- Majjhima Nikāya 111
Anupadasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Anupadasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà-lâm), tinh xá ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc). Ở đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo” —“ Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau
SC 2—Này các Tỷ-kheo, Sāriputta (Xá-lợi-phất) là bậc Hiền trí; này các Tỷ-kheo, Sāriputta là bậc Ðại tuệ; này các Tỷ-kheo, Sāriputta là bậc Quảng tuệ; này các Tỷ-kheo, Sāriputta là bậc Hỷ tuệ (Hasupanna); này các Tỷ-kheo, Sāriputta là bậc Tiệp tuệ (javanapanna); này các Tỷ-kheo, Sāriputta là bậc Lợi tuệ (tikkhapanna); này các Tỷ-kheo, Sāriputta là bậc Quyết trạch tuệ (nibbedhikapanna). Này các Tỷ-kheo, cho đến nửa tháng, Sāriputta quán bất đoạn pháp quán. Này các Tỷ-kheo, đây là do bất đoạn pháp quán của Sāriputta:
SC 3Ở đây, này các Tỷ-kheo, Sāriputta ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú sơ Thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ.
SC 4Và những pháp thuộc về Thiền thứ nhất như tầm, tứ, hỷ, lạc, nhứt tâm, và xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, dục, thắng giải, tinh tấn, niệm, xả, tác ý; các pháp ấy được an trú bất đoạn. Các pháp ấy được Sāriputta biết đến khi chúng khởi lên, được Sāriputta biết đến khi an trú, được Sāriputta biết đến khi đoạn diệt. Sāriputta biết rõ như sau: “Như vậy các pháp ấy trước không có nơi ta, nay có hiện hữu, sau khi hiện hữu, chúng đoạn diệt”. Sāriputta đối với những pháp ấy, cảm thấy không luyến ái, không chống đối, độc lập, không trói buộc, giải thoát, không hệ lụy, an trú với tâm không có hạn chế. Sāriputta biết: “Còn có sự giải thoát hơn thế nữa. Ðối với Sāriputta, còn có nhiều việc phải làm hơn nữa”.
SC 5Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Sāriputta diệt tầm và tứ, chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhứt tâm. Và những pháp thuộc về Thiền thứ hai như nội tĩnh, hỷ, lạc, nhứt tâm, và xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, dục, thắng giải, tinh tấn, niệm, xả, tác ý, những pháp ấy được an trú bất đoạn. Các pháp ấy được Sāriputta biết đến khi chúng khởi lên, được Sāriputta biết đến khi chúng an trú, được Sāriputta biết đến khi chúng đoạn diệt. Sāriputta biết rõ như sau: “Như vậy các pháp ấy trước không có nơi ta, nay có hiện hữu, sau khi hiện hữu, chúng đoạn diệt”. Sāriputta đối với những pháp ấy, không luyến ái, không chống đối, độc lập, không trói buộc, giải thoát, không hệ lụy, an trú với tâm không có hạn chế. Sāriputta biết: “Còn có sự giải thoát hơn thế nữa. Ðối với Sāriputta, còn có nhiều việc phải làm hơn thế nữa”.
SC 6Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Sāriputta ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và an trú Thiền thứ ba.
SC 7Và những pháp thuộc về Thiền thứ ba, như xả, lạc, niệm, tỉnh giác, nhứt tâm, và xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, dục, thắng giải, tinh tấn, xả, tác ý; những pháp ấy được Sāriputta an trú bất đoạn, các pháp ấy được Sāriputta biết đến khi chúng khởi lên, được Sāriputta biết đến khi chúng an trú, được Sāriputta biết đến khi chúng đoạn diệt. Sāriputta đối với những pháp ấy, không luyến ái, không chống đối, độc lập, không trói buộc, giải thoát không hệ lụy, an trú với tâm không có hạn chế. Sāriputta biết: “Còn có sự giải thoát hơn thế nữa. Ðối với Sāriputta, còn có nhiều việc phải làm hơn thế nữa”.
SC 8Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Sāriputta xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm, thanh tịnh.
SC 9Và những pháp thuộc về Thiền thứ tư, như xả, bất khổ bất lạc thọ, thọ (passivedana), vô quán niệm tâm (Cetaso anabhogo), thanh tịnh nhờ niệm, nhứt tâm, và xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, dục, thắng giải, tinh tấn, niệm, xả, tác ý; những pháp ấy được Sāriputta an trú bất đoạn, các pháp ấy được Sāriputta biết đến khi chúng khởi lên, được Sāriputta biết đến khi chúng an trú, được Sāriputta biết đến khi chúng đoạn diệt. Sāriputta đối với những pháp ấy, không luyến ái, không chống đối, độc lập, không trói buộc, giải thoát, không hệ lụy, an trú với tâm không có hạn chế. Sāriputta biết: “Còn có sự giải thoát hơn thế nữa. Ðối với Sāriputta, còn có nhiều việc phải làm hơn thế nữa”.
SC 10Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Sāriputta vượt lên hoàn toàn sắc tưởng, diệt trừ mọi chướng ngại tưởng, không tác ý đối với dị tưởng, nghĩ rằng: “Hư không là vô biên”, chứng và trú Không vô biên xứ.
SC 11Và những pháp thuộc về Không vô biên xứ như hư không, vô biên xứ tưởng, nhứt tâm, và xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, dục, thắng giải, tinh tấn, niệm, xả, tác ý; những pháp ấy được Sāriputta an trú bất đoạn, các pháp ấy được Sāriputta biết đến khi chúng khởi lên, được Sāriputta biết đến khi chúng an trú, được Sāriputta biết đến khi chúng đoạn diệt. Sāriputta đối với những pháp ấy, không luyến ái, không chống đối, độc lập, không trói buộc, giải thoát, không hệ lụy, an trú với tâm không có hạn chế. Sāriputta biết: “Còn có sự giải thoát hơn thế nữa. Ðối với Sāriputta, còn có nhiều việc phải làm hơn thế nữa”.
SC 12Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Sāriputta vượt lên hoàn toàn Không vô biên xứ, nghĩ rằng: “Thức là vô biên”, chứng và trú Thức vô biên xứ.
SC 13Và những pháp thuộc về Thức vô biên xứ như Thức vô biên xứ tưởng, nhất tâm, và xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, dục, thắng giải, tinh tấn, niệm, xả, tác ý; những pháp ấy được Sāriputta an trú bất đoạn; các pháp ấy được Sāriputta biết đến khi chúng khởi lên, được Sāriputta biết đến khi chúng đoạn diệt. Sāriputta đối với những pháp ấy không luyến ái, không chống đối, độc lập, không trói buộc, giải thoát, không hệ lụy, an trú với tâm không có hạn chế. Sāriputta biết: “Còn có sự giải thoát hơn thế nữa. Ðối với Sāriputta, còn có nhiều việc phải làm hơn thế nữa”.
SC 14Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Sāriputta vượt lên hoàn toàn Thức vô biên xứ, nghĩ rằng: “Không có vật gì”, chứng và trú Vô sở hữu xứ.
SC 15Và những pháp thuộc về Vô sở hữu xứ, như Vô sở hữu xứ tưởng, nhứt tâm, và xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, dục, thắng giải, tinh tấn, niệm, xả, tác ý; những pháp ấy được Sāriputta an trú bất đoạn; các pháp ấy được Sāriputta biết đến khi chúng khởi lên, được Sāriputta biết đến khi chúng an trú, được Sāriputta biết đến khi chúng đoạn diệt. Sāriputta đối với những pháp ấy không luyến ái, không chống đối, độc lập, không trói buộc, giải thoát, không hệ lụy, an trú với tâm không có hạn chế. Sāriputta biết: “Còn có sự giải thoát hơn thế nữa. Ðối với Sāriputta, còn có nhiều việc phải làm hơn thế nữa”.
SC 16Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Sāriputta vượt lên hoàn toàn Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
SC 17Với chánh niệm, Sāriputta xuất khỏi định ấy. Sau khi với chánh niệm xuất khỏi định ấy, Sāriputta thấy các pháp ấy thuộc về quá khứ, bị đoạn diệt, bị biến hoại: “Như vậy các pháp ấy trước không có nơi ta, nay có hiện hữu, sau khi hiện hữu chúng đoạn diệt”. Sāriputta đối với những pháp ấy cảm thấy không luyến ái, không chống đối, độc lập, không trói buộc, giải thoát, không hệ lụy, an trú với tâm không hạn chế. Sāriputta biết: “Còn có sự giải thoát hơn thế nữa. Ðối với Sāriputta, còn có nhiều việc phải làm hơn thế nữa”.
SC 18Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Sāriputta vượt khỏi hoàn toàn Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và an trú Diệt thọ tưởng (định). Sau khi thấy với trí tuệ, các lậu hoặc được đoạn tận.
SC 19Với chánh niệm, Sāriputta xuất khỏi định ấy. Sau khi với chánh niệm xuất khỏi định ấy, Sāriputta thấy các pháp ấy thuộc về quá khứ, bị đoạn diệt, bị biến hoại: “Như vậy các pháp ấy, trước không có nơi ta, sau có hiện hữu, sau khi hiện hữu, chúng đoạn diệt”. Sāriputta đối với các pháp ấy cảm thấy không luyến ái, không chống đối, độc lập, không trói buộc, giải thoát, không hệ lụy, an trú với tâm không hạn chế. Sāriputta biết: “Không có sự giải thoát nào vô thượng hơn thế nữa. Ðối với Sāriputta, không có việc phải làm nhiều hơn thế nữa”.
SC 20Này các Tỷ-kheo, nếu nói một cách chơn chánh, một người có thể nói về người ấy như sau: “Người này được tự tại, được cứu cánh trong Thánh giới, được tự tại, được cứu cánh trong Thánh định, được tự tại, được cứu cánh trong Thánh tuệ, được tự tại, được cứu cánh trong Thánh giải thoát. Nói một cách chơn chánh về Sāriputta, người ấy có thể nói như sau: “Sāriputta được tự tại, được cứu cánh trong Thánh giới, được tự tại, được cứu cánh trong Thánh định, được tự tại, được cứu cánh trong Thánh tuệ, được tự tại, được cứu cánh trong Thánh giải thoát”.
SC 21Này các Tỷ-kheo, nếu nói một cách chơn chánh, một người có thể nói về người ấy như sau: “Người này là con chánh tông của Thế Tôn, sanh ra từ miệng, sanh ra từ Pháp, do Pháp hóa thành, thừa tự Chánh pháp, không thừa tự vật chất”. Nói một cách chơn chánh về Sāriputta, người ấy có thể nói như sau: “Sāriputta là con chánh tông của Thế Tôn, sanh ra từ miệng, sanh ra từ Pháp, do Pháp hóa thành, thừa tự Chánh pháp, không thừa tự vật chất”.
SC 22Sāriputta, này các Tỷ-kheo, chơn chánh chuyển Pháp luân vô thượng đã được Như Lai chuyển vận.
SC 23Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các vị Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). 14–07–2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
1. Kinh Anupada
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
93. Tôi nghe như vầy. Một thời, Thế Tôn trú tại Sāvatthī, trong khu vườn của ông Anāthapiṇḍika ở Jetavana. Tại đó, Thế Tôn gọi các tỳ khưu: “Này các tỳ khưu.” “Bạch Thế Tôn,” các tỳ khưu ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
“Paṇḍito, bhikkhave, sāriputto; mahāpañño, bhikkhave, sāriputto; puthupañño, bhikkhave, sāriputto; hāsapañño, bhikkhave, sāriputto; javanapañño, bhikkhave, sāriputto; tikkhapañño, bhikkhave, sāriputto; nibbedhikapañño, bhikkhave, sāriputto; sāriputto, bhikkhave, aḍḍhamāsaṁ anupadadhammavipassanaṁ vipassati. Tatridaṁ, bhikkhave, sāriputtassa anupadadhammavipassanāya hoti.
“Sāriputta is astute, mendicants. He has great wisdom, widespread wisdom, laughing wisdom, swift wisdom, sharp wisdom, and penetrating wisdom. For a fortnight he practiced discernment of phenomena one by one. And this is how he did it.
“Này các tỳ khưu, Sāriputta là bậc hiền trí. Này các tỳ khưu, Sāriputta có trí tuệ vĩ đại. Này các tỳ khưu, Sāriputta có trí tuệ rộng lớn. Này các tỳ khưu, Sāriputta có trí tuệ hoan hỷ. Này các tỳ khưu, Sāriputta có trí tuệ nhanh nhạy. Này các tỳ khưu, Sāriputta có trí tuệ sắc bén. Này các tỳ khưu, Sāriputta có trí tuệ xuyên thấu. Này các tỳ khưu, trong nửa tháng, Sāriputta thực hành minh sát các pháp theo tuần tự. Này các tỳ khưu, đây là cách Sāriputta thực hành minh sát các pháp theo tuần tự.”
Idha, bhikkhave, sāriputto vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Ye ca paṭhame jhāne dhammā vitakko ca vicāro ca pīti ca sukhañca cittekaggatā ca, phasso vedanā saññā cetanā cittaṁ chando adhimokkho vīriyaṁ sati upekkhā manasikāro—tyāssa dhammā anupadavavatthitā honti. Tyāssa dhammā viditā uppajjanti, viditā upaṭṭhahanti, viditā abbhatthaṁ gacchanti. So evaṁ pajānāti: ‘evaṁ kirame dhammā ahutvā sambhonti, hutvā paṭiventī’ti.
Quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, he entered and remained in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected. And he distinguished the phenomena of the first absorption one by one: placing and keeping and rapture and bliss and unification of mind; contact, feeling, perception, intention, mind, enthusiasm, decision, energy, mindfulness, equanimity, and application of mind. He knew those phenomena as they arose, as they remained, and as they went away. He understood: ‘So it seems that these phenomena, not having been, come to be; and having come to be, they flit away.’
94. “Này các Tỳ khưu, ở đây, Sāriputta ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú Sơ thiền, một trạng thái có tầm, có tứ, với hỷ và lạc do ly dục sanh. Và những pháp nào ở trong Sơ thiền: tầm, tứ, hỷ, lạc, và nhất tâm; xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, dục, thắng giải, tinh tấn, niệm, xả, tác ý – những pháp ấy được vị ấy xác định theo thứ tự từng pháp một. Những pháp ấy được vị ấy biết rõ khi chúng sanh khởi, biết rõ khi chúng hiện hữu, biết rõ khi chúng biến mất. Vị ấy tuệ tri như sau: ‘Quả thật, các pháp này, từ không có đã sanh khởi; sau khi có, chúng lại hoại diệt.’ Đối với các pháp ấy, vị ấy không luyến ái, không chống đối, không phụ thuộc, không bị trói buộc, đã giải thoát, không bị ràng buộc, trú với tâm đã được phân định ranh giới. Vị ấy tuệ tri: ‘Có một sự giải thoát cao hơn.’ Do thực hành nhiều lần điều đó, đối với vị ấy, điều đó trở thành chắc chắn rằng: ‘Quả thật có.’”
Puna caparaṁ, bhikkhave, sāriputto vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Ye ca dutiye jhāne dhammā—ajjhattaṁ sampasādo ca pīti ca sukhañca cittekaggatā ca, phasso vedanā saññā cetanā cittaṁ chando adhimokkho vīriyaṁ sati upekkhā manasikāro—tyāssa dhammā anupadavavatthitā honti. Tyāssa dhammā viditā uppajjanti, viditā upaṭṭhahanti, viditā abbhatthaṁ gacchanti. So evaṁ pajānāti: ‘evaṁ kirame dhammā ahutvā sambhonti, hutvā paṭiventī’ti. So tesu dhammesu anupāyo anapāyo anissito appaṭibaddho vippamutto visaṁyutto vimariyādīkatena cetasā viharati. So ‘atthi uttari nissaraṇan’ti pajānāti. Tabbahulīkārā atthitvevassa hoti.
Furthermore, as the placing of the mind and keeping it connected were stilled, he entered and remained in the second absorption, which has the rapture and bliss born of immersion, with internal clarity and mind at one, without placing the mind and keeping it connected.
And he distinguished the phenomena of the second absorption one by one: internal confidence and rapture and bliss and unification of mind; contact, feeling, perception, intention, mind, enthusiasm, decision, energy, mindfulness, equanimity, and application of mind. He knew those phenomena as they arose, as they remained, and as they went away. He understood: ‘So it seems that these phenomena, not having been, come to be; and having come to be, they flit away.’ Regarding those phenomena, he meditated without getting involved or shying away, independent, untied, liberated, detached, with mind free of boundaries. He understood: ‘There is an escape beyond.’ Repeated practice of that confirmed this for him.
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, Sāriputta diệt tầm và tứ, chứng và trú Nhị thiền, một trạng thái nội tĩnh nhất tâm, không tầm không tứ, với hỷ và lạc do định sanh. Và những pháp nào ở trong Nhị thiền: nội tĩnh, hỷ, lạc, và nhất tâm; xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, dục, thắng giải, tinh tấn, niệm, xả, tác ý – những pháp ấy được vị ấy xác định theo thứ tự từng pháp một. Những pháp ấy được vị ấy biết rõ khi chúng sanh khởi, biết rõ khi chúng hiện hữu, biết rõ khi chúng biến mất. Vị ấy tuệ tri như sau: ‘Quả thật, các pháp này, từ không có đã sanh khởi; sau khi có, chúng lại hoại diệt.’ Đối với các pháp ấy, vị ấy không luyến ái, không chống đối, không phụ thuộc, không bị trói buộc, đã giải thoát, không bị ràng buộc, trú với tâm đã được phân định ranh giới. Vị ấy tuệ tri: ‘Có một sự giải thoát cao hơn.’ Do thực hành nhiều lần điều đó, đối với vị ấy, điều đó trở thành chắc chắn rằng: ‘Quả thật có.’”
Puna caparaṁ, bhikkhave, sāriputto pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharati sato ca sampajāno, sukhañca kāyena paṭisaṁvedeti. Yaṁ taṁ ariyā ācikkhanti: ‘upekkhako satimā sukhavihārī’ti tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Ye ca tatiye jhāne dhammā—sukhañca sati ca sampajaññañca cittekaggatā ca, phasso vedanā saññā cetanā cittaṁ chando adhimokkho vīriyaṁ sati upekkhā manasikāro—tyāssa dhammā anupadavavatthitā honti, tyāssa dhammā viditā uppajjanti, viditā upaṭṭhahanti, viditā abbhatthaṁ gacchanti. So evaṁ pajānāti: ‘evaṁ kirame dhammā ahutvā sambhonti, hutvā paṭiventī’ti. So tesu dhammesu anupāyo anapāyo anissito appaṭibaddho vippamutto visaṁyutto vimariyādīkatena cetasā viharati. So ‘atthi uttari nissaraṇan’ti pajānāti. Tabbahulīkārā atthitvevassa hoti.
Furthermore, with the fading away of rapture, he entered and remained in the third absorption, where he meditated with equanimity, mindful and aware, experiencing for themselves the bliss of which the noble ones declare, ‘Equanimous and mindful, one meditates in bliss.’
And he distinguished the phenomena of the third absorption one by one: bliss and mindfulness and awareness and unification of mind; contact, feeling, perception, intention, mind, enthusiasm, decision, energy, mindfulness, equanimity, and application of mind. He knew those phenomena as they arose, as they remained, and as they went away. He understood: ‘So it seems that these phenomena, not having been, come to be; and having come to be, they flit away.’ Regarding those phenomena, he meditated without getting involved or shying away, independent, untied, liberated, detached, with mind free of boundaries. He understood: ‘There is an escape beyond.’ Repeated practice of that confirmed this for him.
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, Sāriputta ly hỷ, trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là ‘xả niệm lạc trú’, chứng và trú Tam thiền. Và những pháp nào ở trong Tam thiền: lạc, niệm, tỉnh giác, và nhất tâm; xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, dục, thắng giải, tinh tấn, niệm, xả, tác ý – những pháp ấy được vị ấy xác định theo thứ tự từng pháp một. Những pháp ấy được vị ấy biết rõ khi chúng sanh khởi, biết rõ khi chúng hiện hữu, biết rõ khi chúng biến mất. Vị ấy tuệ tri như sau: ‘Quả thật, các pháp này, từ không có đã sanh khởi; sau khi có, chúng lại hoại diệt.’ Đối với các pháp ấy, vị ấy không luyến ái, không chống đối, không phụ thuộc, không bị trói buộc, đã giải thoát, không bị ràng buộc, trú với tâm đã được phân định ranh giới. Vị ấy tuệ tri: ‘Có một sự giải thoát cao hơn.’ Do thực hành nhiều lần điều đó, đối với vị ấy, điều đó trở thành chắc chắn rằng: ‘Quả thật có.’”
Puna caparaṁ, bhikkhave, sāriputto sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Ye ca catutthe jhāne dhammā—upekkhā adukkhamasukhā vedanā passaddhattā cetaso anābhogo satipārisuddhi cittekaggatā ca, phasso vedanā saññā cetanā cittaṁ chando adhimokkho vīriyaṁ sati upekkhā manasikāro—tyāssa dhammā anupadavavatthitā honti. Tyāssa dhammā viditā uppajjanti, viditā upaṭṭhahanti, viditā abbhatthaṁ gacchanti. So evaṁ pajānāti: ‘evaṁ kirame dhammā ahutvā sambhonti, hutvā paṭiventī’ti. So tesu dhammesu anupāyo anapāyo anissito appaṭibaddho vippamutto visaṁyutto vimariyādīkatena cetasā viharati. So ‘atthi uttari nissaraṇan’ti pajānāti. Tabbahulīkārā atthitvevassa hoti.
Furthermore, with the giving up of pleasure and pain, and the disappearance of former happiness and sadness, he entered and remained in the fourth absorption, without pleasure or pain, with pure equanimity and mindfulness.
And he distinguished the phenomena of the fourth absorption one by one: equanimity and neutral feeling and mental unconcern due to tranquility and pure mindfulness and unification of mind; contact, feeling, perception, intention, mind, enthusiasm, decision, energy, mindfulness, equanimity, and application of mind. He knew those phenomena as they arose, as they remained, and as they went away. He understood: ‘So it seems that these phenomena, not having been, come to be; and having come to be, they flit away.’ Regarding those phenomena, he meditated without getting involved or shying away, independent, untied, liberated, detached, his mind without boundaries. He understood: ‘There is an escape beyond.’ Repeated practice of that confirmed this for him.
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, Sāriputta xả lạc, xả khổ, chấm dứt hỷ và ưu đã cảm thọ trước kia, chứng và trú Tứ thiền, một trạng thái không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Và những pháp nào ở trong Tứ thiền: xả, thọ không khổ không lạc, do khinh an nên tâm không còn công phu, niệm thanh tịnh, và nhất tâm; xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, dục, thắng giải, tinh tấn, niệm, xả, tác ý – những pháp ấy được vị ấy xác định theo thứ tự từng pháp một. Những pháp ấy được vị ấy biết rõ khi chúng sanh khởi, biết rõ khi chúng hiện hữu, biết rõ khi chúng biến mất. Vị ấy tuệ tri như sau: ‘Quả thật, các pháp này, từ không có đã sanh khởi; sau khi có, chúng lại hoại diệt.’ Đối với các pháp ấy, vị ấy không luyến ái, không chống đối, không phụ thuộc, không bị trói buộc, đã giải thoát, không bị ràng buộc, trú với tâm đã được phân định ranh giới. Vị ấy tuệ tri: ‘Có một sự giải thoát cao hơn.’ Do thực hành nhiều lần điều đó, đối với vị ấy, điều đó trở thành chắc chắn rằng: ‘Quả thật có.’”
Puna caparaṁ, bhikkhave, sāriputto sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharati.
Ye ca ākāsānañcāyatane dhammā—ākāsānañcāyatanasaññā ca cittekaggatā ca phasso vedanā saññā cetanā cittaṁ chando adhimokkho vīriyaṁ sati upekkhā manasikāro—tyāssa dhammā anupadavavatthitā honti. Tyāssa dhammā viditā uppajjanti, viditā upaṭṭhahanti, viditā abbhatthaṁ gacchanti. So evaṁ pajānāti: ‘evaṁ kirame dhammā ahutvā sambhonti, hutvā paṭiventī’ti. So tesu dhammesu anupāyo anapāyo anissito appaṭibaddho vippamutto visaṁyutto vimariyādīkatena cetasā viharati. So ‘atthi uttari nissaraṇan’ti pajānāti. Tabbahulīkārā atthitvevassa hoti.
Furthermore, going totally beyond perceptions of form, with the disappearance of perceptions of impingement, not focusing on perceptions of diversity, aware that ‘space is infinite’, he entered and remained in the dimension of infinite space.
And he distinguished the phenomena of the dimension of infinite space one by one: the perception of the dimension of infinite space and unification of mind; contact, feeling, perception, intention, mind, enthusiasm, decision, energy, mindfulness, equanimity, and application of mind. He knew those phenomena as they arose, as they remained, and as they went away. He understood: ‘So it seems that these phenomena, not having been, come to be; and having come to be, they flit away.’ Regarding those phenomena, he meditated without getting involved or shying away, independent, untied, liberated, detached, with mind free of boundaries. He understood: ‘There is an escape beyond.’ Repeated practice of that confirmed this for him.
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, Sāriputta vượt qua hoàn toàn các sắc tưởng, chấm dứt các đối ngại tưởng, không tác ý đến các dị biệt tưởng, nghĩ rằng: ‘Hư không là vô biên,’ chứng và trú Không Vô Biên Xứ. Và những pháp nào ở trong Không Vô Biên Xứ: tưởng về Không Vô Biên Xứ và nhất tâm; xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, dục, thắng giải, tinh tấn, niệm, xả, tác ý – những pháp ấy được vị ấy xác định theo thứ tự từng pháp một. Những pháp ấy được vị ấy biết rõ khi chúng sanh khởi, biết rõ khi chúng hiện hữu, biết rõ khi chúng biến mất. Vị ấy tuệ tri như sau: ‘Quả thật, các pháp này, từ không có đã sanh khởi; sau khi có, chúng lại hoại diệt.’ Đối với các pháp ấy, vị ấy không luyến ái, không chống đối, không phụ thuộc, không bị trói buộc, đã giải thoát, không bị ràng buộc, trú với tâm đã được phân định ranh giới. Vị ấy tuệ tri: ‘Có một sự giải thoát cao hơn.’ Do thực hành nhiều lần điều đó, đối với vị ấy, điều đó trở thành chắc chắn rằng: ‘Quả thật có.’”
Puna caparaṁ, bhikkhave, sāriputto sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja viharati.
Ye ca viññāṇañcāyatane dhammā—viññāṇañcāyatanasaññā ca cittekaggatā ca, phasso vedanā saññā cetanā cittaṁ chando adhimokkho vīriyaṁ sati upekkhā manasikāro—tyāssa dhammā anupadavavatthitā honti. Tyāssa dhammā viditā uppajjanti, viditā upaṭṭhahanti, viditā abbhatthaṁ gacchanti. So evaṁ pajānāti: ‘evaṁ kirame dhammā ahutvā sambhonti, hutvā paṭiventī’ti. So tesu dhammesu anupāyo anapāyo anissito appaṭibaddho vippamutto visaṁyutto vimariyādīkatena cetasā viharati. So ‘atthi uttari nissaraṇan’ti pajānāti. Tabbahulīkārā atthitvevassa hoti.
Furthermore, going totally beyond the dimension of infinite space, aware that ‘consciousness is infinite’, he entered and remained in the dimension of infinite consciousness.
And he distinguished the phenomena of the dimension of infinite consciousness one by one: the perception of the dimension of infinite consciousness and unification of mind; contact, feeling, perception, intention, mind, enthusiasm, decision, energy, mindfulness, equanimity, and application of mind. He knew those phenomena as they arose, as they remained, and as they went away. He understood: ‘So it seems that these phenomena, not having been, come to be; and having come to be, they flit away.’ Regarding those phenomena, he meditated without getting involved or shying away, independent, untied, liberated, detached, his mind free of limits. He understood: ‘There is an escape beyond.’ Repeated practice of that confirmed this for him.
Lại nữa, này các Tỳ khưu, Tôn giả Sāriputta, sau khi đã vượt qua hoàn toàn Không Vô Biên Xứ, với ý niệm rằng ‘thức là vô biên’, đã chứng đạt và an trú trong Thức Vô Biên Xứ. Và những pháp nào ở trong Thức Vô Biên Xứ – là tưởng Thức Vô Biên Xứ và nhất tâm, xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, dục, thắng giải, tinh tấn, niệm, xả, tác ý – những pháp ấy được vị ấy xác định theo thứ tự. Những pháp ấy được vị ấy biết rõ khi chúng sanh khởi, biết rõ khi chúng hiện hữu, biết rõ khi chúng đi đến hoại diệt. Vị ấy tuệ tri như vầy: ‘Quả thật, các pháp này, trước kia không có, nay sanh khởi; sau khi đã có, chúng lại hoại diệt.’ Đối với các pháp ấy, vị ấy an trú không quyến luyến, không chống đối, không nương tựa, không bị trói buộc, đã giải thoát, không bị ràng buộc, với tâm không còn giới hạn. Vị ấy tuệ tri rằng: ‘Có sự giải thoát cao hơn nữa.’ Do thực hành nhiều lần điều ấy, đối với vị ấy, (sự tuệ tri) rằng ‘chắc chắn có sự giải thoát cao hơn nữa’ trở nên vững chắc.
Puna caparaṁ, bhikkhave, sāriputto sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati.
Ye ca ākiñcaññāyatane dhammā—ākiñcaññāyatanasaññā ca cittekaggatā ca, phasso vedanā saññā cetanā cittaṁ chando adhimokkho vīriyaṁ sati upekkhā manasikāro—tyāssa dhammā anupadavavatthitā honti. Tyāssa dhammā viditā uppajjanti, viditā upaṭṭhahanti, viditā abbhatthaṁ gacchanti. So evaṁ pajānāti: ‘evaṁ kirame dhammā ahutvā sambhonti, hutvā paṭiventī’ti. So tesu dhammesu anupāyo anapāyo anissito appaṭibaddho vippamutto visaṁyutto vimariyādīkatena cetasā viharati. So ‘atthi uttari nissaraṇan’ti pajānāti. Tabbahulīkārā atthitvevassa hoti.
Furthermore, going totally beyond the dimension of infinite consciousness, aware that ‘there is nothing at all’, he entered and remained in the dimension of nothingness.
And he distinguished the phenomena of the dimension of nothingness one by one: the perception of the dimension of nothingness and unification of mind; contact, feeling, perception, intention, mind, enthusiasm, decision, energy, mindfulness, equanimity, and application of mind. He knew those phenomena as they arose, as they remained, and as they went away. He understood: ‘So it seems that these phenomena, not having been, come to be; and having come to be, they flit away.’ Regarding those phenomena, he meditated without getting involved or shying away, independent, untied, liberated, detached, with mind free of boundaries. He understood: ‘There is an escape beyond.’ Repeated practice of that confirmed this for him.
Lại nữa, này các Tỳ khưu, Tôn giả Sāriputta, sau khi đã vượt qua hoàn toàn Thức Vô Biên Xứ, với ý niệm rằng ‘không có gì cả’, đã chứng đạt và an trú trong Vô Sở Hữu Xứ. Và những pháp nào ở trong Vô Sở Hữu Xứ – là tưởng Vô Sở Hữu Xứ và nhất tâm, xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, dục, thắng giải, tinh tấn, niệm, xả, tác ý – những pháp ấy được vị ấy xác định theo thứ tự. Những pháp ấy được vị ấy biết rõ khi chúng sanh khởi, biết rõ khi chúng hiện hữu, biết rõ khi chúng đi đến hoại diệt. Vị ấy tuệ tri như vầy: ‘Quả thật, các pháp này, trước kia không có, nay sanh khởi; sau khi đã có, chúng lại hoại diệt.’ Đối với các pháp ấy, vị ấy an trú không quyến luyến, không chống đối, không nương tựa, không bị trói buộc, đã giải thoát, không bị ràng buộc, với tâm không còn giới hạn. Vị ấy tuệ tri rằng: ‘Có sự giải thoát cao hơn nữa.’ Do thực hành nhiều lần điều ấy, đối với vị ấy, (sự tuệ tri) rằng ‘chắc chắn có sự giải thoát cao hơn nữa’ trở nên vững chắc.
Puna caparaṁ, bhikkhave, sāriputto sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṁ upasampajja viharati.
So tāya samāpattiyā sato vuṭṭhahati. So tāya samāpattiyā sato vuṭṭhahitvā ye dhammā atītā niruddhā vipariṇatā te dhamme samanupassati: ‘evaṁ kirame dhammā ahutvā sambhonti, hutvā paṭiventī’ti. So tesu dhammesu anupāyo anapāyo anissito appaṭibaddho vippamutto visaṁyutto vimariyādīkatena cetasā viharati.
Furthermore, going totally beyond the dimension of nothingness, he entered and remained in the dimension of neither perception nor non-perception.
And he emerged from that attainment with mindfulness. Then he contemplated the phenomena of that attainment that had passed, ceased, and perished: ‘So it seems that these phenomena, not having been, come to be; and having come to be, they flit away.’ Regarding those phenomena, he meditated without getting involved or shying away, independent, untied, liberated, detached, his mind without boundaries.
95. Lại nữa, này các Tỳ khưu, Tôn giả Sāriputta, sau khi đã vượt qua hoàn toàn Vô Sở Hữu Xứ, đã chứng đạt và an trú trong Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Vị ấy xuất khỏi định ấy với chánh niệm. Sau khi xuất khỏi định ấy với chánh niệm, vị ấy quán xét các pháp đã qua, đã diệt, đã biến hoại: ‘Quả thật, các pháp này, trước kia không có, nay sanh khởi; sau khi đã có, chúng lại hoại diệt.’ Đối với các pháp ấy, vị ấy an trú không quyến luyến, không chống đối, không nương tựa, không bị trói buộc, đã giải thoát, không bị ràng buộc, với tâm không còn giới hạn. Vị ấy tuệ tri rằng: ‘Có sự giải thoát cao hơn nữa.’ Do thực hành nhiều lần điều ấy, đối với vị ấy, (sự tuệ tri) rằng ‘chắc chắn có sự giải thoát cao hơn nữa’ trở nên vững chắc.
Puna caparaṁ, bhikkhave, sāriputto sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja viharati. Paññāya cassa disvā āsavā parikkhīṇā honti.
So tāya samāpattiyā sato vuṭṭhahati. So tāya samāpattiyā sato vuṭṭhahitvā ye dhammā atītā niruddhā vipariṇatā te dhamme samanupassati: ‘evaṁ kirame dhammā ahutvā sambhonti, hutvā paṭiventī’ti. So tesu dhammesu anupāyo anapāyo anissito appaṭibaddho vippamutto visaṁyutto vimariyādīkatena cetasā viharati. So ‘natthi uttari nissaraṇan’ti pajānāti. Tabbahulīkārā natthi tvevassa hoti.
Furthermore, going totally beyond the dimension of neither perception nor non-perception, he entered and remained in the cessation of perception and feeling. And, having seen with wisdom, his defilements came to an end.
And he emerged from that attainment with mindfulness. Then he contemplated the phenomena of that attainment that had passed, ceased, and perished: ‘So it seems that these phenomena, not having been, come to be; and having come to be, they flit away.’ Regarding those phenomena, he meditated without getting involved or shying away, independent, untied, liberated, detached, with mind free of boundaries. He understood: ‘There is no escape beyond.’ By cultivating that he confirmed that there is not.
96. Lại nữa, này các Tỳ khưu, Tôn giả Sāriputta, sau khi đã vượt qua hoàn toàn Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, đã chứng đạt và an trú trong Diệt Thọ Tưởng Định. Và sau khi đã thấy bằng trí tuệ, các lậu hoặc của vị ấy được đoạn tận. Vị ấy xuất khỏi định ấy với chánh niệm. Sau khi xuất khỏi định ấy với chánh niệm, vị ấy quán xét các pháp đã qua, đã diệt, đã biến hoại: ‘Quả thật, các pháp này, trước kia không có, nay sanh khởi; sau khi đã có, chúng lại hoại diệt.’ Đối với các pháp ấy, vị ấy an trú không quyến luyến, không chống đối, không nương tựa, không bị trói buộc, đã giải thoát, không bị ràng buộc, với tâm không còn giới hạn. Vị ấy tuệ tri rằng: ‘Không có sự giải thoát nào cao hơn nữa.’ Do thực hành nhiều lần điều ấy, đối với vị ấy, (sự tuệ tri) rằng ‘chắc chắn không có sự giải thoát nào cao hơn nữa’ trở nên vững chắc.
Yaṁ kho taṁ, bhikkhave, sammā vadamāno vadeyya: ‘vasippatto pāramippatto ariyasmiṁ sīlasmiṁ, vasippatto pāramippatto ariyasmiṁ samādhismiṁ, vasippatto pāramippatto ariyāya paññāya, vasippatto pāramippatto ariyāya vimuttiyā’ti, sāriputtameva taṁ sammā vadamāno vadeyya: ‘vasippatto pāramippatto ariyasmiṁ sīlasmiṁ, vasippatto pāramippatto ariyasmiṁ samādhismiṁ, vasippatto pāramippatto ariyāya paññāya, vasippatto pāramippatto ariyāya vimuttiyā’ti.
Yaṁ kho taṁ, bhikkhave, sammā vadamāno vadeyya: ‘bhagavato putto oraso mukhato jāto dhammajo dhammanimmito dhammadāyādo no āmisadāyādo’ti, sāriputtameva taṁ sammā vadamāno vadeyya: ‘bhagavato putto oraso mukhato jāto dhammajo dhammanimmito dhammadāyādo no āmisadāyādo’ti.
Sāriputto, bhikkhave, tathāgatena anuttaraṁ dhammacakkaṁ pavattitaṁ sammadeva anuppavattetī”ti.
And if there’s anyone of whom it may be rightly said that they have attained mastery and perfection in noble ethics, immersion, wisdom, and freedom, it’s Sāriputta.
And if there’s anyone of whom it may be rightly said that they’re the Buddha’s bosom son, born from his mouth, born of the teaching, created by the teaching, heir in the teaching, not in things of the flesh, it’s Sāriputta.
Sāriputta rightly keeps rolling the supreme Wheel of Dhamma that was rolled forth by the Realized One.”
97. Này các Tỳ khưu, nếu có người nói một cách chân chánh, người ấy nên nói rằng: ‘Đã đạt đến sự thuần thục, đã đạt đến sự toàn hảo trong Thánh giới; đã đạt đến sự thuần thục, đã đạt đến sự toàn hảo trong Thánh định; đã đạt đến sự thuần thục, đã đạt đến sự toàn hảo trong Thánh tuệ; đã đạt đến sự thuần thục, đã đạt đến sự toàn hảo trong Thánh giải thoát,’ thì người ấy đang nói một cách chân chánh chính là về Tôn giả Sāriputta. Này các Tỳ khưu, nếu có người nói một cách chân chánh, người ấy nên nói rằng: ‘Là người con của Thế Tôn, người con đích thực, sanh ra từ miệng (Pháp), sanh ra từ Pháp, do Pháp tạo ra, là người thừa tự Pháp, không phải người thừa tự tài vật,’ thì người ấy đang nói một cách chân chánh chính là về Tôn giả Sāriputta. Này các Tỳ khưu, Tôn giả Sāriputta đã làm chuyển vận theo một cách chân chánh bánh xe Pháp vô thượng đã được Như Lai chuyển vận.
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
Thế Tôn đã nói điều này. Các Tỳ khưu ấy, với tâm hoan hỷ, đã tán thưởng lời dạy của Thế Tôn.
Anupadasuttaṁ niṭṭhitaṁ paṭhamaṁ.
Kinh Anupada, phẩm thứ nhất, đã kết thúc.