- Majjhima Nikāya 121
Cūḷasuññatasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Cūḷasuññatasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi (Xá-vệ), tại Pubbārāma (Ðông Viên), lâu đài của Migaramatu (Lộc Mẫu). Rồi Tôn giả Ānanda, vào buổi chiều, từ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên, Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 2—Một thời, bạch Thế Tôn, Thế Tôn trú giữa các Sakka (Thích-ca). Nagaraka là tên một thị trấn của các Sakka. Tại đấy, bạch Thế Tôn, con được nghe trước mặt Thế Tôn, con được ghi nhớ trước mặt Thế Tôn như sau: “Này Ānanda, Ta nhờ an trú không, nên nay an trú rất nhiều”. Phải chăng, bạch Thế Tôn, điều con đã nghe là nghe đúng, ghi nhớ đúng, tác ý đúng, thọ trì đúng?
SC 3—Thật vậy, này Ānanda, điều Ông đã nghe là nghe đúng, ghi nhớ đúng, tác ý đúng, thọ trì đúng. Thuở xưa và nay, này Ānanda, Ta nhờ an trú không, nên nay an trú rất nhiều.
SC 4Ví như lâu đài Lộc Mẫu này không có voi, bò, ngựa, ngựa cái, không có vàng và bạc, không có đàn bà, đàn ông tụ hội, và chỉ có một cái không phải không, tức là sự nhất trí (ekattam) do duyên chúng Tỷ-kheo; cũng vậy, này Ānanda, Tỷ-kheo không tác ý thôn tưởng, không tác ý nhơn tưởng, chỉ tác ý sự nhất trí, do duyên lâm tưởng. Tâm của vị ấy được thích thú hân hoan, an trú, hướng đến lâm tưởng. Vị ấy tuệ tri như sau: “Các ưu phiền do duyên thôn tưởng không có mặt ở đây; các ưu phiền do duyên nhân tưởng không có mặt ở đây. Và chỉ có một ưu phiền này, tức là sự nhất trí do duyên lâm tưởng”. Vị ấy tuệ tri: “Loại tưởng này không có thôn tưởng”. Vị ấy tuệ tri: “Loại tưởng này không có nhân tưởng”. Và chỉ có một cái này không phải không, tức là sự nhất trí (ekattam) do duyên lâm tưởng”. Và cái gì không có mặt ở đây, vị ấy xem cái ấy là không có. Nhưng đối với cái còn lại, ở đây, vị ấy tuệ tri: “Cái kia có, cái này có”. Như vậy, này Ānanda, cái này đối với vị ấy là như vậy, thật có, không điên đảo, sự thực hiện hoàn toàn thanh tịnh, không tánh.
SC 5Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không tác ý nhân tưởng, không tác ý lâm tưởng, chỉ tác ý sự nhất trí do duyên địa tưởng. Tâm vị ấy được thích thú, hân hoan, an trú, hướng đến địa tưởng. Ví như, này Ānanda, tấm da con bò đực được căng thẳng trên một trăm cọc gỗ, đặc tánh tấm da được đoạn trừ (vigatavasika); cũng vậy, này Ānanda, Tỷ-kheo, không tác ý đối với tất cả vật gì trên đất này: đất khô và vùng lầy, sông và vùng lầy, các cây có thân và có gai, núi và đất bằng, vị ấy tác ý sự nhất trí do duyên địa tưởng. Tâm vị ấy được thích thú, hân hoan, an trú, hướng đến địa tưởng. Vị ấy tuệ tri như sau: “Các ưu phiền do duyên nhân tưởng không có mặt ở đây; các ưu phiền do duyên lâm tưởng không có mặt ở đây. Và chỉ có một ưu phiền này, sự nhất trí do duyên địa tưởng”. Vị ấy tuệ tri: “Loại tưởng này không có nhơn tưởng”. Vị ấy tuệ tri: “Loại tưởng này không có lâm tưởng, và chỉ có một cái này không phải không, tức là sự nhất trí do duyên địa tưởng”. Và cái gì không có mặt ở đây, vị ấy xem cái ấy là không có. Nhưng đối với cái còn lại, ở đây vị ấy tuệ tri: “Cái kia có, cái này có”. Này Ānanda, cái này đối với vị ấy là như vậy, thật có, không điên đảo, sự thực hiện hoàn toàn thanh tịnh, không tánh.
SC 6Lại nữa, này Ānanda, Tỷ-kheo không tác ý lâm tưởng, không tác ý địa tưởng, tác ý sự nhất trí do duyên Không vô biên xứ. Tâm vị ấy được thích thú, hân hoan, an trú, hướng đến Không vô biên xứ. Vị ấy tuệ tri như sau: “Các ưu phiền, do duyên lâm tưởng không có mặt ở đây; các ưu phiền do duyên địa tưởng không có mặt ở đây. Và chỉ có một ưu phiền này, tức là sự nhất trí do duyên Không vô biên xứ tưởng”. Vị ấy tuệ tri: “Loại tưởng này không có lâm tưởng”. Vị ấy tuệ tri: “Loại tưởng này không có địa tưởng, và chỉ có một cái này không phải không, tức là sự nhất trí do duyên Không vô biên xứ tưởng”. Và cái gì không có mặt ở đây, vị ấy xem cái ấy là không có. Nhưng đối với cái còn lại, ở đây vị ấy biết: “Cái kia có, cái này có”. Này Ānanda, cái này đối với vị ấy là như vậy, thật có, không điên đảo, sự thực hiện hoàn toàn thanh tịnh, không tánh.
SC 7Lại nữa, này Ānanda, Tỷ-kheo không tác ý địa tưởng, không tác ý Không vô biên xứ tưởng, chỉ tác ý sự nhất trí do duyên Thức vô biên xứ. Tâm vị ấy được thích thú, hân hoan, an trú, hướng đến Thức vô biên xứ. Vị ấy tuệ tri như sau: “Các ưu phiền do duyên địa tưởng không có mặt ở đây; các ưu phiền do duyên Không vô biên xứ tưởng không có mặt ở đây. Và chỉ có một ưu phiền này, tức là sự nhất trí do duyên Thức vô biên xứ tưởng”. Vị ấy tuệ tri: “Loại tưởng này không có địa tưởng”. Vị ấy tuệ tri: “Loại tưởng này không có Không vô biên xứ tưởng, và chỉ có một cái này không phải không, tức là sự nhất trí do duyên Thức vô biên xứ tưởng”. Và cái gì không có mặt ở đây, vị ấy xem cái ấy là không có. Nhưng đối với cái còn lại, ở đây vị ấy tuệ tri: “Cái kia có, cái này có”. Này Ānanda, cái này đối với vị ấy là như vậy, thật có, không điên đảo, sự thực hiện hoàn toàn thanh tịnh, không tánh.
SC 8Lại nữa, này Ānanda, Tỷ-kheo không tác ý Không vô biên xứ tưởng, không tác ý Thức vô biên xứ tưởng, chỉ tác ý sự nhất trí do duyên Vô sở hữu xứ tưởng. Tâm vị ấy được thích thú, hân hoan, an trú, hướng đến Vô sở hữu xứ. Vị ấy tuệ tri như sau: “Các ưu phiền do duyên Không vô biên xứ tưởng không có mặt ở đây; các ưu phiền do duyên Thức vô biên xứ tưởng không có mặt ở đây. Và chỉ có một ưu phiền này, tức là sự nhất trí do duyên Vô sở hữu xứ tưởng”. Vị ấy tuệ tri: “Loại tưởng này không có Không vô biên xứ tưởng”. Vị ấy tuệ tri: “Loại tưởng này không có Thức vô biên xứ tưởng, và chỉ có một cái này không phải không, tức là sự nhất trí do duyên Vô sở hữu xứ tưởng”. Và cái gì không có mặt ở đây, vị ấy xem cái ấy là không có. Nhưng đối với cái còn lại, ở đây, vị ấy tuệ tri: “Cái kia có, cái này có”. Này Ānanda, cái này đối với vị ấy là như vậy, thật có, không điên đảo, sự thực hiện hoàn toàn thanh tịnh, không tánh.
SC 9Lại nữa, này Ānanda, Tỷ-kheo không tác ý Thức vô biên xứ tưởng, không tác ý Vô sở hữu xứ tưởng, chỉ tác ý sự nhất trí do duyên Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng. Tâm vị ấy được thích thú, hân hoan, an trú, hướng đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Vị ấy biết như sau: “Các ưu phiền do duyên Thức vô biên xứ tưởng không có mặt ở đây; các ưu phiền do duyên Vô sở hữu xứ tưởng không có mặt ở đây. Và chỉ có một ưu phiền này, tức là sự nhất trí do duyên Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng. Vị ấy tuệ tri: “Loại tưởng này không có Thức vô biên xứ tưởng”. Vị ấy tuệ tri: “Loại tưởng này không có Vô sở hữu xứ tưởng, và chỉ có một cái này không phải không, tức là sự nhất trí do duyên Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng. Và cái gì không có mặt ở đây, vị ấy xem cái ấy là không có. Nhưng đối với cái còn lại, ở đây, vị ấy tuệ tri: “Cái kia có, cái này có”. Này Ānanda, cái này đối với vị ấy là như vậy, thật có, không điên đảo, sự thực hiện hoàn toàn thanh tịnh, không tánh.
SC 10Lại nữa, này Ānanda, Tỷ-kheo không tác ý Vô sở hữu xứ tưởng, không có tác ý Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng, tác ý sự nhất trí do duyên Vô tướng tâm định. Tâm vị ấy được thích thú, hân hoan, an trú, hướng đến Vô tướng tâm định. Vị ấy tuệ tri như sau: “Các ưu phiền do duyên Vô sở hữu xứ tưởng không có mặt ở đây; các ưu phiền do duyên Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng không có mặt ở đây. Và chỉ có một ưu phiền này, tức là sáu nhập duyên mạng, duyên với thân này”. Vị ấy tuệ tri: “Loại tưởng này không có Vô sở hữu xứ tưởng”. Vị ấy tuệ tri: “Loại tưởng này không có Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng. Và chỉ có một cái này không phải không, tức là sáu nhập duyên mạng, duyên với thân này”. Và cái gì không có mặt ở đây, vị ấy xem cái ấy là không có. Nhưng đối với cái còn lại, ở đây vị ấy tuệ tri: “Cái kia có, cái này có”. Này Ānanda, cái này đối với vị ấy là như vậy, thật có, không điên đảo, sự thực hiện hoàn toàn thanh tịnh, không tánh.
SC 11Lại nữa, này Ānanda, vị Tỷ-kheo không tác ý Vô sở hữu xứ tưởng, không tác ý Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng, tác ý sự nhứt trí do duyên Vô tướng tâm định. Tâm vị ấy được thích thú, hân hoan, an trú, hướng đến Vô tướng tâm định. Vị ấy tuệ tri như sau: “Vô tướng tâm định này thuộc hữu vi, do tâm tư tạo nên. Phàm cái gì thuộc hữu vi, do tâm tư tạo nên, cái ấy là vô thường, chịu sự đoạn diệt”, vị ấy tuệ tri như vậy. Do vị ấy tuệ tri như vậy, thấy như vậy, tâm được giải thoát khỏi dục lậu, tâm được giải thoát khỏi hữu lậu, tâm được giải thoát khỏi vô minh lậu. Trong sự giải thoát, là sự hiểu biết (nana) rằng đã được giải thoát. Vị ấy tuệ tri: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn phải trở lại trạng thái này nữa”. Vị ấy tuệ tri: “Các ưu phiền do duyên dục lậu không có mặt ở đây; các ưu phiền do duyên hữu lậu không có mặt có ở đây; các ưu phiền do duyên vô minh lậu không có mặt ở đây. Và chỉ ở một ưu phiền này, tức là sáu nhập duyên mạng, duyên với thân này”. Vị ấy tuệ tri: “Loại tưởng này không có dục lậu”. Vị ấy tuệ tri: “Loại tưởng này không có hữu lậu”. Vị ấy tuệ tri: “Loại tưởng này không có vô minh lậu. Và chỉ có một cái này không phải không, tức là sáu nhập duyên mạng, duyên với thân này”. Và cái gì không có mặt ở đây, vị ấy xem cái ấy là không có. Nhưng đối với cái còn lại, ở đây vị ấy biết: “Cái kia có, cái này có”. Này Ānanda, cái này đối với vị ấy là như vậy, thật có, không điên đảo, sự thực hiện hoàn toàn thanh tịnh, Không tánh.
SC 12Này Ānanda, phàm có những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong quá khứ sau khi chứng đạt, đã an trú cứu cánh vô thượng thanh tịnh Không tánh (Sunnatam), tất cả các vị ấy sau khi chứng đạt đều chỉ an trú cứu cánh vô thượng thanh tịnh Không tánh này. Này Ānanda, phàm có những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong tương lai, sau khi chứng đạt sẽ an trú cứu cánh vô thượng thanh tịnh Không tánh, tất cả các vị ấy sau khi chứng đạt đều sẽ an trú cứu cánh vô thượng thanh tịnh Không tánh này. Này Ānanda, phàm có những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong hiện tại, sau khi chứng đạt và an trú cứu cánh vô thượng thanh tịnh Không tánh, tất cả các vị ấy sau khi chứng đạt nếu an trú cứu cánh vô thượng thanh tịnh Không tánh này. Do vậy, này Ānanda, sau khi chứng đạt Ta sẽ an trú cứu cánh vô thượng thanh tịnh Không tánh. Như vậy, này Ānanda, các Ông cần phải học tập.
SC 13Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ānanda hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). 14-07-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
1. Tiểu Kinh Không Tánh
Atha kho āyasmā ānando sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“Ekamidaṁ, bhante, samayaṁ bhagavā sakkesu viharati nagarakaṁ nāma sakyānaṁ nigamo. Tattha me, bhante, bhagavato sammukhā sutaṁ, sammukhā paṭiggahitaṁ: ‘suññatāvihārenāhaṁ, ānanda, etarahi bahulaṁ viharāmī’ti. Kacci metaṁ, bhante, sussutaṁ suggahitaṁ sumanasikataṁ sūpadhāritan”ti?
“Taggha te etaṁ, ānanda, sussutaṁ suggahitaṁ sumanasikataṁ sūpadhāritaṁ. Pubbepāhaṁ, ānanda, etarahipi suññatāvihārena bahulaṁ viharāmi.
Seyyathāpi, ānanda, ayaṁ migāramātupāsādo suñño hatthigavassavaḷavena, suñño jātarūparajatena, suñño itthipurisasannipātena atthi cevidaṁ asuññataṁ yadidaṁ—bhikkhusaṅghaṁ paṭicca ekattaṁ; evameva kho, ānanda, bhikkhu amanasikaritvā gāmasaññaṁ, amanasikaritvā manussasaññaṁ, araññasaññaṁ paṭicca manasi karoti ekattaṁ. Tassa araññasaññāya cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati adhimuccati. So evaṁ pajānāti: ‘ye assu darathā gāmasaññaṁ paṭicca tedha na santi, ye assu darathā manussasaññaṁ paṭicca tedha na santi, atthi cevāyaṁ darathamattā yadidaṁ—araññasaññaṁ paṭicca ekattan’ti. So ‘suññamidaṁ saññāgataṁ gāmasaññāyā’ti pajānāti, ‘suññamidaṁ saññāgataṁ manussasaññāyā’ti pajānāti, ‘atthi cevidaṁ asuññataṁ yadidaṁ—araññasaññaṁ paṭicca ekattan’ti. Iti yañhi kho tattha na hoti tena taṁ suññaṁ samanupassati, yaṁ pana tattha avasiṭṭhaṁ hoti taṁ ‘santamidaṁ atthī’ti pajānāti. Evampissa esā, ānanda, yathābhuccā avipallatthā parisuddhā suññatāvakkanti bhavati.
Then in the late afternoon, Venerable Ānanda came out of retreat and went to the Buddha. He bowed, sat down to one side, and said to him:
“Sir, this one time the Buddha was staying in the land of the Sakyans where they have a town named Townsville. There I heard and learned this in the presence of the Buddha: ‘Ānanda, these days I usually practice the meditation on emptiness.’ I trust I properly heard, learned, applied the mind, and remembered that from the Buddha?”
“Indeed, Ānanda, you properly heard, learned, applied the mind, and remembered that. Now, as before, I usually practice the meditation on emptiness.
Consider this stilt longhouse of Migāra’s mother. It’s empty of elephants, cows, horses, and mares; of gold and silver; and of gatherings of men and women. There is only this that is not emptiness, namely, the oneness dependent on the mendicant Saṅgha. In the same way, a mendicant—ignoring the perception of the village and the perception of people—focuses on the oneness dependent on the perception of wilderness. Their mind leaps forth, gains confidence, settles down, and becomes decided in that perception of wilderness. They understand: ‘Here there is no stress due to the perception of village or the perception of people. There is only this modicum of stress, namely the oneness dependent on the perception of wilderness.’ They understand: ‘This field of perception is empty of the perception of the village. It is empty of the perception of people. There is only this that is not emptiness, namely the oneness dependent on the perception of wilderness.’ And so they regard it as empty of what is not there, but as to what remains they understand that it is present. That’s how emptiness manifests in them—genuine, undistorted, and pure.
176. Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Pubbārāma, giảng đường của Migāramātā. Lúc bấy giờ, vào buổi chiều, Tôn giả Ānanda từ chỗ độc cư đứng dậy, đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn: 'Bạch Thế Tôn, có một thời Thế Tôn trú ở giữa dân Sakka, tại một thị trấn của dòng họ Sakka tên là Nagarakā. Tại đấy, bạch Thế Tôn, con đã được nghe từ chính kim khẩu của Thế Tôn, đã được tiếp nhận từ chính kim khẩu của Ngài: 'Này Ānanda, hiện nay Ta thường trú với không trú.' Bạch Thế Tôn, có phải con đã nghe đúng, đã tiếp nhận đúng, đã tác ý đúng, đã ghi nhớ đúng không ạ?' 'Chắc chắn rồi, này Ānanda, ngươi đã nghe đúng, đã tiếp nhận đúng, đã tác ý đúng, đã ghi nhớ đúng. Xưa cũng như nay, này Ānanda, Ta thường trú với không trú. Ví như, này Ānanda, giảng đường của Migāramātā này trống không voi, bò, ngựa, ngựa cái; trống không vàng và bạc; trống không sự tụ hội của đàn ông và đàn bà; và chỉ có cái không trống không này, tức là sự hợp nhất duyên vào Tăng chúng. Cũng vậy, này Ānanda, vị tỳ khưu không tác ý đến tưởng về làng, không tác ý đến tưởng về người, tác ý đến sự hợp nhất duyên vào tưởng về rừng. Tâm của vị ấy hướng vào, tịnh tín, an trú, và chuyên nhất vào tưởng về rừng. Vị ấy biết như sau: ‘Những phiền não nào có thể khởi lên do duyên tưởng về làng, những phiền não ấy không có ở đây. Những phiền não nào có thể khởi lên do duyên tưởng về người, những phiền não ấy không có ở đây. Chỉ có một lượng phiền não này, tức là sự hợp nhất duyên vào tưởng về rừng.’ Vị ấy biết: ‘Tưởng này trống không tưởng về làng.’ Vị ấy biết: ‘Tưởng này trống không tưởng về người.’ Vị ấy biết: ‘Và chỉ có cái không trống không này, tức là sự hợp nhất duyên vào tưởng về rừng.’ Như vậy, đối với những gì không có ở đó, vị ấy thấy nó là trống không. Còn đối với những gì còn lại ở đó, vị ấy biết: ‘Cái này, đang hiện hữu, có ở đây.’ Như vậy, này Ānanda, đối với vị ấy, sự nhập vào tánh không này trở thành chân thật, không sai lệch, và hoàn toàn trong sạch.
Puna caparaṁ, ānanda, bhikkhu amanasikaritvā manussasaññaṁ, amanasikaritvā araññasaññaṁ, pathavīsaññaṁ paṭicca manasi karoti ekattaṁ. Tassa pathavīsaññāya cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati adhimuccati. Seyyathāpi, ānanda, āsabhacammaṁ saṅkusatena suvihataṁ vigatavalikaṁ; evameva kho, ānanda, bhikkhu yaṁ imissā pathaviyā ukkūlavikkūlaṁ nadīviduggaṁ khāṇukaṇṭakaṭṭhānaṁ pabbatavisamaṁ taṁ sabbaṁ amanasikaritvā pathavīsaññaṁ paṭicca manasi karoti ekattaṁ. Tassa pathavīsaññāya cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati adhimuccati. So evaṁ pajānāti: ‘ye assu darathā manussasaññaṁ paṭicca tedha na santi, ye assu darathā araññasaññaṁ paṭicca tedha na santi, atthi cevāyaṁ darathamattā yadidaṁ—pathavīsaññaṁ paṭicca ekattan’ti. So ‘suññamidaṁ saññāgataṁ manussasaññāyā’ti pajānāti, ‘suññamidaṁ saññāgataṁ araññasaññāyā’ti pajānāti, ‘atthi cevidaṁ asuññataṁ yadidaṁ—pathavīsaññaṁ paṭicca ekattan’ti. Iti yañhi kho tattha na hoti tena taṁ suññaṁ samanupassati, yaṁ pana tattha avasiṭṭhaṁ hoti taṁ ‘santamidaṁ atthī’ti pajānāti. Evampissa esā, ānanda, yathābhuccā avipallatthā parisuddhā suññatāvakkanti bhavati.
Furthermore, a mendicant—ignoring the perception of people and the perception of wilderness—focuses on the oneness dependent on the perception of earth. Their mind leaps forth, gains confidence, settles down, and becomes decided in that perception of earth. As a bull’s hide is rid of folds when fully stretched out by a hundred pegs, so too, ignoring the hilly terrain, inaccessible riverlands, stumps and thorns, and rugged mountains, they focus on the oneness dependent on the perception of earth. Their mind leaps forth, gains confidence, settles down, and becomes decided in that perception of earth. They understand: ‘Here there is no stress due to the perception of people or the perception of wilderness. There is only this modicum of stress, namely the oneness dependent on the perception of earth.’ They understand: ‘This field of perception is empty of the perception of people. It is empty of the perception of wilderness. There is only this that is not emptiness, namely the oneness dependent on the perception of earth.’ And so they regard it as empty of what is not there, but as to what remains they understand that it is present. That’s how emptiness manifests in them—genuine, undistorted, and pure.
177. Lại nữa, này Ānanda, vị tỳ khưu không tác ý đến tưởng về người, không tác ý đến tưởng về rừng, tác ý đến sự hợp nhất duyên vào tưởng về đất. Tâm của vị ấy hướng vào, tịnh tín, an trú, và chuyên nhất vào tưởng về đất. Ví như, này Ānanda, một tấm da bò đực được căng thẳng bởi một trăm cái cọc, không còn nếp nhăn; cũng vậy, này Ānanda, vị tỳ khưu không tác ý đến tất cả những gì trên mặt đất này như chỗ cao, chỗ thấp, sông ngòi hiểm trở, nơi có gốc cây và gai góc, núi non không bằng phẳng, mà tác ý đến sự hợp nhất duyên vào tưởng về đất. Tâm của vị ấy hướng vào, tịnh tín, an trú, và chuyên nhất vào tưởng về đất. Vị ấy biết như sau: ‘Những phiền não nào có thể khởi lên do duyên tưởng về người, những phiền não ấy không có ở đây. Những phiền não nào có thể khởi lên do duyên tưởng về rừng, những phiền não ấy không có ở đây. Chỉ có một lượng phiền não này, tức là sự hợp nhất duyên vào tưởng về đất.’ Vị ấy biết: ‘Tưởng này trống không tưởng về người.’ Vị ấy biết: ‘Tưởng này trống không tưởng về rừng.’ Vị ấy biết: ‘Và chỉ có cái không trống không này, tức là sự hợp nhất duyên vào tưởng về đất.’ Như vậy, đối với những gì không có ở đó, vị ấy thấy nó là trống không. Còn đối với những gì còn lại ở đó, vị ấy biết: ‘Cái này, đang hiện hữu, có ở đây.’ Như vậy, này Ānanda, đối với vị ấy, sự nhập vào tánh không này trở thành chân thật, không sai lệch, và hoàn toàn trong sạch.
Puna caparaṁ, ānanda, bhikkhu amanasikaritvā araññasaññaṁ, amanasikaritvā pathavīsaññaṁ, ākāsānañcāyatanasaññaṁ paṭicca manasi karoti ekattaṁ. Tassa ākāsānañcāyatanasaññāya cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati adhimuccati. So evaṁ pajānāti: ‘ye assu darathā araññasaññaṁ paṭicca tedha na santi, ye assu darathā pathavīsaññaṁ paṭicca tedha na santi, atthi cevāyaṁ darathamattā yadidaṁ—ākāsānañcāyatanasaññaṁ paṭicca ekattan’ti. So ‘suññamidaṁ saññāgataṁ araññasaññāyā’ti pajānāti, ‘suññamidaṁ saññāgataṁ pathavīsaññāyā’ti pajānāti, ‘atthi cevidaṁ asuññataṁ yadidaṁ—ākāsānañcāyatanasaññaṁ paṭicca ekattan’ti. Iti yañhi kho tattha na hoti tena taṁ suññaṁ samanupassati, yaṁ pana tattha avasiṭṭhaṁ hoti taṁ ‘santamidaṁ atthī’ti pajānāti. Evampissa esā, ānanda, yathābhuccā avipallatthā parisuddhā suññatāvakkanti bhavati.
Furthermore, a mendicant—ignoring the perception of wilderness and the perception of earth—focuses on the oneness dependent on the perception of the dimension of infinite space. Their mind leaps forth, gains confidence, settles down, and becomes decided in that perception of the dimension of infinite space. They understand: ‘Here there is no stress due to the perception of wilderness or the perception of earth. There is only this modicum of stress, namely the oneness dependent on the perception of the dimension of infinite space.’ They understand: ‘This field of perception is empty of the perception of wilderness. It is empty of the perception of earth. There is only this that is not emptiness, namely the oneness dependent on the perception of the dimension of infinite space.’ And so they regard it as empty of what is not there, but as to what remains they understand that it is present. That’s how emptiness manifests in them—genuine, undistorted, and pure.
178. Lại nữa, này Ānanda, vị tỳ khưu không tác ý đến tưởng về rừng, không tác ý đến tưởng về đất, tác ý đến sự hợp nhất duyên vào tưởng Không Vô Biên Xứ. Tâm của vị ấy hướng vào, tịnh tín, an trú, và chuyên nhất vào tưởng Không Vô Biên Xứ. Vị ấy biết như sau: ‘Những phiền não nào có thể khởi lên do duyên tưởng về rừng, những phiền não ấy không có ở đây. Những phiền não nào có thể khởi lên do duyên tưởng về đất, những phiền não ấy không có ở đây. Chỉ có một lượng phiền não này, tức là sự hợp nhất duyên vào tưởng Không Vô Biên Xứ.’ Vị ấy biết: ‘Tưởng này trống không tưởng về rừng.’ Vị ấy biết: ‘Tưởng này trống không tưởng về đất.’ Vị ấy biết: ‘Và chỉ có cái không trống không này, tức là sự hợp nhất duyên vào tưởng Không Vô Biên Xứ.’ Như vậy, đối với những gì không có ở đó, vị ấy thấy nó là trống không. Còn đối với những gì còn lại ở đó, vị ấy biết: ‘Cái này, đang hiện hữu, có ở đây.’ Như vậy, này Ānanda, đối với vị ấy, sự nhập vào tánh không này trở thành chân thật, không sai lệch, và hoàn toàn trong sạch.
Puna caparaṁ, ānanda, bhikkhu amanasikaritvā pathavīsaññaṁ, amanasikaritvā ākāsānañcāyatanasaññaṁ, viññāṇañcāyatanasaññaṁ paṭicca manasi karoti ekattaṁ. Tassa viññāṇañcāyatanasaññāya cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati adhimuccati. So evaṁ pajānāti: ‘ye assu darathā pathavīsaññaṁ paṭicca tedha na santi, ye assu darathā ākāsānañcāyatanasaññaṁ paṭicca tedha na santi, atthi cevāyaṁ darathamattā yadidaṁ—viññāṇañcāyatanasaññaṁ paṭicca ekattan’ti. So ‘suññamidaṁ saññāgataṁ pathavīsaññāyā’ti pajānāti, ‘suññamidaṁ saññāgataṁ ākāsānañcāyatanasaññāyā’ti pajānāti, ‘atthi cevidaṁ asuññataṁ yadidaṁ—viññāṇañcāyatanasaññaṁ paṭicca ekattan’ti. Iti yañhi kho tattha na hoti tena taṁ suññaṁ samanupassati, yaṁ pana tattha avasiṭṭhaṁ hoti taṁ ‘santamidaṁ atthī’ti pajānāti. Evampissa esā, ānanda, yathābhuccā avipallatthā parisuddhā suññatāvakkanti bhavati.
Furthermore, a mendicant—ignoring the perception of earth and the perception of the dimension of infinite space—focuses on the oneness dependent on the perception of the dimension of infinite consciousness. Their mind leaps forth, gains confidence, settles down, and becomes decided in that perception of the dimension of infinite consciousness. They understand: ‘Here there is no stress due to the perception of earth or the perception of the dimension of infinite space. There is only this modicum of stress, namely the oneness dependent on the perception of the dimension of infinite consciousness.’ They understand: ‘This field of perception is empty of the perception of earth. It is empty of the perception of the dimension of infinite space. There is only this modicum of stress, namely the oneness dependent on the perception of the dimension of infinite consciousness.’ And so they regard it as empty of what is not there, but as to what remains they understand that it is present. That’s how emptiness manifests in them—genuine, undistorted, and pure.
179. Này Ānanda, lại nữa, vị tỳ khưu không tác ý đến địa tưởng, không tác ý đến Không Vô Biên Xứ tưởng, vị ấy tác ý đến sự nhất thể do duyên Thức Vô Biên Xứ tưởng. Tâm của vị ấy nhảy vào, lắng yên, an trú, và hướng đến Thức Vô Biên Xứ tưởng. Vị ấy tuệ tri như vầy: ‘Những phiền não nào có thể khởi lên do duyên địa tưởng, chúng không có ở đây. Những phiền não nào có thể khởi lên do duyên Không Vô Biên Xứ tưởng, chúng không có ở đây. Chỉ có một lượng phiền não này, tức là sự nhất thể do duyên Thức Vô Biên Xứ tưởng.’ Vị ấy tuệ tri: ‘Trạng thái tưởng này là không với địa tưởng.’ Vị ấy tuệ tri: ‘Trạng thái tưởng này là không với Không Vô Biên Xứ tưởng.’ Vị ấy tuệ tri: ‘Và có sự không-không này, tức là sự nhất thể do duyên Thức Vô Biên Xứ tưởng.’ Như vậy, vị ấy quán xét điều không có ở đó là không, và đối với điều còn lại ở đó, vị ấy tuệ tri: ‘Cái này đang hiện hữu, nó có mặt.’ Này Ānanda, như vậy đối với vị ấy, sự nhập vào tánh không này trở thành chân thật, không sai lệch, và hoàn toàn trong sạch.
Puna caparaṁ, ānanda, bhikkhu amanasikaritvā ākāsānañcāyatanasaññaṁ, amanasikaritvā viññāṇañcāyatanasaññaṁ, ākiñcaññāyatanasaññaṁ paṭicca manasi karoti ekattaṁ. Tassa ākiñcaññāyatanasaññāya cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati adhimuccati. So evaṁ pajānāti: ‘ye assu darathā ākāsānañcāyatanasaññaṁ paṭicca tedha na santi, ye assu darathā viññāṇañcāyatanasaññaṁ paṭicca tedha na santi, atthi cevāyaṁ darathamattā yadidaṁ—ākiñcaññāyatanasaññaṁ paṭicca ekattan’ti. So ‘suññamidaṁ saññāgataṁ ākāsānañcāyatanasaññāyā’ti pajānāti, ‘suññamidaṁ saññāgataṁ viññāṇañcāyatanasaññāyā’ti pajānāti, ‘atthi cevidaṁ asuññataṁ yadidaṁ—ākiñcaññāyatanasaññaṁ paṭicca ekattan’ti. Iti yañhi kho tattha na hoti tena taṁ suññaṁ samanupassati, yaṁ pana tattha avasiṭṭhaṁ hoti taṁ ‘santamidaṁ atthī’ti pajānāti. Evampissa esā, ānanda, yathābhuccā avipallatthā parisuddhā suññatāvakkanti bhavati.
Furthermore, a mendicant—ignoring the perception of the dimension of infinite space and the perception of the dimension of infinite consciousness—focuses on the oneness dependent on the perception of the dimension of nothingness. Their mind leaps forth, gains confidence, settles down, and becomes decided in that perception of the dimension of nothingness. They understand: ‘Here there is no stress due to the perception of the dimension of infinite space or the perception of the dimension of infinite consciousness. There is only this modicum of stress, namely the oneness dependent on the perception of the dimension of nothingness.’ They understand: ‘This field of perception is empty of the perception of the dimension of infinite space. It is empty of the perception of the dimension of infinite consciousness. There is only this that is not emptiness, namely the oneness dependent on the perception of the dimension of nothingness.’ And so they regard it as empty of what is not there, but as to what remains they understand that it is present. That’s how emptiness manifests in them—genuine, undistorted, and pure.
180. Này Ānanda, lại nữa, vị tỳ khưu không tác ý đến Không Vô Biên Xứ tưởng, không tác ý đến Thức Vô Biên Xứ tưởng, vị ấy tác ý đến sự nhất thể do duyên Vô Sở Hữu Xứ tưởng. Tâm của vị ấy nhảy vào, lắng yên, an trú, và hướng đến Vô Sở Hữu Xứ tưởng. Vị ấy tuệ tri như vầy: ‘Những phiền não nào có thể khởi lên do duyên Không Vô Biên Xứ tưởng, chúng không có ở đây. Những phiền não nào có thể khởi lên do duyên Thức Vô Biên Xứ tưởng, chúng không có ở đây. Chỉ có một lượng phiền não này, tức là sự nhất thể do duyên Vô Sở Hữu Xứ tưởng.’ Vị ấy tuệ tri: ‘Trạng thái tưởng này là không với Không Vô Biên Xứ tưởng.’ Vị ấy tuệ tri: ‘Trạng thái tưởng này là không với Thức Vô Biên Xứ tưởng.’ Vị ấy tuệ tri: ‘Và có sự không-không này, tức là sự nhất thể do duyên Vô Sở Hữu Xứ tưởng.’ Như vậy, vị ấy quán xét điều không có ở đó là không, và đối với điều còn lại ở đó, vị ấy tuệ tri: ‘Cái này đang hiện hữu, nó có mặt.’ Này Ānanda, như vậy đối với vị ấy, sự nhập vào tánh không này trở thành chân thật, không sai lệch, và hoàn toàn trong sạch.
Puna caparaṁ, ānanda bhikkhu amanasikaritvā viññāṇañcāyatanasaññaṁ, amanasikaritvā ākiñcaññāyatanasaññaṁ, nevasaññānāsaññāyatanasaññaṁ paṭicca manasi karoti ekattaṁ. Tassa nevasaññānāsaññāyatanasaññāya cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati adhimuccati. So evaṁ pajānāti: ‘ye assu darathā viññāṇañcāyatanasaññaṁ paṭicca tedha na santi, ye assu darathā ākiñcaññāyatanasaññaṁ paṭicca tedha na santi, atthi cevāyaṁ darathamattā yadidaṁ—nevasaññānāsaññāyatanasaññaṁ paṭicca ekattan’ti. So ‘suññamidaṁ saññāgataṁ viññāṇañcāyatanasaññāyā’ti pajānāti, ‘suññamidaṁ saññāgataṁ ākiñcaññāyatanasaññāyā’ti pajānāti, ‘atthi cevidaṁ asuññataṁ yadidaṁ—nevasaññānāsaññāyatanasaññaṁ paṭicca ekattan’ti. Iti yañhi kho tattha na hoti tena taṁ suññaṁ samanupassati, yaṁ pana tattha avasiṭṭhaṁ hoti taṁ ‘santamidaṁ atthī’ti pajānāti. Evampissa esā, ānanda, yathābhuccā avipallatthā parisuddhā suññatāvakkanti bhavati.
Furthermore, a mendicant—ignoring the perception of the dimension of infinite consciousness and the perception of the dimension of nothingness—focuses on the oneness dependent on the perception of the dimension of neither perception nor non-perception. Their mind leaps forth, gains confidence, settles down, and becomes decided in that perception of the dimension of neither perception nor non-perception. They understand: ‘Here there is no stress due to the perception of the dimension of infinite consciousness or the perception of the dimension of nothingness. There is only this modicum of stress, namely the oneness dependent on the perception of the dimension of neither perception nor non-perception.’ They understand: ‘This field of perception is empty of the perception of the dimension of infinite consciousness. It is empty of the perception of the dimension of nothingness. There is only this that is not emptiness, namely the oneness dependent on the perception of the dimension of neither perception nor non-perception.’ And so they regard it as empty of what is not there, but as to what remains they understand that it is present. That’s how emptiness manifests in them—genuine, undistorted, and pure.
181. Này Ānanda, lại nữa, vị tỳ khưu không tác ý đến Thức Vô Biên Xứ tưởng, không tác ý đến Vô Sở Hữu Xứ tưởng, vị ấy tác ý đến sự nhất thể do duyên Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ tưởng. Tâm của vị ấy nhảy vào, lắng yên, an trú, và hướng đến Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ tưởng. Vị ấy tuệ tri như vầy: ‘Những phiền não nào có thể khởi lên do duyên Thức Vô Biên Xứ tưởng, chúng không có ở đây. Những phiền não nào có thể khởi lên do duyên Vô Sở Hữu Xứ tưởng, chúng không có ở đây. Chỉ có một lượng phiền não này, tức là sự nhất thể do duyên Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ tưởng.’ Vị ấy tuệ tri: ‘Trạng thái tưởng này là không với Thức Vô Biên Xứ tưởng.’ Vị ấy tuệ tri: ‘Trạng thái tưởng này là không với Vô Sở Hữu Xứ tưởng.’ Vị ấy tuệ tri: ‘Và có sự không-không này, tức là sự nhất thể do duyên Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ tưởng.’ Như vậy, vị ấy quán xét điều không có ở đó là không, và đối với điều còn lại ở đó, vị ấy tuệ tri: ‘Cái này đang hiện hữu, nó có mặt.’ Này Ānanda, như vậy đối với vị ấy, sự nhập vào tánh không này trở thành chân thật, không sai lệch, và hoàn toàn trong sạch.
Puna caparaṁ, ānanda, bhikkhu amanasikaritvā ākiñcaññāyatanasaññaṁ, amanasikaritvā nevasaññānāsaññāyatanasaññaṁ, animittaṁ cetosamādhiṁ paṭicca manasi karoti ekattaṁ. Tassa animitte cetosamādhimhi cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati adhimuccati. So evaṁ pajānāti: ‘ye assu darathā ākiñcaññāyatanasaññaṁ paṭicca tedha na santi, ye assu darathā nevasaññānāsaññāyatanasaññaṁ paṭicca tedha na santi, atthi cevāyaṁ darathamattā yadidaṁ—imameva kāyaṁ paṭicca saḷāyatanikaṁ jīvitapaccayā’ti. So ‘suññamidaṁ saññāgataṁ ākiñcaññāyatanasaññāyā’ti pajānāti, ‘suññamidaṁ saññāgataṁ nevasaññānāsaññāyatanasaññāyā’ti pajānāti, ‘atthi cevidaṁ asuññataṁ yadidaṁ—imameva kāyaṁ paṭicca saḷāyatanikaṁ jīvitapaccayā’ti. Iti yañhi kho tattha na hoti tena taṁ suññaṁ samanupassati, yaṁ pana tattha avasiṭṭhaṁ hoti taṁ ‘santamidaṁ atthī’ti pajānāti. Evampissa esā, ānanda, yathābhuccā avipallatthā parisuddhā suññatāvakkanti bhavati.
Furthermore, a mendicant—ignoring the perception of the dimension of nothingness and the perception of the dimension of neither perception nor non-perception—focuses on the oneness dependent on the signless immersion of the heart. Their mind leaps forth, gains confidence, settles down, and becomes decided in that signless immersion of the heart. They understand: ‘Here there is no stress due to the perception of the dimension of nothingness or the perception of the dimension of neither perception nor non-perception. There is only this modicum of stress, namely that related to the six sense fields dependent on this body and conditioned by life.’ They understand: ‘This field of perception is empty of the perception of the dimension of nothingness. It is empty of the perception of the dimension of neither perception nor non-perception. There is only this that is not emptiness, namely that related to the six sense fields dependent on this body and conditioned by life.’ And so they regard it as empty of what is not there, but as to what remains they understand that it is present. That’s how emptiness manifests in them—genuine, undistorted, and pure.
182. Này Ānanda, lại nữa, vị tỳ khưu không tác ý đến Vô Sở Hữu Xứ tưởng, không tác ý đến Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ tưởng, vị ấy tác ý đến sự nhất thể do duyên vô tướng tâm định. Tâm của vị ấy nhảy vào, lắng yên, an trú, và hướng đến vô tướng tâm định. Vị ấy tuệ tri như vầy: ‘Những phiền não nào có thể khởi lên do duyên Vô Sở Hữu Xứ tưởng, chúng không có ở đây. Những phiền não nào có thể khởi lên do duyên Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ tưởng, chúng không có ở đây. Chỉ có một lượng phiền não này, tức là sáu xứ này do duyên thân này và có mạng căn làm điều kiện.’ Vị ấy tuệ tri: ‘Trạng thái tưởng này là không với Vô Sở Hữu Xứ tưởng.’ Vị ấy tuệ tri: ‘Trạng thái tưởng này là không với Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ tưởng.’ Vị ấy tuệ tri: ‘Và có sự không-không này, tức là sáu xứ này do duyên thân này và có mạng căn làm điều kiện.’ Như vậy, vị ấy quán xét điều không có ở đó là không, và đối với điều còn lại ở đó, vị ấy tuệ tri: ‘Cái này đang hiện hữu, nó có mặt.’ Này Ānanda, như vậy đối với vị ấy, sự nhập vào tánh không này trở thành chân thật, không sai lệch, và hoàn toàn trong sạch.
Puna caparaṁ, ānanda, bhikkhu amanasikaritvā ākiñcaññāyatanasaññaṁ, amanasikaritvā nevasaññānāsaññāyatanasaññaṁ, animittaṁ cetosamādhiṁ paṭicca manasi karoti ekattaṁ. Tassa animitte cetosamādhimhi cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati adhimuccati. So evaṁ pajānāti: ‘ayampi kho animitto cetosamādhi abhisaṅkhato abhisañcetayito’. ‘Yaṁ kho pana kiñci abhisaṅkhataṁ abhisañcetayitaṁ tadaniccaṁ nirodhadhamman’ti pajānāti. Tassa evaṁ jānato evaṁ passato kāmāsavāpi cittaṁ vimuccati, bhavāsavāpi cittaṁ vimuccati, avijjāsavāpi cittaṁ vimuccati. Vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti.
So evaṁ pajānāti: ‘ye assu darathā kāmāsavaṁ paṭicca tedha na santi, ye assu darathā bhavāsavaṁ paṭicca tedha na santi, ye assu darathā avijjāsavaṁ paṭicca tedha na santi, atthi cevāyaṁ darathamattā yadidaṁ—imameva kāyaṁ paṭicca saḷāyatanikaṁ jīvitapaccayā’ti. So ‘suññamidaṁ saññāgataṁ kāmāsavenā’ti pajānāti, ‘suññamidaṁ saññāgataṁ bhavāsavenā’ti pajānāti, ‘suññamidaṁ saññāgataṁ avijjāsavenā’ti pajānāti, ‘atthi cevidaṁ asuññataṁ yadidaṁ—imameva kāyaṁ paṭicca saḷāyatanikaṁ jīvitapaccayā’ti. Iti yañhi kho tattha na hoti tena taṁ suññaṁ samanupassati, yaṁ pana tattha avasiṭṭhaṁ hoti taṁ ‘santamidaṁ atthī’ti pajānāti. Evampissa esā, ānanda, yathābhuccā avipallatthā parisuddhā paramānuttarā suññatāvakkanti bhavati.
Furthermore, a mendicant—ignoring the perception of the dimension of nothingness and the perception of the dimension of neither perception nor non-perception—focuses on the oneness dependent on the signless immersion of the heart. Their mind leaps forth, gains confidence, settles down, and becomes decided in that signless immersion of the heart. They understand: ‘Even this signless immersion of the heart is produced by choices and intentions.’ They understand: ‘But whatever is produced by choices and intentions is impermanent and liable to cessation.’ Knowing and seeing like this, their mind is freed from the defilements of sensuality, desire to be reborn, and ignorance. When they’re freed, they know they’re freed.
They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’
They understand: ‘Here there is no stress due to the defilements of sensuality, desire to be reborn, or ignorance. There is only this modicum of stress, namely that related to the six sense fields dependent on this body and conditioned by life.’ They understand: ‘This field of perception is empty of the perception of the defilements of sensuality, desire to be reborn, and ignorance. There is only this that is not emptiness, namely that related to the six sense fields dependent on this body and conditioned by life.’ And so they regard it as empty of what is not there, but as to what remains they understand that it is present. That’s how emptiness manifests in them—genuine, undistorted, pure, and supreme.
183. “Lại nữa, này Ānanda, vị tỳ khưu không tác ý đến tưởng Vô Sở Hữu Xứ, không tác ý đến tưởng Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, vị ấy tác ý đến sự nhất thể do duyên vào vô tướng tâm định. Tâm của vị ấy đi vào, lắng yên, an trú, và hướng đến trong vô tướng tâm định. Vị ấy biết rõ như vầy: ‘Vô tướng tâm định này cũng là pháp hữu vi, do tác ý mà có.’ Vị ấy biết rõ: ‘Phàm cái gì là pháp hữu vi, do tác ý mà có, cái ấy là vô thường, có bản chất là hoại diệt.’ Đối với vị ấy, người biết như vậy, thấy như vậy, tâm được giải thoát khỏi dục lậu, tâm được giải thoát khỏi hữu lậu, tâm được giải thoát khỏi vô minh lậu. Trong sự giải thoát, khởi lên trí tuệ rằng: ‘Đã được giải thoát.’ Vị ấy biết rõ: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái này nữa.’ Vị ấy biết rõ như vầy: ‘Những phiền não nào có thể có do duyên vào dục lậu, chúng không có ở đây. Những phiền não nào có thể có do duyên vào hữu lậu, chúng không có ở đây. Những phiền não nào có thể có do duyên vào vô minh lậu, chúng không có ở đây. Chỉ có một mức độ phiền não này, tức là sáu xứ này do duyên vào thân này và được điều kiện bởi mạng sống.’ Vị ấy biết rõ: ‘Trạng thái tưởng này không có dục lậu.’ Vị ấy biết rõ: ‘Trạng thái tưởng này không có hữu lậu.’ Vị ấy biết rõ: ‘Trạng thái tưởng này không có vô minh lậu.’ Vị ấy biết rõ: ‘Chỉ có sự không trống không này, tức là sáu xứ này do duyên vào thân này và được điều kiện bởi mạng sống.’ Như vậy, cái gì không có ở đó, vị ấy xem là trống không đối với cái ấy. Còn cái gì còn lại ở đó, vị ấy biết rõ: ‘Cái hiện hữu này có mặt.’ Này Ānanda, như vậy đối với vị ấy, sự nhập vào tánh không này trở thành chân thật, không sai lệch, thanh tịnh, tối thượng, và vô song.
Yepi hi keci, ānanda, atītamaddhānaṁ samaṇā vā brāhmaṇā vā parisuddhaṁ paramānuttaraṁ suññataṁ upasampajja vihariṁsu, sabbe te imaṁyeva parisuddhaṁ paramānuttaraṁ suññataṁ upasampajja vihariṁsu. Yepi hi keci, ānanda, anāgatamaddhānaṁ samaṇā vā brāhmaṇā vā parisuddhaṁ paramānuttaraṁ suññataṁ upasampajja viharissanti, sabbe te imaṁyeva parisuddhaṁ paramānuttaraṁ suññataṁ upasampajja viharissanti. Yepi hi keci, ānanda, etarahi samaṇā vā brāhmaṇā vā parisuddhaṁ paramānuttaraṁ suññataṁ upasampajja viharanti, sabbe te imaṁyeva parisuddhaṁ paramānuttaraṁ suññataṁ upasampajja viharanti. Tasmātiha, ānanda, ‘parisuddhaṁ paramānuttaraṁ suññataṁ upasampajja viharissāmā’ti—evañhi vo, ānanda, sikkhitabban”ti.
Whatever ascetics and brahmins enter and remain in the pure, ultimate, supreme emptiness—whether in the past, future, or present—all of them enter and remain in this same pure, ultimate, supreme emptiness. So, Ānanda, you should train like this: ‘We will enter and remain in the pure, ultimate, supreme emptiness.’ That’s how you should train.”
184. “Này Ānanda, bất cứ Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong quá khứ đã thành tựu và an trú trong tánh không thanh tịnh, tối thượng, vô song, tất cả các vị ấy đều đã thành tựu và an trú trong chính tánh không thanh tịnh, tối thượng, vô song này. Này Ānanda, bất cứ Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong tương lai sẽ thành tựu và an trú trong tánh không thanh tịnh, tối thượng, vô song, tất cả các vị ấy đều sẽ thành tựu và an trú trong chính tánh không thanh tịnh, tối thượng, vô song này. Này Ānanda, bất cứ Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong hiện tại đang thành tựu và an trú trong tánh không thanh tịnh, tối thượng, vô song, tất cả các vị ấy đều đang thành tựu và an trú trong chính tánh không thanh tịnh, tối thượng, vô song này. Vì vậy, này Ānanda, các ngươi phải học tập như vầy: ‘Chúng ta sẽ thành tựu và an trú trong tánh không thanh tịnh, tối thượng, vô song.’”
Idamavoca bhagavā. Attamano āyasmā ānando bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
That is what the Buddha said. Satisfied, Venerable Ānanda approved what the Buddha said.
Thế Tôn đã nói như vậy. Tôn giả Ānanda hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Cūḷasuññatasuttaṁ niṭṭhitaṁ paṭhamaṁ.
Kinh Tiểu Không, thứ nhất, chấm dứt.