- Majjhima Nikāya 123
Acchariyaabbhutasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Acchariyaabbhutasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà-lâm), tại tịnh xá ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).
SC 2Rồi một số rất đông Tỷ-kheo, sau buổi ăn, sau khi đi khất thực về, đang ngồi tụ họp trong thị giả đường (upatthanasala), câu chuyện này được khởi lên giữa chúng Tăng:
SC 3“Thật hy hữu thay chư Hiền! Thật vị tằng hữu thay chư Hiền, là đại thần thông lực, đại uy lực của Như Lai! Vì Ngài biết được chư Phật quá khứ, đã nhập Niết-bàn, đã đoạn các hý luận, đã đoạn các chướng đạo, đã chấm dứt luân hồi, đã thoát ly mọi khổ: “Chư Thế Tôn ấy sanh tánh như vậy, danh tánh như vậy, tộc tánh như vậy, giới hạnh như vậy, pháp hạnh như vậy, tuệ hạnh như vậy, trú hạnh như vậy, chư Thế Tôn ấy giải thoát như vậy”.
SC 4Khi được nghe nói như vậy, Tôn giả Ānanda nói với các Tỷ-kheo ấy: “Thật hy hữu thay chư Hiền, Như Lai được đầy đủ các pháp hy hữu! Thật vị tằng hữu thay chư Hiền, Như Lai được đầy đủ các pháp vị tằng hữu!”
SC 5Và câu chuyện giữa các Tỷ-kheo ấy bị gián đoạn. Rồi Thế Tôn vào buổi chiều, từ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến thị giả đường, sau khi đến, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo
SC 6—Này các Tỷ-kheo, nay các Ông ngồi nói chuyện gì? Câu chuyện gì giữa các Ông bị gián đoạn?
SC 7—Ở đây, bạch Thế Tôn, chúng con sau buổi ăn, sau khi đi khất thực trở về, chúng con ngồi tụ họp tại thị giả đường, câu chuyện sau đây được khởi lên: “Hy hữu thay, chư Hiền! … chư Thế Tôn ấy được giải thoát như vậy”. Khi được nghe nói vậy, bạch Thế Tôn, Tôn giả Ānanda nói với chúng con như sau: “Thật hy hữu thay … Như Lai được đầy đủ các pháp hy hữu! Thật vị tằng hữu thay … Như Lai được đầy đủ các pháp vị tằng hữu!” Câu chuyện này giữa chúng con, bạch Thế Tôn, bị gián đoạn. Rồi Thế Tôn đến.
SC 8Thế Tôn bảo Tôn giả Ānanda
SC 9—Do vậy, này Ānanda, hãy nói lên nhiều nữa, những đặc tánh hy hữu, vị tằng hữu của Như Lai.
SC 10—Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: “Chánh niệm tỉnh giác, này Ānanda, Bồ-tát sanh trong Thiên chúng (Kaya) Tusita”. Vì rằng, bạch Thế Tôn, chánh niệm tỉnh giác, Bồ-tát sanh trong Thiên chúng Tusita, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
SC 11Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: “Chánh niệm tỉnh giác, này Ānanda, Bồ-tát an trú trong Thiên chúng Tusita”. Vì rằng, bạch Thế Tôn, chánh niệm tỉnh giác, Bồ-tát an trú trong Thiên chúng Tusita, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
SC 12Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: “Chánh niệm tỉnh giác, này Ānanda, Bồ-tát an trú tại Thiên chúng Tusita cho đến trọn thọ mạng”. Vì rằng, bạch Thế Tôn, chánh niệm tỉnh giác, Bồ-tát an trú tại Thiên chúng Tusita cho đến trọn thọ mạng, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
SC 13Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: “Chánh niệm tỉnh giác này Ānanda, Bồ-tát sau khi từ Thiên chúng Tusita mạng chung, nhập vào mẫu thai”. Vì rằng, bạch Thế Tôn, chánh niệm tỉnh giác, Bồ-tát sau khi từ Thiên chúng Tusita mạng chung, nhập vào mẫu thai, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
SC 14Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: “Khi Bồ-tát nhập vào mẫu thai, này Ānanda, khi ấy một hào quang vô lượng, thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra cùng khắp thế giới, gồm có các thế giới ở trên chư Thiên, thế giới của các Ma vương và Phạm thiên và thế giới ở dưới gồm các vị Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Cho đến các thế giới ở giữa các thế giới, tối tăm, u ám không có nền tảng, những cảnh giới mà mặt trăng mặt trời với đại thần lực, với đại oai lực như vậy cũng không thể chiếu thấu, trong những cảnh giới ấy, một hào quang vô lượng, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra. Và các chúng sanh sống tại những chỗ ấy nhờ hào quang ấy mới thấy nhau và nói: “Cũng có những chúng sanh khác sống ở đây”. Và mười ngàn thế giới này chuyển động, rung động, chuyển động mạnh. Và hào quang vô lượng, thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra ở thế giới. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn”.
SC 15Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: “Khi Bồ-tát nhập mẫu thai, này Ānanda, bốn vị Thiên tử đến canh gác bốn phương trời và nói: “Không cho một ai, người hay không phải loài người được phiền nhiễu Bồ-tát, hay mẹ vị Bồ-tát”. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn”.
SC 16Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: “Khi Bồ-tát nhập mẫu thai, này Ānanda, mẹ Bồ-tát giữ giới một cách hồn nhiên, không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói láo, không uống các thứ rượu nấu, rượu lên chất men”. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
SC 17Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: “Khi Bồ-tát nhập mẫu thai, này Ānanda, mẹ Bồ-tát không khởi dục tâm đối với một nam nhân nào, và mẹ Bồ-tát không bị xâm phạm bởi bất kỳ người đàn ông nào có nhiễm tâm”. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
SC 18Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: “Khi Bồ-tát nhập mẫu thai, này Ānanda, mẹ vị Bồ-tát tận hưởng năm dục công đức đầy đủ, tận hưởng trọn năm dục công đức”. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
SC 19Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: “Khi Bồ-tát nhập mẫu thai, này Ānanda, mẹ Bồ-tát không bị một bệnh tật gì. Bà sống với tâm hoan hỷ, với tâm khoan khoái. Bà thấy trong bào thai của mình vị Bồ-tát đầy đủ mọi bộ phận và chân tay. Này Ānanda, ví như viên ngọc lưu ly, thanh tịnh, thuần nhất, có tám cạnh, khéo cắt, khéo dũa, trong sáng, không tỳ vết, hoàn hảo trong mọi phương diện. Rồi một sợi dây được xâu qua viên ngọc ấy, dây màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng hay màu vàng lợt. Nếu có người có mắt để viên ngọc trên bàn tay của mình, người ấy sẽ thấy rõ ràng: “Ðây là viên ngọc lưu ly, thanh tịnh, thuần nhất, có tám cạnh, khéo cắt, khéo dũa, trong sáng, không tỳ vết, hoàn hảo trong mọi phương diện. Ðây là sợi dây xâu qua, sợi dây màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng hay màu vàng lợt”. Cũng vậy, này Ānanda, khi Bồ-tát nhập mẫu thai, mẹ Bồ-tát không bị một bệnh tật gì. Bà sống với tâm hoan hỷ, với tâm khoan khoái. Bà thấy trong bào thai của mình vị Bồ-tát đầy đủ bộ phận và chân tay”. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
SC 20Bạch Thế Tôn con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: “Sau khi sanh Bồ-tát bảy ngày, này Ānanda, mẹ Bồ-tát mệnh chung và sanh lên cõi trời Ðâu suất”. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
SC 21Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: “Trong khi các người đàn bà khác, này Ānanda, mang bầu thai trong bụng chín tháng hay mười tháng rồi mới sanh, mẹ Bồ-tát sanh Bồ-tát không phải như vậy. Mẹ Bồ-tát mang Bồ-tát trong bụng mười tháng rồi mới sanh”. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
SC 22Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: “Trong khi các người đàn bà khác, này Ānanda, hoặc ngồi hoặc nằm mà sanh con, mẹ vị Bồ-tát sanh Bồ—tát không phải như vậy. Mẹ Bồ-tát đứng mà sanh Bồ-tát”. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
SC 23Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: “Khi Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, này Ānanda, chư Thiên đỡ lấy Ngài trước, sau mới đến loài người”. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
SC 24Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: “Khi Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, này Ānanda, Bồ-tát không đụng đến đất. Có bốn Thiên tử đỡ lấy Ngài, đặt Ngài trước bà mẹ và thưa: “Hoàng hậu hãy hoan hỷ! Hoàng Hậu sanh một bậc vĩ nhân”. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
SC 25Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: “Khi Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, này Ānanda, Ngài sanh ra thanh tịnh, không bị nhiễm ô bởi nước nhớt nào, không bị nhiễm ô bởi loại mủ nào, không bị nhiễm ô bởi loại máu nào, không bị nhiễm ô bởi bất cứ vật bất tịnh nào, thanh tịnh, trong sạch. Này Ānanda, ví như một viên ngọc ma-ni bảo châu đặt trên một tấm vải Ba-la-nại. Viên ngọc không làm nhiễm ô tấm vải Ba-la-nại, tấm vải Ba-la-nai cũng không làm nhiễm ô hòn ngọc. Vì sao vậy? Vì cả hai đều thanh tịnh. Cũng vậy, này Ānanda, khi Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, Ngài sanh ra thanh tịnh, không bị nhiễm ô bởi nước nhớt nào, không bị nhiễm ô bởi loại mủ nào, không bị nhiễm ô bởi loại máu nào, không bị nhiễm ô bởi bất cứ vật bất tịnh nào, thanh tịnh, trong sạch”. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
SC 26Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: “Khi Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, này Ānanda, hai dòng nước từ hư không hiện ra, một dòng lạnh, một dòng nóng. Hai dòng nước ấy tắm rửa sạch sẽ cho Bồ-tát và cho bà mẹ”. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
SC 27Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: “Bồ-tát khi sanh ra, này Ānanda, Ngài đứng vững, thăng bằng trên hai chân, mặt hướng phía Bắc, bước đi bảy bước, một lọng trắng được che lên. Ngài nhìn khắp cả mọi phương, lên tiếng như con ngưu vương, thốt ra lời như sau: “Ta là bậc tối thượng ở trên đời! Ta là bậc tối tôn ở trên đời! Ta là bậc cao nhất ở trên đời! Nay là đời sống cuối cùng, không còn phải tái sanh ở đời này nữa”. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
SC 28Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: “Khi Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, này Ānanda, khi ấy một hào quang vô lượng thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên, hiện ra cùng khắp thế giới, gồm có các thế giới trên chư Thiên, thế giới của các Ma vương và Phạm thiên, và thế giới ở dưới gồm các Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Cho đến các cảnh giới giữa các thế giới, tối tăm, u ám, không có nền tảng, những cảnh giới mà mặt trăng mặt trời với đại thần lực, đại oai lực như vậy cũng không thể chiếu thấu, trong những cảnh giới ấy một hào quang vô lượng, thắng xa oai lực chư Thiên hiện ra. Và các chúng sanh sống tại các chỗ ấy, nhờ hào quang ấy mới thấy nhau mà nói: “Cũng có những chúng sanh khác sống ở đây”. Và mười ngàn thế giới này chuyển động, rung động, chuyển động mạnh. Và hào quang vô lượng thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra ở thế giới. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
SC 29—Do vậy, này Ānanda, hãy thọ trì sự việc này là một hy hữu, một vị tằng hữu của Như Lai. Ở đây, này Ānanda, các cảm thọ khởi lên nơi Thế Tôn được biết đến; được biết đến, chúng an trú; được biết đến, chúng đi đến biến hoại; các tưởng được biết đến; các tầm khởi lên được biết đến; được biết đến, chúng an trú; được biết đến, chúng đi đến biến hoại. Này Ānanda, hãy thọ trì việc này là một hy hữu, một vị tằng hữu của Như Lai.
SC 30—Vì rằng, bạch Thế Tôn, các cảm thọ khởi lên nơi Thế Tôn được biết đến; được biết đến, chúng an trú; được biết đến, chúng đi đến biến hoại; các tưởng được biết đến; các tầm khởi lên được biết đến; được biết đến, chúng an trú; được biết đến, chúng đi đến biến hoại. Bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này là một hy hữu, một vị tằng hữu của Như Lai.
SC 31Tôn giả Ānanda nói như vậy. Bậc Ðạo Sư chấp nhận. Các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ lời Tôn giả Ānanda nói.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). 14-07-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
3. Kinh Hy Hữu Vị Tằng Hữu
Atha kho sambahulānaṁ bhikkhūnaṁ pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkantānaṁ upaṭṭhānasālāyaṁ sannisinnānaṁ sannipatitānaṁ ayamantarākathā udapādi:
“acchariyaṁ, āvuso, abbhutaṁ, āvuso. Tathāgatassa mahiddhikatā mahānubhāvatā, yatra hi nāma tathāgato atīte buddhe parinibbute chinnapapañce chinnavaṭume pariyādinnavaṭṭe sabbadukkhavītivatte jānissati: ‘evaṁjaccā te bhagavanto ahesuṁ’ itipi, ‘evaṁnāmā te bhagavanto ahesuṁ’ itipi, ‘evaṅgottā te bhagavanto ahesuṁ’ itipi, ‘evaṁsīlā te bhagavanto ahesuṁ’ itipi, ‘evaṁdhammā te bhagavanto ahesuṁ’ itipi, ‘evaṁpaññā te bhagavanto ahesuṁ’ itipi, ‘evaṁvihārī te bhagavanto ahesuṁ’ itipi, ‘evaṁvimuttā te bhagavanto ahesuṁ’ itipī”ti.
Evaṁ vutte, āyasmā ānando te bhikkhū etadavoca: “acchariyā ceva, āvuso, tathāgatā acchariyadhammasamannāgatā ca; abbhutā ceva, āvuso, tathāgatā abbhutadhammasamannāgatā cā”ti. Ayañca hidaṁ tesaṁ bhikkhūnaṁ antarākathā vippakatā hoti.
Then after the meal, on return from almsround, several mendicants sat together in the assembly hall and this discussion came up among them:
“It’s incredible, reverends, it’s amazing! The Realized One has such psychic power and might! For he is able to know the Buddhas of the past who have become completely quenched, cut off proliferation, cut off the course, finished off the cycle, and passed beyond all suffering: ‘Such is the birth, names, clans, conduct, teachings, wisdom, meditation, and freedom of those Blessed Ones.’
When they said this, Venerable Ānanda said, “The Realized Ones are incredible, reverends, and they have incredible qualities. They’re amazing, and they have amazing qualities.” But this conversation among those mendicants was left unfinished.
197. Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở tại Sāvatthī, trong khu vườn của ông Anāthapiṇḍika, tại Jetavana. Lúc bấy giờ, có nhiều Tỳ-kheo, sau bữa ăn, sau khi đi khất thực về, đang ngồi tụ họp trong giảng đường, câu chuyện giữa chừng này đã khởi lên: ‘Thật hy hữu, chư hiền, thật vị tằng hữu, chư hiền, về đại thần lực, đại oai lực của Như Lai, vì rằng Như Lai có thể biết về các vị Phật trong quá khứ, đã nhập Niết-bàn, đã đoạn tận hý luận, đã cắt đứt vòng luân chuyển, đã chấm dứt hoàn toàn vòng luân chuyển, đã vượt qua mọi khổ đau: “Các Thế Tôn ấy có dòng dõi như vậy”, và “Các Thế Tôn ấy có danh hiệu như vậy”, và “Các Thế Tôn ấy có gia tộc như vậy”, và “Các Thế Tôn ấy có giới hạnh như vậy”, và “Các Thế Tôn ấy có pháp như vậy”, và “Các Thế Tôn ấy có tuệ như vậy”, và “Các Thế Tôn ấy có trú như vậy”, và “Các Thế Tôn ấy có giải thoát như vậy”!’ Khi được nói vậy, Tôn giả Ānanda nói với các Tỳ-kheo ấy: ‘Chư hiền, các đấng Như Lai là hy hữu và thành tựu các pháp hy hữu; chư hiền, các đấng Như Lai là vị tằng hữu và thành tựu các pháp vị tằng hữu.’ Và cuộc nói chuyện giữa chừng này của các Tỳ-kheo ấy vẫn còn dang dở.
Atha kho bhagavā sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yenupaṭṭhānasālā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Nisajja kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “kāya nuttha, bhikkhave, etarahi kathāya sannisinnā, kā ca pana vo antarākathā vippakatā”ti?
“Idha, bhante, amhākaṁ pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkantānaṁ upaṭṭhānasālāyaṁ sannisinnānaṁ sannipatitānaṁ ayamantarākathā udapādi: ‘acchariyaṁ, āvuso, abbhutaṁ, āvuso, tathāgatassa mahiddhikatā mahānubhāvatā, yatra hi nāma tathāgato atīte buddhe parinibbute chinnapapañce chinnavaṭume pariyādinnavaṭṭe sabbadukkhavītivatte jānissati—evaṁjaccā te bhagavanto ahesuṁ itipi, evaṁnāmā … evaṅgottā … evaṁsīlā … evaṁdhammā … evaṁpaññā … evaṁvihārī … evaṁvimuttā te bhagavanto ahesuṁ itipī’ti. Evaṁ vutte, bhante, āyasmā ānando amhe etadavoca: ‘acchariyā ceva, āvuso, tathāgatā acchariyadhammasamannāgatā ca; abbhutā ceva, āvuso, tathāgatā abbhutadhammasamannāgatā cā’ti. Ayaṁ kho no, bhante, antarākathā vippakatā; atha bhagavā anuppatto”ti.
Then in the late afternoon, the Buddha came out of retreat, went to the assembly hall, sat down on the seat spread out, and addressed the mendicants: “Mendicants, what were you sitting talking about just now? What conversation was left unfinished?”
So the mendicants told him what they had been talking about. The Buddha said,
198. Bấy giờ, vào buổi chiều, Thế Tôn từ nơi độc cư thiền tịnh đứng dậy, đi đến giảng đường; sau khi đến, Ngài ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn hỏi các Tỳ khưu: 'Này các Tỳ khưu, các ông đang ngồi hội họp với câu chuyện gì? Và câu chuyện gì của các ông đang nói dở dang?' 'Bạch Thế Tôn, ở đây, sau bữa ăn, sau khi đi khất thực về, chúng con ngồi hội họp tại giảng đường và câu chuyện này đã khởi lên giữa chúng con: 'Thật kỳ diệu thay, chư hiền, thật hy hữu thay, chư hiền, về đại thần lực, đại oai lực của Như Lai, vì rằng Như Lai có thể biết về các vị Phật trong quá khứ đã nhập Niết-bàn, đã đoạn tận hý luận, đã cắt đứt vòng luân chuyển, đã chấm dứt vòng luân hồi, đã vượt qua mọi khổ đau, rằng: 'Các vị Thế Tôn ấy có dòng dõi như vậy', và rằng: 'có danh hiệu như vậy... có gia tộc như vậy... có giới hạnh như vậy... có pháp như vậy... có tuệ như vậy... có trú như vậy... các vị Thế Tôn ấy có sự giải thoát như vậy!' Bạch Thế Tôn, khi chúng con đang nói như vậy, Tôn giả Ānanda đã nói với chúng con điều này: 'Chư hiền, các đấng Như Lai thật kỳ diệu và có các pháp kỳ diệu. Chư hiền, các đấng Như Lai thật hy hữu và có các pháp hy hữu.' Bạch Thế Tôn, đây là câu chuyện đang nói dở dang của chúng con, thì Thế Tôn đã đến.'
199. Khi ấy, Thế Tôn gọi Tôn giả Ānanda: 'Này Ānanda, vậy thì hãy để cho những pháp kỳ diệu, hy hữu của Như Lai lại càng hiện rõ hơn nữa đối với ông.'
“Sammukhā metaṁ, bhante, bhagavato sutaṁ, sammukhā paṭiggahitaṁ: ‘sato sampajāno, ānanda, bodhisatto tusitaṁ kāyaṁ upapajjī’ti. Yampi, bhante, sato sampajāno bodhisatto tusitaṁ kāyaṁ upapajji idampāhaṁ, bhante, bhagavato acchariyaṁ abbhutadhammaṁ dhāremi.
“Sir, I have heard and learned this in the presence of the Buddha: ‘Mindful and aware, the being intent on awakening was reborn in the host of joyful gods.’ This I remember as an incredible quality of the Buddha.
Bạch Thế Tôn, con đã tận tai nghe, tận mặt lãnh thọ từ Thế Tôn rằng: 'Này Ānanda, Bồ-tát có chánh niệm, tỉnh giác, sanh vào cõi trời Đâu-suất.' Bạch Thế Tôn, việc Bồ-tát có chánh niệm, tỉnh giác, sanh vào cõi trời Đâu-suất, điều này con ghi nhận là một pháp kỳ diệu, hy hữu của Thế Tôn.
Sammukhā metaṁ, bhante, bhagavato sutaṁ, sammukhā paṭiggahitaṁ: ‘sato sampajāno, ānanda, bodhisatto tusite kāye aṭṭhāsī’ti. Yampi, bhante, sato sampajāno bodhisatto tusite kāye aṭṭhāsi idampāhaṁ, bhante, bhagavato acchariyaṁ abbhutadhammaṁ dhāremi.
I have learned this in the presence of the Buddha: ‘Mindful and aware, the being intent on awakening remained in the host of joyful gods.’ This too I remember as an incredible quality of the Buddha.
Bạch Thế Tôn, con đã tận tai nghe, tận mặt lãnh thọ từ Thế Tôn rằng: 'Này Ānanda, Bồ-tát có chánh niệm, tỉnh giác, trú tại cõi trời Đâu-suất.' Bạch Thế Tôn, việc Bồ-tát có chánh niệm, tỉnh giác, trú tại cõi trời Đâu-suất, điều này con ghi nhận là một pháp kỳ diệu, hy hữu của Thế Tôn.
Sammukhā metaṁ, bhante, bhagavato sutaṁ, sammukhā paṭiggahitaṁ: ‘yāvatāyukaṁ, ānanda, bodhisatto tusite kāye aṭṭhāsī’ti. Yampi, bhante, yāvatāyukaṁ bodhisatto tusite kāye aṭṭhāsi idampāhaṁ, bhante, bhagavato acchariyaṁ abbhutadhammaṁ dhāremi.
I have learned this in the presence of the Buddha: ‘For the whole of that life, the being intent on awakening remained in the host of joyful gods.’ This too I remember as an incredible quality of the Buddha.
200. Bạch Thế Tôn, con đã tận tai nghe, tận mặt lãnh thọ từ Thế Tôn rằng: 'Này Ānanda, Bồ-tát trú tại cõi trời Đâu-suất cho đến hết tuổi thọ.' Bạch Thế Tôn, việc Bồ-tát trú tại cõi trời Đâu-suất cho đến hết tuổi thọ, điều này con ghi nhận là một pháp kỳ diệu, hy hữu của Thế Tôn.
Sammukhā metaṁ, bhante, bhagavato sutaṁ, sammukhā paṭiggahitaṁ: ‘sato sampajāno, ānanda, bodhisatto tusitā, kāyā cavitvā mātukucchiṁ okkamī’ti. Yampi, bhante, sato sampajāno bodhisatto tusitā kāyā cavitvā mātukucchiṁ okkami idampāhaṁ, bhante, bhagavato acchariyaṁ abbhutadhammaṁ dhāremi.
I have learned this in the presence of the Buddha: ‘Mindful and aware, the being intent on awakening passed away from the host of joyful gods and was conceived in his mother’s womb.’ This too I remember as an incredible quality of the Buddha.
Bạch Thế Tôn, con đã tận tai nghe, tận mặt lãnh thọ từ Thế Tôn rằng: 'Này Ānanda, Bồ-tát có chánh niệm, tỉnh giác, từ cõi trời Đâu-suất mệnh chung, nhập vào thai mẹ.' Bạch Thế Tôn, việc Bồ-tát có chánh niệm, tỉnh giác, từ cõi trời Đâu-suất mệnh chung, nhập vào thai mẹ, điều này con ghi nhận là một pháp kỳ diệu, hy hữu của Thế Tôn.
Sammukhā metaṁ, bhante, bhagavato sutaṁ, sammukhā paṭiggahitaṁ: ‘yadā, ānanda, bodhisatto tusitā kāyā cavitvā mātukucchiṁ okkamati, atha sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya appamāṇo uḷāro obhāso loke pātubhavati atikkammeva devānaṁ devānubhāvaṁ. Yāpi tā lokantarikā aghā asaṁvutā andhakārā andhakāratimisā, yatthapime candimasūriyā evaṁmahiddhikā evaṁmahānubhāvā ābhāya nānubhonti tatthapi appamāṇo uḷāro obhāso loke pātubhavati atikkammeva devānaṁ devānubhāvaṁ. Yepi tattha sattā upapannā tepi tenobhāsena aññamaññaṁ sañjānanti—aññepi kira, bho, santi sattā idhūpapannāti. Ayañca dasasahassī lokadhātu saṅkampati sampakampati sampavedhati appamāṇo ca uḷāro obhāso loke pātubhavati atikkammeva devānaṁ devānubhāvan’ti. Yampi, bhante …pe… idampāhaṁ, bhante, bhagavato acchariyaṁ abbhutadhammaṁ dhāremi.
I have learned this in the presence of the Buddha: ‘When the being intent on awakening passes away from the host of joyful gods, he is conceived in his mother’s womb. And then—in this world with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, gods and humans—an immeasurable, magnificent light appears, surpassing the glory of the gods. Even in the boundless gloom of interstellar space—so utterly dark that even the luminosity of the moon and the sun, so mighty and powerful, makes no impression—an immeasurable, magnificent light appears, surpassing the glory of the gods. And even the sentient beings reborn there recognize each other by that light: “So, it seems other sentient beings have been reborn here!” And this ten-thousandfold galaxy shakes and rocks and trembles. And an immeasurable, magnificent light appears in the world, surpassing the glory of the gods.’ This too I remember as an incredible quality of the Buddha.
201. Bạch Thế Tôn, con đã tận tai nghe, tận mặt lãnh thọ từ Thế Tôn rằng: 'Này Ānanda, khi Bồ-tát từ cõi trời Đâu-suất mệnh chung, nhập vào thai mẹ, bấy giờ trong thế giới này gồm cả chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài người, một ánh sáng vô lượng, huy hoàng, vượt xa cả oai lực của chư Thiên, hiện ra trong thế gian. Ngay cả những cõi trung gian giữa các thế giới, trống rỗng, không che đậy, tối tăm, mịt mù, nơi mà ánh sáng của mặt trăng và mặt trời, dù có đại thần lực, đại oai lực như vậy, cũng không thể chiếu tới, thì ở đó cũng hiện ra một ánh sáng vô lượng, huy hoàng, vượt xa cả oai lực của chư Thiên. Và những chúng sanh nào sanh tại nơi ấy, nhờ ánh sáng đó mà nhận ra nhau: 'Ồ, thì ra cũng có những chúng sanh khác sanh ở đây!' Và mười ngàn thế giới này rung động, chấn động, chuyển động mạnh. Và một ánh sáng vô lượng, huy hoàng, vượt xa cả oai lực của chư Thiên, hiện ra trong thế gian.' Bạch Thế Tôn, ... điều này con ghi nhận là một pháp kỳ diệu, hy hữu của Thế Tôn.
Sammukhā metaṁ, bhante, bhagavato sutaṁ, sammukhā paṭiggahitaṁ: ‘yadā, ānanda, bodhisatto mātukucchiṁ okkanto hoti, cattāro devaputtā catuddisaṁ ārakkhāya upagacchanti—mā naṁ bodhisattaṁ vā bodhisattamātaraṁ vā manusso vā amanusso vā koci vā viheṭhesī’ti. Yampi, bhante …pe… idampāhaṁ, bhante, bhagavato acchariyaṁ abbhutadhammaṁ dhāremi.
I have learned this in the presence of the Buddha: ‘When the being intent on awakening is conceived in his mother’s womb, four godlings approach to guard the four quarters, so that no human or non-human or anyone at all shall harm the being intent on awakening or his mother.’ This too I remember as an incredible quality of the Buddha.
202. Bạch Thế Tôn, con đã tận tai nghe, tận mặt lãnh thọ từ Thế Tôn rằng: 'Này Ānanda, khi Bồ-tát đã nhập vào thai mẹ, có bốn vị thiên tử đến từ bốn phương để hộ vệ, với ý nghĩ: 'Mong rằng không một người, phi nhân, hay bất cứ ai có thể làm hại Bồ-tát hoặc mẹ của Bồ-tát.' Bạch Thế Tôn, ... điều này con ghi nhận là một pháp kỳ diệu, hy hữu của Thế Tôn.
Sammukhā metaṁ, bhante, bhagavato sutaṁ, sammukhā paṭiggahitaṁ: ‘yadā, ānanda, bodhisatto mātukucchiṁ okkanto hoti, pakatiyā sīlavatī bodhisattamātā hoti viratā pāṇātipātā viratā adinnādānā viratā kāmesumicchācārā viratā musāvādā viratā surāmerayamajjapamādaṭṭhānā’ti. Yampi, bhante …pe… idampāhaṁ, bhante, bhagavato acchariyaṁ abbhutadhammaṁ dhāremi.
I have learned this in the presence of the Buddha: ‘When the being intent on awakening is conceived in his mother’s womb, she becomes naturally ethical. She refrains from killing living creatures, stealing, sexual misconduct, lying, and beer, wine, and liquor intoxicants.’ This too I remember as an incredible quality of the Buddha.
203. Bạch Thế Tôn, con đã tận tai nghe, tận mặt lãnh thọ từ Thế Tôn rằng: 'Này Ānanda, khi Bồ-tát đã nhập vào thai mẹ, mẹ của Bồ-tát tự nhiên là người có giới hạnh, từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói dối, từ bỏ dùng các loại rượu men, rượu nấu và các chất gây say, là những nguyên nhân của sự dễ duôi.' Bạch Thế Tôn, ... điều này con ghi nhận là một pháp kỳ diệu, hy hữu của Thế Tôn.
Sammukhā metaṁ, bhante, bhagavato sutaṁ, sammukhā paṭiggahitaṁ: ‘yadā, ānanda, bodhisatto mātukucchiṁ okkanto hoti, na bodhisattamātu purisesu mānasaṁ uppajjati kāmaguṇūpasaṁhitaṁ, anatikkamanīyā ca bodhisattamātā hoti kenaci purisena rattacittenā’ti. Yampi, bhante …pe… idampāhaṁ, bhante, bhagavato acchariyaṁ abbhutadhammaṁ dhāremi.
I have learned this in the presence of the Buddha: ‘When the being intent on awakening is conceived in his mother’s womb, she no longer thinks of men in a sexual way, and she cannot be violated by a man of lustful intent.’ This too I remember as an incredible quality of the Buddha.
“Bạch Thế Tôn, điều này con đã được nghe từ Thế Tôn, đã được thọ trì từ Thế Tôn: ‘Này Ānanda, khi vị Bồ-tát đã nhập vào mẫu thai, tâm ý liên quan đến dục lạc đối với người nam không khởi lên nơi thân mẫu của vị Bồ-tát, và thân mẫu của vị Bồ-tát không thể bị bất cứ người nam nào có tâm tham ái xâm phạm.’ Bạch Thế Tôn, ... con ghi nhớ điều này là pháp hy hữu, phi thường của Thế Tôn.
Sammukhā metaṁ, bhante, bhagavato sutaṁ, sammukhā paṭiggahitaṁ: ‘yadā, ānanda, bodhisatto mātukucchiṁ okkanto hoti, lābhinī bodhisattamātā hoti pañcannaṁ kāmaguṇānaṁ. Sā pañcahi kāmaguṇehi samappitā samaṅgībhūtā paricāretī’ti. Yampi, bhante …pe… idampāhaṁ, bhante, bhagavato acchariyaṁ abbhutadhammaṁ dhāremi.
I have learned this in the presence of the Buddha: ‘When the being intent on awakening is conceived in his mother’s womb, she obtains the five kinds of sensual stimulation and amuses herself, supplied and provided with them.’ This too I remember as an incredible quality of the Buddha.
“Bạch Thế Tôn, điều này con đã được nghe từ Thế Tôn, đã được thọ trì từ Thế Tôn: ‘Này Ānanda, khi vị Bồ-tát đã nhập vào mẫu thai, thân mẫu của vị Bồ-tát được thành tựu năm món dục lạc. Vị ấy được cung phụng, được đầy đủ, và tận hưởng năm món dục lạc ấy.’ Bạch Thế Tôn, ... con ghi nhớ điều này là pháp hy hữu, phi thường của Thế Tôn.
Sammukhā metaṁ, bhante, bhagavato sutaṁ, sammukhā paṭiggahitaṁ: ‘yadā, ānanda, bodhisatto mātukucchiṁ okkanto hoti, na bodhisattamātu kocideva ābādho uppajjati; sukhinī bodhisattamātā hoti akilantakāyā; bodhisattañca bodhisattamātā tirokucchigataṁ passati sabbaṅgapaccaṅgaṁ ahīnindriyaṁ. Seyyathāpi, ānanda, maṇi veḷuriyo subho jātimā aṭṭhaṁso suparikammakato. Tatrāssa suttaṁ āvutaṁ nīlaṁ vā pītaṁ vā lohitaṁ vā odātaṁ vā paṇḍusuttaṁ vā. Tamenaṁ cakkhumā puriso hatthe karitvā paccavekkheyya—ayaṁ kho maṇi veḷuriyo subho jātimā aṭṭhaṁso suparikammakato, tatridaṁ suttaṁ āvutaṁ nīlaṁ vā pītaṁ vā lohitaṁ vā odātaṁ vā paṇḍusuttaṁ vāti.
Evameva kho, ānanda, yadā bodhisatto mātukucchiṁ okkanto hoti, na bodhisattamātu kocideva ābādho uppajjati; sukhinī bodhisattamātā hoti akilantakāyā; bodhisattañca bodhisattamātā tirokucchigataṁ passati sabbaṅgapaccaṅgaṁ ahīnindriyan’ti. Yampi, bhante …pe… idampāhaṁ, bhante, bhagavato acchariyaṁ abbhutadhammaṁ dhāremi.
I have learned this in the presence of the Buddha: ‘When the being intent on awakening is conceived in his mother’s womb, no afflictions beset her. She’s happy and free of bodily fatigue. And she sees the being intent on awakening in her womb, whole in his major and minor limbs, not deficient in any faculty. Suppose there was a beryl gem that was naturally lustrous, eight-faceted, well-worked. And it was strung with a thread of blue, yellow, red, white, or golden brown. And a person with clear eyes were to take it in their hand and examine it: “This beryl gem is naturally lustrous, eight-faceted, well-worked. And it’s strung with a thread of blue, yellow, red, white, or golden brown.”
In the same way, when the being intent on awakening is conceived in his mother’s womb, no afflictions beset her. She’s happy and free of bodily fatigue. And she sees the being intent on awakening in her womb, whole in his major and minor limbs, not deficient in any faculty.’ This too I remember as an incredible quality of the Buddha.
204. “Bạch Thế Tôn, điều này con đã được nghe từ Thế Tôn, đã được thọ trì từ Thế Tôn: ‘Này Ānanda, khi vị Bồ-tát đã nhập vào mẫu thai, không có bệnh hoạn nào khởi lên nơi thân mẫu của vị Bồ-tát; thân mẫu của vị Bồ-tát được an lạc, thân thể không mệt mỏi; và thân mẫu của vị Bồ-tát nhìn thấy vị Bồ-tát ở trong bụng, với đầy đủ các chi phần lớn nhỏ, các căn không thiếu sót. Này Ānanda, ví như có viên ngọc lưu ly trong suốt, thuần chủng, tám cạnh, được gia công khéo léo. Trong đó có xâu một sợi chỉ màu xanh, hoặc vàng, hoặc đỏ, hoặc trắng, hoặc màu vàng nhạt. Một người có mắt sáng, cầm viên ngọc ấy trong tay, có thể quán xét rằng: ‘Đây là viên ngọc lưu ly trong suốt, thuần chủng, tám cạnh, được gia công khéo léo. Trong đó có xâu một sợi chỉ màu xanh, hoặc vàng, hoặc đỏ, hoặc trắng, hoặc màu vàng nhạt.’ Cũng vậy, này Ānanda, khi vị Bồ-tát đã nhập vào mẫu thai, không có bệnh hoạn nào khởi lên nơi thân mẫu của vị Bồ-tát; thân mẫu của vị Bồ-tát được an lạc, thân thể không mệt mỏi; và thân mẫu của vị Bồ-tát nhìn thấy vị Bồ-tát ở trong bụng, với đầy đủ các chi phần lớn nhỏ, các căn không thiếu sót.’ Bạch Thế Tôn, ... con ghi nhớ điều này là pháp hy hữu, phi thường của Thế Tôn.
Sammukhā metaṁ, bhante, bhagavato sutaṁ, sammukhā paṭiggahitaṁ: ‘sattāhajāte, ānanda, bodhisatte bodhisattamātā kālaṁ karoti, tusitaṁ kāyaṁ upapajjatī’ti. Yampi, bhante …pe… idampāhaṁ, bhante, bhagavato acchariyaṁ abbhutadhammaṁ dhāremi.
I have learned this in the presence of the Buddha: ‘Seven days after the being intent on awakening is born, his mother passes away and is reborn in the host of joyful gods.’ This too I remember as an incredible quality of the Buddha.
205. “Bạch Thế Tôn, điều này con đã được nghe từ Thế Tôn, đã được thọ trì từ Thế Tôn: ‘Này Ānanda, bảy ngày sau khi vị Bồ-tát đản sanh, thân mẫu của vị Bồ-tát mệnh chung và được sanh vào cõi trời Tusita.’ Bạch Thế Tôn, ... con ghi nhớ điều này là pháp hy hữu, phi thường của Thế Tôn.
Sammukhā metaṁ, bhante, bhagavato sutaṁ, sammukhā paṭiggahitaṁ: ‘yathā kho panānanda, aññā itthikā nava vā dasa vā māse gabbhaṁ kucchinā pariharitvā vijāyanti, na hevaṁ bodhisattaṁ bodhisattamātā vijāyati. Daseva māsāni bodhisattaṁ bodhisattamātā kucchinā pariharitvā vijāyatī’ti. Yampi, bhante …pe… idampāhaṁ, bhante, bhagavato acchariyaṁ abbhutadhammaṁ dhāremi.
I have learned this in the presence of the Buddha: ‘Other women carry the infant in the womb for nine or ten months before giving birth. Not so the mother of the being intent on awakening. She gives birth after exactly ten months.’ This too I remember as an incredible quality of the Buddha.
“Bạch Thế Tôn, điều này con đã được nghe từ Thế Tôn, đã được thọ trì từ Thế Tôn: ‘Này Ānanda, trong khi các người nữ khác mang thai trong bụng chín hoặc mười tháng rồi sanh con, thân mẫu của vị Bồ-tát không sanh vị Bồ-tát như vậy. Thân mẫu của vị Bồ-tát mang thai vị Bồ-tát trong bụng đúng mười tháng rồi mới sanh.’ Bạch Thế Tôn, ... con ghi nhớ điều này là pháp hy hữu, phi thường của Thế Tôn.
Sammukhā metaṁ, bhante, bhagavato sutaṁ, sammukhā paṭiggahitaṁ: ‘yathā kho panānanda, aññā itthikā nisinnā vā nipannā vā vijāyanti, na hevaṁ bodhisattaṁ bodhisattamātā vijāyati. Ṭhitāva bodhisattaṁ bodhisattamātā vijāyatī’ti. Yampi, bhante …pe… idampāhaṁ, bhante, bhagavato acchariyaṁ abbhutadhammaṁ dhāremi.
I have learned this in the presence of the Buddha: ‘Other women give birth while sitting or lying down. Not so the mother of the being intent on awakening. She only gives birth standing up.’ This too I remember as an incredible quality of the Buddha.
“Bạch Thế Tôn, điều này con đã được nghe từ Thế Tôn, đã được thọ trì từ Thế Tôn: ‘Này Ānanda, trong khi các người nữ khác sanh con trong tư thế ngồi hoặc nằm, thân mẫu của vị Bồ-tát không sanh vị Bồ-tát như vậy. Thân mẫu của vị Bồ-tát sanh vị Bồ-tát trong tư thế đứng.’ Bạch Thế Tôn, ... con ghi nhớ điều này là pháp hy hữu, phi thường của Thế Tôn.
Sammukhā metaṁ, bhante, bhagavato sutaṁ, sammukhā paṭiggahitaṁ: ‘yadā, ānanda, bodhisatto mātukucchimhā nikkhamati, devā naṁ paṭhamaṁ paṭiggaṇhanti pacchā manussā’ti. Yampi, bhante …pe… idampāhaṁ, bhante, bhagavato acchariyaṁ abbhutadhammaṁ dhāremi.
I have learned this in the presence of the Buddha: ‘When the being intent on awakening emerges from his mother’s womb, gods receive him first, then humans.’ This too I remember as an incredible quality of the Buddha.
“Bạch Thế Tôn, điều này con đã được nghe từ Thế Tôn, đã được thọ trì từ Thế Tôn: ‘Này Ānanda, khi vị Bồ-tát xuất ra từ mẫu thai, chư thiên tiếp nhận ngài trước, sau đó mới đến loài người.’ Bạch Thế Tôn, ... con ghi nhớ điều này là pháp hy hữu, phi thường của Thế Tôn.
Sammukhā metaṁ, bhante, bhagavato sutaṁ, sammukhā paṭiggahitaṁ: ‘yadā, ānanda, bodhisatto mātukucchimhā nikkhamati, appattova bodhisatto pathaviṁ hoti, cattāro naṁ devaputtā paṭiggahetvā mātu purato ṭhapenti—attamanā, devi, hohi; mahesakkho te putto uppanno’ti. Yampi, bhante …pe… idampāhaṁ, bhante, bhagavato acchariyaṁ abbhutadhammaṁ dhāremi.
I have learned this in the presence of the Buddha: ‘When the being intent on awakening emerges from his mother’s womb, before he reaches the ground, four godlings receive him and place him before his mother, saying: “Rejoice, O Queen! An illustrious son is born to you.”’ This too I remember as an incredible quality of the Buddha.
206. “Bạch Thế Tôn, điều này con đã được nghe từ Thế Tôn, đã được thọ trì từ Thế Tôn: ‘Này Ānanda, khi vị Bồ-tát xuất ra từ mẫu thai, vị Bồ-tát chưa chạm đến mặt đất thì bốn vị thiên tử đã tiếp nhận ngài và đặt trước mặt thân mẫu, nói rằng: ‘Thưa Hoàng hậu, xin hãy hoan hỷ! Một người con trai có đại oai lực đã được sanh ra cho ngài.’’ Bạch Thế Tôn, ... con ghi nhớ điều này là pháp hy hữu, phi thường của Thế Tôn.
Sammukhā metaṁ, bhante, bhagavato sutaṁ, sammukhā paṭiggahitaṁ: ‘yadā, ānanda, bodhisatto mātukucchimhā nikkhamati, visadova nikkhamati amakkhito udena amakkhito semhena amakkhito ruhirena amakkhito kenaci asucinā suddho visado. Seyyathāpi, ānanda, maṇiratanaṁ kāsike vatthe nikkhittaṁ neva maṇiratanaṁ kāsikaṁ vatthaṁ makkheti nāpi kāsikaṁ vatthaṁ maṇiratanaṁ makkheti. Taṁ kissa hetu? Ubhinnaṁ suddhattā.
Evameva kho, ānanda, yadā bodhisatto mātukucchimhā nikkhamati, visadova nikkhamati amakkhito udena amakkhito semhena amakkhito ruhirena amakkhito kenaci asucinā suddho visado’ti. Yampi, bhante …pe… idampāhaṁ, bhante, bhagavato acchariyaṁ abbhutadhammaṁ dhāremi.
I have learned this in the presence of the Buddha: ‘When the being intent on awakening emerges from his mother’s womb, he emerges already clean, unsoiled by waters, mucus, blood, or any other kind of impurity, pure and clean. Suppose a jewel-treasure was placed on a cloth from Kāsi. The jewel would not soil the cloth, nor would the cloth soil the jewel. Why is that? Because of the cleanliness of them both.
In the same way, when the being intent on awakening emerges from his mother’s womb, he emerges already clean, unsoiled by waters, mucus, blood, or any other kind of impurity, pure and clean.’ This too I remember as an incredible quality of the Buddha.
“Bạch Thế Tôn, điều này con đã được nghe từ Thế Tôn, đã được thọ trì từ Thế Tôn: ‘Này Ānanda, khi vị Bồ-tát xuất ra từ mẫu thai, ngài xuất ra hoàn toàn trong sạch, không bị dính nước nhớt, không bị dính đàm, không bị dính máu, không bị dính bất cứ chất bất tịnh nào, thanh tịnh, trong sạch. Này Ānanda, ví như một viên ngọc quý được đặt trên tấm vải Kāsī, viên ngọc không làm bẩn tấm vải Kāsī, và tấm vải Kāsī cũng không làm bẩn viên ngọc. Vì sao vậy? Vì cả hai đều thanh tịnh. Cũng vậy, này Ānanda, khi vị Bồ-tát xuất ra từ mẫu thai, ngài xuất ra hoàn toàn trong sạch, không bị dính nước nhớt, không bị dính đàm, không bị dính máu, không bị dính bất cứ chất bất tịnh nào, thanh tịnh, trong sạch.’ Bạch Thế Tôn, ... con ghi nhớ điều này là pháp hy hữu, phi thường của Thế Tôn.
Sammukhā metaṁ, bhante, bhagavato sutaṁ, sammukhā paṭiggahitaṁ: ‘yadā, ānanda, bodhisatto mātukucchimhā nikkhamati, dve udakassa dhārā antalikkhā pātubhavanti—ekā sītassa, ekā uṇhassa; yena bodhisattassa udakakiccaṁ karonti mātu cā’ti. Yampi, bhante …pe… idampāhaṁ, bhante, bhagavato acchariyaṁ abbhutadhammaṁ dhāremi.
I have learned this in the presence of the Buddha: ‘When the being intent on awakening emerges from his mother’s womb, two showers of water appear from the sky, one cool, one warm, for bathing the being intent on awakening and his mother.’ This too I remember as an incredible quality of the Buddha.
“Bạch Thế Tôn, điều này con đã được nghe từ kim ngôn của Thế Tôn, đã được thọ trì từ kim ngôn của Thế Tôn: ‘Này Ānanda, khi vị Bồ-tát từ lòng mẹ sanh ra, có hai dòng nước từ hư không hiện ra, một dòng nước lạnh và một dòng nước nóng, dùng để tắm cho vị Bồ-tát và cho mẫu hậu.’ Bạch Thế Tôn, ... con ghi nhớ điều này là pháp hy hữu, vị tằng hữu của Thế Tôn.
Sammukhā metaṁ, bhante, bhagavato sutaṁ, sammukhā paṭiggahitaṁ: ‘sampatijāto, ānanda, bodhisatto samehi pādehi pathaviyaṁ patiṭṭhahitvā uttarābhimukho sattapadavītihārena gacchati, setamhi chatte anudhāriyamāne, sabbā ca disā viloketi, āsabhiñca vācaṁ bhāsati—aggohamasmi lokassa, jeṭṭhohamasmi lokassa, seṭṭhohamasmi lokassa. Ayamantimā jāti, natthi dāni punabbhavo’ti. Yampi, bhante …pe… idampāhaṁ, bhante, bhagavato acchariyaṁ abbhutadhammaṁ dhāremi.
I have learned this in the presence of the Buddha: ‘As soon as he’s born, the being intent on awakening stands firm with his own feet on the ground. Facing north, he takes seven strides with a white parasol held above him, surveys all quarters, and makes this dramatic proclamation: “I am the foremost in the world! I am the eldest in the world! I am the first in the world! This is my last rebirth; now there’ll be no more future lives.”’ This too I remember as an incredible quality of the Buddha.
207. “Bạch Thế Tôn, điều này con đã được nghe từ kim ngôn của Thế Tôn, đã được thọ trì từ kim ngôn của Thế Tôn: ‘Này Ānanda, vị Bồ-tát vừa mới sanh ra, đứng vững trên mặt đất bằng hai chân, đi bảy bước về hướng bắc, dưới lọng trắng được che, nhìn khắp các phương, và thốt lên lời nói như con ngưu vương: ‘Ta là bậc tối thượng ở trên đời, Ta là bậc tối tôn ở trên đời, Ta là bậc tối thắng ở trên đời. Đây là lần sanh cuối cùng, nay không còn tái sanh nữa.’ Bạch Thế Tôn, ... con ghi nhớ điều này là pháp hy hữu, vị tằng hữu của Thế Tôn.
Sammukhā metaṁ, bhante, bhagavato sutaṁ, sammukhā paṭiggahitaṁ: ‘yadā, ānanda, bodhisatto mātukucchimhā nikkhamati, atha sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya appamāṇo uḷāro obhāso loke pātubhavati atikkammeva devānaṁ devānubhāvaṁ. Yāpi tā lokantarikā aghā asaṁvutā andhakārā andhakāratimisā yatthapime candimasūriyā evaṁmahiddhikā evaṁmahānubhāvā ābhāya nānubhonti tatthapi appamāṇo uḷāro obhāso loke pātubhavati atikkammeva devānaṁ devānubhāvaṁ. Yepi tattha sattā upapannā tepi tenobhāsena aññamaññaṁ sañjānanti—aññepi kira, bho, santi sattā idhūpapannāti. Ayañca dasasahassī lokadhātu saṅkampati sampakampati sampavedhati, appamāṇo ca uḷāro obhāso loke pātubhavati atikkammeva devānaṁ devānubhāvan’ti. Yampi, bhante …pe… idampāhaṁ, bhante, bhagavato acchariyaṁ abbhutadhammaṁ dhāremī”ti.
I have learned this in the presence of the Buddha: ‘When the being intent on awakening emerges from his mother’s womb, then—in this world with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, gods and humans—an immeasurable, magnificent light appears, surpassing the glory of the gods. Even in the boundless gloom of interstellar space—so utterly dark that even the luminosity of the moon and the sun, so mighty and powerful, makes no impression—an immeasurable, magnificent light appears, surpassing the glory of the gods. And the sentient beings reborn there recognize each other by that light: “So, it seems other sentient beings have been reborn here!” And this ten-thousandfold galaxy shakes and rocks and trembles. And an immeasurable, magnificent light appears in the world, surpassing the glory of the gods.’ This too I remember as an incredible and amazing quality of the Buddha.”
“Bạch Thế Tôn, điều này con đã được nghe từ kim ngôn của Thế Tôn, đã được thọ trì từ kim ngôn của Thế Tôn: ‘Này Ānanda, khi vị Bồ-tát từ lòng mẹ sanh ra, bấy giờ trong thế giới này cùng với chư thiên, ma vương, phạm thiên, trong chúng sanh cùng với sa-môn, bà-la-môn, chư thiên và loài người, một ánh sáng vô lượng, cao cả hiện ra trong thế gian, vượt hơn cả oai lực của chư thiên. Và những cõi trung gian giữa các thế giới, trống rỗng, không che đậy, tối tăm, mờ mịt, nơi mà mặt trăng và mặt trời với đại thần lực, đại oai đức như vậy cũng không thể chiếu sáng đến, ở nơi ấy cũng có ánh sáng vô lượng, cao cả hiện ra trong thế gian, vượt hơn cả oai lực của chư thiên. Và những chúng sanh nào sanh ở nơi ấy, nhờ ánh sáng ấy mà nhận ra nhau: ‘Này các bạn, quả thật có các chúng sanh khác cũng sanh ở đây.’ Và mười ngàn thế giới này rung động, chấn động, chuyển động mạnh. Và ánh sáng vô lượng, cao cả hiện ra trong thế gian, vượt hơn cả oai lực của chư thiên.’ Bạch Thế Tôn, ... con ghi nhớ điều này là pháp hy hữu, vị tằng hữu của Thế Tôn.”
“Tasmātiha tvaṁ, ānanda, idampi tathāgatassa acchariyaṁ abbhutadhammaṁ dhārehi. Idhānanda, tathāgatassa viditā vedanā uppajjanti, viditā upaṭṭhahanti, viditā abbhatthaṁ gacchanti; viditā saññā uppajjanti …pe… viditā vitakkā uppajjanti, viditā upaṭṭhahanti, viditā abbhatthaṁ gacchanti. Idampi kho tvaṁ, ānanda, tathāgatassa acchariyaṁ abbhutadhammaṁ dhārehī”ti.
“Yampi, bhante, bhagavato viditā vedanā uppajjanti, viditā upaṭṭhahanti, viditā abbhatthaṁ gacchanti; viditā saññā … viditā vitakkā uppajjanti, viditā upaṭṭhahanti, viditā abbhatthaṁ gacchanti. Idampāhaṁ, bhante, bhagavato acchariyaṁ abbhutadhammaṁ dhāremī”ti.
“Well then, Ānanda, you should also remember this as an incredible and amazing quality of the Realized One. It’s that the Realized One knows feelings as they arise, as they remain, and as they go away. He knows perceptions as they arise, as they remain, and as they go away. He knows thoughts as they arise, as they remain, and as they go away. This too you should remember as an incredible and amazing quality of the Realized One.”
“Sir, the Buddha knows feelings as they arise, as they remain, and as they go away. He knows perceptions as they arise, as they remain, and as they go away. He knows thoughts as they arise, as they remain, and as they go away. This too I remember as an incredible and amazing quality of the Buddha.”
208. “Này Ānanda, vì vậy, ở đây, ngươi hãy ghi nhớ điều này là pháp hy hữu, vị tằng hữu của Như Lai. Này Ānanda, ở đây, đối với Như Lai, các cảm thọ được biết rõ khi sanh khởi, được biết rõ khi tồn tại, được biết rõ khi đi đến hoại diệt; các tưởng được biết rõ khi sanh khởi, được biết rõ khi tồn tại, được biết rõ khi đi đến hoại diệt; các tầm được biết rõ khi sanh khởi, được biết rõ khi tồn tại, được biết rõ khi đi đến hoại diệt. Này Ānanda, ngươi hãy ghi nhớ điều này là pháp hy hữu, vị tằng hữu của Như Lai.” “Bạch Thế Tôn, việc Thế Tôn biết rõ các cảm thọ khi sanh khởi, biết rõ khi tồn tại, biết rõ khi đi đến hoại diệt; biết rõ các tưởng... biết rõ các tầm khi sanh khởi, biết rõ khi tồn tại, biết rõ khi đi đến hoại diệt, con cũng ghi nhớ điều này là pháp hy hữu, vị tằng hữu của Thế Tôn.”
Idamavoca āyasmā ānando. Samanuñño satthā ahosi; attamanā ca te bhikkhū āyasmato ānandassa bhāsitaṁ abhinandunti.
That is what Venerable Ānanda said, and the Teacher concurred. Satisfied, those mendicants approved what Venerable Ānanda said.
Tôn giả Ānanda đã nói như vậy. Bậc Đạo Sư đã hài lòng. Và các vị tỳ-khưu ấy hoan hỷ, tín thọ lời nói của Tôn giả Ānanda.
Acchariyaabbhutasuttaṁ niṭṭhitaṁ tatiyaṁ.
Kinh Hy Hữu Vị Tằng Hữu, bài kinh thứ ba, kết thúc.