- Majjhima Nikāya 12
Mahāsīhanādasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Mahāsīhanādasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn trú tại Vesālī (Tỳ-xá-ly), ở phía ngoài thành, trong một khu rừng phía Tây.
SC 2Lúc bấy giờ, Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi, vừa mới từ bỏ Pháp và Luật này, nói lời nói như sau trong Hội chúng ở Vesālī: “Sa-môn Gotama không có pháp thượng nhân, không có tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh; Sa-môn Gotama thuyết pháp, pháp ấy tự mình tạo ra, do suy luận tác thành, tùy thuận trắc nghiệm, và thuyết cho một mục tiêu đặc biệt, có khả năng hướng thượng, có thể dẫn người thực hành diệt tận khổ đau”.
SC 3Lúc ấy Tôn giả Sāriputta (Xá-lợi-phất) vào buổi sáng, đắp y, cầm bát, vào thành Vesālī để khất thực. Tôn giả Sāriputta nghe Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi nói như sau trong hội chúng ở Vesālī: “Sa-môn Gotama không có pháp thượng nhân, không có tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh; Sa-môn Gotama thuyết pháp, pháp ấy tự mình tạo ra, do suy luận tác thành, tùy thuận trắc nghiệm và thuyết pháp cho một mục tiêu đặc biệt, có khả năng hướng thượng, có thể dẫn người thực hành diệt tận khổ đau”.
SC 4Rồi Tôn giả Sāriputta khất thực xong, sau khi ăn và đi khất thực trở về đến chỗ ở Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Sāriputta bạch Thế Tôn
SC 5—Bạch Thế Tôn, Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi, vừa mới từ bỏ Pháp và Luật này, nói lời nói như sau trong hội chúng Vesālī: “Sa-môn Gotama không có pháp thượng nhân … (như trên) … diệt tận khổ đau”.
SC 6—Này Sāriputta, Sunakkhatta phẫn nộ và ngu si, do phẫn nộ nên nói lên lời ấy. Này Sāriputta, Ông ta nghĩ: “Ta sẽ nói xấu”. Thế mà kẻ ngu Sunakkhatta lại nói lời tán thán Như Lai. Này Sāriputta, ai nói như sau là tán thán Như Lai: “Pháp ấy được thuyết giảng cho một mục tiêu đặc biệt, có khả năng hướng dẫn người thực hành diệt tận khổ đau”.
SC 7Này Sāriputta, đối với Sunakkhatta ngu si kia, sẽ không có tùy pháp nào về Ta như sau: “Ðây là Như Lai, A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”.
SC 8Này Sāriputta, đối với Sunakkhatta ngu si kia, sẽ không có tùy pháp nào về Ta như sau: “Ðây là Thế Tôn, vị đã chứng được các loại thần thông, một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân, hiện hình, biến hình, đi ngang qua vách, qua thành, qua núi, như đi ngang hư không, độn thổ trồi lên ngang qua đất liền như ở trong nước, đi trên nước không chìm như trên đất liền, ngồi kiết-già đi trên hư không như con chim; với bàn tay, chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy, có thể tự thân bay đến cõi Phạm Thiên”. Này Sāriputta, đối với Sunakkhatta ngu si kia sẽ không có tùy pháp này về Ta như sau: “Ðây là Thế Tôn với thiên nhĩ thanh tịnh siêu nhân có thể nghe hai loại tiếng chư Thiên và loài Người, xa và gần”.
SC 9Này Sāriputta, đối với Sunakkhatta ngu si kia sẽ không có tùy pháp nào về Ta như sau: “Ðây là Thế Tôn, sau khi đi sâu vào tâm chúng sanh, tâm loài Người với tâm của mình, vị ấy biết được như sau: “Tâm có tham biết là tâm có tham. Hay tâm không tham biết là tâm không tham … tâm chuyên chú … tâm tán loạn … đại hành tâm … không phải đại hành tâm … tâm chưa vô thượng … tâm vô thượng … Tâm Thiền định … Tâm không Thiền định … tâm giải thoát … tâm không giải thoát biết là tâm không giải thoát”. Vị ấy biết như vậy.
SC 10Này Sāriputta, Như Lai có đầy đủ mười Như Lai lực, chính nhờ thành tựu mười lực này, Như Lai tự nhận cho mình địa vị Ngưu Vương, rống tiếng rống con sư tử trong các Hội chúng và chuyển Phạm luân. Thế nào là mười?
SC 11(1) Ở đây, này Sāriputta, Như Lai như thật tuệ tri xứ là xứ, phi xứ là phi xứ (Tri thị xứ phi xứ lực). Này Sāriputta, Như Lai như thật tuệ tri xứ là xứ, phi xứ là phi xứ. Như vậy là Như Lai lực của Như Lai. Chính nhờ Như Lai lực này, Như Lai tự nhận cho mình địa vị Ngưu Vương, rống lên tiếng rống con sư tử trong các hội chúng, và chuyển Phạm luân.
SC 12(2) Lại nữa, này Sāriputta, Như Lai như thật tuệ tri quả báo tùy thuộc sở do, tùy theo sở nhân của các hành nghiệp quá khứ, vị lai, hiện tại (Tri tam thế nghiệp báo lực.) Này Sāriputta, Như Lai như thật tuệ tri … (như trên) … và chuyển Phạm luân.
SC 13(3) Lại nữa, này Sāriputta, Như Lai như thật tuệ tri con đường đưa đến tất cả cảnh giới (Tri nhứt thiết đạo trí lực). Này Sāriputta, Như Lai như thật tuệ tri … (như trên) … và chuyển Phạm luân.
SC 14(4) Lại nữa, này Sāriputta, Như Lai như thật tuệ tri thế giới với mọi cảnh giới, nhiều chủng loại, nhiều sai biệt (Tri thế gian chủng chủng tánh lực). Này Sāriputta, Như Lai như thật tuệ tri … (như trên) … và chuyển Phạm luân.
SC 15(5) Lại nữa, này Sāriputta, Như Lai như thật tuệ tri chí hướng sai biệt của các loại hữu tình (Tri tha chúng sanh chưởng chưởng dục lực). Này Sāriputta, Như Lai như thật tuệ tri … chuyển Phạm luân.
SC 16(6) Lại nữa, này Sāriputta, Như Lai như thật tuệ tri những căn thượng hạ của các loài hữu tình, loài Người (Tri tha chúng sanh chư căn thượng hạ lực). Này Sāriputta, Như Lai như thật tuệ tri … (như trên) … và chuyển Phạm luân.
SC 17(7) Lại nữa, này Sāriputta, Như Lai như thật tuệ tri sự tạp nhiễm, sự thanh tịnh, sự xuất khởi của các Thiền, chứng về Thiền, về giải thoát, về định (Tri chư Thiền tam muội lực). Này Sāriputta, Như Lai như thật tuệ tri … (như trên) … và chuyển Phạm luân.
SC 18(8) Lại nữa, này Sāriputta, Như Lai nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều thành hoại kiếp. Ngài nhớ rằng: “Tại chỗ kia, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, Ta được sanh ra chỗ nọ. Tại chỗ ấy, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, Ta được sanh ra ở đây”. Như vậy, Như Lai nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết. Này Sāriputta, Như Lai như thật tuệ tri … (như trên) … và chuyển Phạm luân.
SC 19(9) Lại nữa, này Sāriputta, Như Lai với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Như Lai tuệ tri rõ rằng, chúng sanh người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Các chúng sanh này làm những ác hạnh về thân, về lời và về ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Các chúng sanh này làm những thiện hạnh về thân, về lời và về ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, cõi Trời, trên đời này. Như vậy, Như Lai với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Như Lai tuệ tri rằng, chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Này Sāriputta, Như Lai như thật tuệ tri … (như trên) … và chuyển Phạm luân.
SC 20(10) Lại nữa, này Sāriputta, Như Lai nhờ đoạn trừ các lậu hoặc tự mình chứng tri, chứng ngộ, thành tựu và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này Sāriputta, Như Lai nhờ đoạn trừ các lậu hoặc, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Chính nhờ Như Lai lực này, Như Lai tự nhận cho mình địa vị Ngưu Vương, rống tiếng rống con sư tử trong các Hội chúng và chuyển Phạm luân.
SC 21Này Sāriputta, Như Lai có đầy đủ mười Như Lai lực. Chính nhờ thành tựu mười lực này, Như Lai tự nhận cho mình địa vị Ngưu Vương, rống tiếng rống sư tử trong các Hội chúng và chuyển Phạm luân.
SC 22Này Sāriputta, nếu ai biết Ta như vậy, thấy Ta như vậy mà còn nói: “Sa-môn Gotama không có pháp Thượng nhân, không có tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Sa-môn Gotama thuyết pháp, pháp ấy tự mình tạo ra, do suy luận tác thành, tùy thuận trắc nghiệm, thuyết pháp cho một mục tiêu đặc biệt, có khả năng hướng thượng, có thể hướng dẫn người thực hành diệt tận khổ đau”. Này Sāriputta, nếu người ấy không từ bỏ lời nói ấy; không từ bỏ tâm ấy, không đoạn trừ tà kiến ấy; người ấy sẽ bị rơi vào địa ngục như một gánh nặng bị quăng bỏ một bên. Này Sāriputta, như Tỷ-kheo thành tựu giới hạnh, thành tựu Thiền định, thành tựu trí tuệ có thể chứng được chánh trí ngay trong hiện tại. Này Sāriputta, Ta nói như vậy là sự thành tựu như vậy. Nếu người ấy không từ bỏ lời nói ấy không từ bỏ tâm ấy, không đoạn trừ tà kiến ấy; người ấy sẽ bị rơi vào địa ngục như một gánh nặng bị quăng bỏ một bên.
SC 23Này Sāriputta, có bốn pháp vô sở úy chính nhờ thành tựu bốn pháp này, Như Lai tự nhận cho mình địa vị Ngưu Vương, rống tiếng rống con sử tử trong các hội chúng và chuyển Phạm luân. Thế nào là bốn?
SC 24Này Sāriputta, Ta thấy không có lý do gì, một Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên hay một ai ở đời có thể chỉ trích Ta đúng pháp rằng: “Các pháp này chưa được chứng ngộ hoàn toàn, mà quý vị tự xưng đã chứng ngộ hoàn toàn”. Này Sāriputta, vì Ta thấy không có lý do gì như vậy, nên Ta sống đạt được an ổn, đạt được không sợ hãi, đạt được vô úy.
SC 25Này Sāriputta, Ta thấy không có lý do gì … có thể chỉ trích Ta đúng pháp rằng: “Các lậu hoặc này chưa được đoạn trừ mà quý vị tự xưng đã đoạn trừ”. Này Sāriputta, vì Ta không thấy … đạt được vô úy.
SC 26Này Sāriputta, Ta thấy không có lý do gì … có thể chỉ trích Ta đúng pháp rằng: “Những pháp này được gọi là các chướng ngại pháp khi được thực hành thời không có gì gọi là chướng ngại pháp cả”. Này Sāriputta, vì Ta không thấy … đạt được vô úy.
SC 27Này Sāriputta, Ta thấy không có lý do gì một Sa-môn Bà-la-môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên hay một ai ở đời có thể chỉ trích Ta đúng pháp rằng: “Pháp do quý vị thuyết giảng không đưa đến mục tiêu đặc biệt, không có khả năng hướng thượng, không có thể dẫn người thực hành đến diệt tận khổ đau”. Này Sāriputta, vì Ta thấy không có lý do gì như vậy, nên Ta sống đạt được an ổn, đạt được không sợ hãi, đạt được vô úy.
SC 28Này Sāriputta, có bốn pháp vô sở úy, chính nhờ thành tựu bốn pháp này, Như Lai tự nhận cho mình địa vị Ngưu Vương, rống tiếng rống con sử tử trong các hội chúng và chuyển Phạm luân.
SC 29Này Sāriputta, nếu ai biết Ta như vậy … người ấy sẽ bị rơi vào địa ngục như một gánh nặng bị quăng bỏ một bên.
SC 30Này Sāriputta, có tám Hội chúng này: Hội chúng Sát-đế-lị, Hội chúng Bà-la-môn, Hội chúng Gia chủ, Hội chúng Sa-môn, Hội chúng Tứ thiên vương, Hội chúng Tam thập tam thiên, Hội chúng Māra, Hội chúng Phạm thiên. Này Sāriputta, có tám Hội chúng này. Này Sāriputta, Như Lai thành tựu bốn pháp vô sở úy như vậy, đến gần và vào tám Hội chúng này.
SC 31Này Sāriputta, Ta nhớ lại Ta đã đến hàng trăm Hội chúng Sát-đế-lị. Tuy vậy, trước khi Ta ngồi xuống tại chỗ ấy, trước khi Ta nói chuyện và trước khi Ta đàm luận; này Sāriputta, ta thấy không có lý do gì để nghĩ rằng: “Chắc chắn sự sợ hãi và run sợ sẽ đến ám ảnh Ta”. Này Sāriputta, vì Ta thấy không có lý do gì như vậy, nên Ta sống đạt được an ổn, đạt được không sợ hãi, đạt được vô úy.
SC 32Này Sāriputta, Ta nhớ lại, Ta đã đến hàng trăm Hội chúng Bà-la-môn … (như trên) … Hội chúng Gia chủ … Hội chúng Sa-môn … Hội chúng Tứ thiên vương … Hội chúng Tam thập tam thiên … Hội chúng Māra … Hội chúng Phạm thiên. Tuy vậy, trước khi Ta ngồi xuống tại chỗ ấy, trước khi Ta nói chuyện và trước khi Ta đàm luận, này Sāriputta, Ta thấy không có một lý do gì để nghĩ rằng: “Chắc chắn sự sợ hãi và run sợ sẽ đến ám ảnh Ta”. Này Sāriputta, vì Ta thấy không có lý do gì như vậy, nên Ta sống đạt được an ổn, đạt được không sợ hãi, đạt được vô úy.
SC 33Này Sāriputta, nếu ai biết Ta như vậy … người ấy sẽ bị rơi vào địa ngục, như một gánh nặng bị quăng bỏ một bên.
SC 34Này Sāriputta, có bốn loại sanh. Thế nào là bốn? Noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh.
SC 35Này Sāriputta, thế nào là noãn sanh? Này Sāriputta, những loại chúng sanh nào phá vỏ trứng, mà sanh, này Sāriputta như vậy gọi là noãn sanh. Và này Sāriputta, thế nào là thai sanh? Này Sāriputta, những loại chúng sanh nào phá màn da mỏng che chỗ kín mà sanh, này Sāriputta, như vậy gọi là thai sanh. Và này Sāriputta, thế nào là thấp sanh? Này Sāriputta, những loại chúng sanh nào sanh ra từ cá thúi, từ xác chết thúi, từ cháo cơm thúi, hay trong hồ nước dơ hay trong ao nước nhớp. Này Sāriputta, như vậy gọi là thấp sanh. Và này Sāriputta, thế nào là hóa sanh? Chư Thiên, các chúng sanh ở địa ngục, một số thuộc loài người và một số thuộc đọa xứ. Này Sāriputta, như vậy gọi là hóa sanh.
SC 36Này Sāriputta có bốn loại sanh như vậy. Này Sāriputta, nếu ai biết Ta như vậy … người ấy sẽ bị rơi vào địa ngục, như một gánh nặng bị quăng bỏ một bên.
SC 37Này Sāriputta, có năm loại sanh thú này. Thế nào là năm? Ðịa ngục, bàng sanh, ngạ quỷ, loài Người, chư Thiên.
SC 38(1) Này Sāriputta, Ta tuệ tri địa ngục, con đường đưa đến địa ngục và hành lộ đưa đến địa ngục. Tùy theo hạnh nghiệp, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục, sự việc này ta cũng tuệ tri.
SC 39(2) Và này Sāriputta, Ta tuệ tri bàng sanh, con đường đưa đến bàng sanh và hành lộ đưa đến bàng sanh. Tùy theo hạnh nghiệp, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào bàng sanh, sự việc này Ta cũng tuệ tri.
SC 40(3) Và này Sāriputta, Ta tuệ tri ngạ quỷ, con đường đưa đến ngạ quỷ và hành lộ đưa đến ngạ quỷ. Tùy theo hành nghiệp, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào ngạ quỷ, sự việc này Ta cũng tuệ tri.
SC 41(4) Và này Sāriputta, Ta cũng tuệ tri loài Người, con đường đưa đến thế giới loài Người và hành lộ đưa đến thế giới loài Người. Tùy theo hành nghiệp, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào loài Người, sự việc này Ta cũng tuệ tri.
SC 42(5) Và này Sāriputta, Ta cũng tuệ tri chư Thiên, con đường đưa đến Thiên giới và hành lộ đưa đến Thiên giới. Tùy theo hành nghiệp, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào thiện thú, Thiên giới, thế giới này, sự việc này Ta cũng tuệ tri.
SC 43Và này Sāriputta, Ta cũng tuệ tri Niết-bàn, con đường đưa đến Niết-bàn và hành lộ đưa đến Niết-bàn. Tùy theo hành nghiệp, do đoạn trừ các lậu hoặc, sau khi tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát, sự việc này, Ta cũng tuệ tri.
SC 44(1) Này Sāriputta, ở đây, với tâm của Ta, Ta tuệ tri tâm của một số người. Do hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy, bước vào đạo lộ như vậy, sau khi thân hoại mạng chung sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục như vậy. Sau một thời gian, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, Ta thấy người ấy, sau khi thân hoại mạng chung sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục, phải cảm thọ những cảm giác cực khổ, thống khổ, khốc liệt. Này Sāriputta, cũng như có một hố than sâu hơn thân người, đầy vun than hừng, không có lửa ngọn, không có khói, và một người đi đến, bị nóng bức áp đảo, bị nóng bức hành hạ, mệt mỏi khô cổ, đắng họng, khát nước, và đi thẳng đến hố than ấy chỉ bằng một con đường. Một người có mắt thấy người ấy, có thể nói: “Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy, bước vào đạo lộ như vậy, sẽ đi đến hố than kia”. Sau một thời gian, người ấy sẽ thấy người kia rơi vào hố than ấy và phải cảm thọ những cảm giác cực khổ, thống khổ, khốc liệt. Này Sāriputta, cũng vậy, ở đây với tâm của Ta, Ta tuệ tri tâm của một số người: “Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy, bước vào đạo lộ như vậy, sau khi thân hoại mạng chung sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục như vậy”. Sau một thời gian, với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, Ta thấy người ấy sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục, phải cảm thọ những cảm giác cực khổ, thống khổ, khốc liệt.
SC 45(2) Này Sāriputta, ở đây với tâm của Ta, Ta tuệ tri tâm của một số người: “Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy, bước vào đạo lộ như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào bàng sanh”. Sau một thời gian, với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, Ta thấy kẻ ấy sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào bàng sanh, phải cảm thọ những cảm giác cực khổ, thống khổ, khốc liệt. Này Sāriputta, cũng như có một hố phân, sâu hơn thân người, đầy những phẩn uế, và một người đi đến, bị nóng bức áp đảo, bị nóng bức hành hạ, mệt mỏi, khô cổ, đắng họng, khát nước và đi thẳng đến hố phân ấy chỉ bằng một con đường. Một người có mắt thấy người ấy có thể nói: “Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy và bước vào đạo lộ như vậy, sẽ đi đến hố phân ấy”. Sau một thời gian, người ấy sẽ thấy người kia rơi vào hố phân ấy và phải cảm thọ những cảm giác cực khổ, thống khổ, khốc liệt. Này Sāriputta, cũng vậy, ở đây với tâm của Ta … (như trên) … thống khổ, khốc liệt.
SC 46(3) Này Sāriputta, ở đây với tâm của Ta, Ta tuệ tri tâm của một số người “Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy … sau khi thân hoại mạng chung sẽ sanh vào ngạ quỷ, phải cảm thọ những cảm giác cực khổ, thống khổ, khốc liệt”. Này Sāriputta, cũng như có một cây sống trên miếng đất không bằng phẳng, với lá thưa thớt, với bóng che từng đám lưa thưa. Và một người đi đến bị nóng bức áp đảo, bị nóng bức hành hạ, mệt mỏi, khô cổ, đắng họng, khát nước và đi thẳng đến cây ấy chỉ bằng một con đường. Một người có mắt thấy người ấy có thể nói: “Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy và bước vào đạo lộ như vậy, sẽ đi đến cây ấy”. Sau một thời gian, người ấy sẽ thấy người kia ngồi hay nằm dưới bóng cây ấy và phải cảm thọ những cảm giác cực khổ, thống khổ, khốc liệt. Này Sāriputta, cũng vậy ở đây với tâm của Ta … (như trên) … thống khổ, khốc liệt.
SC 47(4) Này Sāriputta, ở đây với tâm của Ta, Ta biết tâm của một số người: “Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy … sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào loài người”. Sau một thời gian … Ta thấy người ấy sanh vào loài người, và cảm thọ được nhiều cảm giác lạc thọ. Này Sāriputta, cũng như có một cây sống trên miếng đất bằng phẳng với lá sum sê, với bóng cây rậm rạp. Và một người đi đến, bị nóng bức áp đảo, bị nóng bức hành hạ, mệt mỏi, khô cổ, đắng họng, khát nước và đi thẳng đến cây ấy chỉ bằng một con đường. Một người có mắt thấy người ấy có thể nói: “Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ của người này như vậy và bước vào đạo lộ như vậy, sẽ đi đến cây ấy”. Sau một thời gian, người ấy sẽ thấy người kia, ngồi hay nằm dưới bóng cây ấy và cảm thọ được nhiều cảm giác lạc thọ. Này Sāriputta, cũng vậy, ở đây, với tâm của Ta … được nhiều cảm giác lạc thọ.
SC 48(5) Này Sāriputta, ở đây với tâm của Ta, Ta tuệ tri tâm của một số người: “Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy … sau khi thân hoại mạng chung sẽ sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này”. Sau một thời gian … Ta thấy người ấy sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này và cảm thọ những cảm giác cực lạc. Này Sāriputta, giống như một ngôi lầu, có gác nhọn, có tô vôi cả trong lẫn ngoài, được che gió, có then chốt đóng lại và có các cửa sổ khép kín. Tại đây có một sàng tọa, trải nệm lông dài, trải nệm màu trắng, trải nệm bông có thêu hoa, trải nệm bằng da sơn dương gọi là kadali, có nệm với khuôn màu treo phía trên, có gối dài màu đỏ cả hai đầu. Và một người đi đến, bị nóng bức áp đảo, bị nóng bức hành hạ, mệt mỏi, khô cổ, đắng họng, khát nước và đi thẳng đến ngôi lầu ấy. Một người có mắt thấy người ấy có thể nói: “Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy, và bước vào đạo lộ như vậy, sẽ đi đến ngôi lầu ấy”. Sau một thời gian, người ấy sẽ thấy người kia ngồi hay nằm trong ngôi lầu ấy, trong gác nhọn ấy, trên sàng tọa ấy và cảm thọ được nhiều cảm thọ cực lạc. Này Sāriputta, cũng vậy, ở đây với tâm của Ta … được nhiều cảm giác lạc thọ.
SC 49(6) Này Sāriputta, ở đây với tâm của Ta, Ta tuệ tri tâm của một số người: “Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy, bước vào đạo lộ như vậy, sẽ đoạn trừ các lậu hoặc, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát như vậy”. Sau một thời gian, Ta thấy vị ấy đoạn trừ các lậu hoặc, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát, cảm thọ những cảm giác cực lạc. Này Sāriputta, giống như một hồ sen có nước trong, có nước ngọt, có nước mát, có nước trong sáng, có bờ hồ khéo sắp đặt, đẹp đẽ, và không xa hồ ấy có khu rừng rậm rạp. Một người đi đến, bị nóng bức áp đảo, bị nóng bức hành hạ, mệt mỏi, khô cổ, đắng họng, khát nước và đi thẳng đến hồ sen ấy. Một người có mắt thấy người ấy có thể nói: “Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy, và bước vào đạo lộ như vậy, sẽ đi đến hồ sen ấy”. Sau một thời gian, người ấy sẽ thấy người kia, sau khi tẩm mình vào hồ sen ấy, sau khi tắm rửa, uống nước và làm cho dịu bớt mọi ưu tư, mệt mỏi, phiền não, sau khi ra khỏi hồ liền qua ngồi hay nằm trong rừng cây rậm rạp ấy và cảm thọ những cảm giác cực lạc. Cũng vậy, này Sāriputta, ở đây với tâm của Ta, Ta tuệ tri tâm của một số người: “Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy, bước vào đạo lộ như vậy, sẽ đoạn trừ các lậu hoặc, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát như vậy”. Sau một thời gian, Ta thấy vị ấy đoạn trừ các lậu hoặc, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát, cảm thọ những cảm giác cực lạc.
SC 50Này Sāriputta, năm loại này là năm sanh thú. Này Sāriputta, có ai biết Ta như vậy, thấy Ta như vậy, và nói: “Sa-môn Gotama không có pháp Thượng nhân, không có tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Sa-môn Gotama thuyết pháp, pháp ấy tự mình tạo ra, do suy luận tác thành, tùy thuộc trắc nghiệm”. Này Sāriputta, nếu người ấy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không đoạn trừ tà kiến ấy, thì người ấy sẽ bị rơi vào địa ngục như một gánh nặng bị quăng bỏ một bên. Này Sāriputta, Tỷ-kheo thành tựu giới hạnh, thành tựu thiền định, thành tựu trí tuệ, có thể chứng được chánh trí ngay trong hiện tại. Này Sāriputta, Ta nói như vậy là sự thành tựu như vậy. Nếu người ấy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không đoạn trừ tà kiến ấy, thì người ấy sẽ bị rơi vào địa ngục như một gánh nặng bị quăng bỏ một bên.
SC 51Này Sāriputta, Ta thắng tri phạm hạnh, đầy đủ bốn hạnh: về khổ hạnh, Ta khổ hạnh đệ nhất; về bần uế, Ta bần uế đệ nhất; về yểm ly, Ta yểm ly đệ nhất; về độc cư, Ta độc cư đệ nhất.
SC 52Này Sāriputta, ở đây, khổ hạnh của Ta như sau: Ta sống lõa thể, phóng túng, không theo khuôn phép, liếm tay cho sạch, đi khất thực không chịu bước tới, không nhận đồ ăn mang đến, không nhận đồ ăn đặc biệt nấu cho mình, không nhận mời đi ăn, không nhận đồ ăn từ nơi nồi chảo, không nhận đồ ăn tại ngưỡng cửa, không nhận đồ ăn đặt giữa những cây gậy, không nhận đồ ăn đặt giữa những cối giã gạo, không nhận đồ ăn từ hai người đang ăn, không nhận đồ ăn từ người đàn bà có thai, không nhận đồ ăn từ người đàn bà đang cho con bú, không nhận đồ ăn từ người đàn bà đang giao cấu, không nhận đồ ăn đi quyên, không nhận đồ ăn tại chỗ có chó đứng, không nhận đồ ăn tại chỗ có ruồi bu, không ăn cá, ăn thịt, không uống rượu nấu, rượu men. Ta chỉ nhận đồ ăn tại một nhà, chỉ nhận ăn một miếng, hay chỉ nhận ăn tại hai nhà, chỉ nhận ăn hai miếng, hay chỉ nhận ăn tại bảy nhà, chỉ nhận ăn bảy miếng. Ta nuôi sống chỉ với một chén, nuôi sống chỉ với hai chén, nuôi sống chỉ với bảy chén. Ta chỉ ăn một ngày một bữa, hai ngày một bữa, bảy ngày một bữa. Như vậy Ta sống theo hạnh tiết chế ăn uống cho đến nửa tháng mới ăn một lần. Ta chỉ ăn cỏ lúa để sống, lúa tắc, gạo lức, ăn hột cải nīvaraṇa, ăn da vụn, ăn trấu, uống nước bột gạo, ăn bột vừng, ăn cỏ, ăn phân bò, ăn trái cây, ăn rễ cây trong rừng, ăn trái cây rụng để sống. Ta mặc vải gai thô, mặc vải gai thô lẫn với các vải khác, mặc vải tẩm liệm rồi quăng đi, mặc áo phấn tảo y, mặc vỏ cây tipiṭaka làm áo, mặc da con sơn dương đen, mặc áo bện từng mảnh da con sơn dương đen, mặc áo bằng cỏ cát tường, mặc áo vỏ cây, mặc áo bằng tấm gỗ nhỏ, mặc áo bằng tóc bện lại thành mền, mặc áo bằng đuôi ngựa bện lại, mặc áo bằng lông cú. Ta sống nhổ râu tóc, Ta theo tập tục sống nhổ râu tóc, Ta theo hạnh thường đứng không dùng chỗ ngồi, Ta là người ngồi chõ hỏ, sống tinh tấn theo hạnh ngồi chõ hỏ. Ta dùng gai làm giường, thường ngủ nằm trên giường gai, sống dùng ván gỗ làm giường, sống nằm trên đất trần, thường nằm ngủ một bên hông, sống để bụi và nhớp che dính thân mình, sống và ngủ ngoài trời, theo hạnh bạ đâu nằm đấy, sống ăn các uế vật, sống không uống nước lạnh, theo hạnh không uống nước lạnh, sống một đêm tắm ba lần, theo hạnh xuống nước tắm. Như vậy Ta sống theo hạnh hành hạ, dày vò thân thể theo nhiều cách. Này Sāriputta, như vậy là khổ hạnh của Ta.
SC 53Này Sāriputta, ở đây hạnh bần uế của Ta như sau: Trên thân Ta, bụi bặm chất đầy trải nhiều năm tháng, đóng thành tấm, thành miếng. Như gốc cây tinduka bụi bặm chất đầy trải nhiều năm tháng, đóng thành tấm, thành miếng; cũng vậy, này Sāriputta, trên thân Ta bụi bặm chất đầy trải nhiều năm tháng, đóng thành tấm, thành miếng. Này Sāriputta, Ta không nghĩ rằng: “Với tay của Ta, Ta hãy phủi sạch bụi bặm này đi, hay những người khác với tay của họ hãy phủi sạch bụi bặm này đi cho Ta”. Này Sāriputta, Ta không có nghĩ như vậy. Này Sāriputta, như vậy là sự bần uế của Ta.
SC 54Này Sāriputta, như thế này là sự yểm ly của Ta. Này Sāriputta, tỉnh giác, Ta đi tới; tỉnh giác Ta đi lui, Ta an trú lòng từ cho đến trong một giọt nước với tâm tư: “Mong rằng Ta không làm hại một chúng sanh nhỏ nào trong những ác đạo của họ!” Này Sāriputta, như vậy là sự yểm ly của Ta.
SC 55Này Sāriputta, như thế này là sự độc cư của Ta. Này Sāriputta, Ta đi sâu vào một khu rừng và an trú tại chỗ ấy. Khi Ta thấy người chăn bò, người mục súc, người cắt cỏ, người đốn củi hay người thợ rừng, Ta liền chạy từ rừng này qua rừng khác, từ lùm cây này qua lùm cây khác, từ thung lũng này qua thung lũng khác, từ đồi cao này qua đồi cao khác. Vì sao vậy? Ta nghĩ rằng: “Mong họ đừng thấy Ta, và mong Ta đừng thấy họ!” Này Sāriputta, giống như một con thú rừng thấy người liền chạy từ rừng này qua rừng khác, từ lùm cây này qua lùm cây khác, từ thung lũng này qua thung lũng khác, từ đồi cao này qua đồi cao khác. Cũng vậy, này Sāriputta, khi Ta thấy người chăn bò, người mục súc, người cắt cỏ, người đốn củi, hay người tiều phu, Ta liền chạy từ rừng này qua rừng khác, từ lùm cây này qua lùm cây khác, từ thung lũng này qua thung lũng khác, từ đồi cao này qua đồi cao khác. Vì sao vậy? Ta nghĩ rằng: “Mong họ đừng thấy Ta, và mong Ta đừng thấy họ!” Này Sāriputta, như vậy là hạnh độc cư của Ta.
SC 56Này Sāriputta, rồi Ta bò bốn chân đến các chuồng bò, khi các con bò cái đã bỏ đi, khi các người chăn bò không có mặt, rồi Ta ăn phân các con bò con, các con bò còn trẻ, các con bò còn bú. Khi nước tiểu và phân của Ta còn tồn tại, Ta tự nuôi sống với các loại ấy. Này Sāriputta, như vậy là hạnh đại bất tịnh thực của Ta.
SC 57Này Sāriputta, Ta đi sâu vào một khu rừng rậm rạp kinh hoàng và an trú tại chỗ ấy. Này Sāriputta, tại khu rừng rậm rạp kinh hoàng này, những ai còn tham ái đi vào khu rừng rậm rạp ấy, thời lông tóc người ấy dựng ngược. Này Sāriputta, rồi Ta trong những đêm đông lạnh lẽo, giữa những ngày mồng tám, khi có tuyết rơi, trong những đêm như vậy, Ta sống giữa trời, và ban ngày sống trong khu rừng rậm rạp. Ta sống trong những ngày cuối tháng hè, ban ngày thì sống giữa trời, còn ban đêm trong khu rừng rậm rạp. Rồi này Sāriputta, những bài kệ kỳ diệu từ trước chưa từng được nghe sau đây được khởi lên:
SC 58Nay bị thiêu đốt, bị buốt lạnh,
Cô độc sống trong rừng kinh hoàng,
Trần truồng, Ta ngồi không lửa ấm,
Ẩn sĩ, trong lý tưởng đăm chiêu.
SC 59Này Sāriputta, Ta nằm ngủ trong bãi tha ma, dựa trên một bộ xương. Này Sāriputta, những đứa mục đồng đến gần Ta, khạc nhổ trên Ta, tiểu tiện trên Ta, rắc bụi trên Ta và lấy que đâm vào lỗ tai. Này Sāriputta, và Ta biết Ta không khởi ác tâm đối với chúng. Này Sāriputta, như vậy là hạnh trú xả của Ta.
SC 60Này Sāriputta, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những thuyết như sau, có những kiến giải như sau: “Sự thanh tịnh đạt được nhờ món ăn”. Họ nói: “Chúng ta sống nhờ trái táo”, và họ ăn trái táo, họ ăn bột táo, họ uống nước trái táo dưới nhiều hình thức. Này Sāriputta, Ta tự xưng Ta sống chỉ ăn một trái táo. Này Sāriputta, có thể các Người nghĩ như sau: “Trái táo thời ấy to lớn”. Này Sāriputta, chớ có hiểu như vậy. Vì trái táo thời ấy giống với trái táo hiện tại. Này Sāriputta, trong khi Ta sống chỉ ăn một trái táo, thân thể của Ta trở thành hết sức ốm yếu. Vì Ta ăn quá ít, tay chân Ta trở thành như những cọng cỏ hay những đốt cây leo khô héo. Vì Ta ăn quá ít, bàn trôn của Ta trở thành như móng chân con lạc đà. Vì Ta ăn quá ít, các xương sống phô bày của Ta giống như một chuỗi banh. Vì Ta ăn quá ít, các xương sườn gầy mòn của Ta giống như rui cột nhà sàn hư nát. Vì ta ăn quá ít, nên con ngươi của Ta long lanh nằm sâu thẳm trong lỗ con mắt, giống như ánh nước long lanh nằm sâu thẳm trong một giếng nước thâm sâu. Vì Ta ăn quá ít, da đầu Ta trở thành nhăn nheo khô cằn như trái bí trắng và đắng bị cắt trước khi chín, bị cơn gió nóng làm cho nhăn nheo khô cằn. Này Sāriputta, nếu Ta nghĩ: “Ta hãy sờ da bụng”, chính xương sống bị Ta nắm lấy. Nếu Ta nghĩ: “Ta hãy sờ xương sống”, thì chính da bụng bị Ta nắm lấy. Vì Ta ăn quá ít, nên này Sāriputta, da bụng của Ta bám chặt xương sống. Này Sāriputta, nếu Ta nghĩ: “Ta đi đại tiện hay đi tiểu tiện”, thì Ta ngã quỵ, úp mặt xuống đất, vì Ta ăn quá ít. Này Sāriputta, nếu Ta muốn thoa dịu thân Ta, lấy tay xoa bóp chân tay, thì này Sāriputta, trong khi Ta lấy tay xoa bóp chân tay, các lông tóc hư mục rụng khỏi thân Ta, vì Ta ăn quá ít.
SC 61Này Sāriputta, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những chủ thuyết như sau, có những kiến giải như sau: “Sự thanh tịnh đạt được nhờ món ăn”. Họ nói: “Chúng ta sống nhờ đậu xanh … (như trên) … chúng ta sống nhờ vừng mè … (như trên) … chúng ta sống nhờ hột gạo”, và họ ăn hột gạo, họ ăn hột gạo nghiền thành bột, họ uống nước gạo, và họ ăn hột gạo dưới nhiều hình thức. Này Sāriputta, Ta tự xưng Ta sống chỉ ăn một hột gạo. Này Sāriputta, có thể các Người nghĩ như sau: “Hột gạo thời ấy to lớn”. Này Sāriputta, chớ có hiểu như vậy. Vì hột gạo thời ấy giống với hột gạo hiện tại. Này Sāriputta, trong khi Ta chỉ sống ăn một hột gạo, thân thể của Ta trở thành hết sức ốm yếu. Vì Ta ăn quá ít, tay chân Ta trở thành như những cọng cỏ hay những đốt cây leo khô héo. Vì Ta ăn quá ít, bàn trôn của Ta trở thành như móng chân con lạc đà. Vì Ta ăn quá ít, xương sống phô bày của Ta giống như một chuỗi banh. Vì Ta ăn quá ít các xương sườn gầy mòn của Ta giống như rui cột của một nhà sàn hư nát. Vì Ta ăn quá ít, con ngươi long lanh của Ta nằm sâu thẳm trong lỗ con mắt, giống như ánh nước long lanh nằm sâu thẳm trong một giếng nước thâm sâu. Vì Ta ăn quá ít, da đầu Ta trở thành nhăn nheo, khô cằn như trái bí trắng và đắng bị cắt trước khi chín, bị cơn gió nóng làm cho nhăn nheo, khô cằn. Này Sāriputta, nếu Ta nghĩ: “Ta hãy sờ da bụng”, thì chính xương sống bị Ta nắm lấy. Nếu Ta nghĩ: “Ta hãy rờ xương sống”, thì chính da bụng bị Ta nắm lấy. Vì Ta ăn quá ít, nên này Sāriputta, da bụng của Ta bám chặt xương sống. Này Sāriputta, nếu Ta nghĩ: “Ta đi đại tiện hay đi tiểu tiện”, thì Ta ngã quỵ, úp mặt xuống đất, vì Ta ăn quá ít. Này Sāriputta, nếu Ta muốn xoa dịu thân Ta, lấy tay xoa bóp chân tay, thời này Sāriputta, trong khi Ta lấy tay xoa bóp chân tay, các lông tóc hư mục rụng khỏi thân Ta, vì Ta ăn quá ít.
SC 62Này Sāriputta, dầu Ta có theo cử chỉ như vậy, theo hành lộ như vậy, theo khổ hạnh như vậy, Ta cũng không chứng được các pháp thượng nhân, không có tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Vì sao vậy? Vì với những phương tiện ấy, không chứng được pháp thượng nhân với Thánh trí tuệ. Chính Thánh trí tuệ này chứng được thuộc về bậc Thánh, có khả năng hướng thượng, có thể dẫn người thực hành diệt tận khổ đau.
SC 63Này Sāriputta, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những chủ thuyết như sau, có những kiến giải như sau: “Sự thanh tịnh chứng đạt được nhờ luân hồi”. Này Sāriputta, thật không dễ gì tìm được sự luân hồi mà xưa kia Ta không trải qua trong một thời gian khá dài, trừ phi với các vị Tịnh cư thiên (Suddhāvāsa). Này Sāriputta, nếu Ta luân hồi tại Tịnh cư thiên thì Ta đã không trở lại đời này nữa.
SC 64Này Sāriputta, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những chủ thuyết như sau, có những kiến giải như sau: “Sự thanh tịnh chứng đạt được nhờ sanh khởi”. Này Sāriputta, thật không dễ gì tìm được sự sanh khởi mà xưa kia Ta không trải qua trong một thời gian khá dài, trừ phi với các vị Tịnh cư thiên. Này Sāriputta, nếu Ta sanh khởi tại Tịnh cư thiên, thì Ta đã không trở lại đời này nữa.
SC 65Này Sāriputta, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những chủ thuyết như sau, có những kiến giải như sau: “Sự thanh tịnh chứng đạt được nhờ an trú”. Này Sāriputta, thật không dễ gì tìm được sự an trú mà xưa kia Ta không trải qua trong một thời gian khá dài, trừ phi với các vị Tịnh cư thiên. Này Sāriputta, nếu Ta an trú tại Tịnh cư thiên, thì Ta đã không trở lại đời này nữa.
SC 66Này Sāriputta, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những chủ thuyết như sau, có những kiến giải như sau: “Sự thanh tịnh chứng đạt được nhờ tế tự”. Này Sāriputta, thật không dễ gì tìm được sự tế tự mà xưa kia Ta không làm trong một thời gian khá dài, khi Ta là vị vua Sát-đế-lị có làm lễ quán đảnh, hay làm vị Bà-la-môn giàu có.
SC 67Này Sāriputta, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những chủ thuyết như sau, có những kiến giải như sau: “Sự thanh tịnh chứng đạt được nhờ thờ lửa”. Này Sāriputta, thật không dễ gì tìm được sự thờ lửa mà xưa kia Ta không làm trong một thời gian khá dài, khi Ta là vị vua Sát-đế-lị có làm lễ quán đảnh, hay làm vị Bà-la-môn giàu có.
SC 68Này Sāriputta, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những chủ thuyết như sau, có những kiến giải như sau: “Khi một thiếu niên còn trẻ tuổi, tóc đen nhánh, huyết khí sung mãn, trong tuổi thanh xuân, người ấy thành tựu trí tuệ biện tài tối thượng. Nhưng khi người ấy già cả, niên cao, lạp lớn, đã đến tuổi trưởng thượng, đã đi đến đoạn cuối cuộc đời, khi đã tám mươi, chín mươi hay một trăm tuổi, khi ấy trí tuệ biện tài tối thượng ấy bị đoạn trừ”. Này Sāriputta, chớ có quan niệm như vậy. Này Sāriputta, nay Ta đã già, niên cao, lạp lớn, đã đến tuổi trưởng thượng, đã đi dến đoạn cuối cuộc đời, tuổi Ta nay đã đến tám mươi. Này Sāriputta, ở đây Ta có bốn vị đệ tử, tuổi thọ đến một trăm, đã sống một trăm tuổi, thành tựu chánh niệm đệ nhất, thành tựu chuyên tâm đệ nhất, thành tựu tinh cần đệ nhất và đầy đủ trí tuệ biện tài tối thượng. Này Sāriputta, ví như một người bắn cung thiện xảo, có huấn luyện, khéo tay, thuần thục, với một mũi tên nhẹ, có thể dễ dàng bắn ngang qua bóng một cây ta-la. Cũng vậy, những vị này với chánh niệm đệ nhất như vậy, được thành tựu trí tuệ biện tài tối thượng như vậy, nếu những vị này hỏi Ta nhiều lần một câu hỏi về Bốn Niệm xứ, và nếu Ta, được hỏi nhiều lần như vậy, phải giải thích cho họ hiểu và nếu họ được Ta giải thích như vậy, có thể hiểu như đã giải thích, và nếu họ không hỏi Ta về những vấn đề phụ thuộc và các vấn đề khác, trừ khi ăn, uống, nhai, nếm, trừ khi đi đại tiện, tiểu tiện, trừ khi ngủ để lấy lại sức. Này Sāriputta, dầu vậy, sự thuyết pháp của Như Lai cũng chưa hoàn tất, sự giải thích cú pháp của Như Lai cũng chưa hoàn tất, sự trả lời các câu hỏi của Như Lai cũng chưa hoàn tất, khi mà bốn đệ tử của Ta, tuổi thọ đến một trăm tuổi, đã sống một trăm tuổi, đã từ trần sau một trăm tuổi. Này Sāriputta, nếu Ông có gánh Ta trên giường đi chỗ này chỗ kia, thật sự trí tuệ biện tài của Như Lai không có gì thay đổi.
SC 69Này Sāriputta, những ai nói một cách chân chánh sẽ nói như sau: “Một vị hữu tình không bị si chi phối, đã sanh ra ở đời vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người”. Vị ấy sẽ nói về Ta một cách chân chánh như sau: “Một vị hữu tình không bị si chi phối, đã sanh ra ở đời vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người”.
SC 70Lúc bấy giờ Tôn giả Nagasamala đứng sau lưng Thế Tôn và quạt cho Ngài! Tôn giả Nagasamala bạch Thế Tôn
SC 71—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Sau khi nghe pháp môn này, lông tóc con dựng ngược. Bạch Thế Tôn, pháp môn này tên gọi là gì?
SC 72—Này Nagasamala, do vậy pháp môn này gọi là “Pháp môn Lông tóc dựng ngược”. Ông hãy như vậy thọ trì.
SC 73Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Nagasamala hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 10–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
2. Kinh Đại Sư Tử Hống
Tena kho pana samayena sunakkhatto licchaviputto acirapakkanto hoti imasmā dhammavinayā. So vesāliyaṁ parisati evaṁ vācaṁ bhāsati:
“natthi samaṇassa gotamassa uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanaviseso. Takkapariyāhataṁ samaṇo gotamo dhammaṁ deseti vīmaṁsānucaritaṁ sayampaṭibhānaṁ. Yassa ca khvāssa atthāya dhammo desito so niyyāti takkarassa sammā dukkhakkhayāyā”ti.
Now at that time Sunakkhatta the Licchavi had recently left this teaching and training. He was telling a crowd in Vesālī:
“The ascetic Gotama has no superhuman distinction in knowledge and vision worthy of the noble ones. He teaches what he’s worked out by logic, following a line of inquiry, expressing his own perspective. Regardless of his goal in teaching the Dhamma, it delivers one who applies it to the complete ending of suffering.”
146. Tôi nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn trú ở Vesālī, trong một khu rừng ở phía tây thành phố. Vào lúc bấy giờ, Sunakkhatta, con trai của một vị Licchavi, vừa mới từ bỏ Pháp và Luật này không lâu. Vị ấy đã nói những lời này giữa hội chúng ở Vesālī: ‘Sa-môn Gotama không có pháp thượng nhân, không có tri kiến đặc biệt của bậc Thánh. Sa-môn Gotama thuyết một giáo pháp do suy luận tạo ra, do thẩm sát mà có, tự mình biện giải. Và giáo pháp được vị ấy thuyết giảng vì mục đích nào đó, thì giáo pháp ấy đưa người thực hành nó đến sự đoạn tận khổ đau một cách đúng đắn.’”
Atha kho āyasmā sāriputto pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya vesāliṁ piṇḍāya pāvisi. Assosi kho āyasmā sāriputto sunakkhattassa licchaviputtassa vesāliyaṁ parisati evaṁ vācaṁ bhāsamānassa: “natthi samaṇassa gotamassa uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanaviseso. Takkapariyāhataṁ samaṇo gotamo dhammaṁ deseti vīmaṁsānucaritaṁ sayampaṭibhānaṁ. Yassa ca khvāssa atthāya dhammo desito so niyyāti takkarassa sammā dukkhakkhayāyā”ti.
Then Venerable Sāriputta robed up in the morning and, taking his bowl and robe, entered Vesālī for alms. He heard what Sunakkhatta was saying.
Khi ấy, vào buổi sáng, Tôn giả Sāriputta đắp y, mang bát và y, đi vào Vesālī để khất thực. Tôn giả Sāriputta đã nghe Sunakkhatta, con trai của một vị Licchavi, nói những lời này giữa hội chúng ở Vesālī: ‘Sa-môn Gotama không có pháp thượng nhân, không có tri kiến đặc biệt của bậc Thánh. Sa-môn Gotama thuyết một giáo pháp do suy luận tạo ra, do thẩm sát mà có, tự mình biện giải. Và giáo pháp được vị ấy thuyết giảng vì mục đích nào đó, thì giáo pháp ấy đưa người thực hành nó đến sự đoạn tận khổ đau một cách đúng đắn.’”
Atha kho āyasmā sāriputto vesāliyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā sāriputto bhagavantaṁ etadavoca: “sunakkhatto, bhante, licchaviputto acirapakkanto imasmā dhammavinayā. So vesāliyaṁ parisati evaṁ vācaṁ bhāsati: ‘natthi samaṇassa gotamassa uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanaviseso. Takkapariyāhataṁ samaṇo gotamo dhammaṁ deseti vīmaṁsānucaritaṁ sayampaṭibhānaṁ. Yassa ca khvāssa atthāya dhammo desito so niyyāti takkarassa sammā dukkhakkhayāyā’”ti.
Then he wandered for alms in Vesālī. After the meal, on his return from almsround, he went to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened.
Khi ấy, Tôn giả Sāriputta, sau khi đi khất thực ở Vesālī, lúc trở về, sau bữa ăn, đã đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đã đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Sāriputta thưa với Thế Tôn rằng: ‘Bạch Thế Tôn, Sunakkhatta, con trai của một vị Licchavi, vừa mới từ bỏ Pháp và Luật này không lâu. Vị ấy đã nói những lời này giữa hội chúng ở Vesālī: ‘Sa-môn Gotama không có pháp thượng nhân, không có tri kiến đặc biệt của bậc Thánh. Sa-môn Gotama thuyết một giáo pháp do suy luận tạo ra, do thẩm sát mà có, tự mình biện giải. Và giáo pháp được vị ấy thuyết giảng vì mục đích nào đó, thì giáo pháp ấy đưa người thực hành nó đến sự đoạn tận khổ đau một cách đúng đắn.’”
“Kodhano heso, sāriputta, sunakkhatto moghapuriso. Kodhā ca panassa esā vācā bhāsitā. ‘Avaṇṇaṁ bhāsissāmī’ti kho, sāriputta, sunakkhatto moghapuriso vaṇṇaṁyeva tathāgatassa bhāsati. Vaṇṇo heso, sāriputta, tathāgatassa yo evaṁ vadeyya: ‘yassa ca khvāssa atthāya dhammo desito so niyyāti takkarassa sammā dukkhakkhayāyā’ti.
“Sāriputta, Sunakkhatta, that futile man, is angry. His words are spoken out of anger. Thinking he criticizes the Realized One, in fact he just praises him. For it is praise of the Realized One to say: ‘Regardless of his goal in teaching the Dhamma, it delivers one who applies it to the complete ending of suffering.’
147. Này Sāriputta, kẻ ngu si Sunakkhatta này là người hay sân hận. Và lời nói này của y được nói ra do sân hận. Này Sāriputta, kẻ ngu si Sunakkhatta, với ý định ‘Ta sẽ nói lời chê bai,’ lại chính là nói lời tán thán Như Lai. Này Sāriputta, đây chính là lời tán thán Như Lai, khi có người nói rằng: ‘Pháp mà vị ấy thuyết giảng vì mục đích nào, thì pháp ấy đưa người thực hành đến sự đoạn tận khổ đau một cách chân chánh.’
Ayampi hi nāma, sāriputta, sunakkhattassa moghapurisassa mayi dhammanvayo na bhavissati: ‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi, satthā devamanussānaṁ, buddho bhagavā’ti.
But there’s no way Sunakkhatta will infer about me from the teaching: ‘That Blessed One is perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed.’
Này Sāriputta, lại nữa, kẻ ngu si Sunakkhatta này đã không có sự suy luận hợp pháp đối với ta rằng: ‘Vị Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.’
Ayampi hi nāma, sāriputta, sunakkhattassa moghapurisassa mayi dhammanvayo na bhavissati: ‘itipi so bhagavā anekavihitaṁ iddhividhaṁ paccanubhoti—ekopi hutvā bahudhā hoti, bahudhāpi hutvā eko hoti; āvibhāvaṁ, tirobhāvaṁ; tirokuṭṭaṁ tiropākāraṁ tiropabbataṁ asajjamāno gacchati, seyyathāpi ākāse; pathaviyāpi ummujjanimujjaṁ karoti, seyyathāpi udake; udakepi abhijjamāne gacchati, seyyathāpi pathaviyaṁ; ākāsepi pallaṅkena kamati, seyyathāpi pakkhī sakuṇo; imepi candimasūriye evaṁmahiddhike evaṁmahānubhāve pāṇinā parimasati parimajjati; yāva brahmalokāpi kāyena vasaṁ vattetī’ti.
And there’s no way Sunakkhatta will infer about me from the teaching: ‘That Blessed One wields the many kinds of psychic power: multiplying himself and becoming one again; materializing and dematerializing; going unobstructed through a wall, a rampart, or a mountain as if through space; diving in and out of the earth as if it were water; walking on water as if it were earth; flying cross-legged through the sky like a bird; touching and stroking with the hand the sun and moon, so mighty and powerful; controlling the body as far as the realm of divinity.’
Này Sāriputta, lại nữa, kẻ ngu si Sunakkhatta này đã không có sự suy luận hợp pháp đối với ta rằng: ‘Vị Thế Tôn ấy chứng nghiệm nhiều loại thần thông – từ một thân hiện ra nhiều thân, từ nhiều thân hiện ra một thân; hiện hình, biến mất; đi xuyên qua vách, qua tường, qua núi không bị trở ngại, như đi trong hư không; độn thổ và trồi lên trong đất, như ở trong nước; đi trên nước không chìm, như đi trên đất; ngồi kiết-già đi trong hư không, như con chim có cánh; với bàn tay, chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại thần lực, đại oai đức như vậy; có thể dùng thân để làm chủ cho đến tận cõi Phạm thiên.’
Ayampi hi nāma, sāriputta, sunakkhattassa moghapurisassa mayi dhammanvayo na bhavissati: ‘itipi so bhagavā dibbāya sotadhātuyā visuddhāya atikkantamānusikāya ubho sadde suṇāti—dibbe ca mānuse ca, ye dūre santike cā’ti.
And there’s no way Sunakkhatta will infer about me from the teaching: ‘That Blessed One, with clairaudience that is purified and superhuman, hears both kinds of sounds, human and heavenly, whether near or far.’
Này Sāriputta, lại nữa, kẻ ngu si Sunakkhatta này đã không có sự suy luận hợp pháp đối với ta rằng: ‘Vị Thế Tôn ấy, với thiên nhĩ giới thanh tịnh, siêu việt tai người, nghe được cả hai loại âm thanh – của chư thiên và của loài người, dù ở xa hay ở gần.’
Ayampi hi nāma, sāriputta, sunakkhattassa moghapurisassa mayi dhammanvayo na bhavissati: ‘itipi so bhagavā parasattānaṁ parapuggalānaṁ cetasā ceto paricca pajānāti—sarāgaṁ vā cittaṁ sarāgaṁ cittanti pajānāti, vītarāgaṁ vā cittaṁ vītarāgaṁ cittanti pajānāti; sadosaṁ vā cittaṁ sadosaṁ cittanti pajānāti, vītadosaṁ vā cittaṁ vītadosaṁ cittanti pajānāti; samohaṁ vā cittaṁ samohaṁ cittanti pajānāti, vītamohaṁ vā cittaṁ vītamohaṁ cittanti pajānāti; saṅkhittaṁ vā cittaṁ saṅkhittaṁ cittanti pajānāti, vikkhittaṁ vā cittaṁ vikkhittaṁ cittanti pajānāti; mahaggataṁ vā cittaṁ mahaggataṁ cittanti pajānāti, amahaggataṁ vā cittaṁ amahaggataṁ cittanti pajānāti; sauttaraṁ vā cittaṁ sauttaraṁ cittanti pajānāti, anuttaraṁ vā cittaṁ anuttaraṁ cittanti pajānāti; samāhitaṁ vā cittaṁ samāhitaṁ cittanti pajānāti, asamāhitaṁ vā cittaṁ asamāhitaṁ cittanti pajānāti; vimuttaṁ vā cittaṁ vimuttaṁ cittanti pajānāti, avimuttaṁ vā cittaṁ avimuttaṁ cittanti pajānātī’ti.
And there’s no way Sunakkhatta will infer about me from the teaching: ‘That Blessed One understands the minds of other beings and individuals, having encompassed them with his own mind. He understands mind with greed as “mind with greed,” and mind without greed as “mind without greed.” He understands mind with hate … mind without hate … mind with delusion … mind without delusion … constricted mind … scattered mind … expansive mind … unexpansive mind … mind that is supreme … mind that is not supreme … mind immersed in samādhi … mind not immersed in samādhi … freed mind as “freed mind,” and unfreed mind as “unfreed mind.”’
Này Sāriputta, lại nữa, kẻ ngu si Sunakkhatta này đã không có sự suy luận hợp pháp đối với ta rằng: ‘Vị Thế Tôn ấy, với tâm của mình, biết rõ tâm của các chúng sanh khác, của các người khác – biết tâm có tham là tâm có tham, biết tâm không tham là tâm không tham; biết tâm có sân là tâm có sân, biết tâm không sân là tâm không sân; biết tâm có si là tâm có si, biết tâm không si là tâm không si; biết tâm thu nhiếp là tâm thu nhiếp, biết tâm tán loạn là tâm tán loạn; biết tâm quảng đại là tâm quảng đại, biết tâm không quảng đại là tâm không quảng đại; biết tâm hữu hạn là tâm hữu hạn, biết tâm vô thượng là tâm vô thượng; biết tâm có định là tâm có định, biết tâm không định là tâm không định; biết tâm giải thoát là tâm giải thoát, biết tâm không giải thoát là tâm không giải thoát.’
Dasa kho panimāni, sāriputta, tathāgatassa tathāgatabalāni yehi balehi samannāgato tathāgato āsabhaṁ ṭhānaṁ paṭijānāti, parisāsu sīhanādaṁ nadati, brahmacakkaṁ pavatteti. Katamāni dasa?
There are these ten powers of a Realized One that the Realized One possesses. With these he claims the bull’s place, roars his lion’s roar in the assemblies, and turns the divine wheel. What ten?
148. Này Sāriputta, có mười Như Lai lực này của Như Lai, do được trang bị những lực này mà Như Lai tự nhận ở vị trí tối thượng, rống tiếng rống sư tử trong các hội chúng, và chuyển bánh xe pháp cao thượng. Mười lực ấy là gì?
Idha, sāriputta, tathāgato ṭhānañca ṭhānato aṭṭhānañca aṭṭhānato yathābhūtaṁ pajānāti. Yampi, sāriputta, tathāgato ṭhānañca ṭhānato aṭṭhānañca aṭṭhānato yathābhūtaṁ pajānāti, idampi, sāriputta, tathāgatassa tathāgatabalaṁ hoti yaṁ balaṁ āgamma tathāgato āsabhaṁ ṭhānaṁ paṭijānāti, parisāsu sīhanādaṁ nadati, brahmacakkaṁ pavatteti.
Firstly, the Realized One truly understands the possible as possible, and the impossible as impossible. Since he truly understands this, this is a power of the Realized One. Relying on this he claims the bull’s place, roars his lion’s roar in the assemblies, and turns the divine wheel.
Này Sāriputta, ở đây, Như Lai biết như thật nguyên nhân là nguyên nhân và phi nguyên nhân là phi nguyên nhân. Này Sāriputta, việc Như Lai biết như thật nguyên nhân là nguyên nhân và phi nguyên nhân là phi nguyên nhân, đây cũng là Như Lai lực của Như Lai, do nương vào lực này mà Như Lai tự nhận ở vị trí tối thượng, rống tiếng rống sư tử trong các hội chúng, và chuyển bánh xe pháp cao thượng.
Puna caparaṁ, sāriputta, tathāgato atītānāgatapaccuppannānaṁ kammasamādānānaṁ ṭhānaso hetuso vipākaṁ yathābhūtaṁ pajānāti. Yampi, sāriputta, tathāgato atītānāgatapaccuppannānaṁ kammasamādānānaṁ ṭhānaso hetuso vipākaṁ yathābhūtaṁ pajānāti, idampi, sāriputta, tathāgatassa tathāgatabalaṁ hoti yaṁ balaṁ āgamma tathāgato āsabhaṁ ṭhānaṁ paṭijānāti, parisāsu sīhanādaṁ nadati, brahmacakkaṁ pavatteti.
Furthermore, the Realized One truly understands the result of deeds undertaken in the past, future, and present in terms of grounds and causes. Since he truly understands this, this is a power of the Realized One. …
Lại nữa, này Sāriputta, Như Lai biết như thật quả dị thục của các nghiệp đã được tạo tác trong quá khứ, vị lai, và hiện tại, theo vị trí và nguyên nhân. Này Sāriputta, việc Như Lai biết như thật quả dị thục của các nghiệp đã được tạo tác trong quá khứ, vị lai, và hiện tại, theo vị trí và nguyên nhân, đây cũng là Như Lai lực của Như Lai, do nương vào lực này mà Như Lai tự nhận ở vị trí tối thượng, rống tiếng rống sư tử trong các hội chúng, và chuyển bánh xe pháp cao thượng.
Puna caparaṁ, sāriputta, tathāgato sabbatthagāminiṁ paṭipadaṁ yathābhūtaṁ pajānāti. Yampi, sāriputta, tathāgato sabbatthagāminiṁ paṭipadaṁ yathābhūtaṁ pajānāti, idampi, sāriputta, tathāgatassa tathāgatabalaṁ hoti yaṁ balaṁ āgamma tathāgato āsabhaṁ ṭhānaṁ paṭijānāti, parisāsu sīhanādaṁ nadati, brahmacakkaṁ pavatteti.
Furthermore, the Realized One truly understands where all paths of practice lead. Since he truly understands this, this is a power of the Realized One. …
Lại nữa, này Sāriputta, Như Lai biết như thật con đường đưa đến tất cả các cõi. Này Sāriputta, việc Như Lai biết như thật con đường đưa đến tất cả các cõi, đây cũng là Như Lai lực của Như Lai, do nương vào lực này mà Như Lai tự nhận ở vị trí tối thượng, rống tiếng rống sư tử trong các hội chúng, và chuyển bánh xe pháp cao thượng.
Puna caparaṁ, sāriputta, tathāgato anekadhātunānādhātulokaṁ yathābhūtaṁ pajānāti. Yampi, sāriputta, tathāgato anekadhātunānādhātulokaṁ yathābhūtaṁ pajānāti, idampi, sāriputta, tathāgatassa tathāgatabalaṁ hoti yaṁ balaṁ āgamma tathāgato āsabhaṁ ṭhānaṁ paṭijānāti, parisāsu sīhanādaṁ nadati, brahmacakkaṁ pavatteti.
Furthermore, the Realized One truly understands the world with its many and diverse elements. Since he truly understands this, this is a power of the Realized One. …
Lại nữa, này Sāriputta, Như Lai biết như thật thế giới có nhiều giới và các giới khác nhau. Này Sāriputta, việc Như Lai biết như thật thế giới có nhiều giới và các giới khác nhau, đây cũng là Như Lai lực của Như Lai, do nương vào lực này mà Như Lai tự nhận ở vị trí tối thượng, rống tiếng rống sư tử trong các hội chúng, và chuyển bánh xe pháp cao thượng.
Puna caparaṁ, sāriputta, tathāgato sattānaṁ nānādhimuttikataṁ yathābhūtaṁ pajānāti. Yampi, sāriputta, tathāgato sattānaṁ nānādhimuttikataṁ yathābhūtaṁ pajānāti, idampi, sāriputta, tathāgatassa tathāgatabalaṁ hoti yaṁ balaṁ āgamma tathāgato āsabhaṁ ṭhānaṁ paṭijānāti, parisāsu sīhanādaṁ nadati, brahmacakkaṁ pavatteti.
Furthermore, the Realized One truly understands the diverse convictions of sentient beings. Since he truly understands this, this is a power of the Realized One. …
Lại nữa, này Sāriputta, Như Lai biết như thật về các khuynh hướng đa dạng của chúng sanh. Này Sāriputta, việc Như Lai biết như thật về các khuynh hướng đa dạng của chúng sanh, đây cũng là Như Lai lực của Như Lai, nương vào năng lực ấy, Như Lai tự nhận địa vị tối thượng, rống tiếng rống sư tử giữa các hội chúng, và chuyển bánh xe Phạm hạnh.
Puna caparaṁ, sāriputta, tathāgato parasattānaṁ parapuggalānaṁ indriyaparopariyattaṁ yathābhūtaṁ pajānāti. Yampi, sāriputta, tathāgato parasattānaṁ parapuggalānaṁ indriyaparopariyattaṁ yathābhūtaṁ pajānāti, idampi, sāriputta, tathāgatassa tathāgatabalaṁ hoti yaṁ balaṁ āgamma tathāgato āsabhaṁ ṭhānaṁ paṭijānāti, parisāsu sīhanādaṁ nadati, brahmacakkaṁ pavatteti.
Furthermore, the Realized One truly understands the faculties of other sentient beings and other individuals after encompassing them with his mind. Since he truly understands this, this is a power of the Realized One. …
Lại nữa, này Sāriputta, Như Lai biết như thật về trình độ cao thấp các căn của các chúng sanh khác, của các cá nhân khác. Này Sāriputta, việc Như Lai biết như thật về trình độ cao thấp các căn của các chúng sanh khác, của các cá nhân khác, đây cũng là Như Lai lực của Như Lai, nương vào năng lực ấy, Như Lai tự nhận địa vị tối thượng, rống tiếng rống sư tử giữa các hội chúng, và chuyển bánh xe Phạm hạnh.
Puna caparaṁ, sāriputta, tathāgato jhānavimokkhasamādhisamāpattīnaṁ saṅkilesaṁ vodānaṁ vuṭṭhānaṁ yathābhūtaṁ pajānāti. Yampi, sāriputta, tathāgato jhānavimokkhasamādhisamāpattīnaṁ saṅkilesaṁ vodānaṁ vuṭṭhānaṁ yathābhūtaṁ pajānāti, idampi, sāriputta, tathāgatassa tathāgatabalaṁ hoti yaṁ balaṁ āgamma tathāgato āsabhaṁ ṭhānaṁ paṭijānāti, parisāsu sīhanādaṁ nadati, brahmacakkaṁ pavatteti.
Furthermore, the Realized One truly understands corruption, cleansing, and emergence regarding the absorptions, liberations, immersions, and attainments. Since he truly understands this, this is a power of the Realized One. …
Lại nữa, này Sāriputta, Như Lai biết như thật về sự ô nhiễm, sự trong sạch, và sự xuất khởi của các thiền, các giải thoát, các định, và các chứng đắc. Này Sāriputta, việc Như Lai biết như thật về sự ô nhiễm, sự trong sạch, và sự xuất khởi của các thiền, các giải thoát, các định, và các chứng đắc, đây cũng là Như Lai lực của Như Lai, nương vào năng lực ấy, Như Lai tự nhận địa vị tối thượng, rống tiếng rống sư tử giữa các hội chúng, và chuyển bánh xe Phạm hạnh.
Puna caparaṁ, sāriputta, tathāgato anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati, seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ dvepi jātiyo tissopi jātiyo catassopi jātiyo pañcapi jātiyo dasapi jātiyo vīsampi jātiyo tiṁsampi jātiyo cattālīsampi jātiyo paññāsampi jātiyo jātisatampi jātisahassampi jātisatasahassampi anekepi saṁvaṭṭakappe anekepi vivaṭṭakappe anekepi saṁvaṭṭavivaṭṭakappe: ‘amutrāsiṁ evaṁnāmo evaṅgotto evaṁvaṇṇo evamāhāro evaṁsukhadukkhappaṭisaṁvedī evamāyupariyanto, so tato cuto amutra udapādiṁ; tatrāpāsiṁ evaṁnāmo evaṅgotto evaṁvaṇṇo evamāhāro evaṁsukhadukkhappaṭisaṁvedī evamāyupariyanto, so tato cuto idhūpapanno’ti. Iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati. Yampi, sāriputta, tathāgato anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati, seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ dvepi jātiyo …pe… iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati, idampi, sāriputta, tathāgatassa tathāgatabalaṁ hoti yaṁ balaṁ āgamma tathāgato āsabhaṁ ṭhānaṁ paṭijānāti, parisāsu sīhanādaṁ nadati, brahmacakkaṁ pavatteti.
Furthermore, the Realized One recollects many kinds of past lives. That is: one, two, three, four, five, ten, twenty, thirty, forty, fifty, a hundred, a thousand, a hundred thousand rebirths; many eons of the world contracting, many eons of the world expanding, many eons of the world contracting and expanding. He remembers: ‘There, I was named this, my clan was that, I looked like this, and that was my food. This was how I felt pleasure and pain, and that was how my life ended. When I passed away from that place I was reborn somewhere else. There, too, I was named this, my clan was that, I looked like this, and that was my food. This was how I felt pleasure and pain, and that was how my life ended. When I passed away from that place I was reborn here.’ And so he recollects his many kinds of past lives, with features and details. Since he truly understands this, this is a power of the Realized One. …
Lại nữa, này Sāriputta, Như Lai nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau, nghĩa là: một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều kiếp hoại, nhiều kiếp thành, nhiều kiếp hoại và thành – ‘Ở nơi kia, ta có tên như thế, dòng họ như thế, dung sắc như thế, thức ăn như thế, trải nghiệm khổ lạc như thế, tuổi thọ đến mức như thế. Sau khi chết ở nơi ấy, ta đã sanh ra ở nơi nọ; ở đó, ta cũng có tên như thế, dòng họ như thế, dung sắc như thế, thức ăn như thế, trải nghiệm khổ lạc như thế, tuổi thọ đến mức như thế. Sau khi chết ở nơi ấy, ta đã sanh ra ở đây.’ Như vậy, Ngài nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau cùng với các khía cạnh và các chi tiết của chúng. Này Sāriputta, việc Như Lai nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau, nghĩa là: một đời, hai đời ...pe... Như vậy, Ngài nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau cùng với các khía cạnh và các chi tiết của chúng, đây cũng là Như Lai lực của Như Lai, nương vào năng lực ấy, Như Lai tự nhận địa vị tối thượng, rống tiếng rống sư tử giữa các hội chúng, và chuyển bánh xe Phạm hạnh.
Puna caparaṁ, sāriputta, tathāgato dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate yathākammūpage satte pajānāti: ‘ime vata bhonto sattā kāyaduccaritena samannāgatā vacīduccaritena samannāgatā manoduccaritena samannāgatā ariyānaṁ upavādakā micchādiṭṭhikā micchādiṭṭhikammasamādānā, te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapannā. Ime vā pana bhonto sattā kāyasucaritena samannāgatā vacīsucaritena samannāgatā manosucaritena samannāgatā ariyānaṁ anupavādakā sammādiṭṭhikā sammādiṭṭhikammasamādānā, te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapannā’ti. Iti dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate yathākammūpage satte pajānāti. Yampi, sāriputta, tathāgato dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate yathākammūpage satte pajānāti: ‘ime vata bhonto sattā kāyaduccaritena samannāgatā vacīduccaritena samannāgatā manoduccaritena samannāgatā ariyānaṁ upavādakā micchādiṭṭhikā micchādiṭṭhikammasamādānā, te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapannā. Ime vā pana bhonto sattā kāyasucaritena samannāgatā vacīsucaritena samannāgatā manosucaritena samannāgatā ariyānaṁ anupavādakā sammādiṭṭhikā sammādiṭṭhikammasamādānā, te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapannā’ti. Iti dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate yathākammūpage satte pajānāti. Idampi, sāriputta, tathāgatassa tathāgatabalaṁ hoti yaṁ balaṁ āgamma tathāgato āsabhaṁ ṭhānaṁ paṭijānāti, parisāsu sīhanādaṁ nadati, brahmacakkaṁ pavatteti.
Furthermore, with clairvoyance that is purified and superhuman, the Realized One sees sentient beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in a good place or a bad place. He understands how sentient beings pass on according to their deeds. ‘These dear beings did bad things by way of body, speech, and mind. They denounced the noble ones; they had wrong view; and they chose to act out of that wrong view. When their body broke up, after death, they were reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. These dear beings, however, did good things by way of body, speech, and mind. They never denounced the noble ones; they had right view; and they chose to act out of that right view. When their body broke up, after death, they were reborn in a good place, a heavenly realm.’ And so, with clairvoyance that is purified and superhuman, he sees sentient beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in a good place or a bad place. He understands how sentient beings pass on according to their deeds. Since he truly understands this, this is a power of the Realized One. …
Lại nữa, này Sāriputta, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, Như Lai thấy các chúng sanh đang chết, đang sanh, hạ liệt, cao sang, xinh đẹp, xấu xí, thiện thú, ác thú; Ngài biết rõ chúng sanh tùy theo nghiệp của họ: ‘Chư vị này, những chúng sanh này đã thực hành thân ác hạnh, khẩu ác hạnh, ý ác hạnh, đã phỉ báng các bậc Thánh, có tà kiến, chấp thủ hành động theo tà kiến; sau khi thân hoại mạng chung, họ đã sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn chư vị này, những chúng sanh này đã thực hành thân thiện hạnh, khẩu thiện hạnh, ý thiện hạnh, không phỉ báng các bậc Thánh, có chánh kiến, chấp thủ hành động theo chánh kiến; sau khi thân hoại mạng chung, họ đã sanh vào thiện thú, cõi trời, trên đời này.’ Như vậy, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, Ngài thấy các chúng sanh đang chết, đang sanh, hạ liệt, cao sang, xinh đẹp, xấu xí, thiện thú, ác thú; Ngài biết rõ chúng sanh tùy theo nghiệp của họ. Này Sāriputta, việc Như Lai với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, thấy các chúng sanh đang chết, đang sanh, hạ liệt, cao sang, xinh đẹp, xấu xí, thiện thú, ác thú; Ngài biết rõ chúng sanh tùy theo nghiệp của họ: ‘Chư vị này, những chúng sanh này đã thực hành thân ác hạnh, khẩu ác hạnh, ý ác hạnh, đã phỉ báng các bậc Thánh, có tà kiến, chấp thủ hành động theo tà kiến; sau khi thân hoại mạng chung, họ đã sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn chư vị này, những chúng sanh này đã thực hành thân thiện hạnh, khẩu thiện hạnh, ý thiện hạnh, không phỉ báng các bậc Thánh, có chánh kiến, chấp thủ hành động theo chánh kiến; sau khi thân hoại mạng chung, họ đã sanh vào thiện thú, cõi trời, trên đời này.’ Như vậy, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, Ngài thấy các chúng sanh đang chết, đang sanh, hạ liệt, cao sang, xinh đẹp, xấu xí, thiện thú, ác thú; Ngài biết rõ chúng sanh tùy theo nghiệp của họ, đây cũng là Như Lai lực của Như Lai, nương vào năng lực ấy, Như Lai tự nhận địa vị tối thượng, rống tiếng rống sư tử giữa các hội chúng, và chuyển bánh xe Phạm hạnh.
Puna caparaṁ, sāriputta, tathāgato āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati. Yampi, sāriputta, tathāgato āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati, idampi, sāriputta, tathāgatassa tathāgatabalaṁ hoti yaṁ balaṁ āgamma tathāgato āsabhaṁ ṭhānaṁ paṭijānāti, parisāsu sīhanādaṁ nadati, brahmacakkaṁ pavatteti.
Furthermore, the Realized One has realized the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom, and lives having realized it with his own insight in this very life due to the ending of defilements. Since he truly understands this, this is a power of the Realized One. Relying on this he claims the bull’s place, roars his lion’s roar in the assemblies, and turns the divine wheel.
Này Sāriputta, lại nữa, Như Lai do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này Sāriputta, việc Như Lai do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát, này Sāriputta, đây là Như Lai lực của Như Lai, nhờ thành tựu lực này, Như Lai tự nhận cho mình địa vị Ngưu vương, rống tiếng rống sư tử trong các hội chúng, và chuyển bánh xe Phạm luân.
Imāni kho, sāriputta, dasa tathāgatassa tathāgatabalāni yehi balehi samannāgato tathāgato āsabhaṁ ṭhānaṁ paṭijānāti, parisāsu sīhanādaṁ nadati, brahmacakkaṁ pavatteti.
A Realized One possesses these ten powers of a Realized One. With these he claims the bull’s place, roars his lion’s roar in the assemblies, and turns the divine wheel.
Này Sāriputta, đó là mười Như Lai lực của Như Lai. Do thành tựu các lực này, Như Lai tự nhận cho mình địa vị Ngưu vương, rống tiếng rống sư tử trong các hội chúng và chuyển bánh xe Phạm luân.
Yo kho maṁ, sāriputta, evaṁ jānantaṁ evaṁ passantaṁ evaṁ vadeyya: ‘natthi samaṇassa gotamassa uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanaviseso; takkapariyāhataṁ samaṇo gotamo dhammaṁ deseti vīmaṁsānucaritaṁ sayampaṭibhānan’ti, taṁ, sāriputta, vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā yathābhataṁ nikkhitto evaṁ niraye. Seyyathāpi, sāriputta, bhikkhu sīlasampanno samādhisampanno paññāsampanno diṭṭheva dhamme aññaṁ ārādheyya, evaṁ sampadamidaṁ, sāriputta, vadāmi. Taṁ vācaṁ appahāya, taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā yathābhataṁ nikkhitto evaṁ niraye.
When I know and see in this way, suppose someone were to say this: ‘The ascetic Gotama has no superhuman distinction in knowledge and vision worthy of the noble ones. He teaches what he’s worked out by logic, following a line of inquiry, expressing his own perspective.’ Unless they give up that speech and that thought, and let go of that view, they will be placed in hell as if delivered there. Just as a mendicant accomplished in ethics, immersion, and wisdom would reach enlightenment in this very life, such is the consequence, I say. Unless they give up that speech and that thought, and let go of that view, they will be placed in hell as if delivered there.
149. Này Sāriputta, ai biết Như Lai như vậy, thấy Như Lai như vậy, lại nói như sau: ‘Sa-môn Gotama không có pháp thượng nhân, không có tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Sa-môn Gotama thuyết pháp do suy luận, do tư sát, tự mình biện giải’. Này Sāriputta, người ấy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tri kiến ấy, thời như vậy, chắc chắn sẽ bị rơi vào địa ngục. Ví như, này Sāriputta, một vị Tỳ-kheo đầy đủ giới, đầy đủ định, đầy đủ tuệ, có thể chứng A-la-hán ngay trong hiện tại. Cũng vậy, này Sāriputta, Ta nói rằng sự kiện này là chắc chắn. Người ấy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tri kiến ấy, thời như vậy, chắc chắn sẽ bị rơi vào địa ngục.
Cattārimāni, sāriputta, tathāgatassa vesārajjāni yehi vesārajjehi samannāgato tathāgato āsabhaṁ ṭhānaṁ paṭijānāti, parisāsu sīhanādaṁ nadati, brahmacakkaṁ pavatteti. Katamāni cattāri?
Sāriputta, a Realized One has four kinds of self-assurance. With these he claims the bull’s place, roars his lion’s roar in the assemblies, and turns the divine wheel. What four?
150. Này Sāriputta, có bốn sự vô sở úy này của Như Lai, do thành tựu các vô sở úy này, Như Lai tự nhận cho mình địa vị Ngưu vương, rống tiếng rống sư tử trong các hội chúng, và chuyển bánh xe Phạm luân. Thế nào là bốn?
‘Sammāsambuddhassa te paṭijānato ime dhammā anabhisambuddhā’ti. Tatra vata maṁ samaṇo vā brāhmaṇo vā devo vā māro vā brahmā vā koci vā lokasmiṁ sahadhammena paṭicodessatīti nimittametaṁ, sāriputta, na samanupassāmi.
I see no reason for anyone—whether ascetic, brahmin, god, Māra, or the Divinity, or anyone else in the world—to legitimately scold me, saying: ‘You claim to be a fully awakened Buddha, but you don’t understand these things.’
‘Ta tự nhận là bậc Chánh Đẳng Giác, nhưng các pháp này ngài chưa chánh đẳng giác’. Này Sāriputta, Ta không thấy có một lý do gì, dầu là Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên hay một ai ở đời, có thể đúng như pháp quở trách Ta về điểm này. Này Sāriputta, vì không thấy có lý do này, nên Ta được an ổn, không sợ hãi, đạt đến vô sở úy và an trú.
‘Khīṇāsavassa te paṭijānato ime āsavā aparikkhīṇā’ti. Tatra vata maṁ samaṇo vā brāhmaṇo vā devo vā māro vā brahmā vā koci vā lokasmiṁ sahadhammena paṭicodessatīti nimittametaṁ, sāriputta, na samanupassāmi. Etamahaṁ, sāriputta, nimittaṁ asamanupassanto khemappatto abhayappatto vesārajjappatto viharāmi.
I see no reason for anyone—whether ascetic, brahmin, god, Māra, or the Divinity, or anyone else in the world—to legitimately scold me, saying: ‘You claim to have ended all defilements, but you still have these defilements.’ Since I see no such reason, I live secure, fearless, and self-assured.
‘Ta tự nhận là bậc đã đoạn tận các lậu hoặc, nhưng các lậu hoặc này của ngài chưa được đoạn tận’. Này Sāriputta, Ta không thấy có một lý do gì, dầu là Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên hay một ai ở đời, có thể đúng như pháp quở trách Ta về điểm này. Này Sāriputta, vì không thấy có lý do này, nên Ta được an ổn, không sợ hãi, đạt đến vô sở úy và an trú.
‘Ye kho pana te antarāyikā dhammā vuttā, te paṭisevato nālaṁ antarāyāyā’ti. Tatra vata maṁ samaṇo vā brāhmaṇo vā devo vā māro vā brahmā vā koci vā lokasmiṁ sahadhammena paṭicodessatīti nimittametaṁ, sāriputta, na samanupassāmi. Etamahaṁ, sāriputta, nimittaṁ asamanupassanto khemappatto abhayappatto vesārajjappatto viharāmi.
I see no reason for anyone—whether ascetic, brahmin, god, Māra, or the Divinity, or anyone else in the world—to legitimately scold me, saying: ‘The acts that you say are obstructions are not really obstructions for the one who performs them.’ Since I see no such reason, I live secure, fearless, and self-assured.
‘Những pháp được ngài nói là chướng ngại pháp, đối với người thực hành chúng, không đủ sức gây chướng ngại’. Này Sāriputta, Ta không thấy có một lý do gì, dầu là Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên hay một ai ở đời, có thể đúng như pháp quở trách Ta về điểm này. Này Sāriputta, vì không thấy có lý do này, nên Ta được an ổn, không sợ hãi, đạt đến vô sở úy và an trú.
‘Yassa kho pana te atthāya dhammo desito, so na niyyāti takkarassa sammā dukkhakkhayāyā’ti. Tatra vata maṁ samaṇo vā brāhmaṇo vā devo vā māro vā brahmā vā koci vā lokasmiṁ sahadhammena paṭicodessatīti nimittametaṁ, sāriputta, na samanupassāmi. Etamahaṁ, sāriputta, nimittaṁ asamanupassanto khemappatto abhayappatto vesārajjappatto viharāmi.
I see no reason for anyone—whether ascetic, brahmin, god, Māra, or the Divinity, or anyone else in the world—to legitimately scold me, saying: ‘Regardless of your goal in teaching the Dhamma, it does not deliver one who applies it to the complete ending of suffering.’ Since I see no such reason, I live secure, fearless, and self-assured.
‘Pháp mà ngài thuyết giảng vì một mục đích nào đó, pháp ấy không hướng dẫn người thực hành nó đến sự đoạn tận khổ đau một cách chân chánh’. Này Sāriputta, Ta không thấy có một lý do gì, dầu là Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên hay một ai ở đời, có thể đúng như pháp quở trách Ta về điểm này. Này Sāriputta, vì không thấy có lý do này, nên Ta được an ổn, không sợ hãi, đạt đến vô sở úy và an trú.
Imāni kho, sāriputta, cattāri tathāgatassa vesārajjāni yehi vesārajjehi samannāgato tathāgato āsabhaṁ ṭhānaṁ paṭijānāti, parisāsu sīhanādaṁ nadati, brahmacakkaṁ pavatteti.
A Realized One possesses these four kinds of self-assurance. With these he claims the bull’s place, roars his lion’s roar in the assemblies, and turns the divine wheel.
Này Sāriputta, đó là bốn sự vô sở úy của Như Lai, do thành tựu các vô sở úy này, Như Lai tự nhận cho mình địa vị Ngưu vương, rống tiếng rống sư tử trong các hội chúng, và chuyển bánh xe Phạm luân.
Yo kho maṁ, sāriputta, evaṁ jānantaṁ evaṁ passantaṁ evaṁ vadeyya: ‘natthi samaṇassa gotamassa uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanaviseso, takkapariyāhataṁ samaṇo gotamo dhammaṁ deseti vīmaṁsānucaritaṁ sayampaṭibhānan’ti, taṁ, sāriputta, vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā yathābhataṁ nikkhitto evaṁ niraye. Seyyathāpi, sāriputta, bhikkhu sīlasampanno samādhisampanno paññāsampanno diṭṭheva dhamme aññaṁ ārādheyya, evaṁ sampadamidaṁ, sāriputta, vadāmi. Taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā yathābhataṁ nikkhitto evaṁ niraye.
When I know and see in this way, suppose someone were to say this: ‘The ascetic Gotama has no superhuman distinction in knowledge and vision worthy of the noble ones …’ Unless they give up that speech and that thought, and let go of that view, they will be placed in hell as if delivered there.
Này Sāriputta, ai biết Như Lai như vậy, thấy Như Lai như vậy, lại nói như sau: ‘Sa-môn Gotama không có pháp thượng nhân, không có tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Sa-môn Gotama thuyết pháp do suy luận, do tư sát, tự mình biện giải’. Này Sāriputta, người ấy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tri kiến ấy, thời như vậy, chắc chắn sẽ bị rơi vào địa ngục. Ví như, này Sāriputta, một vị Tỳ-kheo đầy đủ giới, đầy đủ định, đầy đủ tuệ, có thể chứng A-la-hán ngay trong hiện tại. Cũng vậy, này Sāriputta, Ta nói rằng sự kiện này là chắc chắn. Người ấy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tri kiến ấy, thời như vậy, chắc chắn sẽ bị rơi vào địa ngục.
Aṭṭha kho imā, sāriputta, parisā. Katamā aṭṭha? Khattiyaparisā, brāhmaṇaparisā, gahapatiparisā, samaṇaparisā, cātumahārājikaparisā, tāvatiṁsaparisā, māraparisā, brahmaparisā—imā kho, sāriputta, aṭṭha parisā. Imehi kho, sāriputta, catūhi vesārajjehi samannāgato tathāgato imā aṭṭha parisā upasaṅkamati ajjhogāhati. Abhijānāmi kho panāhaṁ, sāriputta, anekasataṁ khattiyaparisaṁ upasaṅkamitā. Tatrapi mayā sannisinnapubbañceva, sallapitapubbañca, sākacchā ca samāpajjitapubbā. Tatra vata maṁ bhayaṁ vā sārajjaṁ vā okkamissatīti nimittametaṁ, sāriputta, na samanupassāmi. Etamahaṁ, sāriputta, nimittaṁ asamanupassanto khemappatto abhayappatto vesārajjappatto viharāmi.
Sāriputta, there are these eight assemblies. What eight? The assemblies of aristocrats, brahmins, householders, and ascetics. An assembly of the gods of the four great kings. An assembly of the gods of the thirty-three. An assembly of Māras. An assembly of divinities. These are the eight assemblies. Possessing these four kinds of self-assurance, the Realized One approaches and enters right into these eight assemblies. I recall having approached an assembly of hundreds of aristocrats. There I used to sit with them, converse, and engage in discussion. But I don’t see any reason to feel afraid or insecure. Since I see no such reason, I live secure, fearless, and self-assured.
151. Này Sāriputta, có tám loại hội chúng này. Tám loại nào? Hội chúng Sát-đế-lỵ, hội chúng Bà-la-môn, hội chúng gia chủ, hội chúng Sa-môn, hội chúng Tứ Đại Thiên Vương, hội chúng trời Ba Mươi Ba, hội chúng của Ma vương, hội chúng của Phạm thiên – này Sāriputta, đó là tám loại hội chúng. Này Sāriputta, Như Lai, người đã thành tựu bốn loại vô sở úy này, đi đến và thâm nhập vào tám loại hội chúng này. Này Sāriputta, Ta biết rõ rằng Ta đã từng đi đến hội chúng Sát-đế-lỵ không biết bao nhiêu trăm lần. Ở nơi ấy, Ta đã từng ngồi xuống, đã từng nói chuyện, và đã từng tham gia thảo luận. Này Sāriputta, Ta không thấy có dấu hiệu nào cho thấy rằng sự sợ hãi hay rụt rè sẽ khởi lên nơi Ta ở đó. Này Sāriputta, do không thấy dấu hiệu ấy, Ta an trú, đã đạt đến sự an ổn, đã đạt đến sự không sợ hãi, đã đạt đến sự vô sở úy.
Abhijānāmi kho panāhaṁ, sāriputta, anekasataṁ brāhmaṇaparisaṁ …pe… gahapatiparisaṁ … samaṇaparisaṁ … cātumahārājikaparisaṁ … tāvatiṁsaparisaṁ … māraparisaṁ … brahmaparisaṁ upasaṅkamitā. Tatrapi mayā sannisinnapubbañceva, sallapitapubbañca, sākacchā ca samāpajjitapubbā. Tatra vata maṁ bhayaṁ vā sārajjaṁ vā okkamissatīti nimittametaṁ, sāriputta, na samanupassāmi. Etamahaṁ, sāriputta, nimittaṁ asamanupassanto khemappatto abhayappatto vesārajjappatto viharāmi.
I recall having approached an assembly of hundreds of brahmins … householders … ascetics … the gods of the four great kings … the gods of the thirty-three … Māras … divinities. There too I used to sit with them, converse, and engage in discussion. But I don’t see any reason to feel afraid or insecure. Since I see no such reason, I live secure, fearless, and self-assured.
Này Sāriputta, Ta biết rõ rằng Ta đã từng đi đến hội chúng Bà-la-môn không biết bao nhiêu trăm lần... ...hội chúng gia chủ... hội chúng Sa-môn... hội chúng Tứ Đại Thiên Vương... hội chúng trời Ba Mươi Ba... hội chúng của Ma vương... hội chúng của Phạm thiên. Ở nơi ấy, Ta đã từng ngồi xuống, đã từng nói chuyện, và đã từng tham gia thảo luận. Này Sāriputta, Ta không thấy có dấu hiệu nào cho thấy rằng sự sợ hãi hay rụt rè sẽ khởi lên nơi Ta ở đó. Này Sāriputta, do không thấy dấu hiệu ấy, Ta an trú, đã đạt đến sự an ổn, đã đạt đến sự không sợ hãi, đã đạt đến sự vô sở úy.
Yo kho maṁ, sāriputta, evaṁ jānantaṁ evaṁ passantaṁ evaṁ vadeyya: ‘natthi samaṇassa gotamassa uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanaviseso, takkapariyāhataṁ samaṇo gotamo dhammaṁ deseti vīmaṁsānucaritaṁ sayampaṭibhānan’ti, taṁ, sāriputta, vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā yathābhataṁ nikkhitto evaṁ niraye. Seyyathāpi, sāriputta, bhikkhu sīlasampanno samādhisampanno paññāsampanno diṭṭheva dhamme aññaṁ ārādheyya, evaṁ sampadamidaṁ, sāriputta, vadāmi. Taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā yathābhataṁ nikkhitto evaṁ niraye.
When I know and see in this way, suppose someone were to say this: ‘The ascetic Gotama has no superhuman distinction in knowledge and vision worthy of the noble ones …’ Unless they give up that speech and that thought, and let go of that view, they will be placed in hell as if delivered there.
Này Sāriputta, người nào biết Ta như vậy, thấy Ta như vậy, mà lại nói rằng: ‘Sa-môn Gotama không có pháp thượng nhân, không có tri kiến thù thắng của bậc Thánh; Sa-môn Gotama thuyết giảng giáo pháp do suy luận, do tìm tòi, do tự mình biện giải,’ này Sāriputta, người ấy, nếu không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy, thì chắc chắn sẽ bị ném vào địa ngục như vật được mang đến rồi đặt xuống. Này Sāriputta, ví như vị tỳ khưu thành tựu về giới, thành tựu về định, thành tựu về tuệ, có thể chứng đắc A-la-hán quả ngay trong hiện tại, này Sāriputta, Ta nói rằng sự việc này cũng tương tự như vậy. Nếu không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy, thì chắc chắn sẽ bị ném vào địa ngục như vật được mang đến rồi đặt xuống.
Catasso kho imā, sāriputta, yoniyo. Katamā catasso? Aṇḍajā yoni, jalābujā yoni, saṁsedajā yoni, opapātikā yoni.
Katamā ca, sāriputta, aṇḍajā yoni? Ye kho te, sāriputta, sattā aṇḍakosaṁ abhinibbhijja jāyanti—ayaṁ vuccati, sāriputta, aṇḍajā yoni. Katamā ca, sāriputta, jalābujā yoni? Ye kho te, sāriputta, sattā vatthikosaṁ abhinibbhijja jāyanti—ayaṁ vuccati, sāriputta, jalābujā yoni. Katamā ca, sāriputta, saṁsedajā yoni? Ye kho te, sāriputta, sattā pūtimacche vā jāyanti pūtikuṇape vā pūtikummāse vā candanikāye vā oḷigalle vā jāyanti—ayaṁ vuccati, sāriputta, saṁsedajā yoni. Katamā ca, sāriputta, opapātikā yoni? Devā, nerayikā, ekacce ca manussā, ekacce ca vinipātikā—ayaṁ vuccati, sāriputta, opapātikā yoni. Imā kho, sāriputta, catasso yoniyo.
Sāriputta, there are these four kinds of reproduction. What four? Reproduction for creatures born from an egg, from a womb, from moisture, or spontaneously.
And what is reproduction from an egg? There are beings who are born by breaking out of an eggshell. This is called reproduction from an egg. And what is reproduction from a womb? There are beings who are born by breaking out of the amniotic sac. This is called reproduction from a womb. And what is reproduction from moisture? There are beings who are born in a rotten fish, a rotten carcass, rotten porridge, a cesspool, or a sump. This is called reproduction from moisture. And what is spontaneous reproduction? Gods, hell-beings, certain humans, and certain beings in the lower realms. This is called spontaneous reproduction. These are the four kinds of reproduction.
152. Này Sāriputta, có bốn loại thai sanh này. Bốn loại nào? Noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, và hóa sanh. Này Sāriputta, thế nào là noãn sanh? Này Sāriputta, những chúng sanh nào sanh ra bằng cách phá vỡ vỏ trứng – này Sāriputta, đây được gọi là noãn sanh. Này Sāriputta, thế nào là thai sanh? Này Sāriputta, những chúng sanh nào sanh ra bằng cách phá vỡ bọc thai – này Sāriputta, đây được gọi là thai sanh. Này Sāriputta, thế nào là thấp sanh? Này Sāriputta, những chúng sanh nào sanh ra trong cá thối, trong xác chết thối, trong cháo thối, trong hố phân, hoặc trong cống rãnh – này Sāriputta, đây được gọi là thấp sanh. Này Sāriputta, thế nào là hóa sanh? Chư thiên, chúng sanh địa ngục, một số loài người, và một số loài ngạ quỷ – này Sāriputta, đây được gọi là hóa sanh. Này Sāriputta, đó là bốn loại thai sanh.
Yo kho maṁ, sāriputta, evaṁ jānantaṁ evaṁ passantaṁ evaṁ vadeyya: ‘natthi samaṇassa gotamassa uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanaviseso, takkapariyāhataṁ samaṇo gotamo dhammaṁ deseti vīmaṁsānucaritaṁ sayampaṭibhānan’ti, taṁ, sāriputta, vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā yathābhataṁ nikkhitto evaṁ niraye. Seyyathāpi, sāriputta, bhikkhu sīlasampanno samādhisampanno paññāsampanno diṭṭheva dhamme aññaṁ ārādheyya, evaṁ sampadamidaṁ, sāriputta, vadāmi. Taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā yathābhataṁ nikkhitto evaṁ niraye.
When I know and see in this way, suppose someone were to say this: ‘The ascetic Gotama has no superhuman distinction in knowledge and vision worthy of the noble ones …’ Unless they give up that speech and that thought, and let go of that view, they will be placed in hell as if delivered there.
Này Sāriputta, người nào biết Ta như vậy, thấy Ta như vậy, mà lại nói rằng: ‘Sa-môn Gotama không có pháp thượng nhân, không có tri kiến thù thắng của bậc Thánh; Sa-môn Gotama thuyết giảng giáo pháp do suy luận, do tìm tòi, do tự mình biện giải,’ này Sāriputta, người ấy, nếu không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy, thì chắc chắn sẽ bị ném vào địa ngục như vật được mang đến rồi đặt xuống. Này Sāriputta, ví như vị tỳ khưu thành tựu về giới, thành tựu về định, thành tựu về tuệ, có thể chứng đắc A-la-hán quả ngay trong hiện tại, này Sāriputta, Ta nói rằng sự việc này cũng tương tự như vậy. Nếu không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy, thì chắc chắn sẽ bị ném vào địa ngục như vật được mang đến rồi đặt xuống.
Pañca kho imā, sāriputta, gatiyo. Katamā pañca? Nirayo, tiracchānayoni, pettivisayo, manussā, devā.
Nirayañcāhaṁ, sāriputta, pajānāmi, nirayagāmiñca maggaṁ, nirayagāminiñca paṭipadaṁ; yathā paṭipanno ca kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati tañca pajānāmi. Tiracchānayoniñcāhaṁ, sāriputta, pajānāmi, tiracchānayonigāmiñca maggaṁ, tiracchānayonigāminiñca paṭipadaṁ; yathā paṭipanno ca kāyassa bhedā paraṁ maraṇā tiracchānayoniṁ upapajjati tañca pajānāmi. Pettivisayañcāhaṁ, sāriputta, pajānāmi, pettivisayagāmiñca maggaṁ, pettivisayagāminiñca paṭipadaṁ; yathā paṭipanno ca kāyassa bhedā paraṁ maraṇā pettivisayaṁ upapajjati tañca pajānāmi. Manusse cāhaṁ, sāriputta, pajānāmi, manussalokagāmiñca maggaṁ, manussalokagāminiñca paṭipadaṁ; yathā paṭipanno ca kāyassa bhedā paraṁ maraṇā manussesu upapajjati tañca pajānāmi. Deve cāhaṁ, sāriputta, pajānāmi, devalokagāmiñca maggaṁ, devalokagāminiñca paṭipadaṁ; yathā paṭipanno ca kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjati tañca pajānāmi. Nibbānañcāhaṁ, sāriputta, pajānāmi, nibbānagāmiñca maggaṁ, nibbānagāminiñca paṭipadaṁ; yathā paṭipanno ca āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati tañca pajānāmi.
There are these five destinations. What five? Hell, the animal realm, the ghost realm, humanity, and the gods.
I understand hell, and the path and practice that leads to hell. And I understand how someone practicing that way, when their body breaks up, after death, is reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. I understand the animal realm … the ghost realm … humanity … gods, and the path and practice that leads to the world of the gods. And I understand how someone practicing that way, when their body breaks up, after death, is reborn in a good place, a heavenly realm. And I understand extinguishment, and the path and practice that leads to extinguishment. And I understand how someone practicing that way realizes the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom, and lives having realized it with their own insight in this very life due to the ending of defilements.
153. Này Sāriputta, có năm cảnh giới này. Năm cảnh giới nào? Địa ngục, bàng sanh, ngạ quỷ, loài người, chư thiên. Này Sāriputta, Ta biết rõ địa ngục, con đường đưa đến địa ngục, và pháp hành đưa đến địa ngục; và Ta cũng biết rõ về người đã thực hành như thế nào mà sau khi thân hoại mạng chung, đã sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này Sāriputta, Ta biết rõ cảnh giới bàng sanh, con đường đưa đến cảnh giới bàng sanh, và pháp hành đưa đến cảnh giới bàng sanh; và Ta cũng biết rõ về người đã thực hành như thế nào mà sau khi thân hoại mạng chung, đã sanh vào cảnh giới bàng sanh. Này Sāriputta, Ta biết rõ cảnh giới ngạ quỷ, con đường đưa đến cảnh giới ngạ quỷ, và pháp hành đưa đến cảnh giới ngạ quỷ; và Ta cũng biết rõ về người đã thực hành như thế nào mà sau khi thân hoại mạng chung, đã sanh vào cảnh giới ngạ quỷ. Này Sāriputta, Ta biết rõ cõi người, con đường đưa đến cõi người, và pháp hành đưa đến cõi người; và Ta cũng biết rõ về người đã thực hành như thế nào mà sau khi thân hoại mạng chung, đã sanh vào cõi người. Này Sāriputta, Ta biết rõ cõi trời, con đường đưa đến cõi trời, và pháp hành đưa đến cõi trời; và Ta cũng biết rõ về người đã thực hành như thế nào mà sau khi thân hoại mạng chung, đã sanh vào thiện thú, thiên giới. Này Sāriputta, Ta biết rõ Niết Bàn, con đường đưa đến Niết Bàn, và pháp hành đưa đến Niết Bàn; và Ta cũng biết rõ về người đã thực hành như thế nào mà do sự đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, đạt đến và an trú vào vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
Idhāhaṁ, sāriputta, ekaccaṁ puggalaṁ evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi—tathāyaṁ puggalo paṭipanno tathā ca iriyati tañca maggaṁ samārūḷho, yathā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjissatīti. Tamenaṁ passāmi aparena samayena dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapannaṁ, ekantadukkhā tibbā kaṭukā vedanā vedayamānaṁ. Seyyathāpi, sāriputta, aṅgārakāsu sādhikaporisā pūrā aṅgārānaṁ vītaccikānaṁ vītadhūmānaṁ. Atha puriso āgaccheyya ghammābhitatto ghammapareto kilanto tasito pipāsito ekāyanena maggena tameva aṅgārakāsuṁ paṇidhāya. Tamenaṁ cakkhumā puriso disvā evaṁ vadeyya: ‘tathāyaṁ bhavaṁ puriso paṭipanno tathā ca iriyati tañca maggaṁ samārūḷho, yathā imaṁyeva aṅgārakāsuṁ āgamissatī’ti. Tamenaṁ passeyya aparena samayena tassā aṅgārakāsuyā patitaṁ, ekantadukkhā tibbā kaṭukā vedanā vedayamānaṁ.
Evameva kho ahaṁ, sāriputta, idhekaccaṁ puggalaṁ evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi—tathāyaṁ puggalo paṭipanno tathā ca iriyati tañca maggaṁ samārūḷho yathā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjissatīti. Tamenaṁ passāmi aparena samayena dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapannaṁ, ekantadukkhā tibbā kaṭukā vedanā vedayamānaṁ.
When I’ve comprehended the mind of a certain individual, I understand: ‘This individual is practicing in such a way and is riding upon such a path that when their body breaks up, after death, they will be reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell.’ Some time later I see that they have indeed been reborn in hell, where they experience absolutely painful feelings, sharp and severe. Suppose there was a pit of glowing coals deeper than a man’s height, full of glowing coals that neither flamed nor smoked. Then along comes a person struggling in the oppressive heat, weary, thirsty, and parched. And they have set out on a path that meets with that same pit of coals. If a person with clear eyes saw them, they’d say: ‘This person is proceeding in such a way and is riding upon such a path that they will arrive at that very pit of coals.’ Some time later they see that they have indeed fallen into that pit of coals, where they experience absolutely painful feelings, sharp and severe. …
154. Này Sāriputta, ở đây, Ta với tâm của mình bao trùm tâm của một hạng người và biết được rằng: ‘Người này đã thực hành như vậy, đã nỗ lực như vậy, và đã đi vào con đường như vậy, mà sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.’ Sau một thời gian, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, Ta thấy người ấy sau khi thân hoại mạng chung, đã sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục, đang phải chịu đựng những cảm thọ toàn khổ, khốc liệt, đau đớn. Này Sāriputta, ví như có một hố than sâu hơn một tầm người, đầy những than hồng, không có ngọn lửa, không có khói. Rồi có một người đi đến, bị sức nóng thiêu đốt, bị sức nóng xâm chiếm, mệt mỏi, khát khao, khô cổ, đi theo con đường duy nhất hướng thẳng đến hố than ấy. Một người có mắt thấy người ấy và nói rằng: ‘Người đàn ông đáng kính này đã thực hành như vậy, đã nỗ lực như vậy, và đã đi vào con đường như vậy, mà sẽ đi đến chính hố than này.’ Sau một thời gian, người ấy thấy người kia đã rơi vào hố than đó, đang phải chịu đựng những cảm thọ toàn khổ, khốc liệt, đau đớn. Cũng vậy, này Sāriputta, ở đây, Ta với tâm của mình bao trùm tâm của một hạng người và biết được rằng: ‘Người này đã thực hành như vậy, đã nỗ lực như vậy, và đã đi vào con đường như vậy, mà sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.’ Sau một thời gian, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, Ta thấy người ấy sau khi thân hoại mạng chung, đã sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục, đang phải chịu đựng những cảm thọ toàn khổ, khốc liệt, đau đớn.
Idha panāhaṁ, sāriputta, ekaccaṁ puggalaṁ evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi—tathāyaṁ puggalo paṭipanno tathā ca iriyati tañca maggaṁ samārūḷho, yathā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā tiracchānayoniṁ upapajjissatīti. Tamenaṁ passāmi aparena samayena dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena kāyassa bhedā paraṁ maraṇā tiracchānayoniṁ upapannaṁ, dukkhā tibbā kaṭukā vedanā vedayamānaṁ. Seyyathāpi, sāriputta, gūthakūpo sādhikaporiso, pūro gūthassa. Atha puriso āgaccheyya ghammābhitatto ghammapareto kilanto tasito pipāsito ekāyanena maggena tameva gūthakūpaṁ paṇidhāya. Tamenaṁ cakkhumā puriso disvā evaṁ vadeyya: ‘tathāyaṁ bhavaṁ puriso paṭipanno tathā ca iriyati tañca maggaṁ samārūḷho yathā imaṁyeva gūthakūpaṁ āgamissatī’ti. Tamenaṁ passeyya aparena samayena tasmiṁ gūthakūpe patitaṁ, dukkhā tibbā kaṭukā vedanā vedayamānaṁ.
Evameva kho ahaṁ, sāriputta, idhekaccaṁ puggalaṁ evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi—tathāyaṁ puggalo paṭipanno tathā ca iriyati tañca maggaṁ samārūḷho, yathā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā tiracchānayoniṁ upapajjissatīti. Tamenaṁ passāmi aparena samayena dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena kāyassa bhedā paraṁ maraṇā tiracchānayoniṁ upapannaṁ, dukkhā tibbā kaṭukā vedanā vedayamānaṁ.
When I’ve comprehended the mind of a certain individual, I understand: ‘This individual … will be reborn in the animal realm.’ Some time later I see that they have indeed been reborn in the animal realm, where they suffer painful feelings, sharp and severe. Suppose there was a sewer deeper than a man’s height, full to the brim with feces. Then along comes a person struggling in the oppressive heat, weary, thirsty, and parched. And they have set out on a path that meets with that same sewer. If a person with clear eyes saw them, they’d say: ‘This person is proceeding in such a way and is riding upon such a path that they will arrive at that very sewer.’ Some time later they see that they have indeed fallen into that sewer, where they suffer painful feelings, sharp and severe. …
Này Sāriputta, ở đây, Ta với tâm của mình bao trùm tâm của một hạng người và biết được rằng: ‘Người này đã thực hành như vậy, đã nỗ lực như vậy, và đã đi vào con đường như vậy, mà sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào cảnh giới bàng sanh.’ Sau một thời gian, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, Ta thấy người ấy sau khi thân hoại mạng chung, đã sanh vào cảnh giới bàng sanh, đang phải chịu đựng những cảm thọ đau khổ, khốc liệt, đau đớn. Này Sāriputta, ví như có một hố phân sâu hơn một tầm người, đầy những phân. Rồi có một người đi đến, bị sức nóng thiêu đốt, bị sức nóng xâm chiếm, mệt mỏi, khát khao, khô cổ, đi theo con đường duy nhất hướng thẳng đến hố phân ấy. Một người có mắt thấy người ấy và nói rằng: ‘Người đàn ông đáng kính này đã thực hành như vậy, đã nỗ lực như vậy, và đã đi vào con đường như vậy, mà sẽ đi đến chính hố phân này.’ Sau một thời gian, người ấy thấy người kia đã rơi vào hố phân đó, đang phải chịu đựng những cảm thọ đau khổ, khốc liệt, đau đớn. Cũng vậy, này Sāriputta, ở đây, Ta với tâm của mình bao trùm tâm của một hạng người và biết được rằng: ‘Người này đã thực hành như vậy, đã nỗ lực như vậy, và đã đi vào con đường như vậy, mà sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào cảnh giới bàng sanh.’ Sau một thời gian, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, Ta thấy người ấy sau khi thân hoại mạng chung, đã sanh vào cảnh giới bàng sanh, đang phải chịu đựng những cảm thọ đau khổ, khốc liệt, đau đớn.
Idha panāhaṁ, sāriputta, ekaccaṁ puggalaṁ evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi—tathāyaṁ puggalo paṭipanno tathā ca iriyati tañca maggaṁ samārūḷho, yathā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā pettivisayaṁ upapajjissatīti. Tamenaṁ passāmi aparena samayena dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena kāyassa bhedā paraṁ maraṇā pettivisayaṁ upapannaṁ, dukkhabahulā vedanā vedayamānaṁ. Seyyathāpi, sāriputta, rukkho visame bhūmibhāge jāto tanupattapalāso kabaracchāyo. Atha puriso āgaccheyya ghammābhitatto ghammapareto kilanto tasito pipāsito ekāyanena maggena tameva rukkhaṁ paṇidhāya. Tamenaṁ cakkhumā puriso disvā evaṁ vadeyya: ‘tathāyaṁ bhavaṁ puriso paṭipanno tathā ca iriyati tañca maggaṁ samārūḷho, yathā imaṁyeva rukkhaṁ āgamissatī’ti. Tamenaṁ passeyya, aparena samayena tassa rukkhassa chāyāya nisinnaṁ vā nipannaṁ vā dukkhabahulā vedanā vedayamānaṁ.
Evameva kho ahaṁ, sāriputta, idhekaccaṁ puggalaṁ evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi—tathāyaṁ puggalo paṭipanno tathā ca iriyati tañca maggaṁ samārūḷho, yathā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā pettivisayaṁ upapajjissatīti. Tamenaṁ passāmi aparena samayena dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena kāyassa bhedā paraṁ maraṇā pettivisayaṁ upapannaṁ, dukkhabahulā vedanā vedayamānaṁ.
When I’ve comprehended the mind of a certain individual, I understand: ‘This individual … will be reborn in the ghost realm.’ Some time later I see that they have indeed been reborn in the ghost realm, where they experience mostly painful feelings. Suppose there was a tree growing on rugged ground, with thin foliage casting dappled shade. Then along comes a person struggling in the oppressive heat, weary, thirsty, and parched. And they have set out on a path that meets with that same tree. If a person with clear eyes saw them, they’d say: ‘This person is proceeding in such a way and is riding upon such a path that they will arrive at that very tree.’ Some time later they see them sitting or lying under that tree, where they experience mostly painful feelings. …
Này Sāriputta, ở đây, Như Lai với tâm của mình bao trùm và biết rõ tâm của một hạng người nào đó như sau: ‘Người này đã thực hành như vậy, đã hành xử như vậy, và đã đi vào con đường như vậy, đến nỗi sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào cõi ngạ quỷ.’ Vào một thời gian sau, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu việt hơn mắt người thường, Như Lai thấy người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, đã sanh vào cõi ngạ quỷ, đang cảm thọ những cảm giác phần nhiều là đau khổ. Ví như, này Sāriputta, có một cây mọc trên vùng đất không bằng phẳng, lá và cành thưa thớt, bóng râm lốm đốm. Rồi một người bị nắng nóng thiêu đốt, bị hơi nóng bao trùm, mệt mỏi, khát nước, đi đến theo con đường độc đạo, hướng thẳng đến cây ấy. Một người có mắt sáng thấy người ấy và nói rằng: ‘Người này đang đi như vậy, đang hành xử như vậy, và đã đi vào con đường như vậy, đến nỗi sẽ đi đến chính cái cây này.’ Vào một thời gian sau, người ấy thấy người kia đang ngồi hoặc nằm dưới bóng cây đó, đang cảm thọ những cảm giác phần nhiều là đau khổ. Cũng vậy, này Sāriputta, ở đây, Như Lai với tâm của mình bao trùm và biết rõ tâm của một hạng người nào đó như sau: ‘Người này đã thực hành như vậy, đã hành xử như vậy, và đã đi vào con đường như vậy, đến nỗi sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào cõi ngạ quỷ.’ Vào một thời gian sau, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu việt hơn mắt người thường, Như Lai thấy người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, đã sanh vào cõi ngạ quỷ, đang cảm thọ những cảm giác phần nhiều là đau khổ.
Idha panāhaṁ, sāriputta, ekaccaṁ puggalaṁ evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi—tathāyaṁ puggalo paṭipanno tathā ca iriyati tañca maggaṁ samārūḷho yathā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā manussesu upapajjissatīti. Tamenaṁ passāmi aparena samayena dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena kāyassa bhedā paraṁ maraṇā manussesu upapannaṁ, sukhabahulā vedanā vedayamānaṁ. Seyyathāpi, sāriputta, rukkho same bhūmibhāge jāto bahalapattapalāso sandacchāyo. Atha puriso āgaccheyya ghammābhitatto ghammapareto kilanto tasito pipāsito ekāyanena maggena tameva rukkhaṁ paṇidhāya. Tamenaṁ cakkhumā puriso disvā evaṁ vadeyya: ‘tathāyaṁ bhavaṁ puriso paṭipanno tathā ca iriyati tañca maggaṁ samārūḷho, yathā imameva rukkhaṁ āgamissatī’ti. Tamenaṁ passeyya aparena samayena tassa rukkhassa chāyāya nisinnaṁ vā nipannaṁ vā sukhabahulā vedanā vedayamānaṁ.
Evameva kho ahaṁ, sāriputta, idhekaccaṁ puggalaṁ evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi—tathāyaṁ puggalo paṭipanno tathā ca iriyati tañca maggaṁ samārūḷho yathā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā manussesu upapajjissatīti. Tamenaṁ passāmi aparena samayena dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena kāyassa bhedā paraṁ maraṇā manussesu upapannaṁ, sukhabahulā vedanā vedayamānaṁ.
When I’ve comprehended the mind of a certain individual, I understand: ‘This individual … will be reborn among human beings.’ Some time later I see that they have indeed been reborn among human beings, where they experience mostly pleasant feelings. Suppose there was a tree growing on smooth ground, with abundant foliage casting dense shade. Then along comes a person struggling in the oppressive heat, weary, thirsty, and parched. And they have set out on a path that meets with that same tree. If a person with clear eyes saw them, they’d say: ‘This person is proceeding in such a way and is riding upon such a path that they will arrive at that very tree.’ Some time later they see them sitting or lying under that tree, where they experience mostly pleasant feelings. …
Này Sāriputta, ở đây, Như Lai với tâm của mình bao trùm và biết rõ tâm của một hạng người nào đó như sau: ‘Người này đã thực hành như vậy, đã hành xử như vậy, và đã đi vào con đường như vậy, đến nỗi sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào cõi người.’ Vào một thời gian sau, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu việt hơn mắt người thường, Như Lai thấy người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, đã sanh vào cõi người, đang cảm thọ những cảm giác phần nhiều là an lạc. Ví như, này Sāriputta, có một cây mọc trên vùng đất bằng phẳng, lá và cành rậm rạp, bóng râm dày đặc. Rồi một người bị nắng nóng thiêu đốt, bị hơi nóng bao trùm, mệt mỏi, khát nước, đi đến theo con đường độc đạo, hướng thẳng đến cây ấy. Một người có mắt sáng thấy người ấy và nói rằng: ‘Người này đang đi như vậy, đang hành xử như vậy, và đã đi vào con đường như vậy, đến nỗi sẽ đi đến chính cái cây này.’ Vào một thời gian sau, người ấy thấy người kia đang ngồi hoặc nằm dưới bóng cây đó, đang cảm thọ những cảm giác phần nhiều là an lạc. Cũng vậy, này Sāriputta, ở đây, Như Lai với tâm của mình bao trùm và biết rõ tâm của một hạng người nào đó như sau: ‘Người này đã thực hành như vậy, đã hành xử như vậy, và đã đi vào con đường như vậy, đến nỗi sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào cõi người.’ Vào một thời gian sau, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu việt hơn mắt người thường, Như Lai thấy người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, đã sanh vào cõi người, đang cảm thọ những cảm giác phần nhiều là an lạc.
Idha panāhaṁ, sāriputta, ekaccaṁ puggalaṁ evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi: ‘tathāyaṁ puggalo paṭipanno tathā ca iriyati tañca maggaṁ samārūḷho, yathā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjissatī’ti. Tamenaṁ passāmi aparena samayena dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapannaṁ, ekantasukhā vedanā vedayamānaṁ. Seyyathāpi, sāriputta, pāsādo, tatrāssa kūṭāgāraṁ ullittāvalittaṁ nivātaṁ phusitaggaḷaṁ pihitavātapānaṁ. Tatrāssa pallaṅko gonakatthato paṭikatthato paṭalikatthato kadalimigapavarapaccattharaṇo sauttaracchado ubhatolohitakūpadhāno. Atha puriso āgaccheyya ghammābhitatto ghammapareto kilanto tasito pipāsito ekāyanena maggena tameva pāsādaṁ paṇidhāya. Tamenaṁ cakkhumā puriso disvā evaṁ vadeyya: ‘tathāyaṁ bhavaṁ puriso paṭipanno tathā ca iriyati tañca maggaṁ samārūḷho, yathā imaṁyeva pāsādaṁ āgamissatī’ti. Tamenaṁ passeyya aparena samayena tasmiṁ pāsāde tasmiṁ kūṭāgāre tasmiṁ pallaṅke nisinnaṁ vā nipannaṁ vā ekantasukhā vedanā vedayamānaṁ.
Evameva kho ahaṁ, sāriputta, idhekaccaṁ puggalaṁ evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi—tathāyaṁ puggalo paṭipanno tathā ca iriyati tañca maggaṁ samārūḷho yathā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjissatīti. Tamenaṁ passāmi aparena samayena dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapannaṁ, ekantasukhā vedanā vedayamānaṁ.
When I’ve comprehended the mind of a certain individual, I understand: ‘This individual … will be reborn in a good place, a heavenly realm.’ Some time later I see that they have indeed been reborn in a heavenly realm, where they experience feelings of absolute happiness. Suppose there was a stilt longhouse with a peaked roof, plastered inside and out, draft-free, with door fastened and window shuttered. And it had a couch spread with woolen covers—shag-piled, pure white, or embroidered with flowers—and spread with a fine deer hide, with a canopy above and red pillows at both ends. Then along comes a person struggling in the oppressive heat, weary, thirsty, and parched. And they have set out on a path that meets with that same stilt longhouse. If a person with clear eyes saw them, they’d say: ‘This person is proceeding in such a way and is riding upon such a path that they will arrive at that very stilt longhouse.’ Some time later they see them sitting or lying in that stilt longhouse, where they experience feelings of absolute happiness. …
Này Sāriputta, ở đây, Như Lai với tâm của mình bao trùm và biết rõ tâm của một hạng người nào đó như sau: ‘Người này đã thực hành như vậy, đã hành xử như vậy, và đã đi vào con đường như vậy, đến nỗi sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào thiện thú, thiên giới.’ Vào một thời gian sau, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu việt hơn mắt người thường, Như Lai thấy người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, đã sanh vào thiện thú, thiên giới, đang cảm thọ những cảm giác thuần túy an lạc. Ví như, này Sāriputta, có một tòa lâu đài, và trong đó có một căn phòng có mái nhọn, được trát vữa trong ngoài, kín gió, then cài chắc chắn, cửa sổ đóng kín. Trong đó có một chiếc giường được trải bằng thảm len lông dài, thảm len trắng, thảm len thêu hoa, được phủ bằng tấm da sơn dương hảo hạng, có mái che bên trên, và có gối đỏ ở hai đầu. Rồi một người bị nắng nóng thiêu đốt, bị hơi nóng bao trùm, mệt mỏi, khát nước, đi đến theo con đường độc đạo, hướng thẳng đến tòa lâu đài ấy. Một người có mắt sáng thấy người ấy và nói rằng: ‘Người này đang đi như vậy, đang hành xử như vậy, và đã đi vào con đường như vậy, đến nỗi sẽ đi đến chính tòa lâu đài này.’ Vào một thời gian sau, người ấy thấy người kia ở trong tòa lâu đài đó, trong căn phòng có mái nhọn đó, trên chiếc giường đó, đang ngồi hoặc nằm, đang cảm thọ những cảm giác thuần túy an lạc. Cũng vậy, này Sāriputta, ở đây, Như Lai với tâm của mình bao trùm và biết rõ tâm của một hạng người nào đó như sau: ‘Người này đã thực hành như vậy, đã hành xử như vậy, và đã đi vào con đường như vậy, đến nỗi sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào thiện thú, thiên giới.’ Vào một thời gian sau, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu việt hơn mắt người thường, Như Lai thấy người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, đã sanh vào thiện thú, thiên giới, đang cảm thọ những cảm giác thuần túy an lạc.
Idha panāhaṁ, sāriputta, ekaccaṁ puggalaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi—tathāyaṁ puggalo paṭipanno tathā ca iriyati tañca maggaṁ samārūḷho, yathā āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissatīti. Tamenaṁ passāmi aparena samayena āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharantaṁ, ekantasukhā vedanā vedayamānaṁ. Seyyathāpi, sāriputta, pokkharaṇī acchodakā sātodakā sītodakā setakā supatitthā ramaṇīyā. Avidūre cassā tibbo vanasaṇḍo. Atha puriso āgaccheyya ghammābhitatto ghammapareto kilanto tasito pipāsito ekāyanena maggena tameva pokkharaṇiṁ paṇidhāya. Tamenaṁ cakkhumā puriso disvā evaṁ vadeyya: ‘tathā bhavaṁ puriso paṭipanno tathā ca iriyati tañca maggaṁ samārūḷho, yathā imaṁyeva pokkharaṇiṁ āgamissatī’ti. Tamenaṁ passeyya aparena samayena taṁ pokkharaṇiṁ ogāhetvā nhāyitvā ca pivitvā ca sabbadarathakilamathapariḷāhaṁ paṭippassambhetvā paccuttaritvā tasmiṁ vanasaṇḍe nisinnaṁ vā nipannaṁ vā, ekantasukhā vedanā vedayamānaṁ.
Evameva kho ahaṁ, sāriputta, idhekaccaṁ puggalaṁ evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi: ‘tathāyaṁ puggalo paṭipanno tathā ca iriyati tañca maggaṁ samārūḷho, yathā āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissatī’ti. Tamenaṁ passāmi aparena samayena āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharantaṁ, ekantasukhā vedanā vedayamānaṁ. Imā kho, sāriputta, pañca gatiyo.
When I’ve comprehended the mind of a certain individual, I understand: ‘This individual is practicing in such a way and is riding upon such a path that they will realize the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom, and live having realized it with their own insight in this very life due to the ending of defilements.’ Some time later I see that they have indeed realized the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom, and live having realized it with their own insight in this very life due to the ending of defilements, experiencing feelings of absolute happiness. Suppose there was a lotus pond with clear, sweet, cool water, clean, with smooth banks, delightful. Nearby was a dense forest grove. Then along comes a person struggling in the oppressive heat, weary, thirsty, and parched. And they have set out on a path that meets with that same lotus pond. If a person with clear eyes saw them, they’d say: ‘This person is proceeding in such a way and is riding upon such a path that they will arrive at that very lotus pond.’ Some time later they would see that person after they had plunged into that lotus pond, bathed and drunk. When all their stress, weariness, and heat exhaustion had faded away, they emerged and sat or lay down in that woodland thicket, where they experienced feelings of absolute happiness.
In the same way, when I’ve comprehended the mind of an individual, I understand: ‘This individual is practicing in such a way and is riding upon such a path that they will realize the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom, and live having realized it with their own insight in this very life due to the ending of defilements.’ Some time later I see that they have indeed realized the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom, and live having realized it with their own insight in this very life due to the ending of defilements, experiencing feelings of absolute happiness. These are the five destinations.
Này Sāriputta, ở đây, Ta dùng tâm của mình bao trùm tâm của một người và biết rõ rằng: ‘Vị này đã thực hành như vậy, đã nỗ lực như vậy, đã đi trên con đường như vậy, do đó, vị ấy sẽ trú, sau khi đã đạt đến, đã chứng ngộ với thắng trí bởi chính mình ngay trong hiện tại, tâm giải thoát, tuệ giải thoát, không còn lậu hoặc, do sự đoạn tận các lậu hoặc.’ Sau một thời gian, Ta thấy vị ấy đang trú, sau khi đã đạt đến, đã chứng ngộ với thắng trí bởi chính mình ngay trong hiện tại, tâm giải thoát, tuệ giải thoát, không còn lậu hoặc, do sự đoạn tận các lậu hoặc, đang cảm thọ một cảm giác hoàn toàn an lạc. Này Sāriputta, ví như có một hồ nước trong, ngọt, mát, trong sạch, có bến nước tốt, đáng ưa thích. Gần đó có một khu rừng rậm. Rồi một người đi đến, bị nóng bức, bị nhiệt não, mệt mỏi, khát nước, khao khát, đi theo con đường độc đạo hướng thẳng đến hồ nước ấy. Một người có mắt, sau khi thấy người ấy, liền nói rằng: ‘Người này đã đi như vậy, đã nỗ lực như vậy, đã đi trên con đường như vậy, do đó, người ấy sẽ đến được chính hồ nước này.’ Sau một thời gian, người ấy thấy người kia, sau khi đã xuống hồ, tắm và uống, làm dịu mọi cơn bứt rứt, mệt mỏi, nóng bức, đã lên bờ và đang ngồi hoặc nằm trong khu rừng ấy, cảm thọ một cảm giác hoàn toàn an lạc. Cũng vậy, này Sāriputta, ở đây, Ta dùng tâm của mình bao trùm tâm của một người và biết rõ rằng: ‘Vị này đã thực hành như vậy, đã nỗ lực như vậy, đã đi trên con đường như vậy, do đó, vị ấy sẽ trú, sau khi đã đạt đến, đã chứng ngộ với thắng trí bởi chính mình ngay trong hiện tại, tâm giải thoát, tuệ giải thoát, không còn lậu hoặc, do sự đoạn tận các lậu hoặc.’ Sau một thời gian, Ta thấy vị ấy đang trú, sau khi đã đạt đến, đã chứng ngộ với thắng trí bởi chính mình ngay trong hiện tại, tâm giải thoát, tuệ giải thoát, không còn lậu hoặc, do sự đoạn tận các lậu hoặc, đang cảm thọ một cảm giác hoàn toàn an lạc. Này Sāriputta, đây là năm cảnh giới.
Yo kho maṁ, sāriputta, evaṁ jānantaṁ evaṁ passantaṁ evaṁ vadeyya: ‘natthi samaṇassa gotamassa uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanaviseso; takkapariyāhataṁ samaṇo gotamo dhammaṁ deseti vīmaṁsānucaritaṁ sayampaṭibhānan’ti taṁ, sāriputta, vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā yathābhataṁ nikkhitto evaṁ niraye. Seyyathāpi, sāriputta, bhikkhu sīlasampanno samādhisampanno paññāsampanno diṭṭheva dhamme aññaṁ ārādheyya; evaṁ sampadamidaṁ, sāriputta, vadāmi taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā yathābhataṁ nikkhitto evaṁ niraye.
When I know and see in this way, suppose someone were to say this: ‘The ascetic Gotama has no superhuman distinction in knowledge and vision worthy of the noble ones. He teaches what he’s worked out by logic, following a line of inquiry, expressing his own perspective.’ Unless they give up that speech and that thought, and let go of that view, they will be placed in hell as if delivered there. Just as a mendicant accomplished in ethics, immersion, and wisdom would reach enlightenment in this very life, such is the consequence, I say. Unless they give up that speech and that thought, and let go of that view, they will be placed in hell as if delivered there.
Này Sāriputta, người nào biết Ta như vậy, thấy Ta như vậy, mà lại nói rằng: ‘Sa-môn Gotama không có pháp thượng nhân, không có tri kiến đặc biệt của bậc Thánh; Sa-môn Gotama thuyết một pháp do suy luận, do khảo sát, tự mình biện giải ra,’ này Sāriputta, người ấy, nếu không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không xả ly tà kiến ấy, thì chắc chắn sẽ bị đọa vào địa ngục như vật được mang đến rồi đặt xuống. Này Sāriputta, ví như một vị tỳ-khưu đầy đủ giới, đầy đủ định, đầy đủ tuệ, có thể chứng đắc A-la-hán ngay trong hiện tại. Này Sāriputta, Ta nói ví dụ này cũng vậy: ‘Nếu không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không xả ly tà kiến ấy, thì chắc chắn sẽ bị đọa vào địa ngục như vật được mang đến rồi đặt xuống.’
Abhijānāmi kho panāhaṁ, sāriputta, caturaṅgasamannāgataṁ brahmacariyaṁ caritā—tapassī sudaṁ homi paramatapassī, lūkho sudaṁ homi paramalūkho, jegucchī sudaṁ homi paramajegucchī, pavivitto sudaṁ homi paramapavivitto.
Tatrāssu me idaṁ, sāriputta, tapassitāya hoti—acelako homi muttācāro hatthāpalekhano, naehibhaddantiko natiṭṭhabhaddantiko; nābhihaṭaṁ na uddissakataṁ na nimantanaṁ sādiyāmi. So na kumbhimukhā paṭiggaṇhāmi, na kaḷopimukhā paṭiggaṇhāmi, na eḷakamantaraṁ, na daṇḍamantaraṁ, na musalamantaraṁ, na dvinnaṁ bhuñjamānānaṁ, na gabbhiniyā, na pāyamānāya, na purisantaragatāya, na saṅkittīsu, na yattha sā upaṭṭhito hoti, na yattha makkhikā saṇḍasaṇḍacārinī; na macchaṁ na maṁsaṁ na suraṁ na merayaṁ na thusodakaṁ pivāmi; so ekāgāriko vā homi ekālopiko, dvāgāriko vā homi dvālopiko …pe… sattāgāriko vā homi sattālopiko; ekissāpi dattiyā yāpemi, dvīhipi dattīhi yāpemi …pe… sattahipi dattīhi yāpemi; ekāhikampi āhāraṁ āhāremi, dvīhikampi āhāraṁ āhāremi …pe… sattāhikampi āhāraṁ āhāremi; iti evarūpaṁ addhamāsikampi pariyāyabhattabhojanānuyogamanuyutto viharāmi.
Sāriputta, I recall having practiced a spiritual path consisting of four factors. I used to be a fervent mortifier, the ultimate fervent mortifier. I used to live rough, the ultimate rough-liver. I used to live in disgust of sin, the ultimate one living in disgust of sin. I used to be secluded, in ultimate seclusion.
And this is what my fervent mortification was like. I went naked, ignoring conventions. I licked my hands, and didn’t come or stop when asked. I didn’t consent to food brought to me, or food prepared specially for me, or an invitation for a meal. I didn’t receive anything from a pot or bowl; or from someone who keeps sheep, or who has a weapon or a shovel in their home; or where a couple is eating; or where there is a woman who is pregnant, breastfeeding, or who lives with a man; or where food for distribution is advertised; or where there’s a hound waiting or flies buzzing. I accepted no fish or meat or beer or wine, and drank no fermented gruel. I went to just one house for alms, taking just one mouthful, or two houses and two mouthfuls, up to seven houses and seven mouthfuls. I fed on one saucer a day, two saucers a day, up to seven saucers a day. I ate once a day, once every second day, up to once a week, and so on, even up to once a fortnight. I lived committed to the practice of eating food at set intervals.
155. Này Sāriputta, Ta nhớ lại rằng mình đã thực hành phạm hạnh gồm bốn chi phần: Ta là người khổ hạnh, một người khổ hạnh tột bậc; Ta là người sống thô sơ, một người sống thô sơ tột bậc; Ta là người ghê tởm (tội lỗi), một người ghê tởm tột bậc; Ta là người sống viễn ly, một người sống viễn ly tột bậc. Này Sāriputta, đây là khổ hạnh của Ta trong đó: Ta không mặc quần áo, sống phóng túng, liếm tay cho sạch; không chấp nhận lời mời ‘Xin mời đến,’ không chấp nhận lời mời ‘Xin hãy dừng lại;’ Ta không nhận thức ăn mang đến, không nhận thức ăn nấu riêng cho mình, không nhận lời mời (đến nhà); Ta không nhận (thức ăn) từ miệng nồi, không nhận từ miệng giỏ, không nhận ở ngưỡng cửa, không nhận qua cây gậy, không nhận qua chày; không nhận từ hai người đang ăn, không nhận từ phụ nữ có thai, không nhận từ phụ nữ đang cho con bú, không nhận từ phụ nữ đang giao hợp với đàn ông, không nhận từ nơi có quy định phân phát, không nhận nơi có chó đứng chờ, không nhận nơi có ruồi bu; Ta không ăn cá, không ăn thịt, không uống rượu nấu, không uống rượu men, không uống nước gạo lên men. Ta chỉ nhận khất thực ở một nhà, chỉ ăn một miếng; hoặc nhận ở hai nhà, ăn hai miếng… hoặc nhận ở bảy nhà, ăn bảy miếng. Ta sống bằng một bát nhỏ, bằng hai bát nhỏ… bằng bảy bát nhỏ. Ta ăn một ngày một bữa, hai ngày một bữa… bảy ngày một bữa. Cứ như thế, Ta thực hành việc ăn uống theo định kỳ, cho đến nửa tháng một lần.
So sākabhakkho vā homi, sāmākabhakkho vā homi, nīvārabhakkho vā homi, daddulabhakkho vā homi, haṭabhakkho vā homi, kaṇabhakkho vā homi, ācāmabhakkho vā homi, piññākabhakkho vā homi, tiṇabhakkho vā homi, gomayabhakkho vā homi, vanamūlaphalāhāro yāpemi pavattaphalabhojī.
I ate herbs, millet, wild rice, poor rice, water lettuce, rice bran, scum from boiling rice, sesame flour, grass, or cow dung. I survived on forest roots and fruits, or eating fallen fruit.
Ta ăn rau xanh, hoặc ăn hạt kê, hoặc ăn lúa hoang, hoặc ăn da vụn, hoặc ăn rêu, hoặc ăn cám, hoặc ăn váng cháo, hoặc ăn bột mè, hoặc ăn cỏ, hoặc ăn phân bò. Ta sống bằng rễ cây và trái cây trong rừng, ăn những trái cây tự rụng.
So sāṇānipi dhāremi, masāṇānipi dhāremi, chavadussānipi dhāremi, paṁsukūlānipi dhāremi, tirīṭānipi dhāremi, ajinampi dhāremi, ajinakkhipampi dhāremi, kusacīrampi dhāremi, vākacīrampi dhāremi, phalakacīrampi dhāremi, kesakambalampi dhāremi, vāḷakambalampi dhāremi, ulūkapakkhampi dhāremi; kesamassulocakopi homi kesamassulocanānuyogamanuyutto; ubbhaṭṭhakopi homi āsanapaṭikkhitto; ukkuṭikopi homi ukkuṭikappadhānamanuyutto; kaṇṭakāpassayikopi homi kaṇṭakāpassaye seyyaṁ kappemi; sāyatatiyakampi udakorohanānuyogamanuyutto viharāmi—iti evarūpaṁ anekavihitaṁ kāyassa ātāpanaparitāpanānuyogamanuyutto viharāmi. Idaṁsu me, sāriputta, tapassitāya hoti.
I wore robes of sunn hemp, mixed hemp, corpse-wrapping cloth, rags, lodh tree bark, antelope hide (whole or in strips), kusa grass, bark, wood-chips, human hair, horse-tail hair, or owls’ wings. I tore out hair and beard, committed to this practice. I constantly stood, turning down seats. I squatted, committed to the endeavor of squatting. I lay on a mat of thorns, making a mat of thorns my bed. I was devoted to ritual bathing three times a day, including at dusk. And so I lived committed to practicing these various ways of mortifying and tormenting the body. Such was my practice of fervent mortification.
Ta mặc y bằng vải gai thô, ta mặc y bằng vải gai pha, ta mặc y quấn tử thi, ta mặc y phấn tảo, ta mặc y bằng vỏ cây, ta mặc y bằng da thú, ta mặc y bằng những mảnh da thú, ta mặc y bằng cỏ kusa, ta mặc y bằng vỏ cây mềm, ta mặc y bằng những mảnh gỗ, ta mặc y dệt bằng tóc người, ta mặc y dệt bằng lông đuôi ngựa, ta mặc y kết bằng lông cánh cú; ta là người nhổ tóc và râu, chuyên tâm vào việc nhổ tóc và râu; ta là người chỉ đứng, từ chối chỗ ngồi; ta là người ngồi xổm, chuyên tâm vào nỗ lực ngồi xổm; ta là người nằm trên giường gai, ta thực hành việc nằm trên giường gai; ta sống chuyên tâm vào việc xuống nước ba lần mỗi tối – như vậy, ta sống chuyên tâm vào pháp hành tự hành hạ, thiêu đốt thân thể bằng nhiều cách khác nhau. Này Sāriputta, đây là khổ hạnh của ta.
Tatrāssu me idaṁ, sāriputta, lūkhasmiṁ hoti—nekavassagaṇikaṁ rajojallaṁ kāye sannicitaṁ hoti papaṭikajātaṁ. Seyyathāpi, sāriputta, tindukakhāṇu nekavassagaṇiko sannicito hoti papaṭikajāto, evamevāssu me, sāriputta, nekavassagaṇikaṁ rajojallaṁ kāye sannicitaṁ hoti papaṭikajātaṁ. Tassa mayhaṁ, sāriputta, na evaṁ hoti: ‘aho vatāhaṁ imaṁ rajojallaṁ pāṇinā parimajjeyyaṁ, aññe vā pana me imaṁ rajojallaṁ pāṇinā parimajjeyyun’ti. Evampi me, sāriputta, na hoti. Idaṁsu me, sāriputta, lūkhasmiṁ hoti.
And this is what my rough living was like. The dust and dirt built up on my body over many years until it started flaking off. It’s like the trunk of a pale-moon ebony tree, which builds up bark over many years until it starts flaking off. But it didn’t occur to me: ‘Oh, this dust and dirt must be rubbed off by my hand or another’s.’ That didn’t occur to me. Such was my rough living.
156. Này Sāriputta, trong đó, đây là hạnh thô sơ của ta: Bụi bẩn tích tụ trên thân ta trong nhiều năm đã trở thành một lớp vảy. Này Sāriputta, ví như một gốc cây tinduka nhiều năm, bụi bẩn tích tụ thành một lớp vảy, cũng vậy, này Sāriputta, bụi bẩn tích tụ trên thân ta trong nhiều năm đã trở thành một lớp vảy. Này Sāriputta, ta không hề có ý nghĩ rằng: ‘Ồ, giá như ta có thể dùng tay chà sạch lớp bụi bẩn này, hoặc giá như có người khác dùng tay chà sạch lớp bụi bẩn này cho ta.’ Này Sāriputta, ta cũng không có ý nghĩ như vậy. Này Sāriputta, đây là hạnh thô sơ của ta.
Tatrāssu me idaṁ, sāriputta, jegucchismiṁ hoti—so kho ahaṁ, sāriputta, satova abhikkamāmi, satova paṭikkamāmi, yāva udakabindumhipi me dayā paccupaṭṭhitā hoti: ‘māhaṁ khuddake pāṇe visamagate saṅghātaṁ āpādesin’ti. Idaṁsu me, sāriputta, jegucchismiṁ hoti.
And this is what my living in disgust of sin was like. I’d step forward or back ever so mindfully, so I was full of pity regarding even a drop of water, thinking: ‘May I not injure any little creatures on unclear ground.’ Such was my living in disgust of sin.
Này Sāriputta, trong đó, đây là hạnh ghê tởm điều ác của ta: Này Sāriputta, ta đi tới với chánh niệm, ta lui lại với chánh niệm, đến nỗi lòng từ của ta hiện khởi ngay cả đối với một giọt nước, với ý nghĩ rằng: ‘Mong rằng ta không làm hại những chúng sanh nhỏ bé ở những nơi không bằng phẳng.’ Này Sāriputta, đây là hạnh ghê tởm điều ác của ta.
Tatrāssu me idaṁ, sāriputta, pavivittasmiṁ hoti—so kho ahaṁ, sāriputta, aññataraṁ araññāyatanaṁ ajjhogāhetvā viharāmi. Yadā passāmi gopālakaṁ vā pasupālakaṁ vā tiṇahārakaṁ vā kaṭṭhahārakaṁ vā vanakammikaṁ vā, vanena vanaṁ gahanena gahanaṁ ninnena ninnaṁ thalena thalaṁ sampatāmi. Taṁ kissa hetu? Mā maṁ te addasaṁsu ahañca mā te addasanti. Seyyathāpi, sāriputta, āraññako mago manusse disvā vanena vanaṁ gahanena gahanaṁ ninnena ninnaṁ thalena thalaṁ sampatati; evameva kho ahaṁ, sāriputta, yadā passāmi gopālakaṁ vā pasupālakaṁ vā tiṇahārakaṁ vā kaṭṭhahārakaṁ vā vanakammikaṁ vā vanena vanaṁ gahanena gahanaṁ ninnena ninnaṁ thalena thalaṁ sampatāmi. Taṁ kissa hetu? Mā maṁ te addasaṁsu ahañca mā te addasanti. Idaṁsu me, sāriputta, pavivittasmiṁ hoti.
And this is what my seclusion was like. I would plunge deep into a wilderness region and stay there. When I saw a cowherd or a shepherd, or someone gathering grass or sticks, or a lumberjack, I’d flee from forest to forest, from thicket to thicket, from valley to valley, from uplands to uplands. Why is that? So that I wouldn’t see them, nor they me. I fled like a wild deer seeing a human being. Such was my practice of seclusion.
Này Sāriputta, trong đó, đây là hạnh sống độc cư của ta: Này Sāriputta, ta đi sâu vào một khu rừng nào đó và sống ở đó. Khi ta thấy người chăn bò, người chăn gia súc, người cắt cỏ, người kiếm củi, hoặc người làm việc trong rừng, ta liền chạy từ rừng này sang rừng khác, từ bụi rậm này sang bụi rậm khác, từ chỗ trũng này sang chỗ trũng khác, từ gò cao này sang gò cao khác. Vì lý do gì? Với ý nghĩ: ‘Mong rằng họ không thấy ta, và ta cũng không thấy họ.’ Này Sāriputta, ví như con nai rừng khi thấy người liền chạy từ rừng này sang rừng khác, từ bụi rậm này sang bụi rậm khác, từ chỗ trũng này sang chỗ trũng khác, từ gò cao này sang gò cao khác, cũng vậy, này Sāriputta, khi ta thấy người chăn bò, người chăn gia súc, người cắt cỏ, người kiếm củi, hoặc người làm việc trong rừng, ta liền chạy từ rừng này sang rừng khác, từ bụi rậm này sang bụi rậm khác, từ chỗ trũng này sang chỗ trũng khác, từ gò cao này sang gò cao khác. Vì lý do gì? Với ý nghĩ: ‘Mong rằng họ không thấy ta, và ta cũng không thấy họ.’ Này Sāriputta, đây là hạnh sống độc cư của ta.
So kho ahaṁ, sāriputta, ye te goṭṭhā paṭṭhitagāvo apagatagopālakā, tattha catukkuṇḍiko upasaṅkamitvā yāni tāni vacchakānaṁ taruṇakānaṁ dhenupakānaṁ gomayāni tāni sudaṁ āhāremi. Yāvakīvañca me, sāriputta, sakaṁ muttakarīsaṁ apariyādinnaṁ hoti, sakaṁyeva sudaṁ muttakarīsaṁ āhāremi. Idaṁsu me, sāriputta, mahāvikaṭabhojanasmiṁ hoti.
I would go on all fours into the cow-pens after the cattle had left and eat the dung of the young suckling calves. As long as my own urine and excrement lasted, I would even eat that. Such was my eating of most unnatural things.
Này Sāriputta, ta bò bằng bốn chi đến những chuồng bò mà bò đã đi ra và người chăn bò đã đi khỏi, rồi ta ăn phân của những con bê non, những con bò tơ còn bú mẹ. Này Sāriputta, chừng nào mà phân và nước tiểu của chính ta chưa hết, ta ăn chính phân và nước tiểu của mình. Này Sāriputta, đây là hạnh ăn những thức ăn ghê tởm của ta.
So kho ahaṁ, sāriputta, aññataraṁ bhiṁsanakaṁ vanasaṇḍaṁ ajjhogāhetvā viharāmi. Tatrāssudaṁ, sāriputta, bhiṁsanakassa vanasaṇḍassa bhiṁsanakatasmiṁ hoti—yo koci avītarāgo taṁ vanasaṇḍaṁ pavisati, yebhuyyena lomāni haṁsanti. So kho ahaṁ, sāriputta, yā tā rattiyo sītā hemantikā antaraṭṭhakā himapātasamayā tathārūpāsu rattīsu rattiṁ abbhokāse viharāmi, divā vanasaṇḍe; gimhānaṁ pacchime māse divā abbhokāse viharāmi, rattiṁ vanasaṇḍe. Apissu maṁ, sāriputta, ayaṁ anacchariyagāthā paṭibhāsi pubbe assutapubbā:
I would plunge deep into an awe-inspiring forest grove and stay there. It was so awe-inspiring that normally it would make your hair stand on end if you weren’t free of greed. And on days such as the cold spell when the snow falls in the January winter, I stayed in the open by night and in the forest by day. But in the last month of summer I’d stay in the open by day and in the forest by night. And then these verses, which were neither supernaturally inspired, nor learned before in the past, occurred to me:
157. Này Sāriputta, ta đi sâu vào một khu rừng rậm đáng sợ nào đó và sống ở đó. Này Sāriputta, sự đáng sợ của khu rừng rậm ấy là như vầy: bất cứ ai chưa ly tham mà đi vào khu rừng rậm ấy, phần lớn đều dựng tóc gáy. Này Sāriputta, vào những đêm lạnh giá của mùa đông, trong tám ngày giữa hai tháng lúc sương rơi, vào những đêm như vậy, ta sống ngoài trời vào ban đêm và trong rừng rậm vào ban ngày; vào tháng cuối của mùa hè, ta sống ngoài trời vào ban ngày và trong rừng rậm vào ban đêm. Này Sāriputta, bài kệ kỳ diệu này, chưa từng được nghe trước đây, đã khởi lên trong ta:
‘Sotatto sosinno ceva, eko bhiṁsanake vane; Naggo na caggimāsīno, esanāpasuto munī’ti.
So kho ahaṁ, sāriputta, susāne seyyaṁ kappemi chavaṭṭhikāni upadhāya.
‘Scorched and frozen, alone in the awe-inspiring forest. nude, no fire to sit beside, the sage still pursues his quest.’
I would make my bed in a charnel ground, with the bones of the dead for a pillow.
Vừa bị thiêu đốt, vừa bị ướt đẫm, bậc ẩn sĩ ở một mình trong khu rừng đáng sợ; trần truồng, không ngồi gần lửa, chuyên tâm vào sự tìm cầu.
Này Sāriputta, ta nằm ngủ trong nghĩa địa, dùng xương người chết làm gối. Này Sāriputta, những đứa trẻ chăn bò đến gần ta, chúng nhổ nước bọt vào ta, tiểu tiện vào ta, rắc bụi lên ta, và nhét que vào tai ta. Này Sāriputta, ta không hề biết mình đã khởi lên một ý nghĩ xấu nào đối với chúng. Này Sāriputta, đây là sự an trú trong xả của ta.
Santi kho pana, sāriputta, eke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘āhārena suddhī’ti. Te evamāhaṁsu: ‘kolehi yāpemā’ti. Te kolampi khādanti, kolacuṇṇampi khādanti, kolodakampi pivanti—anekavihitampi kolavikatiṁ paribhuñjanti. Abhijānāmi kho panāhaṁ, sāriputta, ekaṁyeva kolaṁ āhāraṁ āhāritā. Siyā kho pana te, sāriputta, evamassa: ‘mahā nūna tena samayena kolo ahosī’ti. Na kho panetaṁ, sāriputta, evaṁ daṭṭhabbaṁ. Tadāpi etaparamoyeva kolo ahosi seyyathāpi etarahi. Tassa mayhaṁ, sāriputta, ekaṁyeva kolaṁ āhāraṁ āhārayato adhimattakasimānaṁ patto kāyo hoti. Seyyathāpi nāma āsītikapabbāni vā kāḷapabbāni vā; evamevassu me aṅgapaccaṅgāni bhavanti tāyevappāhāratāya. Seyyathāpi nāma oṭṭhapadaṁ; evamevassu me ānisadaṁ hoti tāyevappāhāratāya. Seyyathāpi nāma vaṭṭanāvaḷī; evamevassu me piṭṭhikaṇṭako unnatāvanato hoti tāyevappāhāratāya. Seyyathāpi nāma jarasālāya gopānasiyo oluggaviluggā bhavanti; evamevassu me phāsuḷiyo oluggaviluggā bhavanti tāyevappāhāratāya. Seyyathāpi nāma gambhīre udapāne udakatārakā gambhīragatā okkhāyikā dissanti; evamevassu me akkhikūpesu akkhitārakā gambhīragatā okkhāyikā dissanti tāyevappāhāratāya. Seyyathāpi nāma tittakālābu āmakacchinno vātātapena samphuṭito hoti sammilāto; evamevassu me sīsacchavi samphuṭitā hoti sammilātā tāyevappāhāratāya. So kho ahaṁ, sāriputta, ‘udaracchaviṁ parimasissāmī’ti piṭṭhikaṇṭakaṁyeva pariggaṇhāmi, ‘piṭṭhikaṇṭakaṁ parimasissāmī’ti udaracchaviṁyeva pariggaṇhāmi, yāvassu me, sāriputta, udaracchavi piṭṭhikaṇṭakaṁ allīnā hoti tāyevappāhāratāya. So kho ahaṁ, sāriputta, ‘vaccaṁ vā muttaṁ vā karissāmī’ti tattheva avakujjo papatāmi tāyevappāhāratāya. So kho ahaṁ, sāriputta, tameva kāyaṁ assāsento pāṇinā gattāni anomajjāmi. Tassa mayhaṁ, sāriputta, pāṇinā gattāni anomajjato pūtimūlāni lomāni kāyasmā patanti tāyevappāhāratāya.
There are some ascetics and brahmins who have this doctrine and view: ‘Purity comes from food.’ They say: ‘Let’s live on jujubes.’ So they eat jujubes and jujube powder, and drink jujube juice. And they enjoy many jujube concoctions. I recall eating just a single jujube. You might think that at that time the jujubes must have been very big. But you should not see it like this. The jujubes then were at most the same size as today. Eating so very little, my body became severely emaciated. Due to eating so little, my major and minor limbs became like the joints of an eighty-year-old or a dying man, my bottom became like a camel’s hoof, my vertebrae stuck out like beads on a string, and my ribs were as gaunt as the broken-down rafters on an old barn. Due to eating so little, the gleam of my eyes sank deep in their sockets, like the gleam of water sunk deep down a well. Due to eating so little, my scalp shriveled and withered like a green bitter-gourd in the wind and sun. Due to eating so little, the skin of my belly stuck to my backbone, so that when I tried to rub the skin of my belly I grabbed my backbone, and when I tried to rub my backbone I rubbed the skin of my belly. Due to eating so little, when I tried to urinate or defecate I fell face down right there. Due to eating so little, when I tried to relieve my body by rubbing my limbs with my hands, the hair, rotted at its roots, fell out.
158. Này Sāriputta, lại nữa, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến giải như vầy: ‘Sự thanh tịnh có được là nhờ vào vật thực.’ Họ đã nói như vầy: ‘Chúng ta sẽ sống bằng quả táo dại.’ Họ ăn quả táo dại, ăn bột táo dại, uống nước táo dại, và thọ dụng nhiều loại chế phẩm khác nhau từ quả táo dại. Này Sāriputta, Ta nhớ lại rằng Ta đã từng sống chỉ với một quả táo dại làm vật thực. Này Sāriputta, có thể ngươi sẽ nghĩ rằng: ‘Vào thời ấy, quả táo dại chắc hẳn phải to lớn lắm.’ Này Sāriputta, không nên nghĩ như vậy. Vào thời ấy, quả táo dại cũng chỉ có kích thước như bây giờ. Này Sāriputta, do Ta sống chỉ với một quả táo dại làm vật thực, thân thể của Ta đã trở nên vô cùng gầy gò. Do ăn quá ít, các chi phần lớn nhỏ của Ta trở nên giống như những đốt của cây leo āsītika hay cây leo kāḷa. Do ăn quá ít, mông của Ta trở nên giống như móng chân lạc đà. Do ăn quá ít, xương sống của Ta lồi lõm giống như một chuỗi hạt. Do ăn quá ít, xương sườn của Ta gãy đổ xiêu vẹo giống như những thanh rui của một căn nhà sala cũ nát. Do ăn quá ít, tròng mắt của Ta nằm sâu trong hốc mắt, trông như những ánh sao lấp lánh dưới đáy giếng sâu. Do ăn quá ít, da đầu của Ta nhăn nheo, héo úa giống như quả bầu đắng còn non bị cắt lìa rồi phơi nắng gió. Này Sāriputta, khi Ta nghĩ: ‘Ta sẽ sờ vào da bụng,’ thì Ta lại nắm phải xương sống. Khi Ta nghĩ: ‘Ta sẽ sờ vào xương sống,’ thì Ta lại nắm phải da bụng. Này Sāriputta, do ăn quá ít, da bụng của Ta đã dính sát vào xương sống. Này Sāriputta, khi Ta nghĩ: ‘Ta sẽ đi đại tiện hay tiểu tiện,’ thì Ta liền ngã sấp mặt tại chỗ đó, cũng do ăn quá ít. Này Sāriputta, để cho thân thể dễ chịu, Ta dùng tay xoa bóp các chi thể. Này Sāriputta, khi Ta dùng tay xoa bóp các chi thể, những sợi lông có gốc đã hư thối liền rụng khỏi thân, cũng do ăn quá ít.
Santi kho pana, sāriputta, eke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘āhārena suddhī’ti. Te evamāhaṁsu: ‘muggehi yāpema …pe… tilehi yāpema …pe… taṇḍulehi yāpemā’ti. Te taṇḍulampi khādanti, taṇḍulacuṇṇampi khādanti, taṇḍulodakampi pivanti—anekavihitampi taṇḍulavikatiṁ paribhuñjanti. Abhijānāmi kho panāhaṁ, sāriputta, ekaṁyeva taṇḍulaṁ āhāraṁ āhāritā. Siyā kho pana te, sāriputta, evamassa: ‘mahā nūna tena samayena taṇḍulo ahosī’ti. Na kho panetaṁ, sāriputta, evaṁ daṭṭhabbaṁ. Tadāpi etaparamoyeva taṇḍulo ahosi, seyyathāpi etarahi. Tassa mayhaṁ, sāriputta, ekaṁyeva taṇḍulaṁ āhāraṁ āhārayato adhimattakasimānaṁ patto kāyo hoti. Seyyathāpi nāma āsītikapabbāni vā kāḷapabbāni vā; evamevassu me aṅgapaccaṅgāni bhavanti tāyevappāhāratāya. Seyyathāpi nāma oṭṭhapadaṁ; evamevassu me ānisadaṁ hoti tāyevappāhāratāya. Seyyathāpi nāma vaṭṭanāvaḷī; evamevassu me piṭṭhikaṇṭako unnatāvanato hoti tāyevappāhāratāya. Seyyathāpi nāma jarasālāya gopānasiyo oluggaviluggā bhavanti; evamevassu me phāsuḷiyo oluggaviluggā bhavanti tāyevappāhāratāya. Seyyathāpi nāma gambhīre udapāne udakatārakā gambhīragatā okkhāyikā dissanti; evamevassu me akkhikūpesu akkhitārakā gambhīragatā okkhāyikā dissanti tāyevappāhāratāya. Seyyathāpi nāma tittakālābu āmakacchinno vātātapena samphuṭito hoti sammilāto; evamevassu me sīsacchavi samphuṭitā hoti sammilātā tāyevappāhāratāya. So kho ahaṁ, sāriputta, ‘udaracchaviṁ parimasissāmī’ti piṭṭhikaṇṭakaṁyeva pariggaṇhāmi, ‘piṭṭhikaṇṭakaṁ parimasissāmī’ti udaracchaviṁyeva pariggaṇhāmi. Yāvassu me, sāriputta, udaracchavi piṭṭhikaṇṭakaṁ allīnā hoti tāyevappāhāratāya. So kho ahaṁ, sāriputta, ‘vaccaṁ vā muttaṁ vā karissāmī’ti tattheva avakujjo papatāmi tāyevappāhāratāya. So kho ahaṁ, sāriputta, tameva kāyaṁ assāsento pāṇinā gattāni anomajjāmi. Tassa mayhaṁ, sāriputta, pāṇinā gattāni anomajjato pūtimūlāni lomāni kāyasmā patanti tāyevappāhāratāya.
There are some ascetics and brahmins who have this doctrine and view: ‘Purity comes from food.’ They say: ‘Let’s live on mung beans.’ … ‘Let’s live on sesame.’ … ‘Let’s live on ordinary rice.’ … Due to eating so little, when I tried to relieve my body by rubbing my limbs with my hands, the hair, rotted at its roots, fell out.
159. Này Sāriputta, lại nữa, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến giải như vầy: ‘Sự thanh tịnh có được là nhờ vào vật thực.’ Họ đã nói như vầy: ‘Chúng ta sẽ sống bằng hạt đậu xanh... bằng hạt mè... bằng hạt gạo.’ Họ ăn gạo, ăn bột gạo, uống nước gạo, và thọ dụng nhiều loại chế phẩm khác nhau từ gạo. Này Sāriputta, Ta nhớ lại rằng Ta đã từng sống chỉ với một hạt gạo làm vật thực. Này Sāriputta, có thể ngươi sẽ nghĩ rằng: ‘Vào thời ấy, hạt gạo chắc hẳn phải to lớn lắm.’ Này Sāriputta, không nên nghĩ như vậy. Vào thời ấy, hạt gạo cũng chỉ có kích thước như bây giờ. Này Sāriputta, do Ta sống chỉ với một hạt gạo làm vật thực, thân thể của Ta đã trở nên vô cùng gầy gò. Do ăn quá ít, các chi phần lớn nhỏ của Ta trở nên giống như những đốt của cây leo āsītika hay cây leo kāḷa. Do ăn quá ít, mông của Ta trở nên giống như móng chân lạc đà. Do ăn quá ít, xương sống của Ta lồi lõm giống như một chuỗi hạt. Do ăn quá ít, xương sườn của Ta gãy đổ xiêu vẹo giống như những thanh rui của một căn nhà sala cũ nát. Do ăn quá ít, tròng mắt của Ta nằm sâu trong hốc mắt, trông như những ánh sao lấp lánh dưới đáy giếng sâu. Do ăn quá ít, da đầu của Ta nhăn nheo, héo úa giống như quả bầu đắng còn non bị cắt lìa rồi phơi nắng gió. Này Sāriputta, khi Ta nghĩ: ‘Ta sẽ sờ vào da bụng,’ thì Ta lại nắm phải xương sống. Khi Ta nghĩ: ‘Ta sẽ sờ vào xương sống,’ thì Ta lại nắm phải da bụng. Này Sāriputta, do ăn quá ít, da bụng của Ta đã dính sát vào xương sống. Này Sāriputta, khi Ta nghĩ: ‘Ta sẽ đi đại tiện hay tiểu tiện,’ thì Ta liền ngã sấp mặt tại chỗ đó, cũng do ăn quá ít. Này Sāriputta, để cho thân thể dễ chịu, Ta dùng tay xoa bóp các chi thể. Này Sāriputta, khi Ta dùng tay xoa bóp các chi thể, những sợi lông có gốc đã hư thối liền rụng khỏi thân, cũng do ăn quá ít.
Tāyapi kho ahaṁ, sāriputta, iriyāya tāya paṭipadāya tāya dukkarakārikāya nājjhagamaṁ uttariṁ manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesaṁ. Taṁ kissa hetu? Imissāyeva ariyāya paññāya anadhigamā, yāyaṁ ariyā paññā adhigatā ariyā niyyānikā, niyyāti takkarassa sammā dukkhakkhayāya.
Santi kho pana, sāriputta, eke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘saṁsārena suddhī’ti. Na kho pana so, sāriputta, saṁsāro sulabharūpo yo mayā asaṁsaritapubbo iminā dīghena addhunā, aññatra suddhāvāsehi devehi.
But Sāriputta, I did not achieve any superhuman distinction in knowledge and vision worthy of the noble ones by that conduct, that practice, that grueling work. Why is that? Because I didn’t achieve that noble wisdom that’s noble and emancipating, and which delivers one who applies it to the complete ending of suffering.
There are some ascetics and brahmins who have this doctrine and view: ‘Purity comes from transmigration.’ But it’s not easy to find a realm that I haven’t previously transmigrated to in all this long time, except the gods of the pure abodes.
Này Sāriputta, dù với oai nghi ấy, với pháp hành ấy, với khổ hạnh ấy, Ta vẫn không chứng đắc được pháp thượng nhân, tri kiến đặc biệt của bậc Thánh có khả năng đưa đến giải thoát. Vì sao vậy? Vì đã không chứng ngộ được trí tuệ Thánh thiện này; trí tuệ Thánh thiện này, một khi được chứng ngộ, là Thánh thiện, có khả năng đưa đến giải thoát, và dẫn dắt người thực hành nó đến sự đoạn tận khổ đau một cách chân chánh.
Santi kho pana, sāriputta, eke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino:
There are some ascetics and brahmins who have this doctrine and view:
160. Này Sāriputta, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy: ‘Sự thanh tịnh có được là do sự luân hồi.’ Này Sāriputta, không dễ gì tìm được cảnh giới luân hồi nào mà Như Lai chưa từng luân hồi trong suốt khoảng thời gian dài đằng đẵng này, ngoại trừ các vị chư thiên ở Tịnh Cư Thiên. Và này Sāriputta, nếu Như Lai luân hồi ở cõi Tịnh Cư Thiên thì sẽ không trở lại thế gian này nữa.
Này Sāriputta, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy: ‘Sự thanh tịnh có được là do sự tái sanh.’ Này Sāriputta, không dễ gì tìm được cảnh giới tái sanh nào mà Như Lai chưa từng tái sanh trong suốt khoảng thời gian dài đằng đẵng này, ngoại trừ các vị chư thiên ở Tịnh Cư Thiên. Và này Sāriputta, nếu Như Lai tái sanh ở cõi Tịnh Cư Thiên thì sẽ không trở lại thế gian này nữa.
Santi kho pana, sāriputta, eke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘āvāsena suddhī’ti. Na kho pana so, sāriputta, āvāso sulabharūpo yo mayā anāvuṭṭhapubbo iminā dīghena addhunā, aññatra suddhāvāsehi devehi. Suddhāvāse cāhaṁ, sāriputta, deve āvaseyyaṁ, nayimaṁ lokaṁ punarāgaccheyyaṁ.
There are some ascetics and brahmins who have this doctrine and view: ‘Purity comes from abode of rebirth.’ But it’s not easy to find an abode where I haven’t previously abided …
Này Sāriputta, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy: ‘Sự thanh tịnh có được là do trú xứ.’ Này Sāriputta, không dễ gì tìm được trú xứ nào mà Như Lai chưa từng trú ngụ trong suốt khoảng thời gian dài đằng đẵng này, ngoại trừ các vị chư thiên ở Tịnh Cư Thiên. Và này Sāriputta, nếu Như Lai trú ngụ ở cõi Tịnh Cư Thiên thì sẽ không trở lại thế gian này nữa.
Santi kho pana, sāriputta, eke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘yaññena suddhī’ti. Na kho pana so, sāriputta, yañño sulabharūpo yo mayā ayiṭṭhapubbo iminā dīghena addhunā, tañca kho raññā vā satā khattiyena muddhāvasittena brāhmaṇena vā mahāsālena.
There are some ascetics and brahmins who have this doctrine and view: ‘Purity comes from sacrifice.’ But it’s not easy to find a sacrifice that I haven’t previously offered in all this long time, when I was an anointed aristocratic king or a well-to-do brahmin.
Này Sāriputta, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy: ‘Sự thanh tịnh có được là do sự tế lễ.’ Này Sāriputta, không dễ gì tìm được sự tế lễ nào mà Như Lai chưa từng thực hiện trong suốt khoảng thời gian dài đằng đẵng này, khi là vị vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, hoặc khi là vị Bà-la-môn đại phú.
Santi kho pana, sāriputta, eke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘aggiparicariyāya suddhī’ti. Na kho pana so, sāriputta, aggi sulabharūpo yo mayā apariciṇṇapubbo iminā dīghena addhunā, tañca kho raññā vā satā khattiyena muddhāvasittena brāhmaṇena vā mahāsālena.
There are some ascetics and brahmins who have this doctrine and view: ‘Purity comes from serving the sacred flame.’ But it’s not easy to find a fire that I haven’t previously served in all this long time, when I was an anointed aristocratic king or a well-to-do brahmin.
Này Sāriputta, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy: ‘Sự thanh tịnh có được là do sự thờ lửa.’ Này Sāriputta, không dễ gì tìm được loại lửa nào mà Như Lai chưa từng thờ phụng trong suốt khoảng thời gian dài đằng đẵng này, khi là vị vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, hoặc khi là vị Bà-la-môn đại phú.
Santi kho pana, sāriputta, eke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘yāvadevāyaṁ bhavaṁ puriso daharo hoti yuvā susukāḷakeso bhadrena yobbanena samannāgato paṭhamena vayasā tāvadeva paramena paññāveyyattiyena samannāgato hoti. Yato ca kho ayaṁ bhavaṁ puriso jiṇṇo hoti vuddho mahallako addhagato vayoanuppatto, āsītiko vā nāvutiko vā vassasatiko vā jātiyā, atha tamhā paññāveyyattiyā, parihāyatī’ti. Na kho panetaṁ, sāriputta, evaṁ daṭṭhabbaṁ. Ahaṁ kho pana, sāriputta, etarahi jiṇṇo vuddho mahallako addhagato vayoanuppatto, āsītiko me vayo vattati. Idha me assu, sāriputta, cattāro sāvakā vassasatāyukā vassasatajīvino, paramāya satiyā ca gatiyā ca dhitiyā ca samannāgatā paramena ca paññāveyyattiyena. Seyyathāpi, sāriputta, daḷhadhammā dhanuggaho sikkhito katahattho katūpāsano lahukena asanena appakasireneva tiriyaṁ tālacchāyaṁ atipāteyya, evaṁ adhimattasatimanto evaṁ adhimattagatimanto evaṁ adhimattadhitimanto evaṁ paramena paññāveyyattiyena samannāgatā. Te maṁ catunnaṁ satipaṭṭhānānaṁ upādāyupādāya pañhaṁ puccheyyuṁ, puṭṭho puṭṭho cāhaṁ tesaṁ byākareyyaṁ, byākatañca me byākatato dhāreyyuṁ, na ca maṁ dutiyakaṁ uttari paṭipuccheyyuṁ. Aññatra asitapītakhāyitasāyitā aññatra uccārapassāvakammā, aññatra niddākilamathapaṭivinodanā apariyādinnāyevassa, sāriputta, tathāgatassa dhammadesanā, apariyādinnaṁyevassa tathāgatassa dhammapadabyañjanaṁ, apariyādinnaṁyevassa tathāgatassa pañhapaṭibhānaṁ. Atha me te cattāro sāvakā vassasatāyukā vassasatajīvino vassasatassa accayena kālaṁ kareyyuṁ. Mañcakena cepi maṁ, sāriputta, pariharissatha, nevatthi tathāgatassa paññāveyyattiyassa aññathattaṁ.
Yaṁ kho taṁ, sāriputta, sammā vadamāno vadeyya: ‘asammohadhammo satto loke uppanno bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānan’ti, mameva taṁ sammā vadamāno vadeyya ‘asammohadhammo satto loke uppanno bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānan’”ti.
There are some ascetics and brahmins who have this doctrine and view: ‘So long as this gentleman is youthful, young, with pristine black hair, blessed with youth, in the prime of life he will be endowed with perfect lucidity of wisdom. But when he’s old, elderly, and senior, advanced in years, and has reached the final stage of life—eighty, ninety, or a hundred years old—he will lose his lucidity of wisdom.’ But you should not see it like this. For now I am old, elderly, and senior, I’m advanced in years, and have reached the final stage of life. I am eighty years old. Suppose I had four disciples with a lifespan of a hundred years. And they each were perfect in memory, range, retention, and perfect lucidity of wisdom. Imagine how easily a well-trained expert archer with a strong bow would shoot a light arrow across the shadow of a palm tree. That’s how extraordinary they were in memory, range, retention, and perfect lucidity of wisdom. They’d bring up questions about the four kinds of mindfulness meditation again and again, and I would answer each question. They’d remember the answers and not ask the same question twice. And they’d pause only to eat and drink, go to the toilet, and sleep to dispel weariness. But the Realized One would not run out of Dhamma teachings, words and phrases of the teachings, or spontaneous answers. And at the end of a hundred years my four disciples would pass away. Even if you have to carry me around on a stretcher, there will never be any deterioration in the Realized One’s lucidity of wisdom.
And if there’s anyone of whom it may be rightly said that a being not liable to delusion has arisen in the world for the welfare and happiness of the people, out of sympathy for the world, for the benefit, welfare, and happiness of gods and humans, it’s of me that this should be said.”
161. Này Sāriputta, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy: ‘Chỉ khi nào người đàn ông còn trẻ, là thanh niên, tóc đen nhánh, đầy đủ tuổi thanh xuân tốt đẹp, trong thời niên thiếu, thì khi ấy mới có được trí tuệ sắc bén tột bậc. Và khi nào người đàn ông ấy già nua, cao tuổi, bậc trưởng thượng, đã đi hết cuộc đời, đến tuổi già, tám mươi, chín mươi, hay một trăm tuổi, thì khi ấy trí tuệ sắc bén ấy bị suy giảm.’ Này Sāriputta, không nên nhìn nhận như vậy. Này Sāriputta, hiện nay Như Lai đã già nua, cao tuổi, bậc trưởng thượng, đã đi hết cuộc đời, đến tuổi già, tám mươi tuổi. Này Sāriputta, giả sử ở đây Như Lai có bốn vị đệ tử, sống trăm tuổi, mạng sống trăm năm, có được niệm lực, trí năng, nghị lực tột bậc, và có được trí tuệ sắc bén tột bậc. Này Sāriputta, ví như người bắn cung có cây cung chắc khỏe, đã được huấn luyện, tay nghề thành thạo, đã được thực tập, có thể dùng mũi tên nhẹ bắn xuyên qua bóng cây thốt nốt một cách không khó khăn; cũng vậy, các vị ấy có niệm lực siêu việt, có trí năng siêu việt, có nghị lực siêu việt, và có trí tuệ sắc bén tột bậc. Các vị ấy sẽ hỏi Như Lai về vấn đề liên quan đến bốn niệm xứ, hỏi đi hỏi lại. Và mỗi khi được hỏi, Như Lai sẽ trả lời cho họ. Và câu trả lời của Như Lai, họ sẽ ghi nhớ đúng như đã được trả lời, và họ sẽ không hỏi lại Như Lai lần thứ hai. Ngoại trừ việc ăn, uống, nhai, nếm, ngoại trừ việc đại tiện, tiểu tiện, ngoại trừ việc ngủ nghỉ để xua tan mệt nhọc, này Sāriputta, bài thuyết pháp của Như Lai sẽ không bao giờ cạn kiệt, văn cú và ý nghĩa các pháp của Như Lai sẽ không bao giờ cạn kiệt, sự ứng đối các câu hỏi của Như Lai sẽ không bao giờ cạn kiệt. Rồi bốn vị đệ tử ấy của Như Lai, sống trăm tuổi, mạng sống trăm năm, sau một trăm năm sẽ mệnh chung. Này Sāriputta, cho dù các ngươi phải khiêng Như Lai đi bằng giường nhỏ, trí tuệ sắc bén của Như Lai cũng không có sự thay đổi nào khác. Này Sāriputta, nếu có người nói một cách chân chánh rằng: ‘Một chúng sanh không có sự si mê đã sanh ra ở đời vì lợi ích cho nhiều người, vì hạnh phúc cho nhiều người, vì lòng bi mẫn đối với thế gian, vì sự tốt đẹp, lợi ích, hạnh phúc cho chư thiên và loài người,’ thì người ấy, khi nói một cách chân chánh, chính là nói về Như Lai vậy.
Tena kho pana samayena āyasmā nāgasamālo bhagavato piṭṭhito ṭhito hoti bhagavantaṁ bījayamāno. Atha kho āyasmā nāgasamālo bhagavantaṁ etadavoca:
“acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante. Api hi me, bhante, imaṁ dhammapariyāyaṁ sutvā lomāni haṭṭhāni. Konāmo ayaṁ, bhante, dhammapariyāyo”ti?
“Tasmātiha tvaṁ, nāgasamāla, imaṁ dhammapariyāyaṁ lomahaṁsanapariyāyotveva naṁ dhārehī”ti.
Now at that time Venerable Nāgasamāla was standing behind the Buddha fanning him. Then he said to the Buddha:
“It’s incredible, sir, it’s amazing! While I was listening to this exposition of the teaching my hair stood up! What is the name of this exposition of the teaching?”
“Well then, Nāgasamāla, you may remember this exposition of the teaching as ‘The Hair-raising Discourse’.”
162. Vào lúc ấy, Tôn giả Nāgasamāla đang đứng sau lưng Đức Thế Tôn và quạt hầu Ngài. Bấy giờ, Tôn giả Nāgasamāla bạch với Đức Thế Tôn rằng: ‘Thật vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, khi con nghe pháp môn này, lông của con đã dựng đứng cả lên. Bạch Thế Tôn, pháp môn này tên là gì?’ ‘Này Nāgasamāla, vì vậy, ngươi hãy ghi nhớ pháp môn này là ‘Pháp Môn Dựng Lông’.’
Idamavoca bhagavā. Attamano āyasmā nāgasamālo bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
That is what the Buddha said. Satisfied, Venerable Nāgasamāla approved what the Buddha said.
Đức Thế Tôn đã thuyết như vậy. Tôn giả Nāgasamāla hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Đức Thế Tôn.
Mahāsīhanādasuttaṁ niṭṭhitaṁ dutiyaṁ.
Kinh Đại Sư Tử Hống, kinh thứ hai, kết thúc.