- Majjhima Nikāya 113
Sappurisasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Sappurisasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi, Jetavana, tại tịnh xá ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc). Ở đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”:: “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau: “Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông Chân nhân pháp và phi Chân nhân pháp. Các Ông hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng”:: “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn giảng như sau
SC 2—Này các Tỷ-kheo, thế nào là phi Chân nhân pháp? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người phi Chân nhân xuất gia từ một gia đình cao sang. Người ấy suy nghĩ như sau: “Ta xuất gia từ một gia đình cao sang. Còn các Tỷ-kheo này không xuất gia từ một gia đình cao sang”. Vì người ấy thuộc gia đình cao sang nên khen mình chê người. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là phi Chân nhân pháp.
SC 3Và này các Tỷ-kheo, người Chân nhân suy nghĩ như sau: “Không phải vì thuộc một gia đình cao sang mà các tham pháp đi đến đoạn trừ, hay các sân pháp đi đến đoạn trừ, hay các si pháp đi đến đoạn trừ. Nếu một người xuất gia, không phải từ một gia đình cao sang, và người ấy hành trì đúng pháp và thuận pháp, hành trì chơn chánh, hành trì thuận pháp, thời ở đây, người ấy được kính trọng, ở đây, người ấy được tán thán”. Người ấy, sau khi lấy đạo lộ (patipadam) làm chánh yếu (antaram), không khen mình chê người vì tự mình thuộc vào gia đình cao sang. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Chân nhân pháp.
SC 4Lại nữa, này các Tỷ-kheo, một người phi Chân nhân xuất gia từ một gia đình lớn … xuất gia từ một gia đình đại phú … xuất gia từ một gia đình quý phái. Người ấy suy nghĩ như sau: “Ta xuất gia từ một gia đình quý phái, còn các Tỷ-kheo này không xuất gia từ một gia đình quý phái”. Vì người ấy thuộc gia đình quý phái, nên khen mình chê người. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là phi Chân nhân pháp.
SC 5Và này các Tỷ-kheo, người Chân nhân suy nghĩ như sau: “Không phải vì thuộc về một gia đình quý phái mà các tham pháp đi đến đoạn trừ, hay các sân pháp đi đến đoạn trừ, hay các si pháp đi đến đoạn trừ. Nếu một người xuất gia không phải từ một gia đình quý phái và người ấy hành trì đúng pháp và thuận pháp, hành trì chơn chánh, hành trì thuận pháp, thời ở đây, người ấy được kính trọng, ở đây, người ấy được tán thán”. Người ấy, sau khi lấy đạo lộ làm chính yếu, không khen mình chê người vì tự mình thuộc vào gia đình quý phái. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Chân nhân pháp.
SC 6Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có người phi Chân nhân được nhiều người biết, có danh xưng. Người ấy suy nghĩ như sau: “Ta được nhiều người biết, có danh xưng, còn các Tỷ-kheo này được ít người biết đến, không được trọng vọng”. Vì người ấy tự mình được nhiều người biết đến nên khen mình chê người. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là phi Chân nhân pháp.
SC 7Và này các Tỷ-kheo, người Chân Nhân suy nghĩ như sau: “Không phải vì mình được nhiều người biết đến mà các tham pháp đi đến đoạn trừ, hay sân pháp đi đến đoạn trừ, hay các si pháp đi đến đoạn trừ. Nếu một người xuất gia không được nhiều người biết, không có danh xưng, và người ấy hành trì đúng pháp và thuận pháp, hành trì chơn chánh, hành trì thuận pháp, thời ở đây, người ấy được kính trọng, ở đây, người ấy được tán thán”. Người ấy, sau khi lấy đạo lộ làm chính yếu, không khen mình chê người vì tự mình được nhiều người biết và có danh xưng. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Chân nhân pháp.
SC 8Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có người phi Chân nhân được các vật (cúng dường) như y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, y liệu trị bệnh. Người ấy suy nghĩ như sau: “Ta nhận được các vật (cúng dường) như y phục, các đồ ăn khất thực, sàng tọa, y liệu trị bệnh, còn các Tỷ-kheo này không nhận được y phục, các đồ ăn khất thực, sàng tọa, y liệu trị bệnh”. Vì người ấy thâu nhận được như vậy nên khen mình chê người. Như vậy, này các Tỷ-kheo là phi Chân nhân pháp.
SC 9Và này các Tỷ-kheo, người Chân nhân suy nghĩ như sau: “Không phải vì tự mình nhận được các vật (cúng dường như) y phục, các đồ ăn khất thực, sàng tọa, y liệu trị bịnh mà các tham pháp đi đến đoạn trừ, hay các sân pháp đi đến đoạn trừ, hay các si pháp đi đến đoạn trừ. Nếu một người xuất gia không nhận được các vật (cúng dường như) y phục, các đồ ăn khất thực, sàng tọa, y liệu trị bệnh và người ấy hành trì đúng pháp và thuận pháp hành, trì chơn chánh, hành trì thuận pháp, thời ở đây, người ấy được kính trọng, ở đây, người ấy được tán thán”. Người ấy, sau khi lấy đạo lộ làm chánh yếu, không khen mình chê người, vì tự mình được thâu nhận như vậy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Chân nhân pháp.
SC 10Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có người phi Chân nhân là người nghe nhiều. Người ấy suy nghĩ như sau: “Ta là người nghe nhiều, còn các Tỷ-kheo này không nghe nhiều”. Người ấy do được nghe nhiều nên khen mình chê người. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là phi Chân nhân pháp.
SC 11Và này các Tỷ-kheo, Người Chân nhân suy nghĩ như sau: “Không phải vì nghe nhiều mà các tham pháp đi đến đoạn trừ, hay các sân pháp đi đến đoạn trừ, hay các si pháp đi đến đoạn trừ. Nếu có người không nghe nhiều và người ấy hành trì đúng pháp và thuận pháp, hành trì chơn chánh, hành trì thuận pháp, thời ở đây, người ấy được kính trọng, ở đây, người ấy được tán thán”. Người ấy, sau khi lấy đạo lộ làm chánh yếu, không khen mình chê người, vì tự mình được nghe nhiều. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Chân nhân pháp.
SC 12Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có người phi Chân nhân là bậc trì luật. Người ấy suy nghĩ như sau: “Ta là bậc trì luật, còn các Tỷ-kheo này không là bậc trì luật”. Do tự mình trì luật, người ấy khen mình chê người. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là phi Chân nhân pháp.
SC 13Và này các Tỷ-kheo, người Chân nhân suy nghĩ như sau: “Không phải vì tự mình là bậc trì luật mà các tham pháp đi đến đoạn trừ hay các sân pháp đi đến đoạn trừ hay các si pháp đi đến đoạn trừ. Nếu có người không phải là bậc trì luật, những người này hành trì đúng pháp và thuận pháp, hành trì chơn chánh, hành trì thuận pháp, thời ở đây, người ấy được kính trọng, ở đây, người ấy được tán thán”. Người ấy sau khi lấy đạo lộ làm chánh yếu, không khen mình chê người vì tự mình là bậc trì luật. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Chân nhân pháp.
SC 14Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có người phi Chân nhân là người thuyết pháp. Người ấy suy nghĩ như sau: “Ta là người thuyết pháp, còn các Tỷ-kheo này không phải là người thuyết pháp”. Vì tự mình là người thuyết pháp, nên người ấy khen mình chê người. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là phi Chân nhân pháp.
SC 15Và người Chân nhân, này các Tỷ-kheo suy nghĩ như sau: “Không phải do tự mình là bậc thuyết pháp mà các tham pháp đi đến đoạn trừ, hay các sân pháp đi đến đoạn trừ, hay các si pháp đi đến đoạn trừ. Nếu một người không phải là người thuyết pháp, nhưng hành trì đúng pháp, và thuận pháp, hành trì chơn chánh, hành trì thuận pháp, thời ở đây người ấy được kính trọng, ở đây, người ấy được tán thán”. Người ấy, sau khi lấy đạo lộ làm chánh yếu, không khen mình chê người vì tự mình là bậc thuyết pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Chân nhân pháp.
SC 16Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có người phi Chân nhân là người theo hạnh sống ở núi rừng. Người ấy suy nghĩ như sau: “Ta là người theo hạnh sống ở rừng núi, còn các Tỷ-kheo này không theo hạnh sống ở rừng núi”. Người ấy vì tự mình theo hạnh sống ở rừng núi nên khen mình chê người. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là phi Chân nhân pháp.
SC 17Và người Chân nhân, này các Tỷ-kheo, suy nghĩ như sau: “Không phải vì tự mình theo hạnh sống ở rừng núi mà các tham pháp đi đến đoạn trừ, hay các sân pháp đi đến đoạn trừ, hay các si pháp đi đến đoạn trừ. Nếu một người không theo hạnh sống ở rừng núi, nhưng hành trì đúng pháp và thuận pháp, hành trì chơn chánh, hành trì thuận pháp, thời ở đây, người ấy được kính trọng, ở đây, người ấy được tán thán”. Người ấy, sau khi lấy đạo lộ làm chánh yếu, không khen mình chê người, vì tự mình theo hạnh sống ở rừng núi. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Chân nhân pháp.
SC 18Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có người phi Chân nhân theo hạnh mặc phấn tảo y. Người ấy suy nghĩ như sau: “Ta là người theo hạnh mặc phấn tảo y. Còn các Tỷ-kheo này không là người theo hạnh mặc phấn tảo y”. Người này do tự mình theo hạnh mặc phấn tảo y nên khen mình chê người. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là phi Chân nhân pháp.
SC 19Và người Chân nhân, này các Tỷ-kheo, suy nghĩ như sau: “Không phải vì tự mình theo hạnh mặc phấn tảo y mà các tham pháp đi đến đoạn trừ, hay các sân pháp đi đến đoạn trừ, hay các si pháp đi đến đoạn trừ. Nếu một người không theo hạnh mặc phấn tảo y, nhưng người ấy hành trì đúng pháp và thuận pháp, hành trì chơn chánh, hành trì thuận pháp, thời ở đây, người ấy được kính trọng, ở đây, người ấy được tán thán”. Người ấy, sau khi lấy đạo lộ làm chánh yếu, không khen mình chê người vì tự mình mặc phấn tảo y. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Chân nhân pháp.
SC 20Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có người phi Chân nhân là người theo hạnh khất thực. Người ấy suy nghĩ như sau: “Ta theo hạnh khất thực, còn các Tỷ-kheo này không theo hạnh khất thực”. Người ấy, do tự mình theo hạnh khất thực nên khen mình chê người. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là phi Chân nhân pháp.
SC 21Và người Chân nhân, này các Tỷ-kheo, suy nghĩ như sau: “Không phải vì tự mình theo hạnh khất thực mà các tham pháp đi đến đoạn trừ, hay các sân pháp đi đến đoạn trừ, hay các si pháp đi đến đoạn trừ. Nếu một người không theo hạnh khất thực, nhưng người ấy hành trì đúng pháp và thuận pháp, hành trì chơn chánh, hành trì thuận pháp, thời ở đây, người ấy được kính trọng, ở đây, người ấy được tán thán”. Người ấy, sau khi lấy đạo lộ làm chánh yếu, không khen mình chê người, vì tự mình theo hạnh khất thực. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Chân nhân pháp.
SC 22Lại nữa, này các Tỷ-kheo, một người phi Chân nhân theo hạnh sống dưới gốc cây. Người ấy suy nghĩ như sau: “Ta là người theo hạnh sống dưới gốc cây, còn các Tỷ-kheo này không theo hạnh sống dưới gốc cây”. Người ấy, do tự mình theo hạnh sống dưới gốc cây nên khen mình chê người. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là phi Chân nhân pháp.
SC 23Và người Chân nhân, này các Tỷ-kheo, suy nghĩ như sau: “Không phải vì tự mình theo hạnh sống dưới gốc cây mà các tham pháp đi đến đoạn trừ, hay các sân pháp đi đến đoạn trừ, hay các si pháp đi đến đoạn trừ. Nếu một người không theo hạnh sống dưới gốc cây, nhưng người ấy hành trì đúng pháp và thuận pháp, hành trì chơn chánh và hành trì thuận pháp, thời ở đây, người ấy được kính trọng, ở đây, người ấy được tán thán”. Người ấy, sau khi lấy đạo lộ làm chánh yếu, không khen mình chê người vì tự mình theo hạnh sống dưới gốc cây. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Chân nhân pháp.
SC 24Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có người phi Chân nhân theo hạnh sống tại nghĩa địa … theo hạnh sống ngoài trời … theo hạnh thường ngồi (không nằm) … Theo hạnh ngồi tại chỗ mời … theo hạnh chỉ ăn một lần ngồi. Người ấy suy nghĩ như sau: “Ta theo hạnh chỉ ăn một lần ngồi, còn các Tỷ-kheo này không theo hạnh chỉ ăn một lần ngồi. Do tự mình theo hạnh chỉ ăn một lần ngồi nên khen mình chê người. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là phi Chân nhân pháp.
SC 25Và người Chân nhân, này các Tỷ-kheo, suy nghĩ như sau: “Không phải vì mình theo hạnh chỉ ăn một lần ngồi mà các tham pháp đi đến đoạn trừ, hay các sân pháp đi đến đoạn trừ, hay các si pháp đi đến đoạn trừ. Nếu một người không theo hạnh chỉ ăn một lần, nhưng hành trì đúng pháp và thuận pháp, hành trì chơn chánh, hành trì thuận pháp, thời ở đây, người ấy được kính trọng, ở đây, người ấy được tán thán”. Người ấy, sau khi lấy đạo lộ làm chánh yếu, không khen mình chê người vì tự mình sống chỉ ăn một lần ngồi. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Chân nhân pháp.
SC 26Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có người phi Chân nhân ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú sơ Thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tâm có tứ. Người ấy suy nghĩ như sau: “Ta là người chứng được sơ Thiền, các người Tỷ-kheo này không chứng được sơ Thiền”. Người ấy do tự mình chứng được sơ Thiền nên khen mình chê người. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là phi Chân nhân pháp.
SC 27Và người Chân nhân, này các Tỷ-kheo, suy nghĩ như sau: “Ðịnh sơ Thiền, tự tánh là vô tham ái, Thế Tôn đã nói như vậy. Những ai nghĩ thế này, thế khác, thời tự tánh liền đổi khác”. Người ấy sau khi lấy vô tham ái làm chánh yếu, không khen mình chê người vì chứng được định sơ Thiền. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Chân nhân pháp.
SC 28Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có người phi Chân nhân pháp diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhứt tâm … Thiền thứ ba … chứng và trú Thiền thứ tư. Người ấy suy nghĩ như sau: “Ta chứng đắc định Thiền thứ tư, còn các Tỷ-kheo này không chứng đắc định Thiền thứ tư”. Người ấy vì chứng đắc định Thiền thứ tư ấy nên khen mình chê người. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là phi Chân nhân pháp.
SC 29Và người Chân nhân, này các Tỷ-kheo, suy nghĩ như sau: “Ðịnh Thiền thứ tư, tánh là vô tham ái. Thế Tôn đã nói như vậy. Những ai nghĩ thế này, thế khác, thời tự tánh liền đổi khác”. Người ấy sau khi lấy vô tham ái làm chánh yếu, không khen mình chê người vì chứng đắc định Thiền thứ tư. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Chân nhân pháp.
SC 30Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có người phi Chân nhân vượt lên mọi sắc tưởng, diệt trừ mọi chướng ngại tưởng, không tác ý đối với dị tưởng, người ấy nghĩ rằng: “Hư không là vô biên”, chứng và trú Không vô biên xứ. Người ấy suy nghĩ như sau: “Ta chứng được định Không vô biên xứ, còn các Tỷ-kheo này không chứng được định Không vô biên xứ”. Người ấy, vì chứng được định Không vô biên xứ ấy, nên khen mình chê người. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là phi Chân nhân pháp.
SC 31Và người Chân nhân, này các Tỷ-kheo, suy nghĩ như sau: “Ðịnh Không vô biên, xứ tự tánh là vô tham ái. Thế Tôn đã nói như vậy. Những ai nghĩ như thế này, thế khác, thời tự tánh liền đổi khác”. Người ấy sau khi lấy vô tham ái làm chính yếu, không khen mình chê người vì chứng được định Không vô biên xứ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Chân nhân pháp.
SC 32Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có người phi Chân nhân, vượt lên Không vô biên xứ, nghĩ rằng: “Thức là vô biên”, chứng và trú Thức vô biên xứ. Người ấy suy nghĩ như sau: “Ta chứng được định Thức vô biên xứ, còn các Tỷ-kheo này không chứng được định Thức vô biên xứ”. Người ấy vì chứng được định Thức vô biên xứ ấy nên khen mình chê người. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là phi Chân nhân pháp.
SC 33Và người Chân nhân, này các Tỷ-kheo, suy nghĩ như sau: “Ðịnh Thức vô biên xứ tự tánh là vô tham ái. Thế Tôn đã nói như vậy. Những ai nghĩ thế này, thế khác, thời tự tánh liền đổi khác”. Người ấy sau khi lấy vô tham ái làm chính yếu, không khen mình chê người vì chứng được định Thức vô biên xứ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Chân nhân pháp.
SC 34Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có người phi Chân nhân vượt lên một cách hoàn toàn Thức vô biên xứ, nghĩ rằng: “Không có sở hữu”, chứng và trú Vô sở hữu xứ. Người ấy suy nghĩ như sau: “Ta chứng được định Vô sở hữu xứ, còn các Tỷ-kheo này không chứng được định Vô sở hữu xứ”. Người ấy, vì chứng được định Vô sở hữu xứ ấy, nên khen mình chê người. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là phi Chân nhân pháp.
SC 35Và người Chân nhân, này các Tỷ-kheo, suy nghĩ như sau: “Ðịnh Vô sở hữu xứ tự tánh là vô tham ái. Thế Tôn đã nói như vậy. Những ai nghĩ thế này, thế khác, thời tự tánh liền đổi khác”. Người ấy sau khi lấy vô tham ái làm chánh yếu, không khen mình chê người vì chứng được định Vô sở hữu xứ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Chân nhân pháp.
SC 36Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có người phi Chân nhân vượt lên Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Người ấy suy nghĩ như sau: “Ta chứng được định Phi tưởng phi phi tưởng xứ, còn các Tỷ-kheo này không chứng được định Phi tưởng phi phi tưởng xứ”. Người ấy vì chứng được định Phi tưởng phi phi tưởng xứ ấy nên khen mình chê người. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là phi Chân nhân pháp.
SC 37Và người Chân nhân, này các Tỷ-kheo, suy nghĩ như sau: “Ðịnh Phi tưởng phi phi tưởng xứ tự tánh là vô tham ái. Thế Tôn đã nói như vậy. Những ai nghĩ thế này, thế khác, thời tự tánh liền đổi khác”. Người ấy sau khi lấy vô tham ái làm chánh yếu, không khen mình chê người vì định Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Chân nhân pháp.
SC 38Lại nữa, này các Tỷ-kheo, người Chân nhân sau khi vượt lên Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và trú Diệt thọ tưởng định, sau khi thấy với trí tuệ, các lậu hoặc của vị này được đoạn trừ. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này không nghĩ mình là bất cứ vật gì, không nghĩ đến bất cứ chỗ nào, không nghĩ đến bất cứ vì sự việc gì.
SC 39Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). 15-07-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
3. Kinh Bậc Chân Nhân
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“sappurisadhammañca vo, bhikkhave, desessāmi asappurisadhammañca. Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
“Mendicants, I will teach you the qualities of a true person and the qualities of an untrue person. Listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:
105. Tôi nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn trú tại Sāvatthī, trong vườn của ông Anāthapiṇḍika, tại Jetavana. Tại đó, Thế Tôn gọi các Tỳ khưu: ‘Này các Tỳ khưu.’ ‘Bạch Thế Tôn,’ các Tỳ khưu ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau: ‘Này các Tỳ khưu, Ta sẽ giảng cho các ngươi về pháp của bậc chân nhân và pháp của kẻ phi chân nhân. Hãy lắng nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.’ ‘Vâng, bạch Thế Tôn,’ các Tỳ khưu ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
“Katamo ca, bhikkhave, asappurisadhammo? Idha, bhikkhave, asappuriso uccākulā pabbajito hoti. So iti paṭisañcikkhati: ‘ahaṁ khomhi uccākulā pabbajito, ime panaññe bhikkhū na uccākulā pabbajitā’ti. So tāya uccākulīnatāya attānukkaṁseti, paraṁ vambheti. Ayaṁ, bhikkhave, asappurisadhammo. Sappuriso ca kho, bhikkhave, iti paṭisañcikkhati: ‘na kho uccākulīnatāya lobhadhammā vā parikkhayaṁ gacchanti, dosadhammā vā parikkhayaṁ gacchanti, mohadhammā vā parikkhayaṁ gacchanti. No cepi uccākulā pabbajito hoti; so ca hoti dhammānudhammappaṭipanno sāmīcippaṭipanno anudhammacārī, so tattha pujjo, so tattha pāsaṁso’ti. So paṭipadaṁyeva antaraṁ karitvā tāya uccākulīnatāya nevattānukkaṁseti na paraṁ vambheti. Ayaṁ, bhikkhave, sappurisadhammo.
“And what is a quality of an untrue person? Take an untrue person who has gone forth from an eminent family. They reflect: ‘I have gone forth from an eminent family, unlike these other mendicants.’ And they glorify themselves and put others down on account of that. This is a quality of an untrue person. A true person reflects: ‘It’s not because of one’s eminent family that thoughts of greed, hate, or delusion come to an end. Even if someone has not gone forth from an eminent family, if they practice in line with the teaching, practice properly, and live in line with the teaching, they are worthy of honor and praise for that.’ Keeping the practice to themselves, they don’t glorify themselves and put others down on account of their eminent family. This is a quality of a true person.
Này các Tỳ khưu, thế nào là pháp của kẻ phi chân nhân? Ở đây, này các Tỳ khưu, kẻ phi chân nhân xuất gia từ một gia đình cao quý. Vị ấy suy xét như sau: ‘Ta xuất gia từ một gia đình cao quý, còn các Tỳ khưu khác này không xuất gia từ gia đình cao quý.’ Do vì xuất thân cao quý ấy, vị ấy tự tán dương mình, chê bai người khác. Này các Tỳ khưu, đây là pháp của kẻ phi chân nhân. Còn bậc chân nhân, này các Tỳ khưu, suy xét như sau: ‘Không phải do xuất thân cao quý mà các pháp tham, các pháp sân, hay các pháp si đi đến đoạn tận. Dù một người không xuất gia từ gia đình cao quý, nhưng nếu vị ấy là người thực hành đúng pháp và tùy pháp, thực hành chánh hạnh, sống thuận pháp, thì vị ấy đáng được cúng dường, đáng được tán thán ở đây.’ Vị ấy, lấy sự thực hành làm trọng, do vì xuất thân cao quý ấy mà không tự tán dương mình, không chê bai người khác. Này các Tỳ khưu, đây là pháp của bậc chân nhân.
Puna caparaṁ, bhikkhave, asappuriso mahākulā pabbajito hoti …pe… mahābhogakulā pabbajito hoti …pe… uḷārabhogakulā pabbajito hoti. So iti paṭisañcikkhati: ‘ahaṁ khomhi uḷārabhogakulā pabbajito, ime panaññe bhikkhū na uḷārabhogakulā pabbajitā’ti. So tāya uḷārabhogatāya attānukkaṁseti, paraṁ vambheti. Ayampi, bhikkhave, asappurisadhammo. Sappuriso ca kho, bhikkhave, iti paṭisañcikkhati: ‘na kho uḷārabhogatāya lobhadhammā vā parikkhayaṁ gacchanti, dosadhammā vā parikkhayaṁ gacchanti, mohadhammā vā parikkhayaṁ gacchanti. No cepi uḷārabhogakulā pabbajito hoti; so ca hoti dhammānudhammappaṭipanno sāmīcippaṭipanno anudhammacārī, so tattha pujjo, so tattha pāsaṁso’ti. So paṭipadaṁyeva antaraṁ karitvā tāya uḷārabhogatāya nevattānukkaṁseti, na paraṁ vambheti. Ayampi, bhikkhave, sappurisadhammo.
Puna caparaṁ, bhikkhave, asappuriso ñāto hoti yasassī. So iti paṭisañcikkhati: ‘ahaṁ khomhi ñāto yasassī, ime panaññe bhikkhū appaññātā appesakkhā’ti.
Furthermore, take an untrue person who has gone forth from a great family … from a wealthy family … from an exceptionally wealthy family. They reflect: ‘I have gone forth from an exceptionally wealthy family, unlike these other mendicants.’ And they glorify themselves and put others down on account of that. This too is a quality of an untrue person. A true person reflects: ‘It’s not because of one’s exceptionally wealthy family that thoughts of greed, hate, or delusion come to an end. Even if someone has not gone forth from an exceptionally wealthy family, if they practice in line with the teaching, practice properly, and live in line with the teaching, they are worthy of honor and praise for that.’ Keeping the practice to themselves, they don’t glorify themselves and put others down on account of their exceptionally wealthy family. This too is a quality of a true person.
Furthermore, take an untrue person who is well-known and famous. They reflect: ‘I’m well-known and famous. These other mendicants are obscure and insignificant.’
Này các Tỳ khưu, lại nữa, người không chân chánh xuất gia từ gia tộc lớn... cho đến... xuất gia từ gia tộc có tài sản lớn... cho đến... xuất gia từ gia tộc có tài sản dồi dào. Vị ấy suy xét như vầy: ‘Ta đây xuất gia từ gia tộc có tài sản dồi dào, còn các Tỳ khưu khác này không xuất gia từ gia tộc có tài sản dồi dào.’ Do vì có tài sản dồi dào ấy, vị ấy tán dương mình, chê bai người khác. Này các Tỳ khưu, đây cũng là pháp của người không chân chánh. Và này các Tỳ khưu, bậc chân nhân suy xét như vầy: ‘Không phải do vì có tài sản dồi dào mà các pháp tham được đoạn tận, các pháp sân được đoạn tận, hay các pháp si được đoạn tận. Dầu cho vị ấy không xuất gia từ gia tộc có tài sản dồi dào, nhưng vị ấy thực hành pháp và tùy pháp, thực hành đúng đắn, là người sống thuận pháp, thì vị ấy ở đây đáng được cúng dường, vị ấy ở đây đáng được tán thán.’ Vị ấy chỉ lấy sự thực hành làm cốt lõi, do vì có tài sản dồi dào ấy mà không tán dương mình, không chê bai người khác. Này các Tỳ khưu, đây cũng là pháp của bậc chân nhân.
106. Này các Tỳ khưu, lại nữa, người không chân chánh là người nổi tiếng, có danh vọng. Vị ấy suy xét như vầy: ‘Ta đây là người nổi tiếng, có danh vọng, còn các Tỳ khưu khác này không được biết đến, ít uy lực.’ Do sự nổi tiếng ấy, vị ấy tán dương mình, chê bai người khác. Này các Tỳ khưu, đây cũng là pháp của người không chân chánh. Và này các Tỳ khưu, bậc chân nhân suy xét như vầy: ‘Không phải do sự nổi tiếng mà các pháp tham được đoạn tận, các pháp sân được đoạn tận, hay các pháp si được đoạn tận. Dầu cho vị ấy không phải là người nổi tiếng, có danh vọng, nhưng vị ấy thực hành pháp và tùy pháp, thực hành đúng đắn, là người sống thuận pháp, thì vị ấy ở đây đáng được cúng dường, vị ấy ở đây đáng được tán thán.’ Vị ấy chỉ lấy sự thực hành làm cốt lõi, do sự nổi tiếng ấy mà không tán dương mình, không chê bai người khác. Này các Tỳ khưu, đây cũng là pháp của bậc chân nhân.
Puna caparaṁ, bhikkhave, asappuriso lābhī hoti cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānaṁ. So iti paṭisañcikkhati: ‘ahaṁ khomhi lābhī cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānaṁ, ime panaññe bhikkhū na lābhino cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānan’ti. So tena lābhena attānukkaṁseti, paraṁ vambheti. Ayampi, bhikkhave, asappurisadhammo. Sappuriso ca kho, bhikkhave, iti paṭisañcikkhati: ‘na kho lābhena lobhadhammā vā parikkhayaṁ gacchanti, dosadhammā vā parikkhayaṁ gacchanti, mohadhammā vā parikkhayaṁ gacchanti. No cepi lābhī hoti cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānaṁ; so ca hoti dhammānudhammappaṭipanno sāmīcippaṭipanno anudhammacārī, so tattha pujjo, so tattha pāsaṁso’ti. So paṭipadaṁyeva antaraṁ karitvā tena lābhena nevattānukkaṁseti, na paraṁ vambheti. Ayampi, bhikkhave, sappurisadhammo.
Furthermore, take an untrue person who receives robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick. They reflect: ‘I receive robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick, unlike these other mendicants.’ And they glorify themselves and put others down on account of that. This too is a quality of an untrue person. A true person reflects: ‘It’s not because of one’s material things that thoughts of greed, hate, or delusion come to an end. Even if someone doesn’t receive robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick, if they practice in line with the teaching, practice properly, and live in line with the teaching, they are worthy of honor and praise for that.’ Keeping the practice to themselves, they don’t glorify themselves and put others down on account of their material things. This too is a quality of a true person.
Này các Tỳ khưu, lại nữa, người không chân chánh là người được lợi lộc về y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, và dược phẩm trị bệnh. Vị ấy suy xét như vầy: ‘Ta đây là người được lợi lộc về y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, và dược phẩm trị bệnh, còn các Tỳ khưu khác này không được lợi lộc về y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, và dược phẩm trị bệnh.’ Do sự được lợi lộc ấy, vị ấy tán dương mình, chê bai người khác. Này các Tỳ khưu, đây cũng là pháp của người không chân chánh. Và này các Tỳ khưu, bậc chân nhân suy xét như vầy: ‘Không phải do sự được lợi lộc mà các pháp tham được đoạn tận, các pháp sân được đoạn tận, hay các pháp si được đoạn tận. Dầu cho vị ấy không phải là người được lợi lộc về y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, và dược phẩm trị bệnh, nhưng vị ấy thực hành pháp và tùy pháp, thực hành đúng đắn, là người sống thuận pháp, thì vị ấy ở đây đáng được cúng dường, vị ấy ở đây đáng được tán thán.’ Vị ấy chỉ lấy sự thực hành làm cốt lõi, do sự được lợi lộc ấy mà không tán dương mình, không chê bai người khác. Này các Tỳ khưu, đây cũng là pháp của bậc chân nhân.
Puna caparaṁ, bhikkhave, asappuriso bahussuto hoti. So iti paṭisañcikkhati: ‘ahaṁ khomhi bahussuto, ime panaññe bhikkhū na bahussutā’ti. So tena bāhusaccena attānukkaṁseti, paraṁ vambheti. Ayampi, bhikkhave, asappurisadhammo. Sappuriso ca kho, bhikkhave, iti paṭisañcikkhati: ‘na kho bāhusaccena lobhadhammā vā parikkhayaṁ gacchanti, dosadhammā vā parikkhayaṁ gacchanti, mohadhammā vā parikkhayaṁ gacchanti. No cepi bahussuto hoti; so ca hoti dhammānudhammappaṭipanno sāmīcippaṭipanno anudhammacārī, so tattha pujjo, so tattha pāsaṁso’ti. So paṭipadaṁyeva antaraṁ karitvā tena bāhusaccena nevattānukkaṁseti, na paraṁ vambheti. Ayampi, bhikkhave, sappurisadhammo.
Furthermore, take an untrue person who is very learned …
Này các Tỳ khưu, lại nữa, người không chân chánh là người đa văn. Vị ấy suy xét như vầy: ‘Ta đây là người đa văn, còn các Tỳ khưu khác này không phải là người đa văn.’ Do sự đa văn ấy, vị ấy tán dương mình, chê bai người khác. Này các Tỳ khưu, đây cũng là pháp của người không chân chánh. Và này các Tỳ khưu, bậc chân nhân suy xét như vầy: ‘Không phải do sự đa văn mà các pháp tham được đoạn tận, các pháp sân được đoạn tận, hay các pháp si được đoạn tận. Dầu cho vị ấy không phải là người đa văn, nhưng vị ấy thực hành pháp và tùy pháp, thực hành đúng đắn, là người sống thuận pháp, thì vị ấy ở đây đáng được cúng dường, vị ấy ở đây đáng được tán thán.’ Vị ấy chỉ lấy sự thực hành làm cốt lõi, do sự đa văn ấy mà không tán dương mình, không chê bai người khác. Này các Tỳ khưu, đây cũng là pháp của bậc chân nhân.
Này các Tỳ khưu, lại nữa, người không chân chánh là người trì luật. Vị ấy suy xét như vầy: ‘Ta đây là người trì luật, còn các Tỳ khưu khác này không phải là người trì luật.’ Do sự trì luật ấy, vị ấy tán dương mình, chê bai người khác. Này các Tỳ khưu, đây cũng là pháp của người không chân chánh. Và này các Tỳ khưu, bậc chân nhân suy xét như vầy: ‘Không phải do sự trì luật mà các pháp tham được đoạn tận, các pháp sân được đoạn tận, hay các pháp si được đoạn tận. Dầu cho vị ấy không phải là người trì luật, nhưng vị ấy thực hành pháp và tùy pháp, thực hành đúng đắn, là người sống thuận pháp, thì vị ấy ở đây đáng được cúng dường, vị ấy ở đây đáng được tán thán.’ Vị ấy chỉ lấy sự thực hành làm cốt lõi, do sự trì luật ấy mà không tán dương mình, không chê bai người khác. Này các Tỳ khưu, đây cũng là pháp của bậc chân nhân.
"Lại nữa, này các Tỳ khưu, người không chân chánh là người thuyết Pháp. Vị ấy suy xét như sau: 'Ta là người thuyết Pháp, còn các Tỳ khưu khác này thì không phải là người thuyết Pháp.' Do vì là người thuyết Pháp, vị ấy tán dương mình, chê bai người khác. Này các Tỳ khưu, đây cũng là pháp của người không chân chánh. Và này các Tỳ khưu, người chân chánh suy xét như sau: 'Chắc chắn không phải do là người thuyết Pháp mà các pháp tham đi đến đoạn tận, các pháp sân đi đến đoạn tận, hay các pháp si đi đến đoạn tận. Dù cho không phải là người thuyết Pháp, nhưng vị ấy thực hành pháp và tùy pháp, thực hành đúng đắn, sống thuận theo pháp, vị ấy ở đấy đáng được cúng dường, vị ấy ở đấy đáng được tán thán.' Vị ấy lấy sự thực hành làm cốt lõi, do vì là người thuyết Pháp, đã không tán dương mình, không chê bai người khác. Này các Tỳ khưu, đây cũng là pháp của người chân chánh.
107. "Lại nữa, này các Tỳ khưu, người không chân chánh là người sống ở rừng. Vị ấy suy xét như sau: 'Ta là người sống ở rừng, còn các Tỳ khưu khác này thì không phải là người sống ở rừng.' Do vì là người sống ở rừng, vị ấy tán dương mình, chê bai người khác. Này các Tỳ khưu, đây cũng là pháp của người không chân chánh. Và này các Tỳ khưu, người chân chánh suy xét như sau: 'Chắc chắn không phải do là người sống ở rừng mà các pháp tham đi đến đoạn tận, các pháp sân đi đến đoạn tận, hay các pháp si đi đến đoạn tận. Dù cho không phải là người sống ở rừng, nhưng vị ấy thực hành pháp và tùy pháp, thực hành đúng đắn, sống thuận theo pháp, vị ấy ở đấy đáng được cúng dường, vị ấy ở đấy đáng được tán thán.' Vị ấy lấy sự thực hành làm cốt lõi, do vì là người sống ở rừng, đã không tán dương mình, không chê bai người khác. Này các Tỳ khưu, đây cũng là pháp của người chân chánh.
"Lại nữa, này các Tỳ khưu, người không chân chánh là người mặc y phấn tảo. Vị ấy suy xét như sau: 'Ta là người mặc y phấn tảo, còn các Tỳ khưu khác này thì không phải là người mặc y phấn tảo.' Do vì là người mặc y phấn tảo, vị ấy tán dương mình, chê bai người khác. Này các Tỳ khưu, đây cũng là pháp của người không chân chánh. Và này các Tỳ khưu, người chân chánh suy xét như sau: 'Chắc chắn không phải do là người mặc y phấn tảo mà các pháp tham đi đến đoạn tận, các pháp sân đi đến đoạn tận, hay các pháp si đi đến đoạn tận. Dù cho không phải là người mặc y phấn tảo, nhưng vị ấy thực hành pháp và tùy pháp, thực hành đúng đắn, sống thuận theo pháp, vị ấy ở đấy đáng được cúng dường, vị ấy ở đấy đáng được tán thán.' Vị ấy lấy sự thực hành làm cốt lõi, do vì là người mặc y phấn tảo, đã không tán dương mình, không chê bai người khác. Này các Tỳ khưu, đây cũng là pháp của người chân chánh.
"Lại nữa, này các Tỳ khưu, người không chân chánh là người sống bằng khất thực. Vị ấy suy xét như sau: 'Ta là người sống bằng khất thực, còn các Tỳ khưu khác này thì không phải là người sống bằng khất thực.' Do vì là người sống bằng khất thực, vị ấy tán dương mình, chê bai người khác. Này các Tỳ khưu, đây cũng là pháp của người không chân chánh. Và này các Tỳ khưu, người chân chánh suy xét như sau: 'Chắc chắn không phải do là người sống bằng khất thực mà các pháp tham đi đến đoạn tận, các pháp sân đi đến đoạn tận, hay các pháp si đi đến đoạn tận. Dù cho không phải là người sống bằng khất thực, nhưng vị ấy thực hành pháp và tùy pháp, thực hành đúng đắn, sống thuận theo pháp, vị ấy ở đấy đáng được cúng dường, vị ấy ở đấy đáng được tán thán.' Vị ấy lấy sự thực hành làm cốt lõi, do vì là người sống bằng khất thực, đã không tán dương mình, không chê bai người khác. Này các Tỳ khưu, đây cũng là pháp của người chân chánh.
"Lại nữa, này các Tỳ khưu, người không chân chánh là người sống dưới gốc cây. Vị ấy suy xét như sau: 'Ta là người sống dưới gốc cây, còn các Tỳ khưu khác này thì không phải là người sống dưới gốc cây.' Do vì là người sống dưới gốc cây, vị ấy tán dương mình, chê bai người khác. Này các Tỳ khưu, đây cũng là pháp của người không chân chánh. Và này các Tỳ khưu, người chân chánh suy xét như sau: 'Chắc chắn không phải do là người sống dưới gốc cây mà các pháp tham đi đến đoạn tận, các pháp sân đi đến đoạn tận, hay các pháp si đi đến đoạn tận. Dù cho không phải là người sống dưới gốc cây, nhưng vị ấy thực hành pháp và tùy pháp, thực hành đúng đắn, sống thuận theo pháp, vị ấy ở đấy đáng được cúng dường, vị ấy ở đấy đáng được tán thán.' Vị ấy lấy sự thực hành làm cốt lõi, do vì là người sống dưới gốc cây, đã không tán dương mình, không chê bai người khác. Này các Tỳ khưu, đây cũng là pháp của người chân chánh.
Này các Tỳ khưu, lại nữa, người không phải bậc chân nhân là người thực hành hạnh ở nghĩa địa... ... là người thực hành hạnh ở ngoài trời... là người thực hành hạnh thường ngồi... là người thực hành hạnh dùng bất cứ sàng tọa nào được sắp sẵn... là người thực hành hạnh nhất tọa thực. Vị ấy suy xét như sau: ‘Ta là người thực hành hạnh nhất tọa thực, còn các Tỳ khưu khác này không phải là người thực hành hạnh nhất tọa thực’. Do hạnh nhất tọa thực ấy, vị ấy tán dương mình, chê bai người khác. Này các Tỳ khưu, đây cũng là pháp của người không phải bậc chân nhân. Và này các Tỳ khưu, bậc chân nhân suy xét như sau: ‘Chắc chắn không phải do hạnh nhất tọa thực mà các pháp tham đi đến đoạn tận, các pháp sân đi đến đoạn tận, hay các pháp si đi đến đoạn tận. Dầu cho vị ấy không phải là người thực hành hạnh nhất tọa thực, nhưng nếu vị ấy là người thực hành pháp và tùy pháp, thực hành đúng đắn, sống thuận theo pháp, thì vị ấy ở đây đáng được cúng dường, vị ấy ở đây đáng được tán thán’. Vị ấy chỉ lấy sự thực hành làm cốt lõi, do hạnh nhất tọa thực ấy, không tán dương mình, không chê bai người khác. Này các Tỳ khưu, đây cũng là pháp của bậc chân nhân.
Puna caparaṁ, bhikkhave, asappuriso vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. So iti paṭisañcikkhati: ‘ahaṁ khomhi paṭhamajjhānasamāpattiyā lābhī, ime panaññe bhikkhū paṭhamajjhānasamāpattiyā na lābhino’ti. So tāya paṭhamajjhānasamāpattiyā attānukkaṁseti, paraṁ vambheti. Ayampi, bhikkhave, asappurisadhammo. Sappuriso ca kho, bhikkhave, iti paṭisañcikkhati: ‘paṭhamajjhānasamāpattiyāpi kho atammayatā vuttā bhagavatā. Yena yena hi maññanti tato taṁ hoti aññathā’ti. So atammayataññeva antaraṁ karitvā tāya paṭhamajjhānasamāpattiyā nevattānukkaṁseti, na paraṁ vambheti. Ayampi, bhikkhave, sappurisadhammo.
Furthermore, take an untrue person who, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected. They reflect: ‘I have attained the first absorption, unlike these other mendicants.’ And they glorify themselves and put others down on account of that. This too is a quality of an untrue person. A true person reflects: ‘The Buddha has spoken of not being determined even by the attainment of the first absorption. For however they imagine it, it turns out to be something else.’ Keeping to themselves the fact that they are not determined by that, they don’t glorify themselves and put others down on account of their attainment of the first absorption. This too is a quality of a true person.
108. Này các Tỳ khưu, lại nữa, người không phải bậc chân nhân ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Vị ấy suy xét như sau: ‘Ta là người đắc định Thiền thứ nhất, còn các Tỳ khưu khác này không đắc định Thiền thứ nhất’. Do sự đắc định Thiền thứ nhất ấy, vị ấy tán dương mình, chê bai người khác. Này các Tỳ khưu, đây cũng là pháp của người không phải bậc chân nhân. Và này các Tỳ khưu, bậc chân nhân suy xét như sau: ‘Đối với cả sự đắc định Thiền thứ nhất, đức Thế Tôn cũng đã nói về trạng thái không dính mắc. Do bất cứ điều gì mà họ tưởng tri, sự việc lại trở thành khác đi so với điều ấy’. Vị ấy chỉ lấy trạng thái không dính mắc làm cốt lõi, do sự đắc định Thiền thứ nhất ấy, không tán dương mình, không chê bai người khác. Này các Tỳ khưu, đây cũng là pháp của bậc chân nhân.
Puna caparaṁ, bhikkhave, asappuriso vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ …pe… tatiyaṁ jhānaṁ … catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. So iti paṭisañcikkhati: ‘ahaṁ khomhi catutthajjhānasamāpattiyā lābhī, ime panaññe bhikkhū catutthajjhānasamāpattiyā na lābhino’ti. So tāya catutthajjhānasamāpattiyā attānukkaṁseti, paraṁ vambheti. Ayampi, bhikkhave, asappurisadhammo. Sappuriso ca kho, bhikkhave, iti paṭisañcikkhati: ‘catutthajjhānasamāpattiyāpi kho atammayatā vuttā bhagavatā. Yena yena hi maññanti tato taṁ hoti aññathā’ti. So atammayataññeva antaraṁ karitvā tāya catutthajjhānasamāpattiyā nevattānukkaṁseti, na paraṁ vambheti. Ayampi, bhikkhave, sappurisadhammo.
Furthermore, take an untrue person who, as the placing of the mind and keeping it connected are stilled, enters and remains in the second absorption … third absorption … fourth absorption. They reflect: ‘I have attained the fourth absorption, unlike these other mendicants.’ And they glorify themselves and put others down on account of that. This too is a quality of an untrue person. A true person reflects: ‘The Buddha has spoken of not being determined even by the attainment of the fourth absorption. For however they imagine it, it turns out to be something else.’ Keeping to themselves the fact that they are not determined by that, they don’t glorify themselves and put others down on account of their attainment of the fourth absorption. This too is a quality of a true person.
Này các Tỳ khưu, lại nữa, người không phải bậc chân nhân làm cho tịnh chỉ tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm... ... Thiền thứ ba... chứng và trú Thiền thứ tư. Vị ấy suy xét như sau: ‘Ta là người đắc định Thiền thứ tư, còn các Tỳ khưu khác này không đắc định Thiền thứ tư’. Do sự đắc định Thiền thứ tư ấy, vị ấy tán dương mình, chê bai người khác. Này các Tỳ khưu, đây cũng là pháp của người không phải bậc chân nhân. Và này các Tỳ khưu, bậc chân nhân suy xét như sau: ‘Đối với cả sự đắc định Thiền thứ tư, đức Thế Tôn cũng đã nói về trạng thái không dính mắc. Do bất cứ điều gì mà họ tưởng tri, sự việc lại trở thành khác đi so với điều ấy’. Vị ấy chỉ lấy trạng thái không dính mắc làm cốt lõi, do sự đắc định Thiền thứ tư ấy, không tán dương mình, không chê bai người khác. Này các Tỳ khưu, đây cũng là pháp của bậc chân nhân.
Puna caparaṁ, bhikkhave, asappuriso sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharati. So iti paṭisañcikkhati: ‘ahaṁ khomhi ākāsānañcāyatanasamāpattiyā lābhī, ime panaññe bhikkhū ākāsānañcāyatanasamāpattiyā na lābhino’ti. So tāya ākāsānañcāyatanasamāpattiyā attānukkaṁseti, paraṁ vambheti. Ayampi, bhikkhave, asappurisadhammo. Sappuriso ca kho, bhikkhave, iti paṭisañcikkhati: ‘ākāsānañcāyatanasamāpattiyāpi kho atammayatā vuttā bhagavatā. Yena yena hi maññanti tato taṁ hoti aññathā’ti. So atammayataññeva antaraṁ karitvā tāya ākāsānañcāyatanasamāpattiyā nevattānukkaṁseti, na paraṁ vambheti. Ayampi, bhikkhave, sappurisadhammo.
Furthermore, take an untrue person who, going totally beyond perceptions of form, with the disappearance of perceptions of impingement, not focusing on perceptions of diversity, aware that ‘space is infinite’, enters and remains in the dimension of infinite space …
Này các Tỳ khưu, lại nữa, người không phải bậc chân nhân, do vượt qua hoàn toàn các sắc tưởng, do làm cho biến mất các đối ngại tưởng, do không tác ý đến các dị tưởng, nghĩ rằng ‘hư không là vô biên’, chứng và trú Không Vô Biên Xứ. Vị ấy suy xét như sau: ‘Ta là người đắc định Không Vô Biên Xứ, còn các Tỳ khưu khác này không đắc định Không Vô Biên Xứ’. Do sự đắc định Không Vô Biên Xứ ấy, vị ấy tán dương mình, chê bai người khác. Này các Tỳ khưu, đây cũng là pháp của người không phải bậc chân nhân. Và này các Tỳ khưu, bậc chân nhân suy xét như sau: ‘Đối với cả sự đắc định Không Vô Biên Xứ, đức Thế Tôn cũng đã nói về trạng thái không dính mắc. Do bất cứ điều gì mà họ tưởng tri, sự việc lại trở thành khác đi so với điều ấy’. Vị ấy chỉ lấy trạng thái không dính mắc làm cốt lõi, do sự đắc định Không Vô Biên Xứ ấy, không tán dương mình, không chê bai người khác. Này các Tỳ khưu, đây cũng là pháp của bậc chân nhân.
Này các Tỳ khưu, lại nữa, người không phải bậc chân nhân, do vượt qua hoàn toàn Không Vô Biên Xứ, nghĩ rằng ‘thức là vô biên’, chứng và trú Thức Vô Biên Xứ. Vị ấy suy xét như sau: ‘Ta là người đắc định Thức Vô Biên Xứ, còn các Tỳ khưu khác này không đắc định Thức Vô Biên Xứ’. Do sự đắc định Thức Vô Biên Xứ ấy, vị ấy tán dương mình, chê bai người khác. Này các Tỳ khưu, đây cũng là pháp của người không phải bậc chân nhân. Và này các Tỳ khưu, bậc chân nhân suy xét như sau: ‘Đối với cả sự đắc định Thức Vô Biên Xứ, đức Thế Tôn cũng đã nói về trạng thái không dính mắc. Do bất cứ điều gì mà họ tưởng tri, sự việc lại trở thành khác đi so với điều ấy’. Vị ấy chỉ lấy trạng thái không dính mắc làm cốt lõi, do sự đắc định Thức Vô Biên Xứ ấy, không tán dương mình, không chê bai người khác. Này các Tỳ khưu, đây cũng là pháp của bậc chân nhân.
“Này các Tỳ khưu, lại nữa, phi chân nhân sau khi vượt qua hoàn toàn Thức Vô Biên Xứ, với ý niệm ‘không có gì cả’, chứng đạt và an trú Vô Sở Hữu Xứ. Vị ấy suy xét như vầy: ‘Ta đã đắc định Vô Sở Hữu Xứ, còn các Tỳ khưu khác này thì không đắc định Vô Sở Hữu Xứ’. Vị ấy, do định Vô Sở Hữu Xứ ấy, tán dương mình, chê bai người khác. Này các Tỳ khưu, đây cũng là pháp của phi chân nhân. Và này các Tỳ khưu, bậc chân nhân suy xét như vầy: ‘Trạng thái không dính mắc đã được Đức Thế Tôn thuyết giảng ngay cả đối với định Vô Sở Hữu Xứ. Bởi vì, phàm người ta tưởng tượng theo cách nào, thì sự việc lại thành ra khác đi’. Vị ấy, sau khi đặt trạng thái không dính mắc làm cốt lõi, do định Vô Sở Hữu Xứ ấy, không tán dương mình, không chê bai người khác. Này các Tỳ khưu, đây cũng là pháp của bậc chân nhân.”
“Này các Tỳ khưu, lại nữa, phi chân nhân sau khi vượt qua hoàn toàn Vô Sở Hữu Xứ, chứng đạt và an trú Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Vị ấy suy xét như vầy: ‘Ta đã đắc định Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, còn các Tỳ khưu khác này thì không đắc định Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ’. Vị ấy, do định Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ ấy, tán dương mình, chê bai người khác. Này các Tỳ khưu, đây cũng là pháp của phi chân nhân. Và này các Tỳ khưu, bậc chân nhân suy xét như vầy: ‘Trạng thái không dính mắc đã được Đức Thế Tôn thuyết giảng ngay cả đối với định Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Bởi vì, phàm người ta tưởng tượng theo cách nào, thì sự việc lại thành ra khác đi’. Vị ấy, sau khi đặt trạng thái không dính mắc làm cốt lõi, do định Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ ấy, không tán dương mình, không chê bai người khác. Này các Tỳ khưu, đây cũng là pháp của bậc chân nhân.”
Puna caparaṁ, bhikkhave, sappuriso sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja viharati. Paññāya cassa disvā āsavā parikkhīṇā honti. Ayaṁ, bhikkhave, bhikkhu na kiñci maññati, na kuhiñci maññati, na kenaci maññatī”ti.
Furthermore, take a true person who, going totally beyond the dimension of neither perception nor non-perception, enters and remains in the cessation of perception and feeling. And, having seen with wisdom, their defilements come to an end. This is a mendicant who does not conceive with anything, does not conceive regarding anything, does not conceive through anything.”
“Này các Tỳ khưu, lại nữa, bậc chân nhân sau khi vượt qua hoàn toàn Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, chứng đạt và an trú Diệt Thọ Tưởng Định. Và sau khi thấy bằng trí tuệ, các lậu hoặc của vị ấy được đoạn tận. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu này không tưởng tượng về bất cứ điều gì, không tưởng tượng ở bất cứ nơi đâu, không tưởng tượng bởi bất cứ cái gì.”
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
Đức Thế Tôn đã thuyết điều này. Các Tỳ khưu ấy, với tâm hoan hỷ, đã tán thưởng lời dạy của Đức Thế Tôn.
Sappurisasuttaṁ niṭṭhitaṁ tatiyaṁ.
Kinh Bậc Chân Nhân, thứ ba, đã kết thúc.