- Majjhima Nikāya 112
Chabbisodhanasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Chabbisodhanasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi, Jetavana, tại tinh xá ông Anāthapiṇḍika. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo, “Này các Tỷ-kheo”. “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
SC 2—Ở đây, này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo nói lên chánh trí (annam) như sau: “Ta tuệ tri như vầy:” Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa” ”.
SC 3Này các Tỷ-kheo, lời nói của vi Tỷ-kheo ấy, không nên tán thán cũng không nên bác bỏ. Không tán thán, không bác bỏ, cần hỏi câu hỏi: “Này Hiền giả, có bốn hình thức tuyên bố này được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác chân chánh nói lên. Thế nào là bốn? Cái gì được thấy được nói lên như là được thấy. Cái gì được nghe được nói lên là được nghe. Cái gì được cảm giác được nói lên như là cảm giác. Cái gì được nhận thức được nói lên như là được nhận thức. Bốn hình thức tuyên bố này, Này Hiền giả, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác chơn chánh nói lên. Nhưng biết cái gì, thấy cái gì, đối với bốn hình thức tuyên bố này, Tôn giả có thể nói là tâm của Tôn giả được giải thoát khỏi các lậu hoặc không có chấp thủ?”
SC 4Này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo, các lậu hoặc đã đoạn tận, tu hành thành mãn, những việc phải làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt mục đích, đã đoạn trừ hữu kiết sử, và đã được giải thoát nhờ chánh trí, câu trả lời tùy pháp (anudhamma) của vị ấy phải như sau:
SC 5“Này chư Hiền, tôi không cảm thấy luyến ái, không chống đối, độc lập, không trói buộc, giải thoát, không hệ lụy, an trú với tâm không có hạn chế, đối với những vật được thấy … được nghe … được cảm giác … được nhận thức. Chư Hiền, vì rằng tôi biết như vậy, thấy như vậy, đối với bốn hình thức tuyên bố này, tôi có thể nói tâm tôi được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ”.
SC 6Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải được tán thán, phải được tùy hỷ với lời nói: “Lành thay!” Sau khi tán thán, tùy hỷ với lời nói: “Lành thay”, một câu hỏi nữa cần phải được hỏi.:
SC 7“Này Hiền giả, năm thủ uẩn này được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác chân chánh nói lên. Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, thọ thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Năm thủ uẩn này, này Hiền giả, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác chân chánh nói lên. Nhưng biết cái gì, thấy cái gì, đối với năm thủ uẩn này, Tôn giả có thể nói tâm của Tôn giả được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ?”
SC 8Này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo các lậu hoặc đã đoạn tận, tu hành thành mãn, những việc phải làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt mục đích, đã đoạn trừ hữu kiết sử, và đã được giải thoát nhờ chánh trí, câu trả lời tùy pháp của vị ấy phải như sau:
SC 9“Này chư Hiền, sau khi biết sắc này là vô lực, biến hoại, không an ổn, đối với những sắc là những chấp thủ phương tiện (upayupadana), là những tâm cố chấp, thiên chấp, tùy miên, đối với những sắc ấy, với sự đoạn tận, đoạn ly, đoạn diệt, đoạn trừ, đoạn xả, tôi tuệ tri tâm tôi được giải thoát.
SC 10Này chư Hiền, sau khi biết thọ này …
SC 11Này chư Hiền, sau khi biết tưởng này.
SC 12Này chư Hiền, sau khi biết hành này.
SC 13Này chư Hiền, sau khi biết thức này là vô lực, biến hoại, không an ổn, đối với thức là những chấp thủ phương tiện, là những tâm cố chấp, thiên chấp, tùy miên. Ðối với những thức ấy, với sự đoạn tận, đoạn ly, đoạn diệt, đoạn trừ, đoạn xả, tôi tuệ tri tâm tôi được giải thoát.
SC 14Chư Hiền, vì rằng tôi biết như vậy, thấy như vậy, đối với năm thủ uẩn này, tôi có thể nói tâm tôi được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ”.
SC 15Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải được tán thán, phải được tùy hỷ với lời nói: “Lành thay!”. Sau khi tán thán, tùy hỷ với lời nói: “Lành thay”, một câu hỏi nữa cần phải được hỏi thêm:
SC 16“Này Hiền giả, sáu giới này được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác chơn chánh nói lên. Thế nào là sáu? Ðịa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, không giới, thức giới. Sáu giới này, này Hiền giả, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nói lên. Nhưng biết cái gì, thấy cái gì với sáu giới này, Tôn giả có thể nói tâm của Tôn giả được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ?”
SC 17Này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo các lậu hoặc đã đoạn tận, tu hành thành mãn, những việc phải làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt mục địch, đã đoạn trừ hữu kiết sử, và đã được giải thoát nhờ chánh trí, câu trả lời tùy pháp của vị ấy phải như sau:
SC 18“Chư Hiền, tôi đã đi đến địa giới như là không phải tự ngã, và (đi đến) tự ngã như là không tùy thuộc địa giới. Ðối với những pháp là những chấp thủ phương tiện tùy thuộc địa giới, là những tâm cố chấp, thiên chấp, tùy miên; đối với những pháp ấy, với sự đoạn tận, đoạn ly, đoạn diệt, đoạn trừ, đoạn xả, tôi tuệ tri tâm tôi được giải thoát.
SC 19Này chư Hiền, sau khi tôi đã đi đến thủy giới …
SC 20Này chư Hiền, sau khi tôi đã đi đến hỏa giới …
SC 21Này chư Hiền, sau khi tôi đã đi đến phong giới …
SC 22Này chư Hiền, sau khi tôi đã đi đến không giới …
SC 23Này chư Hiền, sau khi tôi đã đi đến thức giới như là không phải tự ngã, và (đi đến) tự ngã như là không tùy thuộc thức giới. Ðối với những pháp là những chấp thủ phương tiện tùy thuộc thức giới, là những tâm cố chấp, thiên chấp, tùy miên; đối với những pháp ấy, với sự đoạn tận, đoạn ly, đoạn diệt, đoạn trừ, đoạn xả, tôi tuệ tri tâm tôi được giải thoát.
SC 24Chư Hiền, vì rằng tôi biết như vậy, thấy như vậy, đối với sáu giới này, tôi có thể nói tâm tôi được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ”.
SC 25Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ấy cần phải được tán thán, cần phải được tùy hỷ với lời nói: “Lành thay!”. Sau khi tán thán tùy hỷ với lời nói:” Lành thay”, một câu hỏi nữa cần phải được hỏi:
SC 26“Này Hiền giả, sáu nội ngoại xứ này được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác chơn chánh nói lên. Thế nào là sáu? Mắt và sắc, tai và tiếng, mũi và hương, lưỡi và vị, thân và xúc, ý và pháp. Sáu nội ngoại xứ này, này Hiền giả, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nói lên. Nhưng biết cái gì, thấy cái gì, thấy cái gì đối với sáu nội ngoại xứ này, Tôn giả có thể nói tâm của Tôn giả được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ?”.
SC 27Này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo các lậu hoặc đã đoạn tận, tu hành thành mãn, những việc phải làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt mục đích, đã đoạn trừ hữu kiết sử, và đã được giải thoát nhờ chánh trí, câu trả lời tùy pháp của vị ấy phải như sau:
SC 28“Chư Hiền, đối với mắt, đối với sắc, đối với nhãn thức, đối với những pháp được nhận thức bởi nhãn thức, phàm có dục gì, tham gì, hỷ gì, ái gì, phàm có những pháp chấp thủ phương tiện, những tâm cố chấp, thiên chấp, tùy miên. Ðối với những pháp ấy, với sự đoạn tận, đoạn ly, đoạn diệt, đoạn trừ, đoạn xả, tôi tuệ tri tâm tôi được giải thoát. Chư Hiền, vì rằng tôi biết như vậy, thấy như vậy, đối với sáu nội ngoại xứ này, tôi có thể nói tâm tôi được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.
SC 29Chư Hiền, đối với tai, đối với tiếng, đối với nhĩ thức…; chư Hiền, đối với mũi, đối với hương, đối với tỷ thức…; chư Hiền, đối với lưỡi, đối với vị, đối với thiệt thức…; chư Hiền, đối với thân, đối với xúc, đối với thân thức…; chư Hiền, đối với ý, đối với pháp, đối với ý thức, đối với các pháp được nhận thức bởi ý thức, phàm có dục gì, tham gì, hỷ gì, ái gì, phàm có những chấp thủ phương tiện, những tâm cố chấp, thiên chấp, tùy miên; đối với những pháp ấy, với sự đoạn tận, đoạn ly, đoạn diệt, đoạn trừ, đoạn xả, tôi tuệ tri tâm tôi được giải thoát.
SC 30Chư Hiền, vì rằng tôi biết như vậy, thấy như vậy, đối với sáu nội ngoại xứ này, tôi có thể nói tâm tôi được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ”.
SC 31Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ấy cần phải được tán thán, cần phải được tùy hỷ với lời nói: “Lành thay!” Sau khi tán thán, tùy hỷ với lời nói: “Lành thay”, một câu hỏi nữa cần phải được hỏi thêm:
SC 32“Nhưng này Hiền giả, do biết gì, thấy gì, do đối với các thân có nhận thức này và đối với tất cả tướng ở ngoài, Tôn giả có thể nói về mạn tùy miên: “Ta là người làm, sở thuộc của ta là người làm”, mạn tùy miên của Tôn giả được đoạn trừ một cách hoàn toàn?”.
SC 33Chư Tỷ-kheo, đối với Tỷ-kheo các lậu hoặc đã đoạn tận, tu hành thành mãn, những việc phải làm, đã làm, đã đặt gánh xuống, đã thành đạt mục đích, đã đoạn trừ hữu kiết sử, và đã được giải thoát nhờ chánh trí, câu trả lời tùy pháp của vị ấy phải như sau:
SC 34“Chư Hiền, thuở xưa, khi tôi chưa xuất gia, tôi còn ngu muội. Tôi được Như Lai, đệ tử Như Lai thuyết pháp. Sau khi nghe pháp. Tôi có lòng tịnh tín đối với Như Lai. Thành tựu được tịnh tín ấy, tôi suy nghĩ: “Ðời sống gia đình đầy những triền phược, con đường đầy những bụi đời. Ðời sống xuất gia phóng khoáng như hư không. Thật rất khó cho một người sống ở gia đình có thể sống theo Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình”.
SC 35Chư Hiền, một thời gian sau, tôi từ bỏ tài sản nhỏ hay từ bỏ tài sản lớn, từ bỏ bà con quyến thuộc nhỏ hay từ bỏ bà con quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, và xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
SC 36Khi đã xuất gia như vậy, tôi thành tựu học giới và nếp sống các vị Tỷ-kheo, tôi từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót tất cả chúng sanh và các loại hữu tình. Tôi từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho, chỉ lấy những vật đã cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống thanh tịnh không có trộm cướp. Tôi từ bỏ phi Phạm hạnh, sống theo Phạm hạnh, sống tránh xa phi Phạm hạnh, từ bỏ dâm dục tục pháp.
SC 37Tôi từ bỏ nói láo, tránh xa nói láo, nói những lời chơn thật, y chỉ trên sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không phản lại đời. Tôi từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi; nghe điều gì ở chỗ này, không đến nói chỗ kia để sanh chia rẽ ở những người này; nghe điều này ở chỗ kia, không đi nói với những người này, để sinh chia rẽ ở những người kia. Tôi sống hòa hợp những kẻ ly gián, khuyến khích những kẻ hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, thoải mái trong hòa hợp, hân hoan trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp. Tôi từ bỏ nói lời độc ác, tránh xa nói lời độc ác, tôi nói những lời nhẹ nhàng, thuận tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người, tôi nói những lời nói như vậy. Tôi từ bỏ nói lời phù phiếm, tránh xa nói phù phiếm, nói đúng thời, nói những lời chân thật, nói những lời có ý nghĩa, nói những lời về Chánh pháp, nói những lời về luật, nói những lời đáng được gìn giữ, những lời hợp thời thuận lý, có mạch lạc hệ thống, có ích lợi.
SC 38Tôi từ bỏ, không làm hại đến các hột giống và các loại cây cỏ, dùng một ngày một bữa, không ăn ban đêm, từ bỏ không ăn phi thời. Tôi từ bỏ, không đi xem múa, hát, nhạc, các cuộc trình diễn. Tôi từ bỏ, không trang sức bằng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa, các thời trang, các thời sức. Tôi từ bỏ, không dùng giường cao và giường lớn. Tôi từ bỏ, không nhận các hạt sống. Tôi từ bỏ, không nhận thịt sống. Tôi từ bỏ, không nhận đàn bà, con gái. Tôi từ bỏ, không nhận nô tỳ gái và trai. Tôi từ bỏ, không nhận cừu dê. Tôi từ bỏ, không nhận gia cầm và heo. Tôi từ bỏ, không nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái. Tôi từ bỏ, không nhận ruộng nương và đất đai. Tôi từ bỏ, không nhận người môi giới hoặc tự mình làm môi giới. Tôi từ bỏ, không buôn bán. Tôi từ bỏ các sự gian lận bằng cân tiền bạc và đo lường. Tôi từ bỏ các tà hạnh như hối lộ, gian trá, lừa đảo. Tôi từ bỏ, không làm thương tổn, sát hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá.
SC 39Tôi bằng lòng (tri túc) với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo y bát. Ví như con chim bay đến chỗ nào cũng mang theo hai cánh; cũng vậy, tôi bằng lòng với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo y bát. Tôi thành tựu Thánh giới uẩn này, cảm giác lạc thọ thuộc nội tâm, không lỗi lầm.
SC 40Khi mắt thấy sắc, tôi không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì con mắt không được chế ngự khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, tôi tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng … mũi ngửi hương … lưỡi nếm vị … thân cảm xúc … ý nhận thức các pháp, tôi không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì ý căn không được chế ngự khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, tôi tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. Tôi thành tựu Thánh hộ trì các căn này, cảm giác lạc thọ thuộc nội tâm, không vẩn đục.
SC 41Khi đi tới, khi đi lui, tôi đều tỉnh giác. Khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh, tôi đều tỉnh giác. Khi co tay, khi duỗi tay, tôi đều tỉnh giác. Khi mang y kép, y bát, tôi đều tỉnh giác. Khi ăn, uống, nhai, nuốt, tôi đều tỉnh giác. Khi đi đại tiện, tiểu tiện, tôi đều tỉnh giác. Khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, yên lặng, tôi đều tỉnh giác.
SC 42Và tôi đều thành tựu Thánh giới uẩn này, thành tựu Thánh hộ trì các căn này và thành tựu Thánh chánh niệm tỉnh giác này, chọn một chỗ thanh vắng, tịch mịch như rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm.
SC 43Sau khi đi khất thực về và ăn xong, tôi ngồi kiết-già, lưng thẳng tại chỗ nói trên và an trú chánh niệm trước mặt. Tôi từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm hết tham ái. Từ bỏ sân hận, tôi sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rửa tâm hết sân hân. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, tôi sống thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trâm thụy miên. Trừ bỏ trạo cử hối quá, tôi sống không trạo cử, hối quá, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử, hối quá. Từ bỏ nghi ngờ, tôi sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp.
SC 44Tôi từ bỏ năm triền cái, các pháp làm cho tâm ô uế, làm cho trí tuệ muội lược này, ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Tôi diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Tôi ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Tôi xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.
SC 45Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, tôi dẫn tâm, hướng tâm đến lậu tận trí. Tôi biết như thật: “Ðây là khổ”, biết như thật: “Ðây là nguyên nhân của khổ”, biết như thật: “Ðây là khổ diệt”, biết như thật: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”, biết như thật: “Ðây là những lậu hoặc”, biết như thật: “Ðây là nguyên nhân của lậu hoặc”, biết như thật: “Ðây là các lậu hoặc được đoạn trừ”, biết như thật: “Ðây là con đường đưa đến các lậu hoặc được diệt trừ”.
SC 46Tôi nhờ biết như vậy, nhờ thấy như vậy, tâm của tôi thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, tôi khởi lên sự hiểu biết: “Ta đã giải thoát” ”. Tôi biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm; không còn trở lui trạng thái này nữa”.
SC 47Chư Hiền do biết như vậy, thấy như vậy, đối với các thân có nhận thức này và đối với tất cả tướng ở ngoài, mạn tùy miên: “Ta là người làm, sở thuộc của ta là người làm”, mạn tùy miên này được đoạn trừ một cách hoàn toàn”.”
SC 48Này các Tỷ-kheo Tỷ-kheo ấy cần phải được tán thán, cần phải được tùy hỷ với lời nói: “Lành thay!” Sau khi tán thán, tùy hỷ với lời nói: “Lành thay!”, vị ấy cần phải nói thêm như sau: “Thật lợi ích thay cho chúng tôi, thật khéo lợi ích thay cho chúng tôi, khi chúng tôi được thấy một vị sống Phạm hạnh như Tôn giả”.
SC 49Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). 14–07–2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
2. Kinh Sáu Thanh Tịnh
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
98. Tôi nghe như vầy. Một thời, Thế Tôn trú tại Sāvatthī, trong vườn của ông Anāthapiṇḍika, tại Jetavana. Tại đó, Thế Tôn gọi các Tỳ khưu: “Này các Tỳ khưu.” Các Tỳ khưu ấy vâng đáp Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn.” Thế Tôn nói điều này:
“Idha, bhikkhave, bhikkhu aññaṁ byākaroti: ‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyāti pajānāmī’ti.
Tassa, bhikkhave, bhikkhuno bhāsitaṁ neva abhinanditabbaṁ nappaṭikkositabbaṁ. Anabhinanditvā appaṭikkositvā pañho pucchitabbo: ‘cattārome, āvuso, vohārā tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena sammadakkhātā. Katame cattāro? Diṭṭhe diṭṭhavāditā, sute sutavāditā, mute mutavāditā, viññāte viññātavāditā—ime kho, āvuso, cattāro vohārā tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena sammadakkhātā. Kathaṁ jānato panāyasmato, kathaṁ passato imesu catūsu vohāresu anupādāya āsavehi cittaṁ vimuttan’ti?
Khīṇāsavassa, bhikkhave, bhikkhuno vusitavato katakaraṇīyassa ohitabhārassa anuppattasadatthassa parikkhīṇabhavasaṁyojanassa sammadaññāvimuttassa ayamanudhammo hoti veyyākaraṇāya: ‘diṭṭhe kho ahaṁ, āvuso, anupāyo anapāyo anissito appaṭibaddho vippamutto visaṁyutto vimariyādīkatena cetasā viharāmi. Sute kho ahaṁ, āvuso …pe… mute kho ahaṁ, āvuso … viññāte kho ahaṁ, āvuso, anupāyo anapāyo anissito appaṭibaddho vippamutto visaṁyutto vimariyādīkatena cetasā viharāmi. Evaṁ kho me, āvuso, jānato evaṁ passato imesu catūsu vohāresu anupādāya āsavehi cittaṁ vimuttan’ti.
Tassa, bhikkhave, bhikkhuno ‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinanditabbaṁ anumoditabbaṁ. ‘Sādhū’ti bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uttariṁ pañho pucchitabbo.
“Take a mendicant who declares enlightenment: ‘I understand: “Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.”’
You should neither approve nor reject that mendicant’s statement. Rather, you should question them: ‘Reverend, these four kinds of expression have been rightly explained by the Blessed One, who knows and sees, the perfected one, the fully awakened Buddha. What four? Saying you’ve seen, heard, thought, or known something, and you have. These are the four kinds of expression rightly explained by the Blessed One, who knows and sees, the perfected one, the fully awakened Buddha. How does the venerable know and see regarding these four kinds of expression so that your mind is freed from defilements by not grasping?’
For a mendicant with defilements ended—who has completed the spiritual journey, done what had to be done, laid down the burden, achieved their heart’s goal, utterly ended the fetter of continued existence, and is rightly freed through enlightenment—it is in line with the teaching to answer: ‘Regarding what is seen, reverends, I live without getting involved or shying away, independent, untied, liberated, detached, with mind free of boundaries. Regarding what is heard … thought … or known, I live without getting involved or shying away, independent, untied, liberated, detached, with mind free of boundaries. That is how I know and see regarding these four kinds of expression so that my mind is freed from defilements by not grasping.’
Saying ‘Good!’ you should applaud and cheer that mendicant’s statement, then ask a further question:
“Này các tỳ khưu, ở đây, có vị tỳ khưu tuyên bố chánh trí: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa, tôi biết rõ như vậy’. Này các tỳ khưu, lời nói của vị tỳ khưu ấy không nên tán thán, không nên bác bỏ. Không tán thán, không bác bỏ, nên hỏi một câu hỏi: ‘Này chư hiền, có bốn cách nói này đã được đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, bậc biết, bậc thấy, khéo thuyết giảng. Bốn là gì? Trong cái được thấy, nói là đã thấy; trong cái được nghe, nói là đã nghe; trong cái được cảm nhận, nói là đã cảm nhận; trong cái được nhận thức, nói là đã nhận thức. Này chư hiền, đây là bốn cách nói đã được đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, bậc biết, bậc thấy, khéo thuyết giảng. Vậy do biết như thế nào, do thấy như thế nào mà tâm của tôn giả được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ đối với bốn cách nói này?’ Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu đã tận trừ lậu hoặc, đã sống phạm hạnh, đã làm việc cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích tối hậu, đã đoạn tận hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí, đây là cách trả lời đúng pháp: ‘Này chư hiền, đối với cái được thấy, tôi trú với tâm không giới hạn, không gần gũi, không xa lánh, không nương tựa, không bị trói buộc, đã giải thoát, không bị ràng buộc. Này chư hiền, đối với cái được nghe... ... Này chư hiền, đối với cái được cảm nhận... Này chư hiền, đối với cái được nhận thức, tôi trú với tâm không giới hạn, không gần gũi, không xa lánh, không nương tựa, không bị trói buộc, đã giải thoát, không bị ràng buộc. Này chư hiền, do biết như vậy, do thấy như vậy mà tâm của tôi được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ đối với bốn cách nói này’. Này các tỳ khưu, đối với lời nói của vị tỳ khưu ấy, nên tán thán ‘Lành thay!’, nên tùy hỷ. Sau khi đã tán thán ‘Lành thay!’, đã tùy hỷ lời nói ấy, nên hỏi thêm một câu hỏi nữa.
‘Pañcime, āvuso, upādānakkhandhā tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena sammadakkhātā. Katame pañca? Seyyathidaṁ—rūpupādānakkhandho, vedanupādānakkhandho, saññupādānakkhandho, saṅkhārupādānakkhandho, viññāṇupādānakkhandho—ime kho, āvuso, pañcupādānakkhandhā tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena sammadakkhātā. Kathaṁ jānato panāyasmato, kathaṁ passato imesu pañcasu upādānakkhandhesu anupādāya āsavehi cittaṁ vimuttan’ti?
Khīṇāsavassa, bhikkhave, bhikkhuno vusitavato katakaraṇīyassa ohitabhārassa anuppattasadatthassa parikkhīṇabhavasaṁyojanassa sammadaññāvimuttassa ayamanudhammo hoti veyyākaraṇāya: ‘rūpaṁ kho ahaṁ, āvuso, abalaṁ virāgunaṁ anassāsikanti viditvā ye rūpe upāyūpādānā cetaso adhiṭṭhānābhinivesānusayā tesaṁ khayā virāgā nirodhā cāgā paṭinissaggā vimuttaṁ me cittanti pajānāmi. Vedanaṁ kho ahaṁ, āvuso …pe… saññaṁ kho ahaṁ, āvuso … saṅkhāre kho ahaṁ, āvuso … viññāṇaṁ kho ahaṁ, āvuso, abalaṁ virāgunaṁ anassāsikanti viditvā ye viññāṇe upāyūpādānā cetaso adhiṭṭhānābhinivesānusayā tesaṁ khayā virāgā nirodhā cāgā paṭinissaggā vimuttaṁ me cittanti pajānāmi. Evaṁ kho me, āvuso, jānato evaṁ passato imesu pañcasu upādānakkhandhesu anupādāya āsavehi cittaṁ vimuttan’ti.
Tassa, bhikkhave, bhikkhuno ‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinanditabbaṁ, anumoditabbaṁ. ‘Sādhū’ti bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uttariṁ pañho pucchitabbo.
‘Reverend, these five grasping aggregates have been rightly explained by the Buddha. What five? That is: the grasping aggregates of form, feeling, perception, choices, and consciousness. These are the five grasping aggregates that have been rightly explained by the Buddha. How does the venerable know and see regarding these five grasping aggregates so that your mind is freed from defilements by not grasping?’
For a mendicant with defilements ended it is in line with the teaching to answer: ‘Reverends, knowing that form is powerless, faded, and unreliable, I understand that my mind is freed through the ending, fading away, cessation, giving away, and letting go of attraction, grasping, mental fixation, insistence, and underlying tendency for form. Knowing that feeling … perception … choices … consciousness is powerless, faded, and unreliable, I understand that my mind is freed through the ending, fading away, cessation, giving away, and letting go of attraction, grasping, mental fixation, insistence, and underlying tendency for consciousness. That is how I know and see regarding these five grasping aggregates so that my mind is freed from defilements by not grasping.’
Saying ‘Good!’ you should applaud and cheer that mendicant’s statement, then ask a further question:
99. “‘Này chư hiền, có năm thủ uẩn này đã được đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, bậc biết, bậc thấy, khéo thuyết giảng. Năm là gì? Đó là: sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này chư hiền, đây là năm thủ uẩn đã được đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, bậc biết, bậc thấy, khéo thuyết giảng. Vậy do biết như thế nào, do thấy như thế nào mà tâm của tôn giả được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ đối với năm thủ uẩn này?’ Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu đã tận trừ lậu hoặc, đã sống phạm hạnh, đã làm việc cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích tối hậu, đã đoạn tận hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí, đây là cách trả lời đúng pháp: ‘Này chư hiền, sau khi biết rằng sắc là yếu ớt, có bản chất ly tham, không đáng tin cậy, do sự đoạn tận, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ, xả ly những sự tiếp cận, chấp thủ, những sự quyết định, thiên kiến, và tùy miên của tâm đối với sắc, tôi biết rằng: “Tâm của tôi đã được giải thoát”. Này chư hiền, đối với thọ... ... Này chư hiền, đối với tưởng... Này chư hiền, đối với các hành... Này chư hiền, sau khi biết rằng thức là yếu ớt, có bản chất ly tham, không đáng tin cậy, do sự đoạn tận, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ, xả ly những sự tiếp cận, chấp thủ, những sự quyết định, thiên kiến, và tùy miên của tâm đối với thức, tôi biết rằng: “Tâm của tôi đã được giải thoát”. Này chư hiền, do biết như vậy, do thấy như vậy mà tâm của tôi được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ đối với năm thủ uẩn này’. Này các tỳ khưu, đối với lời nói của vị tỳ khưu ấy, nên tán thán ‘Lành thay!’, nên tùy hỷ. Sau khi đã tán thán ‘Lành thay!’, đã tùy hỷ lời nói ấy, nên hỏi thêm một câu hỏi nữa.
‘Chayimā, āvuso, dhātuyo tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena sammadakkhātā. Katamā cha? Pathavīdhātu, āpodhātu, tejodhātu, vāyodhātu, ākāsadhātu, viññāṇadhātu—imā kho, āvuso, cha dhātuyo tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena sammadakkhātā. Kathaṁ jānato panāyasmato, kathaṁ passato imāsu chasu dhātūsu anupādāya āsavehi cittaṁ vimuttan’ti?
Khīṇāsavassa, bhikkhave, bhikkhuno vusitavato katakaraṇīyassa ohitabhārassa anuppattasadatthassa parikkhīṇabhavasaṁyojanassa sammadaññāvimuttassa ayamanudhammo hoti veyyākaraṇāya: ‘pathavīdhātuṁ kho ahaṁ, āvuso, na attato upagacchiṁ, na ca pathavīdhātunissitaṁ attānaṁ. Ye ca pathavīdhātunissitā upāyūpādānā cetaso adhiṭṭhānābhinivesānusayā tesaṁ khayā virāgā nirodhā cāgā paṭinissaggā vimuttaṁ me cittanti pajānāmi. Āpodhātuṁ kho ahaṁ, āvuso …pe… tejodhātuṁ kho ahaṁ, āvuso … vāyodhātuṁ kho ahaṁ, āvuso … ākāsadhātuṁ kho ahaṁ, āvuso … viññāṇadhātuṁ kho ahaṁ, āvuso, na attato upagacchiṁ, na ca viññāṇadhātunissitaṁ attānaṁ. Ye ca viññāṇadhātunissitā upāyūpādānā cetaso adhiṭṭhānābhinivesānusayā tesaṁ khayā virāgā nirodhā cāgā paṭinissaggā vimuttaṁ me cittanti pajānāmi. Evaṁ kho me, āvuso, jānato, evaṁ passato imāsu chasu dhātūsu anupādāya āsavehi cittaṁ vimuttan’ti.
Tassa, bhikkhave, bhikkhuno ‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinanditabbaṁ, anumoditabbaṁ. ‘Sādhū’ti bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uttariṁ pañho pucchitabbo.
‘Reverend, these six elements have been rightly explained by the Buddha. What six? The elements of earth, water, fire, air, space, and consciousness. These are the six elements that have been rightly explained by the Buddha. How does the venerable know and see regarding these six elements so that your mind is freed from defilements by not grasping?’
For a mendicant with defilements ended it is in line with the teaching to answer: ‘Reverends, I’ve not taken the earth element as self, nor is there a self based on the earth element. And I understand that my mind is freed through the ending, fading away, cessation, giving away, and letting go of attraction, grasping, mental fixation, insistence, and underlying tendency based on the earth element. I’ve not taken the water element … fire element … air element … space element … consciousness element as self, nor is there a self based on the consciousness element. And I understand that my mind is freed through the ending of attraction based on the consciousness element. That is how I know and see regarding these six elements so that my mind is freed from defilements by not grasping.’
Saying ‘Good!’ you should applaud and cheer that mendicant’s statement, then ask a further question:
100. ‘Này hiền giả, sáu giới này đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, khéo thuyết giảng. Sáu giới nào? Địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, không giới, và thức giới. Này hiền giả, đây là sáu giới đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, khéo thuyết giảng. Nhưng do biết như thế nào, do thấy như thế nào mà tâm của tôn giả được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ đối với sáu giới này?’ Này các Tỳ khưu, đối với vị Tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc, đã sống đời phạm hạnh, đã làm những việc cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích tối hậu, đã đoạn tận hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí, đây là pháp tuần tự để trả lời: ‘Này hiền giả, tôi đã không xem địa giới là tự ngã, cũng không xem tự ngã là cái nương tựa vào địa giới. Và những thiên kiến, chấp thủ, cố chấp, và tùy miên của tâm nương tựa vào địa giới, do sự đoạn tận, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ, xả ly chúng, tôi biết rằng: “Tâm của tôi đã được giải thoát.” Này hiền giả, đối với thủy giới... đối với hỏa giới... đối với phong giới... đối với không giới... Này hiền giả, tôi đã không xem thức giới là tự ngã, cũng không xem tự ngã là cái nương tựa vào thức giới. Và những thiên kiến, chấp thủ, cố chấp, và tùy miên của tâm nương tựa vào thức giới, do sự đoạn tận, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ, xả ly chúng, tôi biết rằng: “Tâm của tôi đã được giải thoát.” Này hiền giả, do biết như vậy, do thấy như vậy, tâm của tôi được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ đối với sáu giới này.’ Này các Tỳ khưu, lời nói của vị Tỳ khưu ấy cần được tán thán, hoan hỷ là ‘Lành thay!’. Sau khi tán thán, hoan hỷ lời nói ấy là ‘Lành thay!’, cần phải hỏi thêm câu hỏi nữa.
‘Cha kho panimāni, āvuso, ajjhattikabāhirāni āyatanāni tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena sammadakkhātāni. Katamāni cha? Cakkhu ceva rūpā ca, sotañca saddā ca, ghānañca gandhā ca, jivhā ca rasā ca, kāyo ca phoṭṭhabbā ca, mano ca dhammā ca—imāni kho, āvuso, cha ajjhattikabāhirāni āyatanāni tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena sammadakkhātāni. Kathaṁ jānato panāyasmato, kathaṁ passato imesu chasu ajjhattikabāhiresu āyatanesu anupādāya āsavehi cittaṁ vimuttan’ti?
Khīṇāsavassa, bhikkhave, bhikkhuno vusitavato katakaraṇīyassa ohitabhārassa anuppattasadatthassa parikkhīṇabhavasaṁyojanassa sammadaññāvimuttassa ayamanudhammo hoti veyyākaraṇāya: ‘cakkhusmiṁ, āvuso, rūpe cakkhuviññāṇe cakkhuviññāṇaviññātabbesu dhammesu yo chando yo rāgo yā nandī yā taṇhā ye ca upāyūpādānā cetaso adhiṭṭhānābhinivesānusayā tesaṁ khayā virāgā nirodhā cāgā paṭinissaggā vimuttaṁ me cittanti pajānāmi. Sotasmiṁ, āvuso, sadde sotaviññāṇe …pe… ghānasmiṁ, āvuso, gandhe ghānaviññāṇe … jivhāya, āvuso, rase jivhāviññāṇe … kāyasmiṁ, āvuso, phoṭṭhabbe kāyaviññāṇe … manasmiṁ, āvuso, dhamme manoviññāṇe manoviññāṇaviññātabbesu dhammesu yo chando yo rāgo yā nandī yā taṇhā ye ca upāyūpādānā cetaso adhiṭṭhānābhinivesānusayā tesaṁ khayā virāgā nirodhā cāgā paṭinissaggā vimuttaṁ me cittanti pajānāmi. Evaṁ kho me, āvuso, jānato evaṁ passato imesu chasu ajjhattikabāhiresu āyatanesu anupādāya āsavehi cittaṁ vimuttan’ti.
Tassa, bhikkhave, bhikkhuno ‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinanditabbaṁ anumoditabbaṁ. ‘Sādhū’ti bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uttariṁ pañho pucchitabbo.
‘Reverend, these six interior and exterior sense fields have been rightly explained by the Buddha. What six? The eye and sights, the ear and sounds, the nose and smells, the tongue and tastes, the body and touches, and the mind and ideas. These are the six interior and exterior sense fields that have been rightly explained by the Buddha. How does the venerable know and see regarding these six interior and exterior sense fields so that your mind is freed from defilements by not grasping?’
For a mendicant with defilements ended it is in line with the teaching to answer: ‘I understand that my mind is freed through the ending, fading away, cessation, giving away, and letting go of desire and greed and relishing and craving; attraction, grasping, mental fixation, insistence, and underlying tendency for the eye, sights, eye consciousness, and things knowable by eye consciousness. I understand that my mind is freed through the ending of desire for the ear … nose … tongue … body … mind, ideas, mind consciousness, and things knowable by mind consciousness. That is how I know and see regarding these six interior and exterior sense fields so that my mind is freed from defilements by not grasping.’
Saying ‘Good!’ you should applaud and cheer that mendicant’s statement, then ask a further question:
101. ‘Này hiền giả, sáu xứ nội ngoại này đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, khéo thuyết giảng. Sáu xứ nào? Mắt và các sắc, tai và các tiếng, mũi và các mùi, lưỡi và các vị, thân và các vật xúc chạm, ý và các pháp. Này hiền giả, đây là sáu xứ nội ngoại đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, khéo thuyết giảng. Nhưng do biết như thế nào, do thấy như thế nào mà tâm của tôn giả được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ đối với sáu xứ nội ngoại này?’ Này các Tỳ khưu, đối với vị Tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc, đã sống đời phạm hạnh, đã làm những việc cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích tối hậu, đã đoạn tận hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí, đây là pháp tuần tự để trả lời: ‘Này hiền giả, đối với mắt, sắc, nhãn thức, và các pháp được nhận biết bởi nhãn thức, bất cứ dục nào, tham nào, hỷ nào, ái nào, và những thiên kiến, chấp thủ, cố chấp, và tùy miên của tâm nào, do sự đoạn tận, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ, xả ly chúng, tôi biết rằng: “Tâm của tôi đã được giải thoát.” Này hiền giả, đối với tai, tiếng, nhĩ thức... Này hiền giả, đối với mũi, mùi, tỷ thức... Này hiền giả, đối với lưỡi, vị, thiệt thức... Này hiền giả, đối với thân, vật xúc chạm, thân thức... Này hiền giả, đối với ý, pháp, ý thức, và các pháp được nhận biết bởi ý thức, bất cứ dục nào, tham nào, hỷ nào, ái nào, và những thiên kiến, chấp thủ, cố chấp, và tùy miên của tâm nào, do sự đoạn tận, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ, xả ly chúng, tôi biết rằng: “Tâm của tôi đã được giải thoát.” Này hiền giả, do biết như vậy, do thấy như vậy, tâm của tôi được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ đối với sáu xứ nội ngoại này.’ Này các Tỳ khưu, lời nói của vị Tỳ khưu ấy cần được tán thán, hoan hỷ là ‘Lành thay!’. Sau khi tán thán, hoan hỷ lời nói ấy là ‘Lành thay!’, cần phải hỏi thêm câu hỏi nữa.
‘Kathaṁ jānato panāyasmato, kathaṁ passato imasmiñca saviññāṇake kāye bahiddhā ca sabbanimittesu ahaṅkāramamaṅkāramānānusayā samūhatā’ti?
Khīṇāsavassa, bhikkhave, bhikkhuno vusitavato katakaraṇīyassa ohitabhārassa anuppattasadatthassa parikkhīṇabhavasaṁyojanassa sammadaññāvimuttassa ayamanudhammo hoti veyyākaraṇāya: ‘pubbe kho ahaṁ, āvuso, agāriyabhūto samāno aviddasu ahosiṁ. Tassa me tathāgato vā tathāgatasāvako vā dhammaṁ desesi. Tāhaṁ dhammaṁ sutvā tathāgate saddhaṁ paṭilabhiṁ. So tena saddhāpaṭilābhena samannāgato iti paṭisañcikkhiṁ:
“sambādho gharāvāso rajāpatho, abbhokāso pabbajjā. Nayidaṁ sukaraṁ agāraṁ ajjhāvasatā ekantaparipuṇṇaṁ ekantaparisuddhaṁ saṅkhalikhitaṁ brahmacariyaṁ carituṁ. Yannūnāhaṁ kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajeyyan”ti.
‘Sir, how does the venerable know and see so that he has eradicated I-making, mine-making, and the underlying tendency to conceit for this conscious body and externally for all signs?’
For a mendicant with defilements ended it is in line with the teaching to answer: ‘Formerly, reverends, when I was still a layperson, I was ignorant. Then the Realized One or one of his disciples taught me the Dhamma. I gained faith in the Realized One, and reflected:
“Life at home is cramped and dirty, life gone forth is wide open. It’s not easy for someone living at home to lead the spiritual life utterly full and pure, like a polished shell. Why don’t I shave off my hair and beard, dress in ocher robes, and go forth from lay life to homelessness?”
102. ‘Nhưng do biết như thế nào, do thấy như thế nào mà các tùy miên về ngã mạn, ngã sở mạn của tôn giả đã được nhổ sạch đối với thân có thức này và đối với tất cả các tướng bên ngoài?’ Này các Tỳ khưu, đối với vị Tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc, đã sống đời phạm hạnh, đã làm những việc cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích tối hậu, đã đoạn tận hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí, đây là pháp tuần tự để trả lời: ‘Này hiền giả, trước đây, khi còn là người tại gia, tôi là người vô minh. Khi ấy, Như Lai hoặc đệ tử của Như Lai đã thuyết pháp cho tôi. Sau khi nghe pháp, tôi đã có được niềm tin nơi Như Lai. Với niềm tin đã có được ấy, tôi đã suy xét như sau: “Đời sống tại gia thì chật hẹp, là con đường của bụi bặm; đời sống xuất gia thì như hư không. Thật không dễ dàng cho người sống tại gia có thể thực hành đời sống phạm hạnh một cách hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn trong sạch, như vỏ ốc được mài giũa. Vậy ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp y ca-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.”’
So kho ahaṁ, āvuso, aparena samayena appaṁ vā bhogakkhandhaṁ pahāya mahantaṁ vā bhogakkhandhaṁ pahāya, appaṁ vā ñātiparivaṭṭaṁ pahāya mahantaṁ vā ñātiparivaṭṭaṁ pahāya kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajiṁ. So evaṁ pabbajito samāno bhikkhūnaṁ sikkhāsājīvasamāpanno pāṇātipātaṁ pahāya pāṇātipātā paṭivirato ahosiṁ nihitadaṇḍo nihitasattho, lajjī dayāpanno sabbapāṇabhūtahitānukampī vihāsiṁ. Adinnādānaṁ pahāya adinnādānā paṭivirato ahosiṁ dinnādāyī dinnapāṭikaṅkhī, athenena sucibhūtena attanā vihāsiṁ. Abrahmacariyaṁ pahāya brahmacārī ahosiṁ ārācārī virato methunā gāmadhammā. Musāvādaṁ pahāya musāvādā paṭivirato ahosiṁ saccavādī saccasandho theto paccayiko avisaṁvādako lokassa. Pisuṇaṁ vācaṁ pahāya pisuṇāya vācāya paṭivirato ahosiṁ, ito sutvā na amutra akkhātā imesaṁ bhedāya, amutra vā sutvā na imesaṁ akkhātā amūsaṁ bhedāya; iti bhinnānaṁ vā sandhātā sahitānaṁ vā anuppadātā samaggārāmo samaggarato samagganandī samaggakaraṇiṁ vācaṁ bhāsitā ahosiṁ. Pharusaṁ vācaṁ pahāya pharusāya vācāya paṭivirato ahosiṁ; yā sā vācā nelā kaṇṇasukhā pemanīyā hadayaṅgamā porī bahujanakantā bahujanamanāpā tathārūpiṁ vācaṁ bhāsitā ahosiṁ. Samphappalāpaṁ pahāya samphappalāpā paṭivirato ahosiṁ; kālavādī bhūtavādī atthavādī dhammavādī vinayavādī nidhānavatiṁ vācaṁ bhāsitā ahosiṁ kālena sāpadesaṁ pariyantavatiṁ atthasaṁhitaṁ.
After some time I gave up a large or small fortune, and a large or small family circle. I shaved off hair and beard, dressed in ocher robes, and went forth from the lay life to homelessness. Once I had gone forth, I took up the training and livelihood of the mendicants. I gave up killing living creatures, renouncing the rod and the sword. I was scrupulous and kind, living full of sympathy for all living beings. I gave up stealing. I took only what’s given, and expected only what’s given. I kept myself clean by not thieving. I gave up unchastity. I became chaste, set apart, refraining from the vulgar act of sex. I gave up lying. I spoke the truth and stuck to the truth. I was honest and dependable, not tricking the world with my words. I gave up backbiting. I didn’t repeat in one place what I heard in another so as to divide people against each other. Instead, I reconciled those who are divided and support those who are united, delighting in harmony, loving harmony, speaking words that promote harmony. I gave up harsh speech. I spoke in a way that’s mellow, pleasing to the ear, endearing, going to the heart, polite, and likable and agreeable to the people. I gave up talking nonsense. My words were timely, true, and meaningful, in line with the teaching and training. I said things at the right time which are valuable, reasonable, succinct, and beneficial.
Này chư hiền, sau một thời gian, ta đã từ bỏ tài sản ít hay nhiều, từ bỏ quyến thuộc ít hay nhiều, cạo bỏ râu tóc, đắp y ca-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Ta, sau khi xuất gia như vậy, đã sống theo giới luật và đời sống của các tỳ khưu, từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, đã bỏ trượng, bỏ kiếm, có lòng hổ thẹn, có lòng từ bi, sống với lòng thương tưởng đến lợi ích của tất cả chúng sanh. Ta từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho, chỉ nhận vật đã cho, chỉ mong đợi vật đã cho, sống với tự thân trong sạch, không trộm cắp. Ta từ bỏ hành vi không phạm hạnh, sống đời phạm hạnh, sống xa lánh, từ bỏ hành vi dâm dục thấp hèn của thế gian. Ta từ bỏ nói dối, tránh xa nói dối, nói lời chân thật, gắn bó với sự thật, lời nói chắc chắn, đáng tin cậy, không lừa dối thế gian. Ta từ bỏ lời nói hai lưỡi, tránh xa lời nói hai lưỡi; nghe điều gì ở đây, không đến nơi kia nói để chia rẽ những người này; hay nghe điều gì ở nơi kia, không đến nói với những người này để chia rẽ những người kia; như vậy, ta hàn gắn những người đã chia rẽ, khuyến khích những người đã đoàn kết, ưa thích sự hòa hợp, vui thích trong sự hòa hợp, hoan hỷ trong sự hòa hợp, nói những lời tạo ra sự hòa hợp. Ta từ bỏ lời nói thô ác, tránh xa lời nói thô ác; ta chỉ nói những lời không lỗi lầm, êm tai, dễ thương, đi vào lòng người, tao nhã, được nhiều người ưa thích, được nhiều người hài lòng. Ta từ bỏ lời nói vô ích, tránh xa lời nói vô ích; ta nói đúng thời, nói đúng sự thật, nói lời có ích, nói lời hợp pháp, nói lời hợp luật, nói những lời đáng ghi nhớ, có lý do, có chừng mực, và hợp với lợi ích vào đúng lúc.
So bījagāmabhūtagāmasamārambhā paṭivirato ahosiṁ, ekabhattiko ahosiṁ rattūparato virato vikālabhojanā. Naccagītavāditavisūkadassanā paṭivirato ahosiṁ. Mālāgandhavilepanadhāraṇamaṇḍanavibhūsanaṭṭhānā paṭivirato ahosiṁ. Uccāsayanamahāsayanā paṭivirato ahosiṁ. Jātarūparajatapaṭiggahaṇā paṭivirato ahosiṁ, āmakadhaññapaṭiggahaṇā paṭivirato ahosiṁ, āmakamaṁsapaṭiggahaṇā paṭivirato ahosiṁ; itthikumārikapaṭiggahaṇā paṭivirato ahosiṁ, dāsidāsapaṭiggahaṇā paṭivirato ahosiṁ, ajeḷakapaṭiggahaṇā paṭivirato ahosiṁ, kukkuṭasūkarapaṭiggahaṇā paṭivirato ahosiṁ, hatthigavassavaḷavapaṭiggahaṇā paṭivirato ahosiṁ, khettavatthupaṭiggahaṇā paṭivirato ahosiṁ. Dūteyyapahiṇagamanānuyogā paṭivirato ahosiṁ, kayavikkayā paṭivirato ahosiṁ, tulākūṭakaṁsakūṭamānakūṭā paṭivirato ahosiṁ, ukkoṭanavañcananikatisāciyogā paṭivirato ahosiṁ, chedanavadhabandhanaviparāmosaālopasahasākārā paṭivirato ahosiṁ.
I refrained from injuring plants and seeds. I ate in one part of the day, abstaining from eating at night and food at the wrong time. I refrained from seeing shows of dancing, singing, and music. I refrained from attiring and adorning myself with garlands, fragrance, and makeup. I refrained from high and luxurious beds. I refrained from receiving gold and currency, raw grains, raw meat, women and girls, male and female bondservants, goats and sheep, chicken and pigs, elephants, cows, horses, and mares, and fields and land. I refrained from running errands and messages; buying and selling; falsifying weights, metals, or measures; bribery, fraud, cheating, and duplicity; mutilation, murder, abduction, banditry, plunder, and violence.
Ta tránh xa việc phá hoại các loại hạt giống và cây cối. Ta ăn một bữa mỗi ngày, không ăn ban đêm, từ bỏ việc ăn phi thời. Ta tránh xa việc xem múa, hát, nhạc, và các buổi trình diễn. Ta tránh xa việc trang điểm, trang sức bằng vòng hoa, hương liệu, và thuốc xoa. Ta tránh xa giường cao và giường lớn. Ta tránh xa việc nhận vàng và bạc. Ta tránh xa việc nhận ngũ cốc sống. Ta tránh xa việc nhận thịt sống. Ta tránh xa việc nhận phụ nữ và thiếu nữ. Ta tránh xa việc nhận nô tỳ nam nữ. Ta tránh xa việc nhận dê và cừu. Ta tránh xa việc nhận gà và heo. Ta tránh xa việc nhận voi, bò, ngựa, và lừa. Ta tránh xa việc nhận ruộng đất. Ta tránh xa việc làm sứ giả và người đưa tin. Ta tránh xa việc mua bán. Ta tránh xa việc gian lận bằng cân, tiền, và thước đo. Ta tránh xa các hành vi gian trá như hối lộ, lừa đảo, và mánh khóe. Ta tránh xa việc chặt, giết, trói, cướp giật, cướp phá, và các hành vi bạo lực.
So santuṭṭho ahosiṁ kāyaparihārikena cīvarena, kucchiparihārikena piṇḍapātena. So yena yeneva pakkamiṁ samādāyeva pakkamiṁ. Seyyathāpi nāma pakkhī sakuṇo yena yeneva ḍeti sapattabhārova ḍeti; evameva kho ahaṁ, āvuso; santuṭṭho ahosiṁ kāyaparihārikena cīvarena, kucchiparihārikena piṇḍapātena. So yena yeneva pakkamiṁ samādāyeva pakkamiṁ. So iminā ariyena sīlakkhandhena samannāgato ajjhattaṁ anavajjasukhaṁ paṭisaṁvedesiṁ.
I became content with robes to look after the body and almsfood to look after the belly. Wherever I went, I set out taking only these things. Like a bird: wherever it flies, wings are its only burden. In the same way, I became content with robes to look after the body and almsfood to look after the belly. Wherever I went, I set out taking only these things. When I had this spectrum of noble ethics, I experienced a blameless happiness inside myself.
Ta bằng lòng với y phục đủ để che thân, với vật thực khất thực đủ để nuôi bụng. Bất cứ nơi nào ta đi, ta chỉ mang theo những thứ đó. Ví như loài chim có cánh, bay đi bất cứ đâu, nó chỉ mang theo sức nặng của đôi cánh; cũng vậy, này chư hiền, ta bằng lòng với y phục đủ để che thân, với vật thực khất thực đủ để nuôi bụng. Bất cứ nơi nào ta đi, ta chỉ mang theo những thứ đó. Ta, được trang bị với uẩn giới cao thượng này, đã cảm nhận được niềm hạnh phúc không thể chê trách ở nội tâm.
So cakkhunā rūpaṁ disvā na nimittaggāhī ahosiṁ nānubyañjanaggāhī; yatvādhikaraṇamenaṁ cakkhundriyaṁ asaṁvutaṁ viharantaṁ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṁ, tassa saṁvarāya paṭipajjiṁ; rakkhiṁ cakkhundriyaṁ, cakkhundriye saṁvaraṁ āpajjiṁ. Sotena saddaṁ sutvā …pe… ghānena gandhaṁ ghāyitvā …pe… jivhāya rasaṁ sāyitvā …pe… kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā …pe… manasā dhammaṁ viññāya na nimittaggāhī ahosiṁ nānubyañjanaggāhī; yatvādhikaraṇamenaṁ manindriyaṁ asaṁvutaṁ viharantaṁ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṁ, tassa saṁvarāya paṭipajjiṁ; rakkhiṁ manindriyaṁ, manindriye saṁvaraṁ āpajjiṁ. So iminā ariyena indriyasaṁvarena samannāgato ajjhattaṁ abyāsekasukhaṁ paṭisaṁvedesiṁ.
When I saw a sight with my eyes, I didn’t get caught up in the features and details. If the faculty of sight were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, I practiced restraint, protecting the faculty of sight, and achieving its restraint. When I heard a sound with my ears … When I smelled an odor with my nose … When I tasted a flavor with my tongue … When I felt a touch with my body … When I knew an idea with my mind, I didn’t get caught up in the features and details. If the faculty of the mind were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, I practiced restraint, protecting the faculty of the mind, and achieving its restraint. When I had this noble sense restraint, I experienced an unsullied bliss inside myself.
103. Ta, khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Vì nếu nhãn căn không được chế ngự, các pháp ác, bất thiện như tham ái và ưu não sẽ xâm chiếm, ta thực hành sự chế ngự đối với nhãn căn, ta hộ trì nhãn căn, ta đạt được sự chế ngự trong nhãn căn. Khi tai nghe tiếng... khi mũi ngửi mùi... khi lưỡi nếm vị... khi thân cảm xúc... khi ý nhận biết pháp, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Vì nếu ý căn không được chế ngự, các pháp ác, bất thiện như tham ái và ưu não sẽ xâm chiếm, ta thực hành sự chế ngự đối với ý căn, ta hộ trì ý căn, ta đạt được sự chế ngự trong ý căn. Ta, được trang bị với sự chế ngự các căn cao thượng này, đã cảm nhận được niềm hạnh phúc không bị phiền não xâm nhiễm ở nội tâm.
So abhikkante paṭikkante sampajānakārī ahosiṁ, ālokite vilokite sampajānakārī ahosiṁ, samiñjite pasārite sampajānakārī ahosiṁ, saṅghāṭipattacīvaradhāraṇe sampajānakārī ahosiṁ, asite pīte khāyite sāyite sampajānakārī ahosiṁ, uccārapassāvakamme sampajānakārī ahosiṁ, gate ṭhite nisinne sutte jāgarite bhāsite tuṇhībhāve sampajānakārī ahosiṁ.
I acted with situational awareness when going out and coming back; when looking ahead and aside; when bending and extending the limbs; when bearing the outer robe, bowl and robes; when eating, drinking, chewing, and tasting; when urinating and defecating; when walking, standing, sitting, sleeping, waking, speaking, and keeping silent.
Ta hành động với sự tỉnh giác khi đi tới và đi lui. Ta hành động với sự tỉnh giác khi nhìn thẳng và nhìn nghiêng. Ta hành động với sự tỉnh giác khi co và duỗi (các chi). Ta hành động với sự tỉnh giác khi mang y tăng-già-lê, bát, và các y khác. Ta hành động với sự tỉnh giác khi ăn, uống, nhai, và nếm. Ta hành động với sự tỉnh giác khi đại tiện và tiểu tiện. Ta hành động với sự tỉnh giác khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, và giữ im lặng.
So iminā ca ariyena sīlakkhandhena samannāgato, imāya ca ariyāya santuṭṭhiyā samannāgato, iminā ca ariyena indriyasaṁvarena samannāgato, iminā ca ariyena satisampajaññena samannāgato vivittaṁ senāsanaṁ bhajiṁ araññaṁ rukkhamūlaṁ pabbataṁ kandaraṁ giriguhaṁ susānaṁ vanapatthaṁ abbhokāsaṁ palālapuñjaṁ. So pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto nisīdiṁ pallaṅkaṁ ābhujitvā ujuṁ kāyaṁ paṇidhāya parimukhaṁ satiṁ upaṭṭhapetvā.
When I had this spectrum of noble ethics, this noble contentment, this noble sense restraint, and this noble mindfulness and situational awareness, I frequented a secluded lodging—a wilderness, the root of a tree, a hill, a ravine, a mountain cave, a charnel ground, a forest, the open air, a heap of straw. After the meal, I returned from almsround, sat down cross-legged, set my body straight, and brought mindfulness to the present.
Ta, sau khi đã thành tựu uẩn giới cao thượng này, sau khi đã thành tựu sự phòng hộ các căn cao thượng này, sau khi đã thành tựu chánh niệm và tỉnh giác cao thượng này, đã tìm đến trú xứ vắng vẻ: khu rừng, gốc cây, ngọn núi, hang động, khe núi, nghĩa địa, lùm cây rậm, ngoài trời, đống rơm. Ta, sau buổi ăn, sau khi đi khất thực trở về, đã ngồi xuống, xếp bằng kiết-già, giữ thân thẳng đứng, an trú chánh niệm trước mặt.
So abhijjhaṁ loke pahāya vigatābhijjhena cetasā vihāsiṁ, abhijjhāya cittaṁ parisodhesiṁ. Byāpādapadosaṁ pahāya abyāpannacitto vihāsiṁ sabbapāṇabhūtahitānukampī, byāpādapadosā cittaṁ parisodhesiṁ. Thinamiddhaṁ pahāya vigatathinamiddho vihāsiṁ ālokasaññī sato sampajāno, thinamiddhā cittaṁ parisodhesiṁ. Uddhaccakukkuccaṁ pahāya anuddhato vihāsiṁ ajjhattaṁ, vūpasantacitto, uddhaccakukkuccā cittaṁ parisodhesiṁ. Vicikicchaṁ pahāya tiṇṇavicikiccho vihāsiṁ akathaṅkathī kusalesu dhammesu, vicikicchāya cittaṁ parisodhesiṁ.
Giving up covetousness for the world, I meditated with a heart rid of covetousness, cleansing the mind of covetousness. Giving up ill will and malevolence, I meditated with a mind rid of ill will, full of sympathy for all living beings, cleansing the mind of ill will. Giving up dullness and drowsiness, I meditated with a mind rid of dullness and drowsiness, perceiving light, mindful and aware, cleansing the mind of dullness and drowsiness. Giving up restlessness and remorse, I meditated without restlessness, my mind settled internally, cleansing the mind of restlessness and remorse. Giving up doubt, I meditated having gone beyond doubt, not undecided about skillful qualities, cleansing the mind of doubt.
Ta, sau khi đã từ bỏ tham ái ở đời, đã sống với tâm không còn tham ái, đã gột sạch tâm khỏi tham ái. Sau khi đã từ bỏ sân hận, ta đã sống với tâm không sân hận, có lòng thương tưởng đến lợi ích của tất cả chúng sanh hữu tình, đã gột sạch tâm khỏi sân hận. Sau khi đã từ bỏ hôn trầm và thụy miên, ta đã sống thoát khỏi hôn trầm và thụy miên, với tưởng về ánh sáng, chánh niệm, tỉnh giác, đã gột sạch tâm khỏi hôn trầm và thụy miên. Sau khi đã từ bỏ trạo cử và hối quá, ta đã sống không còn trạo cử, với nội tâm an tịnh, đã gột sạch tâm khỏi trạo cử và hối quá. Sau khi đã từ bỏ hoài nghi, ta đã sống vượt qua hoài nghi, không còn phân vân đối với các pháp thiện, đã gột sạch tâm khỏi hoài nghi.
So ime pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja vihāsiṁ. Vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ …pe… tatiyaṁ jhānaṁ … catutthaṁ jhānaṁ upasampajja vihāsiṁ.
I gave up these five hindrances, corruptions of the heart that weaken wisdom. Then, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, I entered and remained in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected. As the placing of the mind and keeping it connected were stilled, I entered and remained in the second absorption … third absorption … fourth absorption.
104. Ta, sau khi đã từ bỏ năm triền cái này, là những cấu uế của tâm, là những pháp làm trí tuệ suy yếu, đã ly dục, ly các pháp bất thiện, đã chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái có tầm, có tứ, do ly dục sanh, có hỷ và lạc. Do sự tịnh chỉ của tầm và tứ, một trạng thái nội tĩnh nhất tâm, không tầm, không tứ, do định sanh, có hỷ và lạc, ta đã chứng và trú thiền thứ hai... vân vân... thiền thứ ba... đã chứng và trú thiền thứ tư.
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte āsavānaṁ khayañāṇāya cittaṁ abhininnāmesiṁ. So idaṁ dukkhanti yathābhūtaṁ abbhaññāsiṁ, ayaṁ dukkhasamudayoti yathābhūtaṁ abbhaññāsiṁ, ayaṁ dukkhanirodhoti yathābhūtaṁ abbhaññāsiṁ, ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadāti yathābhūtaṁ abbhaññāsiṁ; ime āsavāti yathābhūtaṁ abbhaññāsiṁ, ayaṁ āsavasamudayoti yathābhūtaṁ abbhaññāsiṁ, ayaṁ āsavanirodhoti yathābhūtaṁ abbhaññāsiṁ, ayaṁ āsavanirodhagāminī paṭipadāti yathābhūtaṁ abbhaññāsiṁ.
Tassa me evaṁ jānato evaṁ passato kāmāsavāpi cittaṁ vimuccittha, bhavāsavāpi cittaṁ vimuccittha, avijjāsavāpi cittaṁ vimuccittha. Vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ ahosi. Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyāti abbhaññāsiṁ. Evaṁ kho me, āvuso, jānato evaṁ passato imasmiñca saviññāṇake kāye bahiddhā ca sabbanimittesu ahaṅkāramamaṅkāramānānusayā samūhatā’ti.
Tassa, bhikkhave, bhikkhuno ‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinanditabbaṁ anumoditabbaṁ. ‘Sādhū’ti bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā evamassa vacanīyo: ‘lābhā no, āvuso, suladdhaṁ no, āvuso, ye mayaṁ āyasmantaṁ tādisaṁ sabrahmacāriṁ samanupassāmā’”ti.
When my mind had immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—I extended it toward knowledge of the ending of defilements. I truly understood: “This is suffering” … “This is the origin of suffering” … “This is the cessation of suffering” … “This is the practice that leads to the cessation of suffering”. I truly understood: “These are defilements” … “This is the origin of defilements” … “This is the cessation of defilements” … “This is the practice that leads to the cessation of defilements”.
Knowing and seeing like this, my mind was freed from the defilements of sensuality, desire to be reborn, and ignorance. When it was freed, I knew it was freed. I understood: “Rebirth is ended; the spiritual journey has been completed; what had to be done has been done; there is nothing further for this place.” That is how I know and see so that I have eradicated I-making, mine-making, and the underlying tendency to conceit for this conscious body and externally for all signs.’
Saying ‘Good!’ you should applaud and cheer that mendicant’s statement, and then say to them: ‘We are fortunate, reverend, so very fortunate to see a venerable such as yourself as one of our spiritual companions!’”
Ta, với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu uế, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, đã hướng tâm, đã dẫn tâm đến lậu tận trí. Ta đã như thật thắng tri: ‘Đây là khổ’. Ta đã như thật thắng tri: ‘Đây là khổ tập’. Ta đã như thật thắng tri: ‘Đây là khổ diệt’. Ta đã như thật thắng tri: ‘Đây là con đường đưa đến khổ diệt’. Ta đã như thật thắng tri: ‘Đây là các lậu hoặc’. Ta đã như thật thắng tri: ‘Đây là lậu hoặc tập’. Ta đã như thật thắng tri: ‘Đây là lậu hoặc diệt’. Ta đã như thật thắng tri: ‘Đây là con đường đưa đến lậu hoặc diệt’. Đối với ta, người biết như vậy, thấy như vậy, tâm đã giải thoát khỏi dục lậu, tâm đã giải thoát khỏi hữu lậu, tâm đã giải thoát khỏi vô minh lậu. Khi đã giải thoát, trí khởi lên: ‘Ta đã giải thoát’. Ta đã thắng tri: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa’. Này chư hiền, đối với ta, người biết như vậy, thấy như vậy, đối với thân có thức này và đối với tất cả các tướng bên ngoài, các tùy miên về ngã chấp, ngã sở chấp, và mạn đã được nhổ sạch.’ Này các Tỳ khưu, lời nói của vị Tỳ khưu ấy cần được hoan hỷ, tán thán là ‘Lành thay!’. Sau khi đã hoan hỷ, tán thán là ‘Lành thay!’, nên nói với vị ấy như sau: ‘Thật là lợi ích cho chúng tôi, thưa hiền giả, thật là khéo được lợi ích cho chúng tôi, thưa hiền giả, khi chúng tôi được gặp một vị đồng phạm hạnh như tôn giả.’”
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
Thế Tôn đã thuyết giảng như vậy. Các Tỳ khưu ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Chabbisodhanasuttaṁ niṭṭhitaṁ dutiyaṁ.
Kinh Sáu Thanh Tịnh thứ hai kết thúc.