- Majjhima Nikāya 122
Mahāsuññatasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Mahāsuññatasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời, Thế Tôn trú giữa các dòng họ Sakka (Thích-ca), tại Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ), ở tu viện Nigrodha (Ni-câu-luật Thọ Viên).
SC 2Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Kapilavatthu để khất thực. Sau khi đi khất thực ở Kapilavatthu, ăn xong, trên đường đi khất thực trở về, Thế Tôn đi đến trú xứ của Thích-ca Kalakhemaka để ở ban ngày. Lúc bấy giờ, tại tu viện của Thích-ca Kalakhemaka, có sắp đặt rất nhiều sàng tọa. Thế Tôn thấy rất nhiều sàng tọa tại trú xứ của Thích-ca Kalakhemaka, thấy vậy Thế Tôn suy nghĩ: “Rất nhiều sàng tọa được sắp đặt tại tu viện của Thích-ca Kalakhemaka. Không biết ở đấy có rất nhiều Tỷ-kheo ở không?”
SC 3Lúc bấy giờ Tôn giả Ānanda cùng với rất nhiều vị Tỷ-kheo đang làm y (civarakamma) ở trú xứ của Thích-ca Ghataya. Rồi Thế Tôn vào buổi chiều, từ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến trú xứ của Thích-ca Ghataya, sau khi đến liền ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn bảo Tôn giả Ānanda
SC 4—Này Ānanda, có rất nhiều sàng tọa được sắp đặt tại trú xứ của Thích-ca Kalakhemaka. Không biết có nhiều Tỷ-kheo trú ở đấy không?
SC 5—Bạch Thế Tôn, có rất nhiều sàng tọa được sắp đặt ở trú xứ của Thích-ca Kalakhemaka; có rất nhiều Tỷ-kheo trú tại chỗ ấy. Bạch Thế Tôn, nay là thời chúng con làm y.
SC 6—Này Ānanda, một Tỷ-kheo không chói sáng nếu thích thú trong hội chúng của mình, nếu hân hoan trong hội chúng của mình, nếu hoan hỷ trong hội chúng của mình, nếu thích thú trong hội chúng của người, nếu hân hoan trong hội chúng của người, nếu hoan hỷ trong hội chúng của người. Này Ānanda, nếu Tỷ-kheo nào thích thú trong hội chúng của mình, hân hoan trong hội chúng của mình, hoan hỷ trong hội chúng của mình, thích thú trong hội chúng của người, hân hoan trong hội chúng của người, hoan hỷ trong hội chúng của người, có thể là một vị chứng đắc tùy theo ý muốn, chứng đắc không khó khăn, chứng đắc không mệt nhọc, viễn ly lạc, độc cư lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc; sự kiện như vậy không xảy ra. Nhưng này Ānanda, Tỷ-kheo nào sống một mình, xa lánh tụ hội, thời vị ấy có hy vọng chứng đắc tùy theo ý muốn, chứng đắc không khó khăn, chứng đắc không mệt nhọc, viễn ly lạc, độc cư lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc; sự kiện như vậy có thể xảy ra.
SC 7Này Ānanda, nếu Tỷ-kheo nào thích thú trong hội chúng của mình, hân hoan trong hội chúng của mình, hoan hỷ trong hội chúng của mình, thích thú trong hội chúng của người, hân hoan trong hội chúng của người, hoan hỷ trong hội chúng của người sẽ chứng đắc và an trú với tâm giải thoát có hạn kỳ và thoải mái, hay không có hạn kỳ và bất động; sự kiện như vậy không xảy ra. Nhưng này Ānanda, Tỷ-kheo nào sống một mình, xa lánh tụ hội, thời vị ấy có hy vọng sẽ chứng đắc và an trú với tâm giải thoát có hạn kỳ và thoái mái, hay không có hạn kỳ và bất động; sự kiện như vậy có xảy ra.
SC 8Này Ānanda, Ta không quán thấy một sắc pháp nào trong ấy có hoan hỷ, trong ấy có hoan lạc, chịu sự biến dịch, chịu sự đổi khác mà không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não.
SC 9Nhưng sự (an) trú này, này Ānanda, đã được Như Lai hoàn toàn giác ngộ, tức là sau khi không tác ý với tất cả tướng, chứng đắc và (an) trú nội không. Và nếu này Ānanda, trong khi Như Lai an trú trong an trú này, nếu có những Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, quốc vương, đại thần, ngoại đạo, ngoại đạo đệ tử đến yết kiến, trong khi ấy, này Ānanda, Như Lai với tâm hướng đến viễn ly, thiên về viễn ly, nặng nề viễn ly, sống độc cư, hoan hỷ trong ly dục, làm cho đoạn tận tất cả các pháp dựa trên các lậu hoặc an trú, nói lên tại chỗ ấy những lời thuần túy liên hệ đến khích lệ.
SC 10Do vậy, này Ānanda, nếu Tỷ-kheo ước vọng: “Sau khi chứng đạt nội không, ta sẽ an trú”, vị Tỷ-kheo ấy, này Ānanda, cần phải an chỉ, an tọa, chuyên nhất và an định nội tâm. Và này Ānanda, như thế nào Tỷ-kheo an chỉ, an tọa, chuyên nhất và an định nội tâm?
SC 11Ở đây, này Ānanda, Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Sơ thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Diệt tầm và tứ, chứng và trú Nhị thiền, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhứt tâm … Tam thiền … chứng và trú Tứ thiền. Như vậy, này Ānanda, Tỷ-kheo an chỉ, an tọa, chuyên nhất và an định nội tâm.
SC 12Vị ấy tác ý nội không. Trong khi vị ấy tác ý nội không, tâm không thích thú, không tịnh tín, không an trú, không hướng đến nội không. Sự kiện là như vậy, này Ānanda, Tỷ-kheo biết như sau: “Trong khi ta tác ý nội không, tâm không thích thú, không tịnh tín, không an trú, không hướng đến nội không”. Ở đây, vị ấy ý thức rõ ràng như vậy.
SC 13Vị ấy tác ý ngoại không. Vị ấy tác ý nội ngoại không. Vị ấy tác ý bất động. Trong khi vị ấy tác ý bất động thời tâm không thích thú, không tịnh tín, không an trú, không hướng đến bất động”. Sự kiện là như vậy, này Ānanda, Tỷ-kheo biết như sau: “Trong khi ta tác ý bất động, tâm không thích thú, không tịnh tín, không an trú, không hướng đến bất động”. Ở đây, vị ấy ý thức rõ ràng như vậy.
SC 14Này Ānanda, Tỷ-kheo ấy cần phải an trú, an tọa, chuyên nhất, và an định nội tâm trên định tướng (samadhinimitte) đã đề cập về trước ấy. Vị ấy tác ý nội không. Trong khi vị ấy tác ý nội không, tâm thích thú, tịnh tín, an trú, hướng đến nội không. Sự kiện là như vậy, này Ānanda, Tỷ-kheo biết như sau: “Trong khi ta tác ý nội không, tâm thích thú, tịnh tín, an trú, hướng đến nội không”. Ở đây, vị ấy ý thức rõ ràng như vậy.
SC 15Vị ấy tác ý ngoại không. Vị ấy tác ý nội ngoại không. Vị ấy tác ý bất động. Trong khi vị ấy tác ý bất động, tâm thích thú, tịnh tín, an trú hướng đến bất động. Sự kiện là như vậy, này Ānanda, vị Tỷ-kheo biết như sau: “Trong khi ta tác ý bất động, tâm thích thú, tịnh tín, an trú, hướng đến bất động”. Ở đây, vị ấy ý thức rõ ràng như vậy.
SC 16Này Ānanda, nếu Tỷ-kheo ấy đang an trú trong an trú này, tâm vị ấy hướng đến đi kinh hành, vị ấy đi kinh hành (cankamati), và nghĩ rằng: “Trong khi ta đang đi kinh hành, thời tham và ưu, các ác bất thiện pháp không có chảy vào”. Ở đây, vị ấy ý thức rõ ràng như vậy. Này Ānanda, nếu Tỷ-kheo đang an trú trong an trú này, tâm vị ấy hướng đến đứng lại, vị ấy đứng lại và nghĩ rằng: “Trong khi ta đang đứng lại thời tham và ưu, các ác bất thiện pháp không có chảy vào”. Ở đây, vị ấy ý thức rõ ràng như vậy.
SC 17Này Ānanda, nếu trong khi Tỷ-kheo ấy an trú trong sự an trú này, tâm vị ấy hướng đến ngồi, vị ấy ngồi và nghĩ rằng: “Trong khi ta đang ngồi, thời tham và ưu, các ác bất thiện pháp không có chảy vào”. Ở đây, vị ấy ý thức rõ ràng như vậy. Này Ānanda, nếu trong khi Tỷ-kheo ấy an trú trong sự an trú này, tâm vị ấy hướng đến nằm, vị ấy nằm và nghĩ rằng: “Trong khi ta đang nằm, thời tham và ưu, các ác bất thiện pháp không chảy vào”. Ở đây, vị ấy ý thức rõ ràng như vậy.
SC 18Này Ānanda, nếu trong khi Tỷ-kheo ấy an trú trong sự an trú này, tâm vị ấy hướng đến nói, vị ấy suy nghĩ như sau: “Ta sẽ không nói những câu chuyện hạ liệt, đê tiện, thuộc phàm phu, không thuộc bậc Thánh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yếm ly, ly dục, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ. Niết-bàn, như quốc vương luận, đạo tặc luận, đại thần luận, quân luận, bố úy luận, chiến tranh luận, thực vật luận, ẩm liệu luận, y phục luận, ngọa cụ luận, hoan man luận, hương liệu luận, thân thích luận, xa thừa luận, thôn luận, thị trấn luận, đô thị luận, quốc độ luận, nữ luận, anh hùng luận, hạng trung luận, thủy bình xứ luận, tiên linh luận, sai biệt luận, thế giới luận, hải thuyết luận, hữu vô hữu luận”. Ở đây, vị ấy ý thức rõ ràng như vậy.
SC 19Nhưng này Ānanda, đối với những lời nói nào khắc khổ, khai tâm, đưa đến nhứt hướng yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn, như thiểu dục luận, tri túc luận, độc cư luận, bất chúng hội luận, tinh cần luận, giới luận, định luận, tuệ luận, giải thoát luận, giải thoát tri kiến luận, vị ấy nghĩ: “Ta sẽ nói các luận như vậy”. Ở đây, vị ấy ý thức rõ ràng như vậy.
SC 20Này Ānanda, nếu Tỷ-kheo ấy trong khi an trú với sự an trú này, tâm hướng đến suy tầm (vitakka), vị ấy suy nghĩ: “Ðối với những suy tầm hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không thuộc bậc Thánh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn, như là dục tầm, sân tầm, hại tầm, ta sẽ không suy nghĩ các loại suy tầm ấy”. Ở đây, vị ấy ý thức rõ ràng như vậy.
SC 21Nhưng này Ānanda, đối với những suy tầm này, thuộc bậc Thánh, có khả năng cầu tiến, hướng dẫn (người suy nghĩ các suy tầm ấy) đến sự đoạn trừ hoàn toàn đau khổ, như là ly dục tầm, vô sân tầm, bất hại tầm, vị ấy nghĩ: “Ta sẽ suy tư các loại suy tầm này”. Ở đây, vị ấy ý thức rõ ràng như vậy.
SC 22Này Ānanda, có năm dục trưởng dưỡng này. Thế nào là năm? Các sắc do mắt nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến dục, hấp dẫn; các tiếng do tai nhận thức; các hương do mũi nhận thức; các vị do lưỡi nhận thức; các xúc do thân nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này Ānanda, có năm dục trưởng dưỡng này.
SC 23Từ đây Tỷ-kheo cần phải thường thường quán sát tự tâm như sau: “Trong tâm ta, có khởi lên tâm hành gì với xứ (āyatana) này hay xứ khác của năm dục trưởng dưỡng”. Này Ānanda, nếu Tỷ-kheo trong khi quán sát như vậy, tuệ tri rằng: “Trong tâm ta, có khởi lên tâm hành với xứ này hay xứ khác của năm dục trưởng dưỡng … ”. Sự kiện là như vậy, Tỷ-kheo tuệ tri như sau: “Dục ái (chandaraga) này đối với năm dục trưởng dưỡng đối với ta, chưa đoạn diệt được”. Ở đây, vị ấy ý thức rõ ràng như vậy. Này Ānanda, nếu Tỷ-kheo trong khi quán sát như vậy, tuệ tri rằng: “Trong tâm ta, không có khởi lên tâm hành với xứ này hay xứ khác của năm dục trưởng dưỡng … ”. Sự kiện là như vậy, Tỷ-kheo tuệ tri như sau: “Dục tham này đối với năm dục trưởng dưỡng đối với ta, đã được đoạn diệt”. Ở đây, vị ấy ý thức rõ ràng như vậy.
SC 24Này Ānanda, có năm thủ uẩn. Ở đây, Tỷ-kheo cần phải đoạn tận chúng, khi vị ấy tùy quán sự sanh diệt. Ðây là sắc, đây là sự tập khởi của sắc, đây là sự đoạn diệt của sắc. Ðây là thọ, đây là sự tập khởi của thọ, đây là sự đoạn diệt của thọ. Ðây là tưởng … Ðây là hành … Ðây là thức, đây là sự tập khởi của thức, đây là sự đoạn diệt của thức.
SC 25Trong khi vị ấy an trú, tùy quán sự sanh diệt của năm thủ uẩn này, nếu có ngã mạn nào (asmimmano) (khởi lên) đối với năm thủ uẩn, ngã mạn ấy được đoạn tận. Sự kiện là như vậy, này Ānanda, Tỷ-kheo tuệ tri như sau: “Phàm có ngã mạn nào đối với năm thủ uẩn (khởi lên) nơi ta, ta đã đoạn tận ngã mạn ấy”. Ở đây, vị ấy ý thức rõ ràng như vậy.
SC 26Những pháp này, này Ānanda, thuần nhất liên hệ đến thiện, đều thuộc hiền, Thánh, siêu thế, vượt ngoài tầm của ác ma.
SC 27—Này Ānanda, Ông nghĩ thế nào? Vì thấy lý do gì, một Thanh văn Ðệ tử tự nghĩ là xứng đáng (hợp lý) để đi theo một Ðạo sư dầu cho bị hất hủi?
SC 28—Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp dựa Thế Tôn làm căn bản, hướng Thế Tôn làm lãnh đạo, nương tựa Thế Tôn làm y cứ. Bạch Thế Tôn, tốt lành thay nếu Thế Tôn thuyết giảng cho ý nghĩa này. Sau khi được nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ hành trì.
SC 29—Này Ānanda, thật không xứng đáng cho một đệ tử bám sát theo vị đạo sư, nếu vì lý do được nghe giải thích khế kinh và phúng tụng. Vì cớ sao? Trong một thời gian lâu dài, các pháp đã được các Ông nghe, thọ trì, đọc lớn tiếng, suy tư với ý, khéo thấu hiểu với chánh trí. Nhưng này Ānanda, đối với những lời nói nào, khắc khổ, khai tâm đưa đến nhất hướng viễn ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn như là thiểu dục luận, tri túc luận, độc cư luận, bất chúng hội luận, tinh cần luận, giới luận, định luận, tuệ luận, giải thoát luận, giải thoát tri kiến luận. Này Ānanda, do nhân duyên những loại thuyết luận như vậy, thật xứng đáng cho một Thanh văn đệ tử bám sát vị Ðạo sư dầu cho bị hất hủi.
SC 30Sự kiện là như vậy, này Ānanda, thời có sự phiền lụy (upaddava) cho vị Ðạo sư; sự kiện là như vậy, thời có sự phiền lụy do đệ tử; sự kiện là như vậy, thời có sự phiền lụy cho các vị tu Phạm hạnh.
SC 31Và này Ānanda, như thế nào là sự phiền lụy cho vị Ðạo sư? Ở đây, này Ānanda, có Ðạo sư lựa một trú xứ (senasanam) xa vắng trong rừng, dưới gốc cây, trên sườn núi, chỗ hoang vu, trong hang núi, tại bãi tha ma, tại khu rừng, ngoài trời hay trên một đống rơm. Trong khi vị ấy sống viễn ly như vậy, các Bà-la-môn, gia chủ, cả thị dân và quốc dân bao vây xung quanh. Ðược các Bà-la-môn, gia chủ, cả thị dân và quốc dân bao vây xung quanh, vị ấy khởi lên nhiễm tâm, rơi vào dục vọng, khởi lên tham ái, trở lui lại đời sống sung túc. Như vậy, này Ānanda, được gọi là sự phiền lụy của Ðạo sư. Vì sự phiền lụy của Ðạo sư, các ác bất thiện pháp, tạp nhiễm, dẫn đến tái sanh, đáng sợ hãi, đưa đến khổ quả, dẫn đến sanh, già, chết trong tương lai, các pháp ấy tấn công vị ấy. Như vậy, này Ānanda, là sự phiền lụy của Ðạo sư.
SC 32Này Ānanda, thế nào là sự phiền lụy của đệ tử? Này Ānanda, đệ tử của một Ðạo sư, bắt chước đời sống viễn ly của Ðạo sư mình, lựa một trú xứ xa vắng, trong rừng, dưới gốc cây, trên sườn núi, chỗ hoang vu, trong hang núi, tại bãi tha ma, tại khu rừng, ngoài trời hay trên một đống rơm. Trong khi vị ấy sống viễn ly như vậy, các Bà-la-môn, gia chủ, cả thị dân với quốc dân bao vây xung quanh. Ðược các Bà-la-môn, gia chủ, cả thị dân và quốc dân bao vây cung quanh, vị ấy khởi lên nhiễm tâm, rơi vào dục vọng, khởi lên tham ái, trở lui lại đời sống sung túc. Như vậy, này Ānanda, được gọi là sự phiền lụy của đệ tử. Vì sự phiền lụy của đệ tử, các ác bất thiện pháp, tạp nhiễm, dẫn đến tái sanh, đáng sợ hãi, đưa đến khổ quả, dẫn đến sanh, già, chết trong tương lai; các pháp ấy tấn công vị ấy. Như vậy, này Ānanda, là sự phiền lụy của đệ tử.
SC 33Và này Ānanda, như thế nào là sự phiền lụy của các vị tu Phạm hạnh? Ở đây, này Ānanda, Như Lai xuất hiện ở đời, là bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Ngài lựa một trú xứ xa vắng, trong rừng, dưới gốc cây, trên sườn núi, chỗ hoang vu, trong hang núi, tại bãi tha ma, tại khu rừng, ngoài trời hay trên một đống rơm. Trong khi Ngài sống viễn ly như vậy, các Bà-la-môn, gia chủ, cả thị dân và quốc dân bao vây xung quanh. Ðược các Bà-la-môn, gia chủ, cả thị dân và quốc dân bao vây xung quanh, Ngài không khởi lên nhiễm tâm, không rơi vào dục vọng, không khởi lên tham ái, không trở lui lại đời sống sung túc. Nhưng này Ānanda, vị đệ tử của bậc Ðạo sư chủ tâm theo hạnh viễn ly của bậc Ðạo sư, bắt chước (theo hạnh ấy) lựa một trú xứ xa vắng, trong rừng, dưới gốc cây, trên sườn núi, chỗ hoang vu, trong hang núi, tại bãi tha ma, tại khu rừng, ngoài trời, trên một đống rơm. Trong khi vị ấy sống viễn ly như vậy, các Bà-la-môn, gia chủ, cả thị dân và quốc dân bao vây xung quanh. Ðược các Bà-la-môn, gia chủ, cả thị dân và quốc dân bao vây xung quanh, vị ấy khởi lên nhiễm tâm, rơi vào dục vọng, khởi lên tham ái, trở lại đời sống sung túc. Như vậy, này Ānanda, được gọi là sự phiền lụy của các vị tu Phạm hạnh. Vì sự phiền lụy của Phạm hạnh, các ác bất thiện pháp, tạp nhiễm, dẫn đến tái sanh đáng sợ hãi, đưa đến khổ quả, dẫn đến sanh, già, chết trong tương lai, các pháp ấy tấn công vị ấy. Như vậy, này Ānanda, là sự phiền lụy của các vị tu Phạm hạnh. Nhưng này Ānanda, sự phiền lụy của các vị tu Phạm hạnh là nhiều quả khổ hơn, nhiều quả não hơn đối với phiền lụy của Ðạo sư này và phiền lụy của đệ tử này, hơn nữa nó dẫn đến đọa lạc.
SC 34Do vậy, này Ānanda, hãy đối xử với Ta với tâm thân hữu, không với tâm thù nghịch, và như vậy các Ông sẽ được hạnh phúc an lạc lâu dài. Và như thế nào là các đệ tử đối xử vị Ðạo sư với tâm thù nghịch, không với tâm thân hữu? Ở đây, này Ānanda, vị Ðạo sư ấy với lòng từ mẫn thuyết pháp cho các đệ tử, mong cầu hạnh phúc cho họ, vì lòng từ mẫn nói rằng: “Ðây là hạnh phúc cho các Ông, đây là an lạc cho các Ông”. Nhưng các đệ tử của vị ấy không chịu nghe theo, không chịu lóng tai, chú tâm vào hướng khác (annan), ngược lại, họ đi xa lời giảng dạy của vị Ðạo sư. Như vậy, này Ānanda, là các đệ tử đối xử với bậc Ðạo sư với tâm thù nghịch, không với tâm thân hữu.
SC 35Và như thế nào, này Ānanda, là các đệ tử đối xử với bậc Ðạo sư với tâm thân hữu, không với tâm thù nghịch? Ở đây, này Ānanda, vị Ðạo sư với lòng từ mẫn thuyết pháp cho các đệ tử, tìm cầu hạnh phúc cho họ, vì lòng từ mẫn nói rằng: “Ðây là hạnh phúc cho các Ông, đây là an lạc cho các Ông”. Các đệ tử của vị ấy chịu nghe theo, chịu lóng tai, không chú tâm vào hướng khác, và không ngược lại đi xa lời dạy của bậc Ðạo sư. Như vậy, này Ānanda, là các đệ tử đối xử với bậc Ðạo sư, với tâm thân hữu, không phải với tâm thù nghịch. Do vậy, này Ānanda, hãy đối xử với Ta với tâm thân hữu, chớ với tâm thù nghịch và như vậy sẽ là hạnh phúc, là an lạc lâu dài cho các Ông.
SC 36Ta không sách tấn các Ông như người thợ gốm đối với các đồ gốm chưa nung, chưa được nung chín. Ta sẽ nói hết lời chỉ trích này đến lời chỉ trích khác, hết lời tán thán này đến lời tán thán khác. Cái gì là lõi cây, cái ấy sẽ đứng vững tồn tại.
SC 37Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ānanda hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). 14–07–2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
2. Kinh Đại Không
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya kapilavatthuṁ piṇḍāya pāvisi. Kapilavatthusmiṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto yena kāḷakhemakassa sakkassa vihāro tenupasaṅkami divāvihārāya.
Tena kho pana samayena kāḷakhemakassa sakkassa vihāre sambahulāni senāsanāni paññattāni honti. Addasā kho bhagavā kāḷakhemakassa sakkassa vihāre sambahulāni senāsanāni paññattāni. Disvāna bhagavato etadahosi: “sambahulāni kho kāḷakhemakassa sakkassa vihāre senāsanāni paññattāni. Sambahulā nu kho idha bhikkhū viharantī”ti.
Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, entered Kapilavatthu for alms. He wandered for alms in Kapilavatthu. After the meal, on his return from almsround, he went to the lodge of the Sakyan Khemaka the Dark for the day’s meditation.
Now at that time many resting places had been spread out at the lodge of Khemaka the Dark. The Buddha saw this, and wondered, “Many resting places have been spread out; are there many mendicants living here?”
185. Tôi nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu, trong tu viện Nigrodha. Lúc bấy giờ, vào buổi sáng, Thế Tôn đắp y, mang bát và y, đi vào Kapilavatthu để khất thực. Sau khi đi khất thực ở Kapilavatthu, sau bữa ăn, khi đã đi khất thực về, ngài đi đến tu viện của Kāḷakhemaka người Sakka để nghỉ ban ngày. Vào lúc ấy, trong tu viện của Kāḷakhemaka người Sakka, có nhiều chỗ ở được sửa soạn sẵn. Thế Tôn đã thấy nhiều chỗ ở được sửa soạn sẵn trong tu viện của Kāḷakhemaka người Sakka. Sau khi thấy, Thế Tôn khởi lên ý nghĩ này: ‘Có nhiều chỗ ở được sửa soạn sẵn trong tu viện của Kāḷakhemaka người Sakka. Phải chăng có nhiều tỳ khưu đang trú ở đây?’”
Tena kho pana samayena āyasmā ānando sambahulehi bhikkhūhi saddhiṁ ghaṭāya sakkassa vihāre cīvarakammaṁ karoti. Atha kho bhagavā sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yena ghaṭāya sakkassa vihāro tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Nisajja kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi: “sambahulāni kho, ānanda, kāḷakhemakassa sakkassa vihāre senāsanāni paññattāni. Sambahulā nu kho ettha bhikkhū viharantī”ti?
“Sambahulāni, bhante, kāḷakhemakassa sakkassa vihāre senāsanāni paññattāni.
Sambahulā bhikkhū ettha viharanti. Cīvarakārasamayo no, bhante, vattatī”ti.
Now at that time Venerable Ānanda, together with many other mendicants, was making robes at the lodge of the Sakyan Ghaṭā. Then in the late afternoon, the Buddha came out of retreat and went to Ghaṭā’s lodge, where he sat down on the seat spread out and said to Venerable Ānanda, “Many resting places have been spread out at the lodge of Khemaka the Dark; are many mendicants living there?”
“Indeed there are, sir. It’s currently the time for making robes.”
186. Vào lúc ấy, Tôn giả Ānanda cùng với nhiều vị tỳ khưu đang làm công việc may y tại tu viện của Ghaṭā người Sakka. Lúc bấy giờ, vào buổi chiều, Thế Tôn ra khỏi nơi độc cư, đi đến tu viện của Ghaṭā người Sakka; sau khi đến, ngài ngồi xuống trên chỗ đã được soạn sẵn. Sau khi ngồi xuống, Thế Tôn gọi Tôn giả Ānanda: ‘Này Ānanda, có nhiều chỗ ở được sửa soạn sẵn trong tu viện của Kāḷakhemaka người Sakka. Phải chăng có nhiều tỳ khưu đang trú ở đó?’ ‘Bạch Thế Tôn, có nhiều chỗ ở được sửa soạn sẵn trong tu viện của Kāḷakhemaka người Sakka. Nhiều vị tỳ khưu đang trú ở đó. Bạch Thế Tôn, đây là thời gian may y của chúng con.’”
“Na kho, ānanda, bhikkhu sobhati saṅgaṇikārāmo saṅgaṇikarato saṅgaṇikārāmataṁ anuyutto gaṇārāmo gaṇarato gaṇasammudito. So vatānanda, bhikkhu saṅgaṇikārāmo saṅgaṇikarato saṅgaṇikārāmataṁ anuyutto gaṇārāmo gaṇarato gaṇasammudito yaṁ taṁ nekkhammasukhaṁ pavivekasukhaṁ upasamasukhaṁ sambodhisukhaṁ tassa sukhassa nikāmalābhī bhavissati akicchalābhī akasiralābhīti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati. Yo ca kho so, ānanda, bhikkhu eko gaṇasmā vūpakaṭṭho viharati tassetaṁ bhikkhuno pāṭikaṅkhaṁ yaṁ taṁ nekkhammasukhaṁ pavivekasukhaṁ upasamasukhaṁ sambodhisukhaṁ tassa sukhassa nikāmalābhī bhavissati akicchalābhī akasiralābhīti—ṭhānametaṁ vijjati.
“Ānanda, a mendicant doesn’t shine who enjoys company and groups, who loves them and likes to enjoy them. It is quite impossible that such a mendicant will get the pleasure of renunciation, the pleasure of seclusion, the pleasure of peace, the pleasure of awakening when they want, without trouble or difficulty. But you should expect that a mendicant who lives alone, withdrawn from the group, will get the pleasure of renunciation, the pleasure of seclusion, the pleasure of peace, the pleasure of awakening when they want, without trouble or difficulty. That is possible.
Này Ānanda, vị tỳ khưu ưa thích hội chúng, vui thích trong hội chúng, chuyên tâm ưa thích hội chúng, ưa thích đoàn thể, vui thích trong đoàn thể, hoan hỷ trong đoàn thể là không tốt đẹp. Này Ānanda, quả thật, vị tỳ khưu ưa thích hội chúng, vui thích trong hội chúng, chuyên tâm ưa thích hội chúng, ưa thích đoàn thể, vui thích trong đoàn thể, hoan hỷ trong đoàn thể, mà có thể dễ dàng đạt được, không khó khăn đạt được, không mệt nhọc đạt được hạnh phúc của sự xuất ly, hạnh phúc của sự viễn ly, hạnh phúc của sự an tịnh, hạnh phúc của sự giác ngộ — trường hợp này không xảy ra. Và này Ānanda, vị tỳ khưu nào sống một mình, tách khỏi hội chúng, đối với vị tỳ khưu ấy, điều này có thể được trông đợi: vị ấy sẽ dễ dàng đạt được, không khó khăn đạt được, không mệt nhọc đạt được hạnh phúc của sự xuất ly, hạnh phúc của sự viễn ly, hạnh phúc của sự an tịnh, hạnh phúc của sự giác ngộ — trường hợp này có xảy ra.
So vatānanda, bhikkhu saṅgaṇikārāmo saṅgaṇikarato saṅgaṇikārāmataṁ anuyutto gaṇārāmo gaṇarato gaṇasammudito sāmāyikaṁ vā kantaṁ cetovimuttiṁ upasampajja viharissati asāmāyikaṁ vā akuppanti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati. Yo ca kho so, ānanda, bhikkhu eko gaṇasmā vūpakaṭṭho viharati tassetaṁ bhikkhuno pāṭikaṅkhaṁ sāmāyikaṁ vā kantaṁ cetovimuttiṁ upasampajja viharissati asāmāyikaṁ vā akuppanti—ṭhānametaṁ vijjati.
Indeed, Ānanda, it is quite impossible that a mendicant who enjoys company will enter and remain in the freedom of heart—either that which is temporary and pleasant, or that which is irreversible and unshakable. But it is possible that a mendicant who lives alone, withdrawn from the group will enter and remain in the freedom of heart—either that which is temporary and pleasant, or that which is irreversible and unshakable.
Này Ānanda, quả thật, vị tỳ khưu ưa thích hội chúng, vui thích trong hội chúng, chuyên tâm ưa thích hội chúng, ưa thích đoàn thể, vui thích trong đoàn thể, hoan hỷ trong đoàn thể, mà có thể chứng đạt và an trú trong tâm giải thoát khả ái, có thời hạn, hoặc tâm giải thoát vô thời hạn, không bị lay chuyển — trường hợp này không xảy ra. Và này Ānanda, vị tỳ khưu nào sống một mình, tách khỏi hội chúng, đối với vị tỳ khưu ấy, điều này có thể được trông đợi: vị ấy sẽ chứng đạt và an trú trong tâm giải thoát khả ái, có thời hạn, hoặc tâm giải thoát vô thời hạn, không bị lay chuyển — trường hợp này có xảy ra.
Nāhaṁ, ānanda, ekaṁ rūpampi samanupassāmi yattha rattassa yathābhiratassa rūpassa vipariṇāmaññathābhāvā na uppajjeyyuṁ sokaparidevadukkhadomanassūpāyāsā.
Ānanda, I do not see even a single sight which, with its decay and perishing, would not give rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress in someone who has desire and lust for it.
Này Ānanda, Ta không thấy một sắc pháp nào, mà do sự biến đổi và đổi khác của sắc pháp ấy, nơi người có tham ái và vui thích, lại không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não.
Ayaṁ kho panānanda, vihāro tathāgatena abhisambuddho yadidaṁ—sabbanimittānaṁ amanasikārā ajjhattaṁ suññataṁ upasampajja viharituṁ. Tatra ce, ānanda, tathāgataṁ iminā vihārena viharantaṁ bhavanti upasaṅkamitāro bhikkhū bhikkhuniyo upāsakā upāsikāyo rājāno rājamahāmattā titthiyā titthiyasāvakā. Tatrānanda, tathāgato vivekaninneneva cittena vivekapoṇena vivekapabbhārena vūpakaṭṭhena nekkhammābhiratena byantībhūtena sabbaso āsavaṭṭhānīyehi dhammehi aññadatthu uyyojanikapaṭisaṁyuttaṁyeva kathaṁ kattā hoti.
Tasmātihānanda, bhikkhu cepi ākaṅkheyya: ‘ajjhattaṁ suññataṁ upasampajja vihareyyan’ti, tenānanda, bhikkhunā ajjhattameva cittaṁ saṇṭhapetabbaṁ sannisādetabbaṁ ekodi kātabbaṁ samādahātabbaṁ.
But this meditation has been understood by the Realized One, namely to enter and remain in emptiness internally by not focusing on any signs. Now, suppose that while the Realized One is practicing this meditation, monks, nuns, laymen, laywomen, rulers and their chief ministers, monastics of other religions and their disciples go to visit him. In that case, with a mind slanting, sloping, and inclining to seclusion, withdrawn, and loving renunciation, having totally eliminated defiling influences, he invariably gives a talk concerned only with sending them away.
Therefore, if a mendicant should wish, ‘May I enter and remain in emptiness internally!’ then they should still, settle, unify, and immerse their mind in samādhi internally.
187. Và này Ānanda, sự an trú này đã được Như Lai giác ngộ, đó là: do không tác ý đến tất cả các tướng, chứng đạt và an trú trong nội không. Này Ānanda, nếu khi Như Lai đang an trú trong sự an trú này, có các tỳ khưu, tỳ khưu ni, cận sự nam, cận sự nữ, vua chúa, các đại thần, các người ngoại đạo, các đệ tử của người ngoại đạo đến yết kiến. Này Ānanda, khi ấy, Như Lai với tâm hướng về viễn ly, xuôi về viễn ly, nghiêng về viễn ly, sống tách biệt, ưa thích xuất ly, hoàn toàn thoát khỏi các pháp là trú xứ của lậu hoặc, chỉ nói những lời liên quan đến việc khuyến khích ra về. Vì vậy, này Ānanda, nếu vị tỳ khưu mong muốn: ‘Mong rằng ta chứng đạt và an trú trong nội không,’ thì này Ānanda, vị tỳ khưu ấy nên an lập tâm, thu nhiếp tâm, nhất tâm, và định tâm ngay trong nội tâm.
Kathañcānanda, bhikkhu ajjhattameva cittaṁ saṇṭhapeti sannisādeti ekodiṁ karoti samādahati?
Idhānanda, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi …pe… paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati …pe… dutiyaṁ jhānaṁ … tatiyaṁ jhānaṁ … catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Evaṁ kho, ānanda, bhikkhu ajjhattameva cittaṁ saṇṭhapeti sannisādeti ekodiṁ karoti samādahati.
So ajjhattaṁ suññataṁ manasi karoti. Tassa ajjhattaṁ suññataṁ manasikaroto suññatāya cittaṁ na pakkhandati nappasīdati na santiṭṭhati na vimuccati. Evaṁ santametaṁ, ānanda, bhikkhu evaṁ pajānāti: ‘ajjhattaṁ suññataṁ kho me manasikaroto ajjhattaṁ suññatāya cittaṁ na pakkhandati nappasīdati na santiṭṭhati na vimuccatī’ti. Itiha tattha sampajāno hoti. So bahiddhā suññataṁ manasi karoti …pe… so ajjhattabahiddhā suññataṁ manasi karoti …pe… so āneñjaṁ manasi karoti. Tassa āneñjaṁ manasikaroto āneñjāya cittaṁ na pakkhandati nappasīdati na santiṭṭhati na vimuccati. Evaṁ santametaṁ, ānanda, bhikkhu evaṁ pajānāti: ‘āneñjaṁ kho me manasikaroto āneñjāya cittaṁ na pakkhandati nappasīdati na santiṭṭhati na vimuccatī’ti. Itiha tattha sampajāno hoti.
And how does a mendicant still, settle, unify, and immerse their mind in samādhi internally?
It’s when a mendicant, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption … second absorption … third absorption … fourth absorption. That’s how a mendicant stills, settles, unifies, and immerses their mind in samādhi internally.
They focus on emptiness internally, but their mind does not leap forth, gain confidence, settle down, and become decided. In that case, they understand: ‘I am focusing on emptiness internally, but my mind does not leap forth, gain confidence, settle down, and become decided.’ In this way they are aware of the situation. They focus on emptiness externally … They focus on emptiness internally and externally … They focus on the imperturbable, but their mind does not leap forth, gain confidence, settle down, and become decided. In that case, they understand: ‘I am focusing on the imperturbable internally, but my mind does not leap forth, gain confidence, settle down, and become decided.’ In this way they are aware of the situation.
188. Và này Ānanda, thế nào là vị tỳ khưu an lập tâm, thu nhiếp tâm, nhất tâm, và định tâm ngay trong nội tâm? Này Ānanda, ở đây, vị tỳ khưu ly dục, ly các pháp bất thiện... chứng đạt và an trú thiền thứ nhất... chứng đạt và an trú thiền thứ tư. Này Ānanda, như vậy là vị tỳ khưu an lập tâm, thu nhiếp tâm, nhất tâm, và định tâm ngay trong nội tâm. Vị ấy tác ý đến nội không. Khi vị ấy tác ý đến nội không, tâm không đi vào, không lắng yên, không an trú, không giải thoát trong tính không. Khi sự việc là như vậy, này Ānanda, vị tỳ khưu biết như sau: ‘Khi ta tác ý đến nội không, tâm của ta không đi vào, không lắng yên, không an trú, không giải thoát trong nội không.’ Như vậy, vị ấy có tỉnh giác ở đó. Vị ấy tác ý đến ngoại không... vị ấy tác ý đến nội ngoại không... vị ấy tác ý đến sự bất động. Khi vị ấy tác ý đến sự bất động, tâm không đi vào, không lắng yên, không an trú, không giải thoát trong sự bất động. Khi sự việc là như vậy, này Ānanda, vị tỳ khưu biết như sau: ‘Khi ta tác ý đến sự bất động, tâm của ta không đi vào, không lắng yên, không an trú, không giải thoát trong sự bất động.’ Như vậy, vị ấy có tỉnh giác ở đó.
Tenānanda, bhikkhunā tasmiṁyeva purimasmiṁ samādhinimitte ajjhattameva cittaṁ saṇṭhapetabbaṁ sannisādetabbaṁ ekodi kātabbaṁ samādahātabbaṁ. So ajjhattaṁ suññataṁ manasi karoti. Tassa ajjhattaṁ suññataṁ manasikaroto ajjhattaṁ suññatāya cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati vimuccati. Evaṁ santametaṁ, ānanda, bhikkhu evaṁ pajānāti: ‘ajjhattaṁ suññataṁ kho me manasikaroto ajjhattaṁ suññatāya cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati vimuccatī’ti. Itiha tattha sampajāno hoti. So bahiddhā suññataṁ manasi karoti …pe… so ajjhattabahiddhā suññataṁ manasi karoti …pe… so āneñjaṁ manasi karoti. Tassa āneñjaṁ manasikaroto āneñjāya cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati vimuccati. Evaṁ santametaṁ, ānanda, bhikkhu evaṁ pajānāti: ‘āneñjaṁ kho me manasikaroto āneñjāya cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati vimuccatī’ti. Itiha tattha sampajāno hoti.
Then that mendicant should still, settle, unify, and immerse their mind in samādhi internally in the same meditation subject as a basis of immersion as before. They focus on emptiness internally, and their mind leaps forth, gains confidence, settles down, and becomes decided. In that case, they understand: ‘I am focusing on emptiness internally, and my mind leaps forth, gains confidence, settles down, and becomes decided.’ In this way they are aware of the situation. They focus on emptiness externally … They focus on emptiness internally and externally … They focus on the imperturbable, and their mind leaps forth, gains confidence, settles down, and becomes decided. In that case, they understand: ‘I am focusing on the imperturbable, and my mind leaps forth, gains confidence, settles down, and becomes decided.’ In this way they are aware of the situation.
Này Ānanda, vị tỳ khưu ấy nên an lập tâm, thu nhiếp tâm, nhất tâm, và định tâm ngay trong nội tâm, trong chính tướng định ban đầu ấy. Vị ấy tác ý đến nội không. Khi vị ấy tác ý đến nội không, tâm đi vào, lắng yên, an trú, và giải thoát trong nội không. Khi sự việc là như vậy, này Ānanda, vị tỳ khưu biết như sau: ‘Khi ta tác ý đến nội không, tâm của ta đi vào, lắng yên, an trú, và giải thoát trong nội không.’ Như vậy, vị ấy có tỉnh giác ở đó. Vị ấy tác ý đến ngoại không... vị ấy tác ý đến nội ngoại không... vị ấy tác ý đến sự bất động. Khi vị ấy tác ý đến sự bất động, tâm đi vào, lắng yên, an trú, và giải thoát trong sự bất động. Khi sự việc là như vậy, này Ānanda, vị tỳ khưu biết như sau: ‘Khi ta tác ý đến sự bất động, tâm của ta đi vào, lắng yên, an trú, và giải thoát trong sự bất động.’ Như vậy, vị ấy có tỉnh giác ở đó.
Tassa ce, ānanda, bhikkhuno iminā vihārena viharato caṅkamāya cittaṁ namati, so caṅkamati: ‘evaṁ maṁ caṅkamantaṁ nābhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssavissantī’ti. Itiha tattha sampajāno hoti. Tassa ce, ānanda, bhikkhuno iminā vihārena viharato ṭhānāya cittaṁ namati, so tiṭṭhati: ‘evaṁ maṁ ṭhitaṁ nābhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssavissantī’ti. Itiha tattha sampajāno hoti. Tassa ce, ānanda, bhikkhuno iminā vihārena viharato nisajjāya cittaṁ namati, so nisīdati: ‘evaṁ maṁ nisinnaṁ nābhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssavissantī’ti. Itiha tattha sampajāno hoti. Tassa ce, ānanda, bhikkhuno iminā vihārena viharato sayanāya cittaṁ namati, so sayati: ‘evaṁ maṁ sayantaṁ nābhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssavissantī’ti. Itiha tattha sampajāno hoti.
While a mendicant is practicing such a meditation, if their mind inclines to walking, they walk, thinking: ‘While I’m walking, bad, unskillful qualities of covetousness and displeasure will not overwhelm me.’ In this way they are aware of the situation. While a mendicant is practicing such a meditation, if their mind inclines to standing, they stand, thinking: ‘While I’m standing, bad, unskillful qualities of covetousness and displeasure will not overwhelm me.’ In this way they are aware of the situation. While a mendicant is practicing such a meditation, if their mind inclines to sitting, they sit, thinking: ‘While I’m sitting, bad, unskillful qualities of covetousness and displeasure will not overwhelm me.’ In this way they are aware of the situation. While a mendicant is practicing such a meditation, if their mind inclines to lying down, they lie down, thinking: ‘While I’m lying down, bad, unskillful qualities of covetousness and displeasure will not overwhelm me.’ In this way they are aware of the situation.
189. Này Ānanda, nếu tâm của vị tỳ khưu đang an trú trong pháp an trú này hướng đến việc kinh hành, vị ấy kinh hành (với suy nghĩ): ‘Khi ta đang kinh hành như thế này, các pháp ác bất thiện là tham ái và ưu phiền sẽ không tuôn chảy vào.’ Như vậy, vị ấy có tỉnh giác về việc ấy. Này Ānanda, nếu tâm của vị tỳ khưu đang an trú trong pháp an trú này hướng đến việc đứng, vị ấy đứng (với suy nghĩ): ‘Khi ta đang đứng như thế này, các pháp ác bất thiện là tham ái và ưu phiền sẽ không tuôn chảy vào.’ Như vậy, vị ấy có tỉnh giác về việc ấy. Này Ānanda, nếu tâm của vị tỳ khưu đang an trú trong pháp an trú này hướng đến việc ngồi, vị ấy ngồi (với suy nghĩ): ‘Khi ta đang ngồi như thế này, các pháp ác bất thiện là tham ái và ưu phiền sẽ không tuôn chảy vào.’ Như vậy, vị ấy có tỉnh giác về việc ấy. Này Ānanda, nếu tâm của vị tỳ khưu đang an trú trong pháp an trú này hướng đến việc nằm, vị ấy nằm (với suy nghĩ): ‘Khi ta đang nằm như thế này, các pháp ác bất thiện là tham ái và ưu phiền sẽ không tuôn chảy vào.’ Như vậy, vị ấy có tỉnh giác về việc ấy.
Tassa ce, ānanda, bhikkhuno iminā vihārena viharato kathāya cittaṁ namati, so: ‘yāyaṁ kathā hīnā gammā pothujjanikā anariyā anatthasaṁhitā na nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṁvattati, seyyathidaṁ—rājakathā corakathā mahāmattakathā senākathā bhayakathā yuddhakathā annakathā pānakathā vatthakathā sayanakathā mālākathā gandhakathā ñātikathā yānakathā gāmakathā nigamakathā nagarakathā janapadakathā itthikathā surākathā visikhākathā kumbhaṭṭhānakathā pubbapetakathā nānattakathā lokakkhāyikā samuddakkhāyikā itibhavābhavakathā iti vā iti—evarūpiṁ kathaṁ na kathessāmī’ti. Itiha tattha sampajāno hoti. Yā ca kho ayaṁ, ānanda, kathā abhisallekhikā cetovinīvaraṇasappāyā ekantanibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati, seyyathidaṁ—appicchakathā santuṭṭhikathā pavivekakathā asaṁsaggakathā vīriyārambhakathā sīlakathā samādhikathā paññākathā vimuttikathā vimuttiñāṇadassanakathā iti: ‘evarūpiṁ kathaṁ kathessāmī’ti. Itiha tattha sampajāno hoti.
While a mendicant is practicing such a meditation, if their mind inclines to talking, they think: ‘I will not engage in the kind of speech that is low, crude, ordinary, ignoble, and pointless. Such speech doesn’t lead to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment. Namely: talk about kings, bandits, and chief ministers; talk about armies, threats, and wars; talk about food, drink, clothes, and beds; talk about garlands and fragrances; talk about family, vehicles, villages, towns, cities, and countries; talk about women and heroes; street talk and well talk; talk about the departed; motley talk; tales of land and sea; and talk about being reborn in this or that state of existence.’ In this way they are aware of the situation. ‘But I will take part in talk about self-effacement that helps open the heart and leads solely to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment. That is, talk about fewness of wishes, contentment, seclusion, aloofness, arousing energy, ethics, immersion, wisdom, freedom, and the knowledge and vision of freedom.’ In this way they are aware of the situation.
Này Ānanda, nếu tâm của vị tỳ khưu đang an trú trong pháp an trú này hướng đến việc nói chuyện, vị ấy (suy nghĩ): ‘Câu chuyện nào là hạ liệt, thô tục, phàm phu, không phải của bậc Thánh, không liên quan đến lợi ích, không đưa đến sự nhàm chán, không đưa đến ly tham, không đưa đến đoạn diệt, không đưa đến an tịnh, không đưa đến thắng trí, không đưa đến giác ngộ, không đưa đến Niết-bàn, chẳng hạn như: chuyện vua chúa, chuyện trộm cướp, chuyện đại thần, chuyện quân đội, chuyện sợ hãi, chuyện chiến tranh, chuyện ăn, chuyện uống, chuyện y phục, chuyện giường nằm, chuyện vòng hoa, chuyện hương liệu, chuyện bà con, chuyện xe cộ, chuyện làng mạc, chuyện thị tứ, chuyện thành phố, chuyện xứ sở, chuyện phụ nữ, chuyện rượu chè, chuyện đường phố, chuyện bến nước, chuyện người đã khuất, chuyện tạp nham, chuyện thế gian, chuyện biển cả, hay chuyện thịnh suy – ta sẽ không nói những câu chuyện như vậy.’ Như vậy, vị ấy có tỉnh giác về việc ấy. Và này Ānanda, câu chuyện nào có tác dụng gọt giũa, hỗ trợ cho tâm được giải thoát khỏi các triền cái, hoàn toàn đưa đến sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn, chẳng hạn như: chuyện thiểu dục, chuyện tri túc, chuyện viễn ly, chuyện không giao du, chuyện tinh tấn, chuyện giới luật, chuyện định, chuyện tuệ, chuyện giải thoát, chuyện giải thoát tri kiến – ta sẽ nói những câu chuyện như vậy.’ Như vậy, vị ấy có tỉnh giác về việc ấy.
Tassa ce, ānanda, bhikkhuno iminā vihārena viharato vitakkāya cittaṁ namati, so: ‘ye te vitakkā hīnā gammā pothujjanikā anariyā anatthasaṁhitā na nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṁvattanti, seyyathidaṁ—kāmavitakko byāpādavitakko vihiṁsāvitakko iti evarūpe vitakke na vitakkessāmī’ti. Itiha tattha sampajāno hoti. Ye ca kho ime, ānanda, vitakkā ariyā niyyānikā niyyanti takkarassa sammādukkhakkhayāya, seyyathidaṁ—nekkhammavitakko abyāpādavitakko avihiṁsāvitakko iti: ‘evarūpe vitakke vitakkessāmī’ti. Itiha tattha sampajāno hoti.
While a mendicant is practicing such a meditation, if their mind inclines to thinking, they think: ‘I will not think the kind of thought that is low, crude, ordinary, ignoble, and pointless. Such thoughts don’t lead to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment. That is, sensual, malicious, or cruel thoughts.’ In this way they are aware of the situation. ‘But I will think the kind of thought that is noble and emancipating, and brings one who practices it to the complete ending of suffering. That is, thoughts of renunciation, good will, and harmlessness.’ In this way they are aware of the situation.
Này Ānanda, nếu tâm của vị tỳ khưu đang an trú trong pháp an trú này hướng đến việc suy tầm, vị ấy (suy nghĩ): ‘Những suy tầm nào là hạ liệt, thô tục, phàm phu, không phải của bậc Thánh, không liên quan đến lợi ích, không đưa đến sự nhàm chán, không đưa đến ly tham, không đưa đến đoạn diệt, không đưa đến an tịnh, không đưa đến thắng trí, không đưa đến giác ngộ, không đưa đến Niết-bàn, chẳng hạn như: dục tầm, sân tầm, và hại tầm – ta sẽ không suy tầm những loại suy tầm như vậy.’ Như vậy, vị ấy có tỉnh giác về việc ấy. Và này Ānanda, những suy tầm nào là của bậc Thánh, có khả năng đưa ra khỏi (khổ đau), hướng dẫn người thực hành đến sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau, chẳng hạn như: ly dục tầm, vô sân tầm, và vô hại tầm – ta sẽ suy tầm những loại suy tầm như vậy.’ Như vậy, vị ấy có tỉnh giác về việc ấy.
Pañca kho ime, ānanda, kāmaguṇā. Katame pañca? Cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā, sotaviññeyyā saddā … ghānaviññeyyā gandhā … jivhāviññeyyā rasā … kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā—ime kho, ānanda, pañca kāmaguṇā.
Yattha bhikkhunā abhikkhaṇaṁ sakaṁ cittaṁ paccavekkhitabbaṁ: ‘atthi nu kho me imesu pañcasu kāmaguṇesu aññatarasmiṁ vā aññatarasmiṁ vā āyatane uppajjati cetaso samudācāro’ti? Sace, ānanda, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ pajānāti: ‘atthi kho me imesu pañcasu kāmaguṇesu aññatarasmiṁ vā aññatarasmiṁ vā āyatane uppajjati cetaso samudācāro’ti, evaṁ santametaṁ, ānanda, bhikkhu evaṁ pajānāti: ‘yo kho imesu pañcasu kāmaguṇesu chandarāgo so me nappahīno’ti. Itiha tattha sampajāno hoti. Sace panānanda, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ pajānāti: ‘natthi kho me imesu pañcasu kāmaguṇesu aññatarasmiṁ vā aññatarasmiṁ vā āyatane uppajjati cetaso samudācāro’ti, evaṁ santametaṁ, ānanda, bhikkhu evaṁ pajānāti: ‘yo kho imesu pañcasu kāmaguṇesu chandarāgo so me pahīno’ti. Itiha tattha sampajāno hoti.
There are these five kinds of sensual stimulation. What five? Sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. Sounds known by the ear … Smells known by the nose … Tastes known by the tongue … Touches known by the body, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. These are the five kinds of sensual stimulation.
So a mendicant should regularly check their own mind: ‘Does my mind take an interest in any of these five kinds of sensual stimulation?’ Suppose that, upon checking, a mendicant knows this: ‘My mind does take an interest.’ In that case, they understand: ‘I have not given up desire and greed for the five kinds of sensual stimulation.’ In this way they are aware of the situation. But suppose that, upon checking, a mendicant knows this: ‘My mind does not take an interest.’ In that case, they understand: ‘I have given up desire and greed for the five kinds of sensual stimulation.’ In this way they are aware of the situation.
190. Này Ānanda, có năm loại dục trưởng dưỡng này. Năm loại nào? Các sắc pháp được nhận biết qua mắt, là những gì đáng mong cầu, đáng khao khát, đáng hài lòng, có hình thức đáng yêu, liên hệ đến dục vọng, có tính quyến rũ; các thanh được nhận biết qua tai... các hương được nhận biết qua mũi... các vị được nhận biết qua lưỡi... các xúc pháp được nhận biết qua thân, là những gì đáng mong cầu, đáng khao khát, đáng hài lòng, có hình thức đáng yêu, liên hệ đến dục vọng, có tính quyến rũ – này Ānanda, đây là năm loại dục trưởng dưỡng. Về vấn đề này, vị tỳ khưu cần phải thường xuyên quán xét tâm của mình: ‘Đối với năm loại dục trưởng dưỡng này, ở nơi này hay nơi khác, có sự vận hành của tâm khởi lên nơi ta hay không?’ Này Ānanda, nếu trong khi quán xét, vị tỳ khưu biết như sau: ‘Đối với năm loại dục trưởng dưỡng này, ở nơi này hay nơi khác, có sự vận hành của tâm khởi lên nơi ta,’ thì này Ānanda, khi sự việc là như vậy, vị tỳ khưu biết như sau: ‘Dục và tham đối với năm loại dục trưởng dưỡng này vẫn chưa được ta từ bỏ.’ Như vậy, vị ấy có tỉnh giác về việc ấy. Nhưng này Ānanda, nếu trong khi quán xét, vị tỳ khưu biết như sau: ‘Đối với năm loại dục trưởng dưỡng này, ở nơi này hay nơi khác, không có sự vận hành của tâm khởi lên nơi ta,’ thì này Ānanda, khi sự việc là như vậy, vị tỳ khưu biết như sau: ‘Dục và tham đối với năm loại dục trưởng dưỡng này đã được ta từ bỏ.’ Như vậy, vị ấy có tỉnh giác về việc ấy.
Pañca kho ime, ānanda, upādānakkhandhā yattha bhikkhunā udayabbayānupassinā vihātabbaṁ: ‘iti rūpaṁ iti rūpassa samudayo iti rūpassa atthaṅgamo, iti vedanā … iti saññā … iti saṅkhārā … iti viññāṇaṁ iti viññāṇassa samudayo iti viññāṇassa atthaṅgamo’ti.
Tassa imesu pañcasu upādānakkhandhesu udayabbayānupassino viharato yo pañcasu upādānakkhandhesu asmimāno so pahīyati. Evaṁ santametaṁ, ānanda, bhikkhu evaṁ pajānāti: ‘yo kho imesu pañcasu upādānakkhandhesu asmimāno so me pahīno’ti. Itiha tattha sampajāno hoti.
Ime kho te, ānanda, dhammā ekantakusalā kusalāyātikā ariyā lokuttarā anavakkantā pāpimatā.
Taṁ kiṁ maññasi, ānanda, kaṁ atthavasaṁ sampassamāno arahati sāvako satthāraṁ anubandhituṁ api paṇujjamāno”ti?
“Bhagavaṁmūlakā no, bhante, dhammā bhagavaṁnettikā bhagavaṁpaṭisaraṇā. Sādhu vata, bhante, bhagavantaṁyeva paṭibhātu etassa bhāsitassa attho. Bhagavato sutvā bhikkhū dhāressantī”ti.
A mendicant should meditate observing rise and fall in these five grasping aggregates: ‘Such is form, such is the origin of form, such is the disappearance of form. Such is feeling … Such is perception … Such are choices … Such is consciousness, such is the origin of consciousness, such is the disappearance of consciousness.’
As they do so, they give up the conceit ‘I am’ regarding the five grasping aggregates. In that case, they understand: ‘I have given up the conceit “I am” regarding the five grasping aggregates.’ In this way they are aware of the situation.
These principles are entirely skillful, with skillful outcomes; they are noble, transcendent, and inaccessible to the Wicked One.
What do you think, Ānanda? For what reason would a disciple deem it worthwhile to follow the Teacher, even if driven away?”
“Our teachings are rooted in the Buddha. He is our guide and our refuge. Sir, may the Buddha himself please clarify the meaning of this. The mendicants will listen and remember it.”
191. Này Ānanda, có năm thủ uẩn này là nơi mà vị tỳ khưu nên an trú với sự quán xét về sanh diệt: ‘Đây là sắc, đây là sự sanh khởi của sắc, đây là sự đoạn diệt của sắc. Đây là thọ… đây là tưởng… đây là các hành… đây là thức, đây là sự sanh khởi của thức, đây là sự đoạn diệt của thức.’ Trong khi vị ấy an trú với sự quán xét về sanh diệt ở năm thủ uẩn này, ngã mạn nào có mặt ở năm thủ uẩn thì được đoạn tận. Này Ānanda, khi được như vậy, vị tỳ khưu biết được như vầy: ‘Ngã mạn nào có mặt ở năm thủ uẩn này đã được ta đoạn tận.’ Do đó, vị ấy có sự tỉnh giác ở nơi ấy. Này Ānanda, các pháp này hoàn toàn thiện, có nguồn gốc từ điều thiện, là bậc Thánh, là siêu thế, không bị Ác Ma xâm nhập. Này Ānanda, ngươi nghĩ thế nào? Thấy được lợi ích gì mà người đệ tử nên đi theo bậc Đạo Sư, cho dù bị xua đuổi?” “Bạch Thế Tôn, các pháp của chúng con có Thế Tôn là cội rễ, có Thế Tôn là người hướng dẫn, có Thế Tôn là nơi nương tựa. Bạch Thế Tôn, lành thay, mong rằng ý nghĩa của lời nói này sẽ được chính Thế Tôn giải thích. Sau khi nghe từ Thế Tôn, các vị tỳ khưu sẽ ghi nhớ.”
“Na kho, ānanda, arahati sāvako satthāraṁ anubandhituṁ, yadidaṁ suttaṁ geyyaṁ veyyākaraṇaṁ tassa hetu. Taṁ kissa hetu? Dīgharattassa hi te, ānanda, dhammā sutā dhātā vacasā paricitā manasānupekkhitā diṭṭhiyā suppaṭividdhā. Yā ca kho ayaṁ, ānanda, kathā abhisallekhikā cetovinīvaraṇasappāyā ekantanibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati, seyyathidaṁ—appicchakathā santuṭṭhikathā pavivekakathā asaṁsaggakathā vīriyārambhakathā sīlakathā samādhikathā paññākathā vimuttikathā vimuttiñāṇadassanakathā—evarūpiyā kho, ānanda, kathāya hetu arahati sāvako satthāraṁ anubandhituṁ api paṇujjamāno.
“A disciple would not deem it worthwhile to follow the Teacher for the sake of this, namely statements, mixed prose & verse, or discussions. Why is that? Because for a long time you have learned the teachings, remembering them, rehearsing them, mentally scrutinizing them, and penetrating them theoretically. But a disciple would deem it worthwhile to follow the Teacher, even if driven away, for the sake of talk about self-effacement that helps open the heart and leads solely to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment. That is, talk about fewness of wishes, contentment, seclusion, aloofness, arousing energy, ethics, immersion, wisdom, freedom, and the knowledge and vision of freedom.
192. “Này Ānanda, người đệ tử không nên đi theo bậc Đạo Sư vì lý do này, tức là kinh, ứng tụng, và ký thuyết. Vì sao vậy? Này Ānanda, vì rằng trong một thời gian dài, các pháp ấy đã được vị ấy lắng nghe, ghi nhớ, thực hành bằng lời nói, quán xét bằng ý, và được khéo thông đạt bằng trí tuệ. Này Ānanda, còn câu chuyện nào có tác dụng làm cho giảm thiểu (phiền não), thích hợp cho việc giải thoát tâm khỏi các triền cái, hoàn toàn đưa đến sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn, chính là: câu chuyện về thiểu dục, câu chuyện về tri túc, câu chuyện về độc cư, câu chuyện về không giao du, câu chuyện về tinh tấn, câu chuyện về giới, câu chuyện về định, câu chuyện về tuệ, câu chuyện về giải thoát, câu chuyện về giải thoát tri kiến – này Ānanda, chính vì lý do của loại câu chuyện như vậy mà người đệ tử nên đi theo bậc Đạo Sư, cho dù bị xua đuổi.”
Evaṁ sante kho, ānanda, ācariyūpaddavo hoti, evaṁ sante antevāsūpaddavo hoti, evaṁ sante brahmacārūpaddavo hoti.
Kathañcānanda, ācariyūpaddavo hoti? Idhānanda, ekacco satthā vivittaṁ senāsanaṁ bhajati araññaṁ rukkhamūlaṁ pabbataṁ kandaraṁ giriguhaṁ susānaṁ vanapatthaṁ abbhokāsaṁ palālapuñjaṁ. Tassa tathāvūpakaṭṭhassa viharato anvāvattanti brāhmaṇagahapatikā negamā ceva jānapadā ca. So anvāvattantesu brāhmaṇagahapatikesu negamesu ceva jānapadesu ca mucchaṁ nikāmayati, gedhaṁ āpajjati, āvattati bāhullāya.
This being so, Ānanda, there is a peril for the tutor, a peril for the pupil, and a peril for a spiritual practitioner.
And how is there a peril for the tutor? It’s when some teacher frequents a secluded lodging—a wilderness, the root of a tree, a hill, a ravine, a mountain cave, a charnel ground, a forest, the open air, a heap of straw. While meditating withdrawn, they’re visited by a stream of brahmins and householders, and people of town and country. When this happens, they enjoy infatuation, fall into greed, and return to indulgence.
“Này Ānanda, khi được như vậy, có sự nguy hại cho vị thầy; khi được như vậy, có sự nguy hại cho người đệ tử; khi được như vậy, có sự nguy hại cho đời sống phạm hạnh.”
193. “Và này Ānanda, thế nào là sự nguy hại cho vị thầy? Này Ānanda, ở đây, có vị đạo sư nào đó đi đến trú xứ vắng vẻ: khu rừng, gốc cây, ngọn núi, hang động, sơn động, nghĩa địa, lùm cây rậm, ngoài trời, đống rơm. Trong khi vị ấy đang sống một mình như vậy, các vị bà-la-môn gia chủ ở thị tứ và ở thôn quê thường lui tới. Khi được các vị bà-la-môn gia chủ ở thị tứ và ở thôn quê thường lui tới, vị ấy trở nên say đắm, trở nên tham lam, quay về với sự sung túc. Này Ānanda, điều này được gọi là sự nguy hại cho vị thầy. Do sự nguy hại cho vị thầy, các pháp ác, bất thiện, làm ô nhiễm, đưa đến tái sanh, có sầu muộn, có quả khổ, đưa đến sanh, già, chết trong tương lai đã giết chết vị ấy. Này Ānanda, như vậy là sự nguy hại cho vị thầy.”
Kathañcānanda, antevāsūpaddavo hoti? Tasseva kho panānanda, satthu sāvako tassa satthu vivekamanubrūhayamāno vivittaṁ senāsanaṁ bhajati araññaṁ rukkhamūlaṁ pabbataṁ kandaraṁ giriguhaṁ susānaṁ vanapatthaṁ abbhokāsaṁ palālapuñjaṁ. Tassa tathāvūpakaṭṭhassa viharato anvāvattanti brāhmaṇagahapatikā negamā ceva jānapadā ca. So anvāvattantesu brāhmaṇagahapatikesu negamesu ceva jānapadesu ca mucchaṁ nikāmayati, gedhaṁ āpajjati, āvattati bāhullāya. Ayaṁ vuccatānanda, upaddavo antevāsī. Antevāsūpaddavena avadhiṁsu naṁ pāpakā akusalā dhammā saṅkilesikā ponobbhavikā sadarā dukkhavipākā āyatiṁ jātijarāmaraṇiyā. Evaṁ kho, ānanda, antevāsūpaddavo hoti.
And how is there a peril for the pupil? It’s when the disciple of a teacher, emulating their teacher’s fostering of seclusion, frequents a secluded lodging—a wilderness, the root of a tree, a hill, a ravine, a mountain cave, a charnel ground, a forest, the open air, a heap of straw. While meditating withdrawn, they’re visited by a stream of brahmins and householders, and people of town and country. When this happens, they enjoy infatuation, fall into greed, and return to indulgence. This is said to be the pupil’s peril. They’re ruined by bad, unskillful qualities that are corrupting, leading to future lives, hurtful, resulting in suffering and future rebirth, old age, and death. That’s how there is a peril for the pupil.
194. “Và này Ānanda, thế nào là sự nguy hại cho người đệ tử? Này Ānanda, lại nữa, người đệ tử của vị đạo sư ấy, trong khi noi theo sự độc cư của vị đạo sư ấy, đi đến trú xứ vắng vẻ: khu rừng, gốc cây, ngọn núi, hang động, sơn động, nghĩa địa, lùm cây rậm, ngoài trời, đống rơm. Trong khi vị ấy đang sống một mình như vậy, các vị bà-la-môn gia chủ ở thị tứ và ở thôn quê thường lui tới. Khi được các vị bà-la-môn gia chủ ở thị tứ và ở thôn quê thường lui tới, vị ấy trở nên say đắm, trở nên tham lam, quay về với sự sung túc. Này Ānanda, điều này được gọi là sự nguy hại cho người đệ tử. Do sự nguy hại cho người đệ tử, các pháp ác, bất thiện, làm ô nhiễm, đưa đến tái sanh, có sầu muộn, có quả khổ, đưa đến sanh, già, chết trong tương lai đã giết chết vị ấy. Này Ānanda, như vậy là sự nguy hại cho người đệ tử.”
Kathañcānanda, brahmacārūpaddavo hoti? Idhānanda, tathāgato loke uppajjati arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā. So vivittaṁ senāsanaṁ bhajati araññaṁ rukkhamūlaṁ pabbataṁ kandaraṁ giriguhaṁ susānaṁ vanapatthaṁ abbhokāsaṁ palālapuñjaṁ. Tassa tathāvūpakaṭṭhassa viharato anvāvattanti brāhmaṇagahapatikā negamā ceva jānapadā ca. So anvāvattantesu brāhmaṇagahapatikesu negamesu ceva jānapadesu ca na mucchaṁ nikāmayati, na gedhaṁ āpajjati, na āvattati bāhullāya. Tasseva kho panānanda, satthu sāvako tassa satthu vivekamanubrūhayamāno vivittaṁ senāsanaṁ bhajati araññaṁ rukkhamūlaṁ pabbataṁ kandaraṁ giriguhaṁ susānaṁ vanapatthaṁ abbhokāsaṁ palālapuñjaṁ. Tassa tathāvūpakaṭṭhassa viharato anvāvattanti brāhmaṇagahapatikā negamā ceva jānapadā ca. So anvāvattantesu brāhmaṇagahapatikesu negamesu ceva jānapadesu ca mucchaṁ nikāmayati, gedhaṁ āpajjati, āvattati bāhullāya. Ayaṁ vuccatānanda, upaddavo brahmacārī. Brahmacārūpaddavena avadhiṁsu naṁ pāpakā akusalā dhammā saṅkilesikā ponobbhavikā sadarā dukkhavipākā āyatiṁ jātijarāmaraṇiyā. Evaṁ kho, ānanda, brahmacārūpaddavo hoti.
And how is there a peril for a spiritual practitioner? It’s when a Realized One arises in the world, perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed. He frequents a secluded lodging—a wilderness, the root of a tree, a hill, a ravine, a mountain cave, a charnel ground, a forest, the open air, a heap of straw. While meditating withdrawn, he’s visited by a stream of brahmins and householders, and people of town and country. When this happens, he doesn’t enjoy infatuation, fall into greed, and return to indulgence. But a disciple of this teacher, emulating their teacher’s fostering of seclusion, frequents a secluded lodging—a wilderness, the root of a tree, a hill, a ravine, a mountain cave, a charnel ground, a forest, the open air, a heap of straw. While meditating withdrawn, they’re visited by a stream of brahmins and householders, and people of town and country. When this happens, they enjoy infatuation, fall into greed, and return to indulgence. This is said to be the spiritual practitioner’s peril. They’re ruined by bad, unskillful qualities that are corrupting, leading to future lives, hurtful, resulting in suffering and future rebirth, old age, and death. That’s how there is a peril for the spiritual practitioner.
195. “Này Ānanda, thế nào là tai họa cho phạm hạnh? Này Ānanda, ở đây, Như Lai xuất hiện ở đời, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Vị ấy tìm đến trú xứ vắng vẻ: khu rừng, gốc cây, ngọn núi, hang đá, động núi, nghĩa địa, lùm cây rậm, ngoài trời, đống rơm. Khi vị ấy sống viễn ly như vậy, các vị Bà-la-môn gia chủ, cả ở thị trấn lẫn ở thôn quê, thường lui tới. Khi được các vị Bà-la-môn gia chủ, cả ở thị trấn lẫn ở thôn quê, lui tới, vị ấy không khởi lên sự mê đắm, không rơi vào tham ái, không quay lại với sự sung túc. Này Ānanda, nhưng một vị đệ tử của vị Đạo Sư ấy, trong khi noi theo sự viễn ly của vị Đạo Sư ấy, cũng tìm đến trú xứ vắng vẻ: khu rừng, gốc cây, ngọn núi, hang đá, động núi, nghĩa địa, lùm cây rậm, ngoài trời, đống rơm. Khi vị ấy sống viễn ly như vậy, các vị Bà-la-môn gia chủ, cả ở thị trấn lẫn ở thôn quê, thường lui tới. Khi được các vị Bà-la-môn gia chủ, cả ở thị trấn lẫn ở thôn quê, lui tới, vị ấy khởi lên sự mê đắm, rơi vào tham ái, quay lại với sự sung túc. Này Ānanda, đây được gọi là tai họa cho người sống phạm hạnh. Do tai họa cho phạm hạnh này, các pháp ác, bất thiện, làm ô nhiễm, đưa đến tái sanh, có phiền não, có quả khổ, đưa đến sanh, già, chết trong tương lai đã giết chết vị ấy. Này Ānanda, tai họa cho phạm hạnh xảy ra như vậy đó.”
Tatrānanda, yo cevāyaṁ ācariyūpaddavo, yo ca antevāsūpaddavo ayaṁ tehi brahmacārūpaddavo dukkhavipākataro ceva kaṭukavipākataro ca, api ca vinipātāya saṁvattati.
And in this context, Ānanda, as compared to the peril of the tutor or the pupil, the peril of the spiritual practitioner has more painful, bitter results, and even leads to the underworld.
“Này Ānanda, trong các tai họa ấy, tai họa về vị thầy và tai họa về đệ tử, thì tai họa cho phạm hạnh này có quả khổ đau hơn, có quả cay đắng hơn, và còn đưa đến đọa xứ.”
Tasmātiha maṁ, ānanda, mittavatāya samudācaratha, mā sapattavatāya. Taṁ vo bhavissati dīgharattaṁ hitāya sukhāya.
So, Ānanda, treat me as a friend, not as an enemy. That will be for your lasting welfare and happiness.
196. “Do đó, này Ānanda, ở đây các ngươi hãy đối xử với Ta như bạn bè, đừng đối xử như kẻ thù. Điều đó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho các ngươi.”
Kathañcānanda, satthāraṁ sāvakā sapattavatāya samudācaranti, no mittavatāya? Idhānanda, satthā sāvakānaṁ dhammaṁ deseti anukampako hitesī anukampaṁ upādāya: ‘idaṁ vo hitāya, idaṁ vo sukhāyā’ti. Tassa sāvakā na sussūsanti, na sotaṁ odahanti, na aññā cittaṁ upaṭṭhapenti, vokkamma ca satthusāsanā vattanti. Evaṁ kho, ānanda, satthāraṁ sāvakā sapattavatāya samudācaranti, no mittavatāya.
And how do disciples treat their Teacher as an enemy, not a friend? It’s when the Teacher teaches Dhamma to his disciples out of kindness and sympathy: ‘This is for your welfare. This is for your happiness.’ But their disciples don’t want to listen. They don’t actively listen or try to understand. They proceed having turned away from the Teacher’s instruction. That’s how the disciples treat their Teacher as an enemy, not a friend.
“Này Ānanda, thế nào là các đệ tử đối xử với Đạo Sư như kẻ thù, không như bạn bè? Này Ānanda, ở đây, Đạo Sư vì lòng bi mẫn, vì tìm cầu lợi ích, do lòng bi mẫn mà thuyết pháp cho các đệ tử: ‘Điều này vì lợi ích của các ngươi, điều này vì hạnh phúc của các ngươi’. Các đệ tử của vị ấy không muốn nghe, không lắng tai, không hướng tâm đến trí tuệ, và sống vượt ra ngoài lời giáo huấn của Đạo Sư. Này Ānanda, như vậy là các đệ tử đối xử với Đạo Sư như kẻ thù, không như bạn bè.”
Kathañcānanda, satthāraṁ sāvakā mittavatāya samudācaranti, no sapattavatāya? Idhānanda, satthā sāvakānaṁ dhammaṁ deseti anukampako hitesī anukampaṁ upādāya: ‘idaṁ vo hitāya, idaṁ vo sukhāyā’ti. Tassa sāvakā sussūsanti, sotaṁ odahanti, aññā cittaṁ upaṭṭhapenti, na ca vokkamma satthusāsanā vattanti. Evaṁ kho, ānanda, satthāraṁ sāvakā mittavatāya samudācaranti, no sapattavatāya.
And how do disciples treat their Teacher as a friend, not an enemy? It’s when the Teacher teaches Dhamma to his disciples out of kindness and sympathy: ‘This is for your welfare. This is for your happiness.’ And their disciples want to listen. They actively listen and try to understand. They don’t proceed having turned away from the Teacher’s instruction. That’s how the disciples treat their Teacher as a friend, not an enemy.
“Này Ānanda, thế nào là các đệ tử đối xử với Đạo Sư như bạn bè, không như kẻ thù? Này Ānanda, ở đây, Đạo Sư vì lòng bi mẫn, vì tìm cầu lợi ích, do lòng bi mẫn mà thuyết pháp cho các đệ tử: ‘Điều này vì lợi ích của các ngươi, điều này vì hạnh phúc của các ngươi’. Các đệ tử của vị ấy muốn nghe, lắng tai, hướng tâm đến trí tuệ, và không sống vượt ra ngoài lời giáo huấn của Đạo Sư. Này Ānanda, như vậy là các đệ tử đối xử với Đạo Sư như bạn bè, không như kẻ thù.”
Tasmātiha maṁ, ānanda, mittavatāya samudācaratha, mā sapattavatāya. Taṁ vo bhavissati dīgharattaṁ hitāya sukhāya. Na vo ahaṁ, ānanda, tathā parakkamissāmi yathā kumbhakāro āmake āmakamatte. Niggayha niggayhāhaṁ, ānanda, vakkhāmi; pavayha pavayha, ānanda, vakkhāmi. Yo sāro so ṭhassatī”ti.
So, Ānanda, treat me as a friend, not as an enemy. That will be for your lasting welfare and happiness. I shall not mollycoddle you like a potter with their damp, unfired pots. I shall speak, curbing you again and again, pressing you again and again. The core will stand the test.”
“Do đó, này Ānanda, ở đây các ngươi hãy đối xử với Ta như bạn bè, đừng đối xử như kẻ thù. Điều đó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho các ngươi. Này Ānanda, Ta sẽ không đối xử với các ngươi như người thợ gốm đối với đồ gốm còn sống, chưa nung. Này Ānanda, Ta sẽ nói, khiển trách và khiển trách; này Ānanda, Ta sẽ nói, vạch rõ và vạch rõ. Ai là cốt lõi, người đó sẽ đứng vững.”
Idamavoca bhagavā. Attamano āyasmā ānando bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
That is what the Buddha said. Satisfied, Venerable Ānanda approved what the Buddha said.
Thế Tôn đã nói như vậy. Tôn giả Ānanda hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Mahāsuññatasuttaṁ niṭṭhitaṁ dutiyaṁ.
Kinh Đại Không thứ hai chấm dứt.