- Majjhima Nikāya 110
Cūḷapuṇṇamasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Cūḷapuṇṇamasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi, tại Pubbārāma (Ðông Viên), Migaramatupasada (Lộc Mẫu Giảng đường).
SC 2Lúc bấy giờ trong ngày Bố-tát, ngày trăng tròn, trong đêm trăng rằm, Thế Tôn đang ngồi giữa trời, xung quanh có chúng Tỷ-kheo đoanh vây. Rồi Thế Tôn nhìn chúng Tỷ-kheo đang yên lặng, hết sức yên lặng và bảo các Tỷ-kheo
SC 3—Này các Tỷ-kheo, một người bất chánh (asappurisa) có thể biết một người bất chánh: “Người bất chánh là vị này”, hay không?
SC 4—Bạch Thế Tôn, không biết được.
SC 5—Lành thay, này các Tỷ-kheo! Này các Tỷ-kheo, không thể có sự tình, không thể có sự kiện, một người bất chánh có thể biết một người bất chánh: “Người bất chánh là vị này.” Này các Tỷ-kheo, nhưng một người bất chánh có thể biết một người chơn chánh: “Người chơn chánh là vị này” hay không?
SC 6—Bạch Thế Tôn, không biết được.
SC 7—Lành thay, này các Tỷ-kheo! Này các Tỷ-kheo, không thể có sự tình, không thể có sự kiện một người bất chánh có thể biết được một người chơn chánh: “Người chơn chánh là vị này”.
SC 8Người bất chánh, này các Tỷ-kheo, là người đầy đủ pháp bất chánh, giao du với người bất chánh, suy tư như người bất chánh, tư lường như người bất chánh, nói năng như người bất chánh, hành động như người bất chánh, có tà kiến như người bất chánh, bố thí như người bất chánh.
SC 9Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là người bất chánh đầy đủ pháp bất chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người bất chánh bất tín, vô tàm, vô quý, nghe ít, biếng nhác, thất niệm, liệt tuệ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người bất chánh đầy đủ pháp bất chánh.
SC 10Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là người bất chánh giao du với những người bất chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, những vị Bà-la-môn nào bất tín, vô tàm, vô quý, ít nghe, biếng nhác, thất niệm, liệt tuệ, những vị ấy là bạn, là thân hữu với người bất chánh ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người bất chánh giao du với người bất chánh.
SC 11Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là người bất chánh suy tư như người bất chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người bất chánh suy nghĩ tự làm hại mình, suy nghĩ làm hại người khác, suy nghĩ làm hại cả hai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người bất chánh suy tư như người bất chánh.
SC 12Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là người bất chánh tư lường như người bất chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người bất chánh tư lường tự làm hại mình, tư lường làm hại người, tư lường làm hại cả hai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người bất chánh tư lường như người bất chánh.
SC 13Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là người bất chánh nói năng như người bất chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người bất chánh nói lời nói láo, nói lời hai lưỡi, nói ác khẩu, nói lời phù phiếm. Như vậy này các Tỷ-kheo, là người bất chánh nói năng như người bất chánh.
SC 14Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là người bất chánh hành động như người bất chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người bất chánh sát sanh, lấy của không cho, làm các tà hạnh trong các dục. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người bất chánh hành động như người bất chánh.
SC 15Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là người bất chánh có tà kiến như người bất chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người bất chánh có tà kiến như sau: “Không có bố thí, không có lễ hy sinh, không có tế tự, không có quả dị thục các nghiệp thiện ác, không có đời này, không có đời khác, không có cha, không có mẹ, không có loại hóa sanh. Ở đời, không có những vị Sa-môn, những vị Bà-la-môn chánh hướng, chánh hạnh đã tự mình chứng đạt với thượng trí đời này và đời khác, và truyền dạy lại”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người bất chánh có tà kiến như người bất chánh.
SC 16Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người bất chánh bố thí như người bất chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người bất chánh bố thí một cách vô lễ, bố thí không phải tự tay, bố thí không có suy tư kỹ lưỡng, bố thí những vật không cần dùng, bố thí không nghĩ đến tương lai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người bất chánh bố thí như người bất chánh.
SC 17Này các Tỷ-kheo, người bất chánh ấy, đầy đủ pháp bất chánh như vậy, giao du với người bất chánh như vậy, suy tư như người bất chánh như vậy, tư lường như người bất chánh như vậy, nói năng như người bất chánh như vậy, hành động như người bất chánh như vậy, có tà kiến như người bất chánh như vậy, bố thí như người bất chánh như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cảnh giới của những người bất chánh. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là cảnh giới của những người bất chánh? Ðịa ngục hay là bàng sanh.
SC 18Này các Tỷ-kheo, một người chơn chánh có thể biết được một người chơn chánh: “Người chơn chánh là vị này” hay không?
SC 19—Thưa biết được, bạch Thế Tôn.
SC 20—Lành thay, này các Tỷ-kheo! Sự tình này xảy ra là người chơn chánh có thể biết được người chơn chánh: “Người chơn chánh là vị này”. Nhưng này các Tỷ-kheo, người chơn chánh có thể biết được người bất chánh: “Người bất chánh là vị này” hay không?
SC 21—Thưa biết được, bạch Thế Tôn.
SC 22—Lành thay, này các Tỷ-kheo! Này các Tỷ-kheo, có sự tình này là người chơn chánh có thể biết được người bất chánh: “Người bất chánh là vị này”. Này các Tỷ-kheo, người chơn chánh đầy đủ Chánh pháp, giao du với các bậc chơn chánh, suy nghĩ như các bậc chơn chánh, tư lường như các bậc chơn chánh, nói năng như bậc chơn chánh, hành động như bậc chơn chánh, có chánh kiến như bậc chơn chánh, bố thí như bậc chơn chánh.
SC 23Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người chơn chánh đầy đủ Chánh pháp? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người chơn chánh có lòng tin, có lòng tàm, có lòng quý, có nghe nhiều, có tinh cần, tinh tấn, có chánh niệm, có trí tuệ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người chơn chánh đầy đủ những Chánh pháp.
SC 24Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người chơn chánh giao du với các bậc chơn chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào có lòng tin, có lòng tàm, có lòng quý nghe nhiều, tinh cần, tinh tấn, chánh niệm, có trí tuệ, những vị ấy là bạn, là thân hữu của vị chơn chánh ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người chơn chánh giao du với các bậc chơn chánh.
SC 25Và này, các Tỷ-kheo, như thế nào là người chơn chánh suy tư như người chơn chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người chơn chánh không suy nghĩ tự làm hại mình, không suy nghĩ làm hại người khác, không suy nghĩ làm hại cả hai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người chơn chánh suy tư như người chơn chánh.
SC 26Và này, các Tỷ-kheo, như thế nào là người chơn chánh tư lường như người chơn chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người chơn chánh không tư lường tự làm hại mình, không tư lường làm hại người khác, không tư lường làm hại cả hai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người chơn chánh tư lường như người chơn chánh?
SC 27Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là người chơn chánh nói năng như người chơn chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người chơn chánh từ bỏ không nói láo, từ bỏ không nói hai lưỡi, từ bỏ không nói ác khẩu, từ bỏ không nói phiếm luận. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người chơn chánh nói năng như người chơn chánh.
SC 28Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người chơn chánh hành động như người chơn chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người chơn chánh từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ làm các tà hạnh trong dâm dục. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người chơn chánh hành động như người chơn chánh.
SC 29Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người chơn chánh có chánh kiến như bậc chơn chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người chơn chánh có chánh kiến như sau: “Có bố thí, có lễ hy sinh, có tế tự, có quả dị thục các nghiệp thiện ác, có đời này, có đời khác, có cha, có mẹ, có loại hóa sanh. Ở đời có những vị Sa-môn, những vị Bà-la-môn chánh hướng, chánh hạnh, đã tự mình chứng đạt với thượng trí đời này và đời khác, và truyền dạy lại. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người chơn chánh có chánh kiến như người chơn chánh.
SC 30Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người chơn chánh bố thí như người chơn chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người chơn chánh bố thí một cách lễ độ, bố thí với tự tay, bố thí có suy tư kỹ lưỡng, bố thí những vật cần dùng, bố thí có nghĩ đến tương lai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người chơn chánh bố thí như người chơn chánh.
SC 31Này các Tỷ-kheo, người chơn chánh ấy, đầy đủ Chánh pháp như vậy, giao du với người chơn chánh như vậy, suy tư như người chơn chánh như vậy, tư lường như người chơn chánh như vậy, nói năng như người chơn chánh như vậy, hành động như người chơn chánh như vậy, có chánh kiến như người như người chơn chánh như vậy, bố thí như người chơn chánh như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cảnh giới của những người chơn chánh. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là cảnh giới của những người chơn chánh? Ðại tánh của chư Thiên hay đại tánh của loài Người.
SC 32Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). 12-07-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
10. Kinh Tiểu Rằm
Tena kho pana samayena bhagavā tadahuposathe pannarase puṇṇāya puṇṇamāya rattiyā bhikkhusaṅghaparivuto abbhokāse nisinno hoti. Atha kho bhagavā tuṇhībhūtaṁ tuṇhībhūtaṁ bhikkhusaṅghaṁ anuviloketvā bhikkhū āmantesi: “jāneyya nu kho, bhikkhave, asappuriso asappurisaṁ: ‘asappuriso ayaṁ bhavan’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sādhu, bhikkhave; aṭṭhānametaṁ, bhikkhave, anavakāso yaṁ asappuriso asappurisaṁ jāneyya: ‘asappuriso ayaṁ bhavan’ti. Jāneyya pana, bhikkhave, asappuriso sappurisaṁ: ‘sappuriso ayaṁ bhavan’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sādhu, bhikkhave; etampi kho, bhikkhave, aṭṭhānaṁ anavakāso yaṁ asappuriso sappurisaṁ jāneyya: ‘sappuriso ayaṁ bhavan’ti. Asappuriso, bhikkhave, assaddhammasamannāgato hoti, asappurisabhatti hoti, asappurisacintī hoti, asappurisamantī hoti, asappurisavāco hoti, asappurisakammanto hoti, asappurisadiṭṭhi hoti; asappurisadānaṁ deti.
Now, at that time it was the sabbath—the full moon on the fifteenth day—and the Buddha was sitting in the open surrounded by the Saṅgha of monks. Then the Buddha looked around the Saṅgha of monks, who were so very silent. He addressed them, “Monks, could an untrue person know of an untrue person: ‘This worthy one is an untrue person’?”
“No, sir.”
“Good, monks! It’s impossible, it can’t happen, that an untrue person could know of an untrue person: ‘This worthy one is an untrue person.’ But could an untrue person know of a true person: ‘This worthy one is a true person’?”
“No, sir.”
“Good, monks! That too is impossible. An untrue person has bad qualities, is devoted to untrue persons, and has the intentions, counsel, speech, actions, views, and giving of an untrue person.
91. Tôi nghe như vầy: Một thời, Đức Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Pubbārāma, giảng đường của mẹ Migāra. Vào lúc bấy giờ, vào ngày Uposatha rằm, trong đêm trăng tròn, Đức Thế Tôn đang ngồi ngoài trời, có Tăng chúng Tỳ khưu vây quanh. Bấy giờ, Đức Thế Tôn nhìn quanh Tăng chúng Tỳ khưu đang im lặng, rồi gọi các Tỳ khưu: ‘Này các Tỳ khưu, liệu người xấu có thể biết được người xấu: ‘Vị này là người xấu’ chăng?’ ‘Bạch Thế Tôn, không thể được.’ ‘Lành thay, này các Tỳ khưu. Này các Tỳ khưu, không có trường hợp, không có cơ hội để người xấu biết được người xấu: ‘Vị này là người xấu’. Này các Tỳ khưu, vậy người xấu có thể biết được người tốt: ‘Vị này là người tốt’ chăng?’ ‘Bạch Thế Tôn, không thể được.’ ‘Lành thay, này các Tỳ khưu. Này các Tỳ khưu, điều này cũng không có trường hợp, không có cơ hội để người xấu biết được người tốt: ‘Vị này là người tốt’. Này các Tỳ khưu, người xấu thì có đủ các pháp của người xấu, thân cận người xấu, có tư duy của người xấu, có bàn bạc của người xấu, có lời nói của người xấu, có hành động của người xấu, có tà kiến; và bố thí theo cách của người xấu.’
Kathañca, bhikkhave, asappuriso assaddhammasamannāgato hoti? Idha, bhikkhave, asappuriso assaddho hoti, ahiriko hoti, anottappī hoti, appassuto hoti, kusīto hoti, muṭṭhassati hoti, duppañño hoti. Evaṁ kho, bhikkhave, asappuriso assaddhammasamannāgato hoti.
And how does an untrue person have bad qualities? It’s when an untrue person is faithless, shameless, imprudent, unlearned, lazy, unmindful, and witless. That’s how an untrue person has bad qualities.
‘Này các Tỳ khưu, thế nào là người xấu có đủ các pháp của người xấu? Này các Tỳ khưu, ở đây, người xấu không có đức tin, không có tàm, không có quý, ít học, lười biếng, thất niệm, và không có trí tuệ. Này các Tỳ khưu, như vậy là người xấu có đủ các pháp của người xấu.
Kathañca, bhikkhave, asappuriso asappurisabhatti hoti? Idha, bhikkhave, asappurisassa ye te samaṇabrāhmaṇā assaddhā ahirikā anottappino appassutā kusītā muṭṭhassatino duppaññā tyāssa mittā honti te sahāyā. Evaṁ kho, bhikkhave, asappuriso asappurisabhatti hoti.
And how is an untrue person devoted to untrue persons? It’s when an untrue person is a friend and companion of ascetics and brahmins who are faithless, shameless, imprudent, unlearned, lazy, unmindful, and witless. That’s how an untrue person is devoted to untrue persons.
‘Này các Tỳ khưu, thế nào là người xấu thân cận người xấu? Này các Tỳ khưu, ở đây, những Sa-môn, Bà-la-môn nào không có đức tin, không có tàm, không có quý, ít học, lười biếng, thất niệm, không có trí tuệ, thì những vị ấy là bạn bè, là người đồng hành của người xấu. Này các Tỳ khưu, như vậy là người xấu thân cận người xấu.
Kathañca, bhikkhave, asappuriso asappurisacintī hoti? Idha, bhikkhave, asappuriso attabyābādhāyapi ceteti, parabyābādhāyapi ceteti, ubhayabyābādhāyapi ceteti. Evaṁ kho, bhikkhave, asappuriso asappurisacintī hoti.
And how does an untrue person have the intentions of an untrue person? It’s when an untrue person intends to hurt themselves, hurt others, and hurt both. That’s how an untrue person has the intentions of an untrue person.
‘Này các Tỳ khưu, thế nào là người xấu có tư duy của người xấu? Này các Tỳ khưu, ở đây, người xấu tư duy để làm hại mình, tư duy để làm hại người khác, và tư duy để làm hại cả hai. Này các Tỳ khưu, như vậy là người xấu có tư duy của người xấu.
Kathañca, bhikkhave, asappuriso asappurisamantī hoti? Idha, bhikkhave, asappuriso attabyābādhāyapi manteti, parabyābādhāyapi manteti, ubhayabyābādhāyapi manteti. Evaṁ kho, bhikkhave, asappuriso asappurisamantī hoti.
And how does an untrue person offer the counsel of an untrue person? It’s when an untrue person offers counsel that hurts themselves, hurts others, and hurts both. That’s how an untrue person offers the counsel of an untrue person.
‘Này các Tỳ khưu, thế nào là người xấu có bàn bạc của người xấu? Này các Tỳ khưu, ở đây, người xấu bàn bạc để làm hại mình, bàn bạc để làm hại người khác, và bàn bạc để làm hại cả hai. Này các Tỳ khưu, như vậy là người xấu có bàn bạc của người xấu.
Kathañca, bhikkhave, asappuriso asappurisavāco hoti? Idha, bhikkhave, asappuriso musāvādī hoti, pisuṇavāco hoti, pharusavāco hoti, samphappalāpī hoti. Evaṁ kho, bhikkhave, asappuriso asappurisavāco hoti.
And how does an untrue person have the speech of an untrue person? It’s when an untrue person uses speech that’s false, backbiting, harsh, and nonsensical. That’s how an untrue person has the speech of an untrue person.
‘Này các Tỳ khưu, thế nào là người xấu có lời nói của người xấu? Này các Tỳ khưu, ở đây, người xấu nói dối, nói đâm thọc, nói lời thô ác, nói lời vô ích. Này các Tỳ khưu, như vậy là người xấu có lời nói của người xấu.
Kathañca, bhikkhave, asappuriso asappurisakammanto hoti? Idha, bhikkhave, asappuriso pāṇātipātī hoti, adinnādāyī hoti, kāmesumicchācārī hoti. Evaṁ kho, bhikkhave, asappuriso asappurisakammanto hoti.
Kathañca, bhikkhave, asappuriso asappurisadiṭṭhi hoti?
And how does an untrue person have the action of an untrue person? It’s when an untrue person kills living creatures, steals, and commits sexual misconduct. That’s how an untrue person has the actions of an untrue person.
And how does an untrue person have the view of an untrue person?
‘Này các Tỳ khưu, thế nào là người xấu có hành động của người xấu? Này các Tỳ khưu, ở đây, người xấu sát sanh, trộm cắp, tà dâm trong các dục. Này các Tỳ khưu, như vậy là người xấu có hành động của người xấu.
‘Này các Tỳ khưu, thế nào là người xấu có tà kiến? Này các Tỳ khưu, ở đây, người xấu có quan điểm như sau: ‘Không có quả của sự bố thí, không có quả của sự cúng dường, không có quả của sự tế lễ; không có quả báo của các nghiệp thiện ác; không có đời này, không có đời sau; không có công ơn mẹ, không có công ơn cha; không có các chúng sanh hóa sanh; trong đời không có các Sa-môn, Bà-la-môn đã đi đúng đường, đã thực hành đúng đắn, những vị đã tự mình chứng ngộ bằng thắng trí và tuyên thuyết về đời này và đời sau.’ Này các Tỳ khưu, như vậy là người xấu có tà kiến.
Kathañca, bhikkhave, asappuriso asappurisadānaṁ deti? Idha, bhikkhave, asappuriso asakkaccaṁ dānaṁ deti, asahatthā dānaṁ deti, acittīkatvā dānaṁ deti, apaviṭṭhaṁ dānaṁ deti anāgamanadiṭṭhiko dānaṁ deti. Evaṁ kho, bhikkhave, asappuriso asappurisadānaṁ deti.
And how does an untrue person give the gifts of an untrue person? It’s when an untrue person gives a gift carelessly, not with their own hand, and thoughtlessly. They give the dregs, and they give without consideration for consequences. That’s how an untrue person gives the gifts of an untrue person.
‘Này các Tỳ khưu, thế nào là người xấu bố thí theo cách của người xấu? Này các Tỳ khưu, ở đây, người xấu bố thí một cách không cung kính, không tự tay bố thí, bố thí không có lòng tôn trọng, bố thí như vứt bỏ, bố thí với quan điểm rằng không có quả báo. Này các Tỳ khưu, như vậy là người xấu bố thí theo cách của người xấu.
So, bhikkhave, asappuriso evaṁ assaddhammasamannāgato, evaṁ asappurisabhatti, evaṁ asappurisacintī, evaṁ asappurisamantī, evaṁ asappurisavāco, evaṁ asappurisakammanto, evaṁ asappurisadiṭṭhi; evaṁ asappurisadānaṁ datvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā yā asappurisānaṁ gati tattha upapajjati. Kā ca, bhikkhave, asappurisānaṁ gati? Nirayo vā tiracchānayoni vā.
That untrue person—who has such bad qualities, is devoted to untrue persons, and has the intentions, counsel, speech, actions, views, and giving of an untrue person—when their body breaks up, after death, is reborn in the place where untrue persons are reborn. And what is the place where untrue persons are reborn? Hell or the animal realm.
‘Này các Tỳ khưu, người xấu ấy, sau khi có đủ các pháp của người xấu như vậy, thân cận người xấu như vậy, có tư duy của người xấu như vậy, có bàn bạc của người xấu như vậy, có lời nói của người xấu như vậy, có hành động của người xấu như vậy, có tà kiến như vậy, và bố thí theo cách của người xấu như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào nơi nào là cảnh giới của những người xấu. Này các Tỳ khưu, cảnh giới của những người xấu là gì? Là địa ngục hoặc loài súc sanh.
Jāneyya nu kho, bhikkhave, sappuriso sappurisaṁ: ‘sappuriso ayaṁ bhavan’”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Sādhu, bhikkhave; ṭhānametaṁ, bhikkhave, vijjati yaṁ sappuriso sappurisaṁ jāneyya: ‘sappuriso ayaṁ bhavan’ti. Jāneyya pana, bhikkhave, sappuriso asappurisaṁ: ‘asappuriso ayaṁ bhavan’”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Sādhu, bhikkhave; etampi kho, bhikkhave, ṭhānaṁ vijjati yaṁ sappuriso asappurisaṁ jāneyya: ‘asappuriso ayaṁ bhavan’ti. Sappuriso, bhikkhave, saddhammasamannāgato hoti, sappurisabhatti hoti, sappurisacintī hoti, sappurisamantī hoti, sappurisavāco hoti, sappurisakammanto hoti, sappurisadiṭṭhi hoti; sappurisadānaṁ deti.
Monks, could a true person know of a true person: ‘This worthy one is a true person’?”
“Yes, sir.”
“Good, monks! It is possible that a true person could know of a true person: ‘This worthy one is a true person.’ But could a true person know of an untrue person: ‘This worthy one is an untrue person’?”
“Yes, sir.”
“Good, monks! That too is possible. A true person has good qualities, is devoted to true persons, and has the intentions, counsel, speech, actions, views, and giving of a true person.
92. “Này các tỳ khưu, liệu bậc chân nhân có thể biết được bậc chân nhân khác: ‘Vị tôn giả này là bậc chân nhân’ không?” “Bạch Thế Tôn, đúng là như vậy.” “Lành thay, này các tỳ khưu. Này các tỳ khưu, có cơ sở này để bậc chân nhân có thể biết được bậc chân nhân khác: ‘Vị tôn giả này là bậc chân nhân.’ Này các tỳ khưu, liệu bậc chân nhân có thể biết được kẻ bất nhân: ‘Vị tôn giả này là kẻ bất nhân’ không?” “Bạch Thế Tôn, đúng là như vậy.” “Lành thay, này các tỳ khưu. Này các tỳ khưu, cũng có cơ sở này để bậc chân nhân có thể biết được kẻ bất nhân: ‘Vị tôn giả này là kẻ bất nhân.’ Này các tỳ khưu, bậc chân nhân thành tựu diệu pháp, thân cận bậc chân nhân, có tư duy của bậc chân nhân, có bàn luận của bậc chân nhân, có lời nói của bậc chân nhân, có hành động của bậc chân nhân, có quan kiến của bậc chân nhân, và thực hành bố thí của bậc chân nhân.”
Kathañca, bhikkhave, sappuriso saddhammasamannāgato hoti? Idha, bhikkhave, sappuriso saddho hoti, hirimā hoti, ottappī hoti, bahussuto hoti, āraddhavīriyo hoti, upaṭṭhitassati hoti, paññavā hoti. Evaṁ kho, bhikkhave, sappuriso saddhammasamannāgato hoti.
And how does a true person have good qualities? It’s when a true person is faithful, conscientious, prudent, learned, energetic, mindful, and wise. That’s how a true person has good qualities.
“Này các tỳ khưu, thế nào là bậc chân nhân thành tựu diệu pháp? Này các tỳ khưu, ở đây, bậc chân nhân có đức tin, có lòng hổ thẹn, có lòng ghê sợ, là người đa văn, tinh tấn, có niệm được thiết lập, và có trí tuệ. Này các tỳ khưu, như vậy là bậc chân nhân thành tựu diệu pháp.”
Kathañca, bhikkhave, sappuriso sappurisabhatti hoti? Idha, bhikkhave, sappurisassa ye te samaṇabrāhmaṇā saddhā hirimanto ottappino bahussutā āraddhavīriyā upaṭṭhitassatino paññavanto tyāssa mittā honti, te sahāyā. Evaṁ kho, bhikkhave, sappuriso sappurisabhatti hoti.
And how is a true person devoted to true persons? It’s when a true person is a friend and companion of ascetics and brahmins who are faithful, conscientious, prudent, learned, energetic, mindful, and wise. That’s how a true person is devoted to true persons.
“Này các tỳ khưu, thế nào là bậc chân nhân thân cận bậc chân nhân? Này các tỳ khưu, ở đây, những vị sa-môn, bà-la-môn nào có đức tin, có lòng hổ thẹn, có lòng ghê sợ, là người đa văn, tinh tấn, có niệm được thiết lập, và có trí tuệ, thì những vị ấy là bạn bè, là thân hữu của bậc chân nhân. Này các tỳ khưu, như vậy là bậc chân nhân thân cận bậc chân nhân.”
Kathañca, bhikkhave, sappuriso sappurisacintī hoti? Idha, bhikkhave, sappuriso nevattabyābādhāya ceteti, na parabyābādhāya ceteti, na ubhayabyābādhāya ceteti. Evaṁ kho, bhikkhave, sappuriso sappurisacintī hoti.
And how does a true person have the intentions of a true person? It’s when a true person doesn’t intend to hurt themselves, hurt others, and hurt both. That’s how a true person has the intentions of a true person.
“Này các tỳ khưu, thế nào là bậc chân nhân có tư duy của bậc chân nhân? Này các tỳ khưu, ở đây, bậc chân nhân không tư duy để làm hại mình, không tư duy để làm hại người, không tư duy để làm hại cả hai. Này các tỳ khưu, như vậy là bậc chân nhân có tư duy của bậc chân nhân.”
Kathañca, bhikkhave, sappuriso sappurisamantī hoti? Idha, bhikkhave, sappuriso nevattabyābādhāya manteti, na parabyābādhāya manteti, na ubhayabyābādhāya manteti. Evaṁ kho, bhikkhave, sappuriso sappurisamantī hoti.
And how does a true person offer the counsel of a true person? It’s when a true person offers counsel that doesn’t hurt themselves, hurt others, and hurt both. That’s how a true person offers the counsel of a true person.
“Này các tỳ khưu, thế nào là bậc chân nhân có bàn luận của bậc chân nhân? Này các tỳ khưu, ở đây, bậc chân nhân không bàn luận để làm hại mình, không bàn luận để làm hại người, không bàn luận để làm hại cả hai. Này các tỳ khưu, như vậy là bậc chân nhân có bàn luận của bậc chân nhân.”
Kathañca, bhikkhave, sappuriso sappurisavāco hoti? Idha, bhikkhave, sappuriso musāvādā paṭivirato hoti, pisuṇāya vācāya paṭivirato hoti, pharusāya vācāya paṭivirato hoti, samphappalāpā paṭivirato hoti. Evaṁ kho, bhikkhave, sappuriso sappurisavāco hoti.
And how does a true person have the speech of a true person? It’s when a true person refrains from speech that’s false, backbiting, harsh, or nonsensical. That’s how a true person has the speech of a true person.
“Này các tỳ khưu, thế nào là bậc chân nhân có lời nói của bậc chân nhân? Này các tỳ khưu, ở đây, bậc chân nhân từ bỏ nói dối, từ bỏ nói lời đâm thọc, từ bỏ nói lời thô ác, từ bỏ nói lời vô ích. Này các tỳ khưu, như vậy là bậc chân nhân có lời nói của bậc chân nhân.”
Kathañca, bhikkhave, sappuriso sappurisakammanto hoti? Idha, bhikkhave, sappuriso pāṇātipātā paṭivirato hoti, adinnādānā paṭivirato hoti, kāmesumicchācārā paṭivirato hoti. Evaṁ kho, bhikkhave, sappuriso sappurisakammanto hoti.
And how does a true person have the action of a true person? It’s when a true person refrains from killing living creatures, stealing, and sexual misconduct. That’s how a true person has the action of a true person.
“Này các tỳ khưu, thế nào là bậc chân nhân có hành động của bậc chân nhân? Này các tỳ khưu, ở đây, bậc chân nhân từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục. Này các tỳ khưu, như vậy là bậc chân nhân có hành động của bậc chân nhân.”
Kathañca, bhikkhave, sappuriso sappurisadiṭṭhi hoti? Idha, bhikkhave, sappuriso evaṁdiṭṭhi hoti: ‘atthi dinnaṁ, atthi yiṭṭhaṁ, atthi hutaṁ, atthi sukatadukkaṭānaṁ kammānaṁ phalaṁ vipāko, atthi ayaṁ loko, atthi paro loko, atthi mātā, atthi pitā, atthi sattā opapātikā, atthi loke samaṇabrāhmaṇā sammaggatā sammāpaṭipannā ye imañca lokaṁ parañca lokaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedentī’ti. Evaṁ kho, bhikkhave, sappuriso sappurisadiṭṭhi hoti.
And how does a true person have the view of a true person? It’s when a true person has such a view: ‘There is meaning in giving, sacrifice, and offerings. There are fruits and results of good and bad deeds. There is an afterlife. There are such things as mother and father, and beings that are reborn spontaneously. And there are ascetics and brahmins who are rightly comported and rightly practiced, and who describe the afterlife after realizing it with their own insight.’ That’s how a true person has the view of a true person.
“Này các tỳ khưu, thế nào là bậc chân nhân có quan kiến của bậc chân nhân? Này các tỳ khưu, ở đây, bậc chân nhân có quan kiến như sau: ‘Có sự bố thí, có sự cúng dường, có sự tế lễ; có quả và dị thục của các nghiệp thiện ác; có đời này, có đời sau; có mẹ, có cha; có các chúng sanh hóa sanh; ở đời có các vị sa-môn, bà-la-môn đã đi đến nơi chân chánh, đã thực hành chân chánh, những vị đã tự mình chứng ngộ với thắng trí và tuyên thuyết về đời này và đời sau.’ Này các tỳ khưu, như vậy là bậc chân nhân có quan kiến của bậc chân nhân.”
Kathañca, bhikkhave, sappuriso sappurisadānaṁ deti? Idha, bhikkhave, sappuriso sakkaccaṁ dānaṁ deti, sahatthā dānaṁ deti, cittīkatvā dānaṁ deti, anapaviṭṭhaṁ dānaṁ deti, āgamanadiṭṭhiko dānaṁ deti. Evaṁ kho, bhikkhave, sappuriso sappurisadānaṁ deti.
And how does a true person give the gifts of a true person? It’s when a true person gives a gift carefully, with their own hand, and thoughtfully. They don’t give the dregs, and they give with consideration for consequences. That’s how a true person gives the gifts of a true person.
“Này các tỳ khưu, thế nào là bậc chân nhân thực hành bố thí của bậc chân nhân? Này các tỳ khưu, ở đây, bậc chân nhân bố thí một cách cung kính, tự tay bố thí, bố thí với lòng tôn trọng, bố thí vật không phải vứt bỏ, bố thí với quan kiến về quả báo tương lai. Này các tỳ khưu, như vậy là bậc chân nhân thực hành bố thí của bậc chân nhân.”
So, bhikkhave, sappuriso evaṁ saddhammasamannāgato, evaṁ sappurisabhatti, evaṁ sappurisacintī, evaṁ sappurisamantī, evaṁ sappurisavāco, evaṁ sappurisakammanto, evaṁ sappurisadiṭṭhi; evaṁ sappurisadānaṁ datvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā yā sappurisānaṁ gati tattha upapajjati. Kā ca, bhikkhave, sappurisānaṁ gati? Devamahattatā vā manussamahattatā vā”ti.
That true person—who has such good qualities, is devoted to true persons, and has the intentions, counsel, speech, actions, views, and giving of a true person—when their body breaks up, after death, is reborn in the place where true persons are reborn. And what is the place where true persons are reborn? A state of greatness among gods or humans.”
“Này các tỳ khưu, bậc chân nhân ấy, khi đã thành tựu diệu pháp như vậy, thân cận bậc chân nhân như vậy, có tư duy của bậc chân nhân như vậy, có bàn luận của bậc chân nhân như vậy, có lời nói của bậc chân nhân như vậy, có hành động của bậc chân nhân như vậy, có quan kiến của bậc chân nhân như vậy, và đã thực hành bố thí của bậc chân nhân như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ được sanh vào cảnh giới của các bậc chân nhân. Này các tỳ khưu, cảnh giới của các bậc chân nhân là gì? Đó là sự vĩ đại giữa các vị trời hoặc sự vĩ đại giữa loài người.”
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
That is what the Buddha said. Satisfied, the monks approved what the Buddha said.
Thế Tôn đã thuyết như vậy. Các tỳ khưu ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Cūḷapuṇṇamasuttaṁ niṭṭhitaṁ dasamaṁ.
Kinh Tiểu Mãn Nguyệt, kinh thứ mười, đã chấm dứt.
Devadahavaggo niṭṭhito paṭhamo.
Tassuddānaṁ
Phẩm Devadaha, phẩm thứ nhất, đã chấm dứt.
Devadahaṁ pañcattayaṁ, Kinti sāma sunakkhattaṁ; Sappāya gaṇa gopaka—Mahāpuṇṇa cūḷapuṇṇañcāti.
Devadaha, Pañcattaya, Kinti, Sāma, Sunakkhatta; Sappāya, Gaṇa, Gopaka, Đại Mãn Nguyệt và Tiểu Mãn Nguyệt.