mong rằng trong tương lai, ta sẽ có thức như thế này,’ người ấy khởi lên sự hoan hỷ ở nơi đó. Này chư Hiền, như vậy là ước vọng tương lai.
Kathañca, āvuso, anāgataṁ nappaṭikaṅkhati? Evaṁrūpo siyaṁ anāgatamaddhānanti tattha nandiṁ na samanvāneti, evaṁvedano siyaṁ …pe… evaṁsañño siyaṁ … evaṁsaṅkhāro siyaṁ … evaṁviññāṇo siyaṁ anāgatamaddhānanti tattha nandiṁ na samanvāneti—evaṁ kho, āvuso, anāgataṁ nappaṭikaṅkhati.
And how do you not anticipate the future? …
Này chư Hiền, thế nào là không ước vọng tương lai? ‘Mong rằng trong tương lai, ta sẽ có sắc như thế này,’ người ấy không khởi lên sự hoan hỷ ở nơi đó. ‘Mong rằng trong tương lai, ta sẽ có thọ như thế này,’... ‘Mong rằng trong tương lai, ta sẽ có tưởng như thế này,’... ‘Mong rằng trong tương lai, ta sẽ có các hành như thế này,’... ‘Mong rằng trong tương lai, ta sẽ có thức như thế này,’ người ấy không khởi lên sự hoan hỷ ở nơi đó. Này chư Hiền, như vậy là không ước vọng tương lai.
Kathañca, āvuso, paccuppannesu dhammesu saṁhīrati? Idha, āvuso, assutavā puthujjano ariyānaṁ adassāvī ariyadhammassa akovido ariyadhamme avinīto sappurisānaṁ adassāvī sappurisadhammassa akovido sappurisadhamme avinīto rūpaṁ attato samanupassati, rūpavantaṁ vā attānaṁ, attani vā rūpaṁ, rūpasmiṁ vā attānaṁ; vedanaṁ … saññaṁ … saṅkhāre … viññāṇaṁ attato samanupassati, viññāṇavantaṁ vā attānaṁ, attani vā viññāṇaṁ, viññāṇasmiṁ vā attānaṁ—evaṁ kho, āvuso, paccuppannesu dhammesu saṁhīrati.
And how do you falter amid presently arisen phenomena? …
Này chư Hiền, thế nào là bị lôi cuốn bởi các pháp hiện tại? Ở đây, này chư Hiền, kẻ phàm phu ít nghe, không thấy các bậc Thánh, không thuần thục pháp của bậc Thánh, không tu tập pháp của bậc Thánh; không thấy các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp của bậc Chân nhân, không tu tập pháp của bậc Chân nhân, xem sắc là tự ngã, hoặc tự ngã có sắc, hoặc sắc ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong sắc; xem thọ... xem tưởng... xem các hành... xem thức là tự ngã, hoặc tự ngã có thức, hoặc thức ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong thức. Này chư Hiền, như vậy là bị lôi cuốn bởi các pháp hiện tại.
Kathañca, āvuso, paccuppannesu dhammesu na saṁhīrati? Idha, āvuso, sutavā ariyasāvako ariyānaṁ dassāvī ariyadhammassa kovido ariyadhamme suvinīto sappurisānaṁ dassāvī sappurisadhammassa kovido sappurisadhamme suvinīto na rūpaṁ attato samanupassati, na rūpavantaṁ vā attānaṁ, na attani vā rūpaṁ, na rūpasmiṁ vā attānaṁ; na vedanaṁ … na saññaṁ … na saṅkhāre … na viññāṇaṁ attato samanupassati, na viññāṇavantaṁ vā attānaṁ, na attani vā viññāṇaṁ, na viññāṇasmiṁ vā attānaṁ—evaṁ kho, āvuso, paccuppannesu dhammesu na saṁhīrati.
And how do you not falter amid presently arisen phenomena? … That’s how you don’t falter amid presently arisen phenomena.
“Này các hiền hữu, thế nào là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại? Này các hiền hữu, ở đây, vị Thánh đệ tử có nghe nhiều, thường thấy các bậc Thánh, thông thạo Thánh pháp, khéo huấn luyện trong Thánh pháp, thường thấy các bậc chân nhân, thông thạo pháp của bậc chân nhân, khéo huấn luyện trong pháp của bậc chân nhân, không quán sắc là tự ngã, hay tự ngã là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc; không quán thọ… không quán tưởng… không quán các hành… không quán thức là tự ngã, hay tự ngã là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Này các hiền hữu, như vậy là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại.”
Atītaṁ nānvāgameyya, nappaṭikaṅkhe anāgataṁ; Yadatītaṁ pahīnaṁ taṁ, appattañca anāgataṁ.
‘Don’t run back to the past, don’t anticipate the future. …
“Không nên truy tìm quá khứ, không nên mong đợi tương lai. Cái gì đã qua, cái ấy đã được đoạn tận. Cái gì chưa đến, cái ấy chưa tới.”
Paccuppannañca yo dhammaṁ, tattha tattha vipassati; Asaṁhīraṁ asaṅkuppaṁ, taṁ vidvā manubrūhaye.
“Vị nào thấy rõ pháp hiện tại, ở ngay tại chỗ đó, không bị lôi cuốn, không bị lay động, bậc trí ấy nên làm cho tăng trưởng pháp ấy.”
Ajjeva kiccamātappaṁ, ko jaññā maraṇaṁ suve; Na hi no saṅgaraṁ tena, mahāsenena maccunā.
“Hôm nay phải tinh tấn làm việc cần làm. Ai biết được cái chết ngày mai? Vì rằng chúng ta không có hẹn ước gì với tử thần có đại quân kia.”
Evaṁvihāriṁ ātāpiṁ, ahorattamatanditaṁ; Taṁ ve bhaddekarattoti, santo ācikkhate munī’ti.
that’s who has one fine night—so declares the peaceful sage.’
“Vị sống như vậy, nhiệt tâm, không mệt mỏi ngày đêm, vị ấy thật được gọi là 'người có một đêm an lành', bậc Thánh, bậc Mâu-ni đã nói như vậy.”
Evaṁ kho ahaṁ, bhante, bhikkhūnaṁ dhammiyā kathāya sandassesiṁ samādapesiṁ samuttejesiṁ sampahaṁsesiṁ, bhaddekarattassa uddesañca vibhaṅgañca abhāsin”ti.
That’s how I was inspiring the mendicants with a talk on the summary recital and the analysis of the one who has one fine night.”
“Bạch Thế Tôn, con đã chỉ bày, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các Tỳ khưu bằng pháp thoại như vậy, con đã nói về phần đề cương và phần phân tích của kinh Nhất Dạ Hiền Giả.”
“Sādhu sādhu, ānanda. Sādhu kho tvaṁ, ānanda, bhikkhūnaṁ dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi, bhaddekarattassa uddesañca vibhaṅgañca abhāsi:
“Good, good, Ānanda. It’s good that you were inspiring the mendicants with a talk on the summary recital and the analysis of the one who has one fine night.”
278. “Lành thay, lành thay, Ānanda! Này Ānanda, thật lành thay ông đã chỉ bày, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các Tỳ khưu bằng pháp thoại, đã nói về phần đề cương và phần phân tích của kinh Nhất Dạ Hiền Giả –”
‘Atītaṁ nānvāgameyya, …pe… Taṁ ve bhaddekarattoti, santo ācikkhate munī’ti.
“Không nên truy tìm quá khứ... cho đến... vị ấy thật được gọi là 'người có một đêm an lành', bậc Thánh, bậc Mâu-ni đã nói như vậy.”
Kathañca, ānanda, atītaṁ anvāgameti …pe… evaṁ kho, ānanda, atītaṁ anvāgameti. Kathañca, ānanda, atītaṁ nānvāgameti …pe… evaṁ kho, ānanda, atītaṁ nānvāgameti. Kathañca, ānanda, anāgataṁ paṭikaṅkhati …pe… evaṁ kho, ānanda, anāgataṁ paṭikaṅkhati. Kathañca, ānanda, anāgataṁ nappaṭikaṅkhati …pe… evaṁ kho, ānanda, anāgataṁ nappaṭikaṅkhati. Kathañca, ānanda, paccuppannesu dhammesu saṁhīrati …pe… evaṁ kho, ānanda, paccuppannesu dhammesu saṁhīrati. Kathañca, ānanda, paccuppannesu dhammesu na saṁhīrati …pe… evaṁ kho, ānanda, paccuppannesu dhammesu na saṁhīrati.
And the Buddha repeated the verses and analysis once more.
“Này Ānanda, thế nào là truy tìm quá khứ?... cho đến... Này Ānanda, như vậy là truy tìm quá khứ. Này Ānanda, thế nào là không truy tìm quá khứ?... cho đến... Này Ānanda, như vậy là không truy tìm quá khứ. Này Ānanda, thế nào là mong đợi tương lai?... cho đến... Này Ānanda, như vậy là mong đợi tương lai. Này Ānanda, thế nào là không mong đợi tương lai?... cho đến... Này Ānanda, như vậy là không mong đợi tương lai. Này Ānanda, thế nào là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại?... cho đến... Này Ānanda, như vậy là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại. Này Ānanda, thế nào là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại?... cho đến... Này Ānanda, như vậy là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại.”
‘Atītaṁ nānvāgameyya, …pe… Taṁ ve bhaddekarattoti, santo ācikkhate munī’”ti.
“Không nên truy tìm quá khứ... cho đến... vị ấy thật được gọi là 'người có một đêm an lành', bậc Thánh, bậc Mâu-ni đã nói như vậy.”
Idamavoca bhagavā. Attamano āyasmā ānando bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
That is what the Buddha said. Satisfied, Venerable Ānanda approved what the Buddha said.
Thế Tôn đã nói như vậy. Tôn giả Ānanda hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Ānandabhaddekarattasuttaṁ niṭṭhitaṁ dutiyaṁ.
Kinh Nhất Dạ Hiền Giả do Ānanda thuyết, kinh thứ hai, đã chấm dứt.