- Majjhima Nikāya 109
Mahāpuṇṇamasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Mahāpuṇṇamasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở tại Sāvatthi (Xá-vệ), Pubbārāma (Ðông Viên), Migaramatupasada (Lộc Mẫu Giảng đường).
SC 2Lúc bấy giờ trong ngày Bố-tát, ngày trăng tròn, trong đêm trăng rằm, Thế Tôn đang ngồi giữa trời, xung quanh có chúng Tỷ-kheo đoanh vây. Rồi một Tỷ-kheo từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp y vào một bên vai, chấp tay vái Thế Tôn và bạch Thế Tôn
SC 3—Con muốn hỏi Thế Tôn một vấn đề đặc biệt, nếu Thế Tôn cho con được phép nói lên câu hỏi.
SC 4—Vậy này Tỷ-kheo, hãy ngồi trên chỗ của Ông và hỏi như ý Ông muốn.
SC 5Rồi vị Tỷ-kheo ấy, sau khi ngồi xuống trên chỗ ngồi của mình, bạch Thế Tôn
SC 6—Bạch Thế Tôn, có phải có năm thủ uẩn này, tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn và thức thủ uẩn?
SC 7—Này Tỷ-kheo, có năm thủ uẩn này, tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn.
SC 8—Lành thay, bạch Thế Tôn.
SC 9Tỷ-kheo ấy sau khi hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn nói, hỏi Thế Tôn một câu hỏi khác
SC 10—Bạch Thế Tôn, năm thủ uẩn này, lấy gì làm căn bản?
SC 11—Này Tỷ-kheo, năm thủ uẩn này lấy dục làm căn bản.
SC 12—Bạch Thế Tôn, có phải chính chấp thủ ấy là năm thủ uẩn, hay là ngoài năm thủ uẩn, có một chấp thủ (khác)?
SC 13—Này Tỷ-kheo, không phải chính chấp thủ ấy là năm thủ uẩn, cũng không phải ngoài năm thủ uẩn có sự chấp thủ. Này Tỷ-kheo, khi nào có lòng dục, lòng tham đối với năm thủ uẩn, ở đấy chính là chấp thủ.
SC 14—Bạch Thế Tôn, phải chăng có thể có sự sai khác trong lòng dục, lòng tham đối với năm thủ uẩn?
Thế Tôn trả lời
SC 15—Này Tỷ-kheo, có thể có. Ở đây, này Tỷ-kheo có người nghĩ như sau: “Mong rằng có sắc như thế này trong tương lai! Mong rằng có thọ như thế này trong tương lai! Mong rằng có tưởng như thế này trong tương lai! Mong rằng có hành như thế này trong tương lai! Mong rằng có thức như thế này trong tương lai!” Như vậy, này Tỷ-kheo, có sự sai khác trong lòng dục, lòng tham đối với năm uẩn.
SC 16—Nhưng bạch Thế Tôn, cho đến như thế nào là ý nghĩa chữ uẩn trong các uẩn?
SC 17—Này Tỷ-kheo, phàm sắc gì, quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, như vậy là sắc uẩn. Phàm cảm thọ gì, quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, như vậy là thọ uẩn. Phàm tưởng gì, quá khứ, vị lai hay hiện tại … xa hay gần, như vậy là tưởng uẩn. Phàm những hành gì, quá khứ, vị lai hay hiện tại … xa hay gần, như vậy là hành uẩn. Phàm thức gì, quá khứ, vị lai hay hiện tại … xa hay gần, như vậy là thức uẩn. Cho đến như vậy, này Tỷ-kheo, là ý nghĩa chữ uẩn trong các uẩn.
SC 18—Do nhân gì, bạch Thế Tôn, do duyên gì được chấp nhận gọi là sắc uẩn? Do nhân gì, duyên gì được chấp nhận gọi là thọ uẩn? Do nhân gì, duyên gì được chấp nhận gọi là tưởng uẩn? Do nhân gì, duyên gì được chấp nhận gọi hành uẩn? Do nhân gì, duyên gì được chấp nhận gọi là thức uẩn?
SC 19—Bốn đại là nhân, này Tỷ-kheo, bốn đại là duyên được chấp nhận gọi là sắc uẩn. Xúc là nhân, xúc là duyên được chấp nhận gọi là thọ uẩn. Xúc là nhân, xúc là duyên được chấp nhận gọi là tưởng uẩn. Xúc là nhân, xúc là duyên được chấp nhận gọi là hành uẩn. Danh sắc là nhân, này Tỷ-kheo, danh sắc là duyên được chấp nhận gọi là thức uẩn.
SC 20—Nhưng bạch Thế Tôn, thế nào là thân kiến?
SC 21—Ở đây, này Tỷ-kheo, có kẻ vô văn phàm phu không hiểu rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không hiểu rõ các bậc Chơn nhân, không thuần thục pháp các bậc Chơn nhân, không tu tập pháp các bậc Chơn nhân, xem sắc như là tự ngã, hay xem tự ngã như là có sắc, hay xem sắc như là trong tự ngã, hay xem tự ngã như là trong sắc; xem thọ như là tự ngã, hay xem tự ngã như là có thọ, hay xem thọ như là trong tự ngã, hay xem tự ngã như là trong thọ; xem tưởng như là tự ngã, hay xem tự ngã như là có tưởng, hay xem tưởng như là trong tự ngã, hay xem tự ngã như là trong trưởng; xem hành như là tự ngã, hay xem tự ngã như là có hành, hay xem hành như là trong tự ngã, hay xem tự ngã như là trong hành; xem thức như là tự ngã, hay xem tự ngã như là có thức, hay xem có thức như là trong tự ngã, hay xem tự ngã như là trong thức.
SC 22—Nhưng bạch Thế Tôn, thế nào là không thân kiến?
SC 23—Ở đây, này Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử, đi đến các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, đi đến các bậc Chơn nhân, thuần thục pháp các bậc Chơn nhân, tu tập pháp các bậc Chơn nhân, không xem sắc như là tự ngã, hay không xem tự ngã như là có sắc, hay không xem sắc như là trong tự ngã, hay không xem tự ngã như là trong sắc; không xem thọ như là tự ngã…, không xem tự ngã như là trong thọ; không xem tưởng như là tự ngã …, hay không xem tự ngã như là trong tưởng; không xem hành như là tự ngã …, hay không xem tự ngã như là trong hành; không xem thức như là tự ngã …, không xem tự ngã như là trong thức. Như vậy, này Tỷ-kheo, là không thân kiến.
SC 24—Bạch Thế Tôn, cái gì là vị ngọt của sắc, cái gì là sự nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly? Cái gì là vị ngọt của thọ, cái gì là sự nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly? Cái gì là vị ngọt của tưởng, cái gì là sự nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly? Cái gì là vị ngọt của hành, cái gì là sự nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly? Cái gì là vị ngọt của thức, cái gì là sự nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly?
SC 25—Này Tỷ-kheo, lạc hỷ gì duyên sắc khởi lên, như vậy là vị ngọt của sắc. Cái gì vô thường, khổ, bị biến hoại trong sắc như vậy là sự nguy hiểm của sắc. Sự nhiếp phục dục tham đối với sắc, sự đoạn diệt dục tham, như vậy là sự xuất ly của sắc. Này Tỷ-kheo, lạc hỷ gì duyên thọ khởi lên, như vậy là vị ngọt của thọ … như vậy là sự xuất ly của thọ. Này Tỷ-kheo, lạc hỷ gì duyên tưởng khởi lên, như vậy là vị ngọt của tưởng … là sự xuất ly của tưởng. Này Tỷ-kheo, lạc hỷ gì duyên hành khởi lên như vậy là vị ngọt của hành … là sự xuất ly của hành. Này Tỷ-kheo, lạc hỷ gì duyên thức khởi lên, như vậy là vị ngọt của thức. Cái gì vô thường, khổ, bị biến hoại trong thức, như vậy là sự nguy hiểm của thức. Sự nhiếp phục dục tham đối với thức, sự đoạn diệt dục tham, như vậy là sự xuất ly của thức.
SC 26—Bạch Thế Tôn, do biết gì, do thấy gì, mà không có mạn tùy miên rằng: “Ta là người làm, sở thuộc của ta là người làm”, đối với tự thân có ý thức, và đối với cả tưởng ở ngoài?
SC 27—Này Tỷ-kheo, phàm có sắc gì, quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, đối với tất cả sắc, thấy được như thật với trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”. Phàm có thọ gì … tưởng gì … hành gì … phàm có thức gì, quá khứ vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, đối với tất cả thức, thấy được như thật với trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”. Này Tỷ-kheo, do biết như vậy, thấy như vậy, nên không có mạn tùy miên rằng: “Ta là người làm, sở thuộc của ta là người làm”, đối với tự thân có ý thức, và đối với tất cả tướng ở ngoài.
SC 28Rồi một Tỷ-kheo khác khởi lên sự suy tư như sau: “Nếu được nói rằng, chư Tôn giả, sắc là vô ngã, thọ là vô ngã, tưởng là vô ngã, hành là vô ngã, thức là vô ngã; như vậy những hành động do vô ngã làm đã được ngã nào cảm thọ kết quả?”
SC 29Thế Tôn biết được tâm tư của Tỷ-kheo ấy với tâm tư của mình, liền nói với các Tỷ-kheo
SC 30—Này các Tỷ-kheo, sự kiện này xảy ra, khi ở đây có kẻ ngu si, vô tri, vô minh, với tâm bị tham dục chi phối, lại nghĩ cần phải vượt qua lời dạy của bậc Ðạo sư với câu hỏi: “Nếu được nói rằng, chư Tôn giả, sắc là vô ngã, thọ là vô ngã, tưởng là vô ngã, hành là vô ngã, thức là vô ngã; như vậy những hành động do vô ngã làm đã được ngã nào cảm thọ kết quả?” Này các Tỷ-kheo, các Ông đã được Ta huấn luyện tìm kiếm nhân duyên, chỗ này chỗ kia, đối với những pháp này, pháp khác.
SC 31Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, sắc là thường hay vô thường?
SC 32—Vô thường, bạch Thế Tôn.
SC 33—Những gì vô thường là khổ hay lạc?
SC 34—Là khổ, bạch Thế Tôn.
SC 35—Những gì vô thường, khổ, bị biến hoại, có hợp lý chăng khi xem: “Cái này của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi?”
SC 36—Thưa không vậy, bạch Thế Tôn.
SC 37—Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, thọ … tưởng … hành … thức là thường hay vô thường?
SC 38—Vô thường, bạch Thế Tôn.
SC 39—Những gì vô thường, là khổ hay lạc?
SC 40—Là khổ, bạch Thế Tôn.
SC 41—Những gì vô thường, khổ, bị biến hoại, có hợp lý chăng khi xem: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi?”
SC 42—Thưa không vậy, bạch Thế Tôn.
SC 43—Do vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có sắc gì, quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại … tất cả loại sắc, cần phải như thật quán: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”. Phàm có thọ gì, phàm có tưởng gì, phàm có hành gì, phàm có thức gì quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại. Tất cả loại thức, cần phải như thật quán: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.
SC 44Như vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử yếm ly đối với sắc, yếm ly đối với thọ, yếm ly đối với tưởng, yếm ly đối với hành, yếm ly đối với thức.
SC 45Do yếm ly nên ly tham, do ly tham nên được giải thoát. Trong sự giải thoát, vị ấy biết được vị ấy đã giải thoát. Vị ấy biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm. Từ nay không còn trở lại đời sống thế này nữa”.
SC 46Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy. Trong khi sự giảng giải này được nói lên, tâm của sáu mươi vị Tỷ-kheo được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). 12-07-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
9. Kinh Đại Trăng Rằm
Tena kho pana samayena bhagavā tadahuposathe pannarase puṇṇāya puṇṇamāya rattiyā bhikkhusaṅghaparivuto abbhokāse nisinno hoti.
Atha kho aññataro bhikkhu uṭṭhāyāsanā ekaṁsaṁ cīvaraṁ katvā yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā bhagavantaṁ etadavoca:
Now, at that time it was the sabbath—the full moon on the fifteenth day—and the Buddha was sitting in the open surrounded by the Saṅgha of monks.
Then one of the monks rose from his seat, arranged his robe over one shoulder, raised his cupped palms toward the Buddha, and said,
85. Tôi nghe như vầy – một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Pubbārāma, giảng đường của Migāramātā. Vào lúc bấy giờ, vào ngày Bố-tát, ngày rằm, trong đêm trăng tròn, Thế Tôn được Tăng chúng tỳ khưu vây quanh, đang ngồi ngoài trời. Bấy giờ, một vị tỳ khưu nào đó từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp y lệch một bên vai, chắp tay hướng về phía Thế Tôn, và bạch với Thế Tôn điều này:
“Tena hi tvaṁ, bhikkhu, sake āsane nisīditvā puccha yadākaṅkhasī”ti.
“Well then, monk, take your own seat and ask what you wish.”
“Bạch Thế Tôn, con muốn hỏi Thế Tôn một vài điều, nếu Thế Tôn cho con cơ hội để giải đáp câu hỏi.” – “Này tỳ khưu, vậy thì ngươi hãy ngồi lại chỗ của mình và hỏi điều ngươi muốn.”
Atha kho so bhikkhu sake āsane nisīditvā bhagavantaṁ etadavoca:
“ime nu kho, bhante, pañcupādānakkhandhā, seyyathidaṁ—rūpupādānakkhandho, vedanupādānakkhandho, saññupādānakkhandho, saṅkhārupādānakkhandho, viññāṇupādānakkhandho”ti?
“Ime kho, bhikkhu, pañcupādānakkhandhā, seyyathidaṁ—rūpupādānakkhandho, vedanupādānakkhandho, saññupādānakkhandho, saṅkhārupādānakkhandho, viññāṇupādānakkhandho”ti.
That monk took his seat and said to the Buddha:
“Sir, are these the five grasping aggregates: form, feeling, perception, choices, and consciousness?”
“Yes, they are,” replied the Buddha.
86. Bấy giờ, vị tỳ khưu ấy, sau khi ngồi lại chỗ của mình, đã bạch với Thế Tôn điều này: “Bạch Thế Tôn, có phải đây là năm thủ uẩn, tức là: sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, và thức thủ uẩn?” – “Này tỳ khưu, đây là năm thủ uẩn, tức là: sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, và thức thủ uẩn.”
“Sādhu, bhante”ti kho so bhikkhu bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā bhagavantaṁ uttariṁ pañhaṁ pucchi:
“ime pana, bhante, pañcupādānakkhandhā kiṁmūlakā”ti?
“Ime kho, bhikkhu, pañcupādānakkhandhā chandamūlakā”ti.
“Taṁyeva nu kho, bhante, upādānaṁ te pañcupādānakkhandhā, udāhu aññatra pañcahupādānakkhandhehi upādānan”ti?
“Na kho, bhikkhu, taṁyeva upādānaṁ te pañcupādānakkhandhā, nāpi aññatra pañcahupādānakkhandhehi upādānaṁ. Yo kho, bhikkhu, pañcasu upādānakkhandhesu chandarāgo taṁ tattha upādānan”ti.
Saying “Good, sir”, that monk approved and agreed with what the Buddha said. Then he asked another question:
“But sir, what is the root of these five grasping aggregates?”
“These five grasping aggregates are rooted in desire.”
“But sir, is that grasping the exact same thing as the five grasping aggregates? Or is grasping one thing and the five grasping aggregates another?”
“Neither. The desire and greed for the five grasping aggregates is the grasping there.”
“Bạch Thế Tôn, lành thay.” Vị tỳ-khưu ấy sau khi hoan hỷ, tán thán lời dạy của Thế Tôn, đã hỏi Thế Tôn câu hỏi thêm nữa: “Bạch Thế Tôn, năm thủ uẩn này có gì làm gốc rễ?” “Này tỳ-khưu, năm thủ uẩn này có dục làm gốc rễ.” “Bạch Thế Tôn, có phải sự chấp thủ chính là năm thủ uẩn ấy, hay sự chấp thủ là khác với năm thủ uẩn?” “Này tỳ-khưu, sự chấp thủ không phải chính là năm thủ uẩn ấy, mà sự chấp thủ cũng không khác với năm thủ uẩn. Này tỳ-khưu, cái gì là dục tham trong năm thủ uẩn, cái ấy là sự chấp thủ ở nơi đó.”
“Siyā pana, bhante, pañcasu upādānakkhandhesu chandarāgavemattatā”ti?
“Siyā, bhikkhū”ti bhagavā avoca “idha, bhikkhu, ekaccassa evaṁ hoti: ‘evaṁrūpo siyaṁ anāgatamaddhānaṁ, evaṁvedano siyaṁ anāgatamaddhānaṁ, evaṁsañño siyaṁ anāgatamaddhānaṁ, evaṁsaṅkhāro siyaṁ anāgatamaddhānaṁ, evaṁviññāṇo siyaṁ anāgatamaddhānan’ti. Evaṁ kho, bhikkhu, siyā pañcasu upādānakkhandhesu chandarāgavemattatā”ti.
“But sir, can there be disparity in desire and greed for the five grasping aggregates?”
“There can,” said the Buddha. “It’s when someone thinks: ‘In the future, may I be of such form, such feeling, such perception, such choices, and such consciousness!’ That’s how there can be disparity in desire and greed for the five grasping aggregates.”
“Bạch Thế Tôn, có thể có sự khác biệt về dục tham trong năm thủ uẩn không?” “Này tỳ-khưu, có thể có,” Thế Tôn nói. “Này tỳ-khưu, ở đây, có người khởi lên ý nghĩ như sau: ‘Mong rằng trong tương lai ta có sắc như thế này, mong rằng trong tương lai ta có thọ như thế này, mong rằng trong tương lai ta có tưởng như thế này, mong rằng trong tương lai ta có các hành như thế này, mong rằng trong tương lai ta có thức như thế này.’ Này tỳ-khưu, như vậy là có thể có sự khác biệt về dục tham trong năm thủ uẩn.”
“Kittāvatā pana, bhante, khandhānaṁ khandhādhivacanaṁ hotī”ti?
“Yaṁ kiñci, bhikkhu, rūpaṁ—atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā, oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā, hīnaṁ vā paṇītaṁ vā, yaṁ dūre santike vā—ayaṁ rūpakkhandho. Yā kāci vedanā—atītānāgatapaccuppannā ajjhattaṁ vā bahiddhā vā, oḷārikā vā sukhumā vā, hīnā vā paṇītā vā, yā dūre santike vā—ayaṁ vedanākkhandho. Yā kāci saññā—atītānāgatapaccuppannā …pe… yā dūre santike vā—ayaṁ saññākkhandho. Ye keci saṅkhārā—atītānāgatapaccuppannā ajjhattaṁ vā bahiddhā vā, oḷārikā vā sukhumā vā, hīnā vā paṇītā vā, ye dūre santike vā—ayaṁ saṅkhārakkhandho. Yaṁ kiñci viññāṇaṁ—atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā, oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā, hīnaṁ vā paṇītaṁ vā, yaṁ dūre santike vā—ayaṁ viññāṇakkhandho. Ettāvatā kho, bhikkhu, khandhānaṁ khandhādhivacanaṁ hotī”ti.
“Sir, what is the scope of the term ‘aggregates’ as applied to the aggregates?”
“Any kind of form at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: this is called the aggregate of form. Any kind of feeling at all … Any kind of perception at all … Any kind of choices at all … Any kind of consciousness at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: this is called the aggregate of consciousness. That’s the scope of the term ‘aggregates’ as applied to the aggregates.”
“Bạch Thế Tôn, do mức độ nào mà các uẩn có tên gọi là 'uẩn'?” “Này tỳ-khưu, bất cứ sắc nào, dù quá khứ, vị lai, hay hiện tại, bên trong hay bên ngoài, thô hay tế, hạ liệt hay cao thượng, xa hay gần – đây được gọi là sắc uẩn. Bất cứ thọ nào, dù quá khứ, vị lai, hay hiện tại, bên trong hay bên ngoài, thô hay tế, hạ liệt hay cao thượng, xa hay gần – đây được gọi là thọ uẩn. Bất cứ tưởng nào, dù quá khứ, vị lai, hay hiện tại... xa hay gần – đây được gọi là tưởng uẩn. Bất cứ các hành nào, dù quá khứ, vị lai, hay hiện tại, bên trong hay bên ngoài, thô hay tế, hạ liệt hay cao thượng, xa hay gần – đây được gọi là hành uẩn. Bất cứ thức nào, dù quá khứ, vị lai, hay hiện tại, bên trong hay bên ngoài, thô hay tế, hạ liệt hay cao thượng, xa hay gần – đây được gọi là thức uẩn. Này tỳ-khưu, do mức độ như vậy mà các uẩn có tên gọi là 'uẩn'.”
“Ko nu kho, bhante, hetu ko paccayo rūpakkhandhassa paññāpanāya? Ko hetu ko paccayo vedanākkhandhassa paññāpanāya? Ko hetu ko paccayo saññākkhandhassa paññāpanāya? Ko hetu ko paccayo saṅkhārakkhandhassa paññāpanāya? Ko hetu ko paccayo viññāṇakkhandhassa paññāpanāyā”ti?
“What is the cause, sir, what is the reason why the aggregate of form is found? What is the cause, what is the reason why the aggregate of feeling … perception … choices … consciousness is found?”
“Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì mà sắc uẩn được biểu hiện? Do nhân gì, do duyên gì mà thọ uẩn được biểu hiện? Do nhân gì, do duyên gì mà tưởng uẩn được biểu hiện? Do nhân gì, do duyên gì mà hành uẩn được biểu hiện? Do nhân gì, do duyên gì mà thức uẩn được biểu hiện?”
“Cattāro kho, bhikkhu, mahābhūtā hetu, cattāro mahābhūtā paccayo rūpakkhandhassa paññāpanāya. Phasso hetu, phasso paccayo vedanākkhandhassa paññāpanāya. Phasso hetu, phasso paccayo saññākkhandhassa paññāpanāya. Phasso hetu, phasso paccayo saṅkhārakkhandhassa paññāpanāya. Nāmarūpaṁ kho, bhikkhu, hetu, nāmarūpaṁ paccayo viññāṇakkhandhassa paññāpanāyā”ti.
“The four principal states are the reason why the aggregate of form is found. Contact is the reason why the aggregates of feeling, perception, and choices are found. Name and form are the reasons why the aggregate of consciousness is found.”
“Này tỳ-khưu, bốn đại chủng là nhân, bốn đại chủng là duyên cho sắc uẩn được biểu hiện. Xúc là nhân, xúc là duyên cho thọ uẩn được biểu hiện. Xúc là nhân, xúc là duyên cho tưởng uẩn được biểu hiện. Xúc là nhân, xúc là duyên cho hành uẩn được biểu hiện. Này tỳ-khưu, danh-sắc là nhân, danh-sắc là duyên cho thức uẩn được biểu hiện.”
“Kathaṁ pana, bhante, sakkāyadiṭṭhi hotī”ti?
“Idha, bhikkhu, assutavā puthujjano ariyānaṁ adassāvī ariyadhammassa akovido ariyadhamme avinīto sappurisānaṁ adassāvī sappurisadhammassa akovido sappurisadhamme avinīto rūpaṁ attato samanupassati rūpavantaṁ vā attānaṁ attani vā rūpaṁ rūpasmiṁ vā attānaṁ; vedanaṁ attato samanupassati vedanāvantaṁ vā attānaṁ attani vā vedanaṁ vedanāya vā attānaṁ; saññaṁ attato samanupassati saññāvantaṁ vā attānaṁ attani vā saññaṁ saññāya vā attānaṁ; saṅkhāre attato samanupassati saṅkhāravantaṁ vā attānaṁ attani vā saṅkhāre saṅkhāresu vā attānaṁ; viññāṇaṁ attato samanupassati viññāṇavantaṁ vā attānaṁ attani vā viññāṇaṁ viññāṇasmiṁ vā attānaṁ. Evaṁ kho, bhikkhu, sakkāyadiṭṭhi hotī”ti.
“But sir, how does substantialist view come about?”
“It’s when an unlearned ordinary person has not seen the noble ones, and is neither skilled nor trained in the teaching of the noble ones. They’ve not seen true persons, and are neither skilled nor trained in the teaching of the true persons. They regard form as self, self as having form, form in self, or self in form. They regard feeling as self, self as having feeling, feeling in self, or self in feeling. They regard perception as self, self as having perception, perception in self, or self in perception. They regard choices as self, self as having choices, choices in self, or self in choices. They regard consciousness as self, self as having consciousness, consciousness in self, or self in consciousness. That’s how substantialist view comes about.”
87. “Bạch Thế Tôn, làm thế nào thân kiến sanh khởi?” “Này tỳ-khưu, ở đây, kẻ phàm phu ít nghe, không thấy các bậc Thánh, không thuần thục Thánh pháp, không tu tập Thánh pháp; không thấy các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp của bậc Chân nhân, không tu tập pháp của bậc Chân nhân, quán sắc là tự ngã, hoặc tự ngã có sắc, hoặc sắc ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong sắc; quán thọ là tự ngã, hoặc tự ngã có thọ, hoặc thọ ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong thọ; quán tưởng là tự ngã, hoặc tự ngã có tưởng, hoặc tưởng ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong tưởng; quán các hành là tự ngã, hoặc tự ngã có các hành, hoặc các hành ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong các hành; quán thức là tự ngã, hoặc tự ngã có thức, hoặc thức ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong thức. Này tỳ-khưu, như vậy là thân kiến sanh khởi.”
“Kathaṁ pana, bhante, sakkāyadiṭṭhi na hotī”ti?
“Idha, bhikkhu, sutavā ariyasāvako ariyānaṁ dassāvī ariyadhammassa kovido ariyadhamme suvinīto sappurisānaṁ dassāvī sappurisadhammassa kovido sappurisadhamme suvinīto na rūpaṁ attato samanupassati na rūpavantaṁ vā attānaṁ na attani vā rūpaṁ na rūpasmiṁ vā attānaṁ; na vedanaṁ attato samanupassati na vedanāvantaṁ vā attānaṁ na attani vā vedanaṁ na vedanāya vā attānaṁ; na saññaṁ attato samanupassati na saññāvantaṁ vā attānaṁ na attani vā saññaṁ na saññāya vā attānaṁ; na saṅkhāre attato samanupassati na saṅkhāravantaṁ vā attānaṁ na attani vā saṅkhāre na saṅkhāresu vā attānaṁ; na viññāṇaṁ attato samanupassati na viññāṇavantaṁ vā attānaṁ na attani vā viññāṇaṁ na viññāṇasmiṁ vā attānaṁ. Evaṁ kho, bhikkhu, sakkāyadiṭṭhi na hotī”ti.
“But sir, how does substantialist view not come about?”
“It’s when a learned noble disciple has seen the noble ones, and is skilled and trained in the teaching of the noble ones. They’ve seen true persons, and are skilled and trained in the teaching of the true persons. They don’t regard form as self, self as having form, form in self, or self in form. They don’t regard feeling as self, self as having feeling, feeling in self, or self in feeling. They don’t regard perception as self, self as having perception, perception in self, or self in perception. They don’t regard choices as self, self as having choices, choices in self, or self in choices. They don’t regard consciousness as self, self as having consciousness, consciousness in self, or self in consciousness. That’s how substantialist view does not come about.”
“Bạch Thế Tôn, làm thế nào thân kiến không sanh khởi?” “Này tỳ-khưu, ở đây, vị Thánh đệ tử nghe nhiều, thấy các bậc Thánh, thuần thục Thánh pháp, tu tập thuần thục Thánh pháp; thấy các bậc Chân nhân, thuần thục pháp của bậc Chân nhân, tu tập thuần thục pháp của bậc Chân nhân, không quán sắc là tự ngã, không quán tự ngã có sắc, không quán sắc ở trong tự ngã, không quán tự ngã ở trong sắc; không quán thọ là tự ngã, không quán tự ngã có thọ, không quán thọ ở trong tự ngã, không quán tự ngã ở trong thọ; không quán tưởng là tự ngã, không quán tự ngã có tưởng, không quán tưởng ở trong tự ngã, không quán tự ngã ở trong tưởng; không quán các hành là tự ngã, không quán tự ngã có các hành, không quán các hành ở trong tự ngã, không quán tự ngã ở trong các hành; không quán thức là tự ngã, không quán tự ngã có thức, không quán thức ở trong tự ngã, không quán tự ngã ở trong thức. Này tỳ-khưu, như vậy là thân kiến không sanh khởi.”
“Ko nu kho, bhante, rūpe assādo, ko ādīnavo, kiṁ nissaraṇaṁ? Ko vedanāya assādo, ko ādīnavo, kiṁ nissaraṇaṁ? Ko saññāya assādo, ko ādīnavo, kiṁ nissaraṇaṁ? Ko saṅkhāresu assādo, ko ādīnavo, kiṁ nissaraṇaṁ? Ko viññāṇe assādo, ko ādīnavo, kiṁ nissaraṇan”ti?
“Yaṁ kho, bhikkhu, rūpaṁ paṭicca uppajjati sukhaṁ somanassaṁ, ayaṁ rūpe assādo. Yaṁ rūpaṁ aniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, ayaṁ rūpe ādīnavo. Yo rūpe chandarāgavinayo chandarāgappahānaṁ, idaṁ rūpe nissaraṇaṁ. Yaṁ kho, bhikkhu, vedanaṁ paṭicca … saññaṁ paṭicca … saṅkhāre paṭicca … viññāṇaṁ paṭicca uppajjati sukhaṁ somanassaṁ, ayaṁ viññāṇe assādo. Yaṁ viññāṇaṁ aniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, ayaṁ viññāṇe ādīnavo. Yo viññāṇe chandarāgavinayo chandarāgappahānaṁ, idaṁ viññāṇe nissaraṇan”ti.
“Sir, what’s the gratification, the drawback, and the escape when it comes to form, feeling, perception, choices, and consciousness?”
“The pleasure and happiness that arise from form: this is its gratification. That form is impermanent, suffering, and perishable: this is its drawback. Removing and giving up desire and greed for form: this is its escape. The pleasure and happiness that arise from feeling … perception … choices … consciousness: this is its gratification. That consciousness is impermanent, suffering, and perishable: this is its drawback. Removing and giving up desire and greed for consciousness: this is its escape.”
88. “Bạch ngài, vị ngọt của sắc là gì, sự nguy hại là gì, sự xuất ly là gì? Vị ngọt của thọ là gì, sự nguy hại là gì, sự xuất ly là gì? Vị ngọt của tưởng là gì, sự nguy hại là gì, sự xuất ly là gì? Vị ngọt của các hành là gì, sự nguy hại là gì, sự xuất ly là gì? Vị ngọt của thức là gì, sự nguy hại là gì, sự xuất ly là gì?” – “Này tỳ khưu, do duyên sắc mà khởi lên lạc và hỷ, đây là vị ngọt của sắc. Việc sắc là vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, đây là sự nguy hại của sắc. Việc điều phục lòng tham dục, từ bỏ lòng tham dục ở nơi sắc, đây là sự xuất ly khỏi sắc. Này tỳ khưu, do duyên thọ... do duyên tưởng... do duyên các hành... do duyên thức mà khởi lên lạc và hỷ, đây là vị ngọt của thức. Việc thức là vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, đây là sự nguy hại của thức. Việc điều phục lòng tham dục, từ bỏ lòng tham dục ở nơi thức, đây là sự xuất ly khỏi thức.”
“Kathaṁ pana, bhante, jānato kathaṁ passato imasmiñca saviññāṇake kāye bahiddhā ca sabbanimittesu ahaṅkāramamaṅkāramānānusayā na hontī”ti?
“Yaṁ kiñci, bhikkhu, rūpaṁ—atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā yaṁ dūre santike vā—sabbaṁ rūpaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti—evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya passati. Yā kāci vedanā … yā kāci saññā … ye keci saṅkhārā … yaṁ kiñci viññāṇaṁ—atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā yaṁ dūre santike vā—sabbaṁ viññāṇaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti—evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya passati. Evaṁ kho, bhikkhu, jānato evaṁ passato imasmiñca saviññāṇake kāye bahiddhā ca sabbanimittesu ahaṅkāramamaṅkāramānānusayā na hontī”ti.
“Sir, how does one know and see so that there’s no I-making, mine-making, or underlying tendency to conceit for this conscious body and externally for all signs?”
“One truly sees any kind of form at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: <em>all</em> form—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ One truly sees any kind of feeling … perception … choices … consciousness at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: <em>all</em> consciousness—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ That’s how to know and see so that there’s no I-making, mine-making, or underlying tendency to conceit for this conscious body and externally for all signs.”
89. “Bạch ngài, đối với người biết như thế nào, thấy như thế nào thì các tùy miên về ngã chấp, ngã sở chấp, và mạn ở nơi thân có thức này và ở bên ngoài trong tất cả các tướng đều không hiện hữu?” – “Này tỳ khưu, bất cứ sắc nào – quá khứ, vị lai, hay hiện tại, bên trong hay bên ngoài, thô hay tế, thấp kém hay cao thượng, xa hay gần – tất cả sắc ấy, vị ấy thấy với chánh trí tuệ đúng theo thực tánh rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.’ Bất cứ thọ nào... bất cứ tưởng nào... bất cứ các hành nào... bất cứ thức nào – quá khứ, vị lai, hay hiện tại, bên trong hay bên ngoài, thô hay tế, thấp kém hay cao thượng, xa hay gần – tất cả thức ấy, vị ấy thấy với chánh trí tuệ đúng theo thực tánh rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.’ Này tỳ khưu, chính do biết như vậy, thấy như vậy mà đối với vị ấy, các tùy miên về ngã chấp, ngã sở chấp, và mạn ở nơi thân có thức này và ở bên ngoài trong tất cả các tướng đều không hiện hữu.”
Atha kho aññatarassa bhikkhuno evaṁ cetaso parivitakko udapādi: “iti kira, bho, rūpaṁ anattā, vedanā anattā, saññā anattā, saṅkhārā anattā, viññāṇaṁ anattā; anattakatāni kammāni kamattānaṁ phusissantī”ti?
Atha kho bhagavā tassa bhikkhuno cetasā cetoparivitakkamaññāya bhikkhū āmantesi: “ṭhānaṁ kho panetaṁ, bhikkhave, vijjati yaṁ idhekacco moghapuriso avidvā avijjāgato taṇhādhipateyyena cetasā satthu sāsanaṁ atidhāvitabbaṁ maññeyya: ‘iti kira, bho, rūpaṁ anattā, vedanā anattā, saññā anattā, saṅkhārā anattā, viññāṇaṁ anattā; anattakatāni kammāni kamattānaṁ phusissantī’ti. Paṭivinītā kho me tumhe, bhikkhave, tatra tatra dhammesu.
Now at that time one of the monks had the thought, “So it seems, worthy sir, that form, feeling, perception, choices, and consciousness are not-self. Then how will the deeds done by not-self affect the self?”
But the Buddha, knowing that monk’s train of thought, addressed the monks: “It’s possible that some futile person here—unknowing and ignorant, his mind dominated by craving—thinks he can overstep the Teacher’s instructions. He thinks: ‘So it seems, worthy sir, that form, feeling, perception, choices, and consciousness are not-self. Then how will the deeds done by not-self affect the self?’ Now, monks, you have been educated by me in questioning with regard to all these things in all such cases.
90. Bấy giờ, một tỳ khưu nọ khởi lên suy nghĩ trong tâm như sau: “Thưa các hiền giả, như vậy, sắc là vô ngã, thọ là vô ngã, tưởng là vô ngã, các hành là vô ngã, thức là vô ngã; vậy thì những nghiệp được tạo tác bởi cái vô ngã sẽ tác động đến tự ngã nào?” Bấy giờ, đức Thế Tôn, với tâm của mình, biết được suy nghĩ trong tâm của vị tỳ khưu ấy, bèn gọi các tỳ khưu: “Này các tỳ khưu, có trường hợp này, khi một kẻ ngu si ở đây, không hiểu biết, bị vô minh bao phủ, với tâm bị ái dục chi phối, có thể nghĩ rằng cần phải vượt qua giáo huấn của bậc Đạo Sư rằng: ‘Thưa các hiền giả, như vậy, sắc là vô ngã, thọ là vô ngã, tưởng là vô ngã, các hành là vô ngã, thức là vô ngã; vậy thì những nghiệp được tạo tác bởi cái vô ngã sẽ tác động đến tự ngã nào?’ Này các tỳ khưu, các ông đã được Ta huấn luyện kỹ lưỡng trong từng pháp môn.”
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ: ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, vedanā … saññā … saṅkhārā … viññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ: ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Tasmātiha, bhikkhave, yaṁ kiñci rūpaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā yaṁ dūre santike vā sabbaṁ rūpaṁ: ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ.
Yā kāci vedanā … yā kāci saññā … ye keci saṅkhārā … yaṁ kiñci viññāṇaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā yaṁ dūre santike vā sabbaṁ viññāṇaṁ: ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ.
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako rūpasmimpi nibbindati, vedanāyapi nibbindati, saññāyapi nibbindati, saṅkhāresupi nibbindati, viññāṇasmimpi nibbindati;
nibbindaṁ virajjati, virāgā vimuccati. Vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānātī”ti.
What do you think, monks? Is form permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.”
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
“Suffering, sir.”
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”
“No, sir.”
“What do you think, monks? Is feeling … perception … choices … consciousness permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.”
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
“Suffering, sir.”
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”
“No, sir.”
“So you should truly see any kind of form at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: <em>all</em> form—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’
You should truly see any kind of feeling … perception … choices … consciousness at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: <em>all</em> consciousness—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’
Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with form, feeling, perception, choices, and consciousness.
Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed.
They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’”
“Này các tỳ khưu, các ông nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường?” – “Bạch ngài, là vô thường.” – “Cái gì vô thường thì là khổ hay lạc?” – “Bạch ngài, là khổ.” – “Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, có đáng để xem xét rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ không?” – “Bạch ngài, không đáng.” – “Này các tỳ khưu, các ông nghĩ thế nào, thọ... tưởng... các hành... thức là thường hay vô thường?” – “Bạch ngài, là vô thường.” – “Cái gì vô thường thì là khổ hay lạc?” – “Bạch ngài, là khổ.” – “Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, có đáng để xem xét rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ không?” – “Bạch ngài, không đáng.” – “Vì vậy, này các tỳ khưu, bất cứ sắc nào quá khứ, vị lai, hay hiện tại, bên trong hay bên ngoài, thô hay tế, thấp kém hay cao thượng, xa hay gần, tất cả sắc ấy phải được thấy với chánh trí tuệ đúng theo thực tánh rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.’ Bất cứ thọ nào... bất cứ tưởng nào... bất cứ các hành nào... bất cứ thức nào quá khứ, vị lai, hay hiện tại, bên trong hay bên ngoài, thô hay tế, thấp kém hay cao thượng, xa hay gần, tất cả thức ấy phải được thấy với chánh trí tuệ đúng theo thực tánh rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.’ Này các tỳ khưu, khi thấy như vậy, vị Thánh đệ tử có học thức trở nên nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối với tưởng, nhàm chán đối với các hành, nhàm chán đối với thức. Do nhàm chán nên ly tham, do ly tham nên được giải thoát. Trong sự giải thoát, khởi lên trí tuệ biết rằng: ‘Đã được giải thoát.’ Vị ấy biết rõ: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa.’”
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti. Imasmiñca pana veyyākaraṇasmiṁ bhaññamāne saṭṭhimattānaṁ bhikkhūnaṁ anupādāya āsavehi cittāni vimucciṁsūti.
That is what the Buddha said. Satisfied, the monks approved what the Buddha said. And while this discourse was being spoken, the minds of sixty monks were freed from defilements by not grasping.
Đức Thế Tôn đã thuyết giảng như vậy. Các tỳ khưu ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của đức Thế Tôn. Và trong khi bài pháp giải thích này đang được thuyết giảng, tâm của khoảng sáu mươi vị tỳ khưu đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc do không còn chấp thủ.
Mahāpuṇṇamasuttaṁ niṭṭhitaṁ navamaṁ.
Kinh Đại Rằm, bài kinh thứ chín, kết thúc.