- Majjhima Nikāya 108
Gopakamoggallānasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Gopakamoggallānasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Tôn giả Ānanda trú ở Rājagaha (Vương Xá) tại Veluvana (Trúc Lâm), chỗ nuôi dưỡng các con sóc, khi Thế Tôn thị tịch không bao lâu.
SC 2Lúc bấy giờ, Vua Ajātasattu con bà Videhi nước Magadha (Ma-kiệt-đà), vì nghi ngờ Pajjota (Ðăng Quang Vương), nên cho xây kiên cố thành Rājagaha.
SC 3Tôn giả Ānanda buổi sáng đắp y, cầm y bát đi vào Rājagaha để khất thực. Rồi Tôn giả Ānanda suy nghĩ: “Nay còn quá sớm để vào Rājagaha khất thực. Vậy ta hãy đi đến Bà-la-môn Gopaka Moggallāna và chỗ làm việc của vị này”. Rồi Tôn giả Ānanda đi đến Bà-la-môn Gopaka Moggallāna và chỗ làm việc của vị này. Bà-la-môn Gopaka Moggallāna thấy Tôn giả Ānanda từ xa đi đến, sau khi thấy, liền nói với Tôn giả Ānanda
SC 4—Hãy đến, Tôn giả Ānanda! Thiện lai, Tôn giả Ānanda! Ðã lâu rồi Tôn giả Ānanda mới tạo được cơ hội này, tức là đến đây. Tôn giả Ānanda hãy ngồi xuống, đây là chỗ ngồi đã soạn sẵn.
SC 5Tôn giả Ānanda ngồi xuống trên chỗ ngồi đã soạn sẵn. Còn Bà-la-môn Gopaka Moggallāna chọn một chỗ ngồi thấp khác rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Gopaka Moggallāna thưa với Tôn giả Ānanda
SC 6—Có thể chăng, một Tỷ-kheo thành tựu một cách trọn vẹn, một cách đầy đủ tất cả các pháp mà Tôn giả Gotama, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã thành tựu?
SC 7—Không thể có một Tỷ-kheo, này Bà-la-môn, thành tựu một cách trọn vẹn, một cách đầy đủ tất cả các pháp mà Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã thành tựu. Này Bà-la-môn, Thế Tôn là bậc làm khởi dậy con đường trước đây chưa được hiện khởi, làm cho biết con đường trước đây chưa từng được biết, nói lên con đường trước đây chưa từng được nói; là bậc hiểu đạo, biết đạo và thiện xảo về đạo. Và nay các đệ tử là những vị sống hành đạo và tùy hành, và sẽ thành tựu (những pháp ấy) về sau.
SC 8Nhưng cuộc nói chuyện giữa Tôn giả Ānanda và Bà-la-môn Gopaka Moggallāna bị gián đoạn. Bà-la-môn Vassakāra, bậc đại thần nước Magadha, đi thị sát các công sự Rājagaha (Vương Xá), đến công trường của Bà-la-môn Gopaka Moggallāna, đến chỗ Tôn giả Ānanda; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Ānanda những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Vassakāra, bậc đại thần nước Magadha, thưa với Tôn giả Ānanda
SC 9—Ở đây, thưa Tôn giả Ānanda, Tôn giả đang ngồi đàm luận câu chuyện gì? Và câu chuyện gì của Tôn giả bị gián đoạn?
SC 10—Này Bà-la-môn, ở đây, Bà-la-môn Gopaka Moggallāna nói với tôi như sau: “Có thể có chăng, Tôn giả Ānanda, một Tỷ-kheo thành tựu một cách trọn vẹn, một cách đầy đủ tất cả các pháp mà Tôn giả Gotama, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã thành tựu?” Khi được nói vậy, này Bà-la-môn, tôi nói với Bà-la-môn Gopaka Moggallāna như sau: “Này Bà-la-môn, không thể có một vị Tỷ-kheo nào thành tựu một cách trọn vẹn, một cách đầy đủ tất cả các pháp mà Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã thành tựu. Này Bà-la-môn, Thế Tôn là bậc làm khởi dậy con đường trước đây chưa được hiện khởi, làm cho biết con đường trước đây chưa từng được biết, nói lên con đường trước đây chưa từng được nói; là bậc hiểu đạo, biết đạo và thiện xảo về đạo. Và các đệ tử Ngài là những vị sống hành đạo và tùy hành đạo và sẽ thành tựu (những pháp ấy) về sau”.
SC 11—Thưa Tôn giả Ānanda, có một vị Tỷ-kheo nào được Tôn giả Gotama sắp đặt: “Vị này, sau khi Ta diệt độ, sẽ là chỗ nương tựa cho các Ông, và các Ông nay sẽ y chỉ vị này”.
SC 12—Này Bà-la-môn, không có một vị Tỷ-kheo nào được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác sắp đặt: “Vị này, sau khi Ta diệt độ, sẽ là chỗ nương tựa cho các Ông, và các Ông sẽ y chỉ vị này”.
SC 13—Thưa Tôn giả Ānanda, có một vị Tỷ-kheo nào được chúng Tăng thỏa thuận và một số đông các vị Tỷ-kheo Trưởng lão sắp đặt: “Vị này, sau khi Thế Tôn diệt độ, sẽ là chỗ nương tựa cho các Ông, và các Ông nay sẽ y chỉ vị này?”
SC 14—Không có một vị Tỷ-kheo nào, này Bà-la-môn, được chúng Tăng thỏa thuận và được số đông các vị Tỷ-kheo Trưởng lão sắp đặt: “Vị này, sau khi Thế Tôn diệt độ, sẽ là chỗ nương tựa cho chúng tôi, và chúng tôi nay sẽ y chỉ vị này”.
SC 15—Và như vậy là không có chỗ nương tựa, thưa Tôn giả Ānanda, như vậy do nhân gì, Quý vị có thể hòa hợp?
SC 16—Này Bà-la-môn, chúng tôi không phải không có chỗ nương tựa. Này Bà-la-môn, chúng tôi có chỗ nương tựa, và Pháp là chỗ nương tựa của chúng tôi.
SC 17—Khi được hỏi: “Có một vị Tỷ-kheo nào được Tôn giả Gotama sắp đặt: “Vị này, sau khi Ta diệt độ, sẽ là chỗ nương tựa cho các Ông, và các Ông nay sẽ y chỉ vị này?” ”, Tôn giả trả lời: “Này Bà-la-môn, không có một vị Tỷ-kheo nào được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác sắp đặt: “Vị này, sau khi Ta diệt độ, sẽ là chỗ nương tựa cho các Ông, và chúng tôi nay sẽ y chỉ vị này”. Khi được hỏi: “Có một vị Tỷ-kheo nào được chúng Tăng thỏa thuận và một số đông các vị Tỷ-kheo Trưởng lão sắp đặt: “Vị này, sau khi Thế Tôn diệt độ, sẽ là chỗ nương tựa cho các Ông, các Ông nay sẽ y chỉ vị này”. Và Tôn giả trả lời: “Không có một vị Tỷ-kheo nào, này Bà-la-môn, được chúng Tăng thỏa thuận và được số đông các vị Tỷ-kheo Trưởng lão sắp đặt: “Vị này, sau khi Thế Tôn diệt độ, sẽ là chỗ nương tựa cho chúng tôi, và chúng tôi nay sẽ y chỉ vị này”. Khi được hỏi: “Và như vậy là không có chỗ nương tựa, thưa Tôn giả Ānanda, như vậy do nhân gì, Quý vị có thể hòa hợp?” Tôn giả trả lời: “Này Bà-la-môn, chúng tôi không phải không có chỗ nương tựa. Chúng tôi có chỗ nương tựa, này Bà-la-môn, và Pháp là chỗ nương tựa của chúng tôi”. Nhưng thưa Tôn giả Ānanda, ý nghĩa lời nói này cần phải hiểu như thế nào?
SC 18—Này Bà-la-môn, Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã thi thiết học pháp, đã tuyên bố giới bổn Pātimokkha (Ba-la-đề-mộc-xoa) cho các Tỷ-kheo. Trong những ngày Bố-tát (Uposatha) chúng tôi cận trú ở chung một thôn điền, tất cả chúng tôi hội họp với nhau tại một chỗ; sau khi tụ họp, chúng tôi hỏi những gì đã xảy ra cho mỗi một người. Nếu trong khi hỏi nhau như vậy, có Tỷ-kheo phạm tội, phạm giới, chúng tôi bảo vị ấy làm đúng Pháp, đúng lời dạy. Thật vậy, không phải các Tôn giả xử sự chúng tôi, chính pháp xử sự chúng tôi.
SC 19—Thưa Tôn giả Ānanda, có Tỷ-kheo nào mà nay Quý vị cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường, sau khi cung kính, tôn trọng, Quý vị nương tựa?
SC 20—Này Bà-la-môn, có Tỷ-kheo mà nay chúng tôi cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường, và sau khi chúng tôi cung kính, tôn trọng, chúng tôi nương tựa.
SC 21—Thưa Tôn giả Ānanda, khi được hỏi: “Có một vị Tỷ-kheo nào được Tôn giả Gotama sắp đặt: “Sau khi Ta diệt độ, vị này sẽ là chỗ nương tựa cho các Ông và các Ông nay sẽ y chỉ vị này?” ”. Và Tôn giả trả lời: “Này Bà-la-môn, không có một vị Tỷ-kheo nào được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác sắp đặt: “Vị này, sau khi Ta diệt độ, sẽ là chỗ nương tựa cho các Ông”, và chúng tôi nay y chỉ vị này”. Khi được hỏi: “Thưa Tôn giả Ānanda, có một vị Tỷ-kheo nào được chúng Tăng thỏa thuận, được một số đông Tỷ-kheo Trưởng lão sắp đặt: “Vị này, sau khi Thế Tôn diệt độ, sẽ là chỗ nương tựa cho các Ông, và các Ông nay sẽ y chỉ vị này”, và Tôn giả trả lời: “Không có một Tỷ-kheo nào được chúng Tăng thỏa thuận, được một số đông Tỷ-kheo Trưởng lão sắp đặt: “Vị này sau khi Thế Tôn diệt độ sẽ là chỗ nương tựa cho chúng tôi, và chúng tôi nay sẽ y chỉ vị này”. Khi được hỏi: “Có một Tỷ-kheo nào, thưa Tôn giả Ānanda, nay quý vị cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường vị ấy và sau khi cung kính, tôn trọng, quý vị an trú, nương tựa vị ấy?”, và Tôn giả trả lời: “Này Bà-la-môn, có Tỷ-kheo, chúng tôi cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường và sau khi cung kính, tôn trọng, chúng tôi an trú, nương tựa vị ấy”. Thưa Tôn giả Ānanda, ý nghĩa lời nói ấy cần phải hiểu như thế nào?
SC 22—Này Bà-la-môn, có mười khả hỷ pháp được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố. Giữa chúng tôi, vị nào có đầy đủ mười pháp này, chúng tôi nay cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường vị ấy; sau khi cung kính, tôn trọng, chúng tôi an trú, nương tựa vị ấy. Thế nào là mười?
SC 23Ở đây, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo có giới hạnh, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pātimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, sau khi thọ trì, học tập trong các học pháp.
SC 24Vị ấy là bậc đa văn, thọ trì những điều đã nghe, cất chứa những điều đã nghe; những pháp nào sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, với nghĩa, với văn, nói lên Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh, những pháp ấy đều được nghe nhiều, được thọ trì, được lời nói làm cho quen thuộc, được ý tư niệm, được chánh kiến khéo ngộ nhập.
SC 25Vị ấy biết đủ đối với các vật thực dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh.
SC 26Vị ấy là người tùy theo ý muốn, không có khó khăn, không có mệt nhọc, chứng được bốn Thiền, thuộc tăng thượng tâm hiện tại lạc trú.
SC 27Vị ấy thực hiện các loại thần thông sai biệt, một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân, hiện hình, biến hình đi ngang qua vách, qua tường, qua núi, như đi ngang hư không; độn thổ trồi lên ngang qua đất liền như ở trong nước; đi trên nước không chìm như trên đất liền; ngồi kiết—già đi trên hư không như chim có cánh; với bàn tay, vị ấy chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy; có thể tự thân bay đến Phạm thiên.
SC 28Vị ấy với thiên nhĩ thuần tịnh siêu nhân, nghe được âm thanh của chư Thiên và loài người, gần cũng như xa.
SC 29Sau khi đi sâu vào tâm chúng sanh, tâm loài Người với tâm của mình, vị ấy được biết như sau: Tâm có tham, biết tâm có tham. Tâm không tham, biết tâm không tham. Tâm có sân, biết tâm có sân. Tâm không sân, biết tâm không sân. Tâm có si, biết tâm có si. Tâm không si, biết tâm không si. Tâm chuyên chú, biết tâm chuyên chú. Tâm tán loạn, biết tâm tán loạn. Ðại hành tâm, biết là đại hành tâm; không phải đại hành tâm, biết không phải đại hành tâm. Tâm chưa vô thượng, biết tâm chưa vô thượng. Tâm vô thượng, biết tâm vô thượng. Tâm Thiền định, biết tâm Thiền định. Tâm không Thiền định, biết tâm không Thiền định. Tâm giải thoát, biết tâm giải thoát. Tâm không giải thoát, biết tâm không giải thoát.
SC 30Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ như một đời, hai đời … nhớ đến các đời sống quá khứ.
SC 31Vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy biết, chúng sanh người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ.
SC 32Với sự đoạn diệt các lậu hoặc, sau khi với thượng trí đã chứng ngộ, vị ấy chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
SC 33Này Bà-la-môn, mười pháp khả hỷ này đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nói lên giữa chúng tôi. Vị nào có đầy đủ mười pháp này, chúng tôi nay cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường vị ấy; sau khi cung kính, tôn trọng, chúng tôi an trú, nương tựa vị ấy.
SC 34Khi nghe nói vậy, Bà-la-môn Vassakāra (Vũ Thế), đại thần nước Magadha, nói với tướng quân Upananda
SC 35—Tướng quân nghĩ thế nào? Nếu là như vậy, này tướng quân, những vị Tôn giả này cung kính những ai đáng cung kính, tôn trọng những ai đáng tôn trọng, lễ bái những ai đáng lễ bái, cúng dường những ai đáng cúng dường; thời chắc chắn những Tôn giả này cung kính những ai đáng cung kính, tôn trọng những ai đáng tôn trọng, lễ bái những ai đáng lễ bái, cúng dường những ai đáng cúng dường. Và nếu những Tôn giả ấy không cung kính, không tôn trọng, không lễ bái, không cúng dường Tỷ-kheo này, thời những Tôn giả ấy cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường ai?
SC 36Rồi Bà-la-môn Vassakāra, vị đại thần nước Magadha, thưa với Tôn giả Ānanda
SC 37—Tôn giả Ānanda nay trú tại đâu?
SC 38—Này Bà-la-môn, tôi trú ở Veluvana (Trúc Lâm).
SC 39—Thưa Tôn giả Ānanda, có phải Veluvana là một chỗ khả ái, ít tiếng động, ít tiếng ồn, được che khỏi gió, xa lánh dân cư đông đúc, thích hợp Thiền tịnh?
SC 40—Thật vậy, này Bà-la-môn, Veluvana (Trúc Lâm) là một khả ái, ít tiếng động, ít tiếng ồn, được che khỏi gió, xa cách dân cư đông đúc, thích hợp Thiền tịnh, xứng đáng với những vị hộ trì và thủ hộ như Ngài.
SC 41—Thật vậy, thưa Tôn giả Ānanda, Veluvana là một chỗ khả ái, ít tiếng động, ít tiếng ồn, được che khỏi gió, xa lánh dân cư đông đúc, thích hợp Thiền tịnh, xứng đáng với những người tu Thiền và tánh thiên về Thiền định như quý vị Tôn giả. Và chư vị Tôn giả là những vị tu Thiền và tánh thiên về Thiền định. Thưa Tôn giả Ānanda, một thời Tôn giả Gotama ở tại Vesālī, Ðại Lâm, ở Kutagarasala (Trùng Các giảng đường). Rồi, thưa Tôn giả Ānanda, tôi đi đến Mahavana (Ðại Lâm), Kutagarasala, đến Tôn giả Gotama. Ở đấy, Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện nói về Thiền định luận. Tôn giả Gotama thật là vị tu Thiền và tánh thiên về Thiền định. Và Tôn giả Gotama tán thán tất cả Thiền định.
SC 42—Này Bà-la-môn, Thế Tôn ấy không tán thán tất cả Thiền định, không không tán thán tất cả Thiền định. Và này Bà-la-môn, loại Thiền định nào Thế Tôn ấy không tán thán? Ở đây, này Bà-la-môn, một số vị sống với tâm thấm nhuần dục tham, bị dục tham chi phối, và không như thật biết sự giải thoát khỏi dục tham đã được khởi lên. Vị ấy lấy dục tham làm đối tượng tối hậu, Thiền tu, Thiền tư, Thiền định, Thiền nhập. Vị ấy sống với tâm thấm nhuần sân hận, bị sân hận chi phối, và không như thật biết sự giải thoát khỏi sân hận đã được khởi lên. Vị ấy lấy sân hận làm đối tượng tối hậu, Thiền tu, Thiền tư, Thiền định, Thiền nhập. Vị ấy sống với tâm thấm nhuần hôn trầm thụy miên, bị hôn trầm thụy miên chi phối, và không như thật biết sự giải thoát khỏi hôn trầm thụy miên đã được khởi lên. Vị ấy lấy hôn trầm thụy miên làm đối tượng tối hậu, Thiền tu, Thiền tư, Thiền định, Thiền nhập. Vị ấy sống với tâm thấm nhuần trạo hối, bị trạo hối chi phối và không như thật biết sự giải thoát khỏi trạo hối đã được khởi lên. Vị ấy lấy trạo hối làm đối tượng tối hậu, Thiền tu, Thiền tư, Thiền định, Thiền nhập. Vị ấy sống với tâm thấm nhuần nghi hoặc, bị nghi hoặc chi phối và không như thật biết sự giải thoát khỏi nghi hoặc đã được khởi lên. Vị ấy lấy nghi hoặc làm đối tượng tối hậu, Thiền tu, Thiền tư, Thiền định, Thiền nhập. Này Bà-la-môn, Thế Tôn ấy không tán thán loại Thiền định như vậy.
SC 43Và này Bà-la-môn, loại Thiền định nào Thế Tôn ấy tán thán? Ở đây, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm với tứ. Vị ấy diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Vị ấy ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này Bà-la-môn, loại Thiền như vậy, Thế Tôn ấy tán thán.
SC 44—Thật vậy, thưa Tôn giả Ānanda, Tôn giả Gotama khiển trách Thiền đáng được khiển trách, tán thán Thiền đáng được tán thán. Nay thưa Tôn giả Ānanda, chúng tôi phải đi. Chúng tôi có những việc, có nhiều phận sự phải làm.
SC 45—Này Bà-la-môn, hãy làm gì Bà-la-môn nghĩ là hợp thời.
SC 46Rồi Bà-la-môn Vassakāra, đại thần nước Magadha, hoan hỷ tín thọ lời Tôn giả Ānanda giảng, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Rồi Bà-la-môn Gopaka Moggalana, khi Bà-la-môn Vassakāra, đại thần nước Magadha đi không bao lâu, thưa với Tôn giả Ānanda
SC 47—Nếu chúng tôi không hỏi Tôn giả Ānanda, thời Tôn giả Ānanda đã không trả lời.
SC 48—Này Bà-la-môn, có phải chúng tôi đã nói với Ông: “Không có một Tỷ-kheo nào, này Bà-la-môn, thành tựu mười pháp ấy một cách trọn vẹn, một cách đầy đủ, những pháp mà Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã thành tựu. Này Bà-la-môn, vị Thế Tôn ấy là bậc làm cho khởi dậy con đường trước đây chưa từng được hiện khởi, làm cho biết con đường trước đây chưa từng được biết, nói lên con đường trước đây chưa từng được nói; là bậc hiểu đạo, biết đạo và thiện xảo về đạo. Và nay các đệ tử Ngài là những vị sống hành đạo và tùy hành đạo, và sẽ thành tựu những pháp ấy về sau”.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). 12–07–2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
8. Kinh Gopakamoggallāna
Tena kho pana samayena rājā māgadho ajātasattu vedehiputto rājagahaṁ paṭisaṅkhārāpeti rañño pajjotassa āsaṅkamāno.
Atha kho āyasmā ānando pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya rājagahaṁ piṇḍāya pāvisi.
Atha kho āyasmato ānandassa etadahosi: “atippago kho tāva rājagahe piṇḍāya carituṁ. Yannūnāhaṁ yena gopakamoggallānassa brāhmaṇassa kammanto, yena gopakamoggallāno brāhmaṇo tenupasaṅkameyyan”ti.
Now at that time King Ajātasattu of Magadha, son of the princess of Videha, being suspicious of King Pajjota, was having Rājagaha fortified.
Then Venerable Ānanda robed up in the morning and, taking his bowl and robe, entered Rājagaha for alms.
Then it occurred to him, “It’s too early to wander for alms in Rājagaha. Why don’t I go to see the brahmin Moggallāna the Guardian at his place of work?”
79. Tôi nghe như vầy: Một thời, Tôn giả Ānanda trú tại Rājagaha, trong Trúc Lâm, nơi nuôi dưỡng các con sóc, không bao lâu sau khi Thế Tôn nhập diệt. Lúc bấy giờ, vua Ajātasattu của xứ Māgadha, con của hoàng hậu Vedehi, đang cho tu sửa thành Rājagaha vì lo ngại vua Pajjota. Rồi Tôn giả Ānanda, vào buổi sáng, đắp y, mang bát, vào thành Rājagaha để khất thực. Bấy giờ, Tôn giả Ānanda khởi lên ý nghĩ này: – ‘Còn quá sớm để đi khất thực ở Rājagaha. Ta hãy đi đến nơi làm việc của bà-la-môn Gopakamoggallāna, đến chỗ bà-la-môn Gopakamoggallāna.’
Atha kho āyasmā ānando yena gopakamoggallānassa brāhmaṇassa kammanto, yena gopakamoggallāno brāhmaṇo tenupasaṅkami. Addasā kho gopakamoggallāno brāhmaṇo āyasmantaṁ ānandaṁ dūratova āgacchantaṁ. Disvāna āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca: “etu kho bhavaṁ ānando. Svāgataṁ bhoto ānandassa. Cirassaṁ kho bhavaṁ ānando imaṁ pariyāyamakāsi yadidaṁ idhāgamanāya. Nisīdatu bhavaṁ ānando, idamāsanaṁ paññattan”ti.
Nisīdi kho āyasmā ānando paññatte āsane. Gopakamoggallānopi kho brāhmaṇo aññataraṁ nīcaṁ āsanaṁ gahetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho gopakamoggallāno brāhmaṇo āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca: “atthi nu kho, bho ānanda, ekabhikkhupi tehi dhammehi sabbenasabbaṁ sabbathāsabbaṁ samannāgato yehi dhammehi samannāgato so bhavaṁ gotamo ahosi arahaṁ sammāsambuddho”ti?
“Natthi kho, brāhmaṇa, ekabhikkhupi tehi dhammehi sabbenasabbaṁ sabbathāsabbaṁ samannāgato yehi dhammehi samannāgato so bhagavā ahosi arahaṁ sammāsambuddho. So hi, brāhmaṇa, bhagavā anuppannassa maggassa uppādetā, asañjātassa maggassa sañjanetā, anakkhātassa maggassa akkhātā, maggaññū, maggavidū, maggakovido; maggānugā ca pana etarahi sāvakā viharanti pacchā samannāgatā”ti.
Ayañca hidaṁ āyasmato ānandassa gopakamoggallānena brāhmaṇena saddhiṁ antarākathā vippakatā ahosi.
So that’s what he did. Moggallāna the Guardian saw Ānanda coming off in the distance and said to him, “Come, worthy Ānanda! Welcome, worthy Ānanda! It’s been a long time since you took the opportunity to come here. Please, sir, sit down, here, a seat is ready.”
Ānanda sat down on the seat spread out, while Moggallāna took a low seat and sat to one side. Then he said to Ānanda, “Worthy Ānanda, is there even a single mendicant who has all the same qualities in each and every way as possessed by the worthy Gotama, the perfected one, the fully awakened Buddha?”
“No, brahmin, there is not. For the Blessed One gave rise to the unarisen path, gave birth to the unborn path, and explained the unexplained path. He is the knower of the path, the discoverer of the path, the expert on the path. And now the disciples live following the path; they acquire it later.”
But this conversation between Ānanda and Moggallāna the Guardian was left unfinished.
Rồi Tôn giả Ānanda đi đến nơi làm việc của bà-la-môn Gopakamoggallāna, đến chỗ bà-la-môn Gopakamoggallāna. Bà-la-môn Gopakamoggallāna thấy Tôn giả Ānanda từ xa đi đến. Thấy vậy, ông nói với Tôn giả Ānanda: – ‘Xin mời Tôn giả Ānanda. Hoan nghênh Tôn giả Ānanda. Đã lâu lắm rồi Tôn giả Ānanda mới có dịp đến đây. Chỗ ngồi đã được dọn sẵn, xin mời Tôn giả Ānanda an tọa.’ Tôn giả Ānanda ngồi xuống trên chỗ đã dọn sẵn. Bà-la-môn Gopakamoggallāna cũng lấy một chỗ ngồi thấp hơn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, bà-la-môn Gopakamoggallāna bạch với Tôn giả Ānanda: – ‘Thưa Tôn giả Ānanda, có vị tỳ-khưu nào hội đủ một cách trọn vẹn, một cách toàn diện tất cả những pháp mà Tôn giả Gotama, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã hội đủ không?’ – ‘Này bà-la-môn, không có một vị tỳ-khưu nào hội đủ một cách trọn vẹn, một cách toàn diện tất cả những pháp mà Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã hội đủ. Này bà-la-môn, chính Thế Tôn là bậc làm cho con đường chưa sanh được sanh khởi, làm cho con đường chưa được biết được biết đến, là bậc tuyên thuyết con đường chưa được tuyên thuyết, bậc biết đạo, bậc hiểu đạo, bậc thiện xảo về đạo. Còn nay, các vị đệ tử là những người đi theo con đường và thành tựu sau đó.’ Và cuộc nói chuyện giữa Tôn giả Ānanda và bà-la-môn Gopakamoggallāna đã bị gián đoạn giữa chừng.
Atha kho vassakāro brāhmaṇo magadhamahāmatto rājagahe kammante anusaññāyamāno yena gopakamoggallānassa brāhmaṇassa kammanto, yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā ānandena saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho vassakāro brāhmaṇo magadhamahāmatto āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca: “kāya nuttha, bho ānanda, etarahi kathāya sannisinnā, kā ca pana vo antarākathā vippakatā”ti?
“Idha maṁ, brāhmaṇa, gopakamoggallāno brāhmaṇo evamāha: ‘atthi nu kho, bho ānanda, ekabhikkhupi tehi dhammehi sabbenasabbaṁ sabbathāsabbaṁ samannāgato yehi dhammehi samannāgato so bhavaṁ gotamo ahosi arahaṁ sammāsambuddho’ti. Evaṁ vutte, ahaṁ, brāhmaṇa, gopakamoggallānaṁ brāhmaṇaṁ etadavocaṁ: ‘natthi kho, brāhmaṇa, ekabhikkhupi tehi dhammehi sabbenasabbaṁ sabbathāsabbaṁ samannāgato yehi dhammehi samannāgato so bhagavā ahosi arahaṁ sammāsambuddho. So hi, brāhmaṇa, bhagavā anuppannassa maggassa uppādetā, asañjātassa maggassa sañjanetā, anakkhātassa maggassa akkhātā, maggaññū, maggavidū, maggakovido; maggānugā ca pana etarahi sāvakā viharanti pacchā samannāgatā’ti. Ayaṁ kho no, brāhmaṇa, gopakamoggallānena brāhmaṇena saddhiṁ antarākathā vippakatā. Atha tvaṁ anuppatto”ti.
For just then the brahmin Vassakāra, a chief minister of Magadha, while supervising the work at Rājagaha, approached Ānanda at Moggallāna’s place of work and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to Ānanda, “Worthy Ānanda, what were you sitting talking about just now? What conversation was left unfinished?”
So Ānanda told him of the conversation that they were having when Vassakāra arrived. Vassakāra said:
Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Vassakāra, đại thần xứ Magadha, trong khi đi tuần tra công việc ở thành Rājagaha, đã đi đến nơi làm việc của Bà-la-môn Gopaka Moggallāna, cũng là nơi Tôn giả Ānanda đang ở. Sau khi đến, ông đã cùng Tôn giả Ānanda chào hỏi thăm hỏi. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân tình, đáng ghi nhớ, ông ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Bà-la-môn Vassakāra, đại thần xứ Magadha, nói với Tôn giả Ānanda điều này: ‘Thưa Tôn giả Ānanda, hiện nay các vị đang ngồi lại với nhau để bàn luận về chuyện gì vậy? Và câu chuyện còn dang dở của các vị là gì?’ ‘Này Bà-la-môn, ở đây, Bà-la-môn Gopaka Moggallāna đã hỏi tôi như vầy: ‘Thưa Tôn giả Ānanda, có vị Tỳ khưu nào dù chỉ một người, được đầy đủ trọn vẹn về mọi phương diện, về mọi mặt, với những pháp mà Tôn giả Gotama, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã từng được đầy đủ không?’ Khi được hỏi như vậy, này Bà-la-môn, tôi đã trả lời Bà-la-môn Gopaka Moggallāna như sau: ‘Này Bà-la-môn, không có vị Tỳ khưu nào dù chỉ một người, được đầy đủ trọn vẹn về mọi phương diện, về mọi mặt, với những pháp mà Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã từng được đầy đủ. Vì rằng, này Bà-la-môn, chính Thế Tôn là bậc làm cho con đường chưa sanh được sanh khởi, là bậc làm cho con đường chưa được biết đến được biết đến, là bậc tuyên thuyết con đường chưa được tuyên thuyết. Ngài là bậc biết đạo, bậc hiểu rõ đạo, bậc thiện xảo về đạo. Còn các vị đệ tử ngày nay là những người đi theo con đường, thành tựu sau đó.’ Này Bà-la-môn, đó là câu chuyện còn dang dở của chúng tôi với Bà-la-môn Gopaka Moggallāna. Rồi thì ngài đến.’
“Atthi nu kho, bho ānanda, ekabhikkhupi tena bhotā gotamena ṭhapito: ‘ayaṁ vo mamaccayena paṭisaraṇaṁ bhavissatī’ti, yaṁ tumhe etarahi paṭipādeyyāthā”ti?
“Natthi kho, brāhmaṇa, ekabhikkhupi tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena ṭhapito: ‘ayaṁ vo mamaccayena paṭisaraṇaṁ bhavissatī’ti, yaṁ mayaṁ etarahi paṭipādeyyāmā”ti.
“Atthi pana, bho ānanda, ekabhikkhupi saṅghena sammato, sambahulehi therehi bhikkhūhi ṭhapito: ‘ayaṁ no bhagavato accayena paṭisaraṇaṁ bhavissatī’ti, yaṁ tumhe etarahi paṭipādeyyāthā”ti?
“Natthi kho, brāhmaṇa, ekabhikkhupi saṅghena sammato, sambahulehi therehi bhikkhūhi ṭhapito: ‘ayaṁ no bhagavato accayena paṭisaraṇaṁ bhavissatī’ti, yaṁ mayaṁ etarahi paṭipādeyyāmā”ti.
“Evaṁ appaṭisaraṇe ca pana, bho ānanda, ko hetu sāmaggiyā”ti?
“Na kho mayaṁ, brāhmaṇa, appaṭisaraṇā; sappaṭisaraṇā mayaṁ, brāhmaṇa; dhammappaṭisaraṇā”ti.
“Worthy Ānanda, is there even a single mendicant who was appointed by the worthy Gotama, saying: ‘This one will be your refuge when I have passed away,’ to whom you would now turn?”
“No, there is not.”
“But is there even a single mendicant who has been elected to such a position by the Saṅgha and appointed by several senior mendicants?”
“No, there is not.”
“But since you lack a refuge, worthy Ānanda, what’s the reason for your harmony?”
“We don’t lack a refuge, brahmin, we have a refuge. The teaching is our refuge.”
80. ‘Thưa Tôn giả Ānanda, có vị Tỳ khưu nào dù chỉ một người, đã được Tôn giả Gotama chỉ định rằng: ‘Sau khi ta qua đời, vị này sẽ là nơi nương tựa của các ngươi’, để bây giờ các vị có thể y chỉ vào không?’ ‘Này Bà-la-môn, không có vị Tỳ khưu nào dù chỉ một người, đã được Thế Tôn, bậc Toàn Tri, Toàn Kiến, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, chỉ định rằng: ‘Sau khi ta qua đời, vị này sẽ là nơi nương tựa của các ngươi’, để bây giờ chúng tôi có thể y chỉ vào.’ ‘Vậy thưa Tôn giả Ānanda, có vị Tỳ khưu nào dù chỉ một người, được Tăng chúng đồng thuận, được nhiều vị Trưởng lão Tỳ khưu chỉ định rằng: ‘Sau khi Thế Tôn qua đời, vị này sẽ là nơi nương tựa của chúng ta’, để bây giờ các vị có thể y chỉ vào không?’ ‘Này Bà-la-môn, không có vị Tỳ khưu nào dù chỉ một người, được Tăng chúng đồng thuận, được nhiều vị Trưởng lão Tỳ khưu chỉ định rằng: ‘Sau khi Thế Tôn qua đời, vị này sẽ là nơi nương tựa của chúng ta’, để bây giờ chúng tôi có thể y chỉ vào.’ ‘Thưa Tôn giả Ānanda, nếu không có nơi nương tựa như vậy, đâu là nguyên nhân cho sự hòa hợp của các vị?’ ‘Này Bà-la-môn, chúng tôi không phải là không có nơi nương tựa. Này Bà-la-môn, chúng tôi có nơi nương tựa. Chúng tôi có Pháp làm nơi nương tựa.’
“‘Atthi nu kho, bho ānanda, ekabhikkhupi tena bhotā gotamena ṭhapito—ayaṁ vo mamaccayena paṭisaraṇaṁ bhavissatīti, yaṁ tumhe etarahi paṭipādeyyāthā’ti—iti puṭṭho samāno ‘natthi kho, brāhmaṇa, ekabhikkhupi tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena ṭhapito—ayaṁ vo mamaccayena paṭisaraṇaṁ bhavissatīti, yaṁ mayaṁ etarahi paṭipādeyyāmā’ti vadesi; ‘atthi pana, bho ānanda, ekabhikkhupi saṅghena sammato, sambahulehi therehi bhikkhūhi ṭhapito—ayaṁ no bhagavato accayena paṭisaraṇaṁ bhavissatīti, yaṁ tumhe etarahi paṭipādeyyāthā’ti—iti puṭṭho samāno ‘natthi kho, brāhmaṇa, ekabhikkhupi saṅghena sammato, sambahulehi therehi bhikkhūhi ṭhapito—ayaṁ no bhagavato accayena paṭisaraṇaṁ bhavissatīti, yaṁ mayaṁ etarahi paṭipādeyyāmā’ti—vadesi; ‘evaṁ appaṭisaraṇe ca pana, bho ānanda, ko hetu sāmaggiyā’ti iti puṭṭho samāno ‘na kho mayaṁ, brāhmaṇa, appaṭisaraṇā; sappaṭisaraṇā mayaṁ, brāhmaṇa; dhammappaṭisaraṇā’ti vadesi. Imassa pana, bho ānanda, bhāsitassa kathaṁ attho daṭṭhabbo”ti?
“But Worthy Ānanda, when asked whether there was even a single mendicant—either appointed by the worthy Gotama, or elected by the Saṅgha and appointed by several senior mendicants—who serves as your refuge after the Buddha passed away, to whom you now turn, you replied, ‘No, there is not.’ But you say that the reason for your harmony is that you have the teaching as a refuge. How should I see the meaning of this statement?”
‘Khi được hỏi: ‘Thưa Tôn giả Ānanda, có vị Tỳ khưu nào dù chỉ một người, đã được Tôn giả Gotama chỉ định rằng: ‘Sau khi ta qua đời, vị này sẽ là nơi nương tựa của các ngươi’, để bây giờ các vị có thể y chỉ vào không?’, ngài đã trả lời: ‘Này Bà-la-môn, không có vị Tỳ khưu nào dù chỉ một người, đã được Thế Tôn, bậc Toàn Tri, Toàn Kiến, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, chỉ định rằng: ‘Sau khi ta qua đời, vị này sẽ là nơi nương tựa của các ngươi’, để bây giờ chúng tôi có thể y chỉ vào.’ Khi được hỏi: ‘Vậy thưa Tôn giả Ānanda, có vị Tỳ khưu nào dù chỉ một người, được Tăng chúng đồng thuận, được nhiều vị Trưởng lão Tỳ khưu chỉ định rằng: ‘Sau khi Thế Tôn qua đời, vị này sẽ là nơi nương tựa của chúng ta’, để bây giờ các vị có thể y chỉ vào không?’, ngài đã trả lời: ‘Này Bà-la-môn, không có vị Tỳ khưu nào dù chỉ một người, được Tăng chúng đồng thuận, được nhiều vị Trưởng lão Tỳ khưu chỉ định rằng: ‘Sau khi Thế Tôn qua đời, vị này sẽ là nơi nương tựa của chúng ta’, để bây giờ chúng tôi có thể y chỉ vào.’ Khi được hỏi: ‘Thưa Tôn giả Ānanda, nếu không có nơi nương tựa như vậy, đâu là nguyên nhân cho sự hòa hợp của các vị?’, ngài đã trả lời: ‘Này Bà-la-môn, chúng tôi không phải là không có nơi nương tựa. Này Bà-la-môn, chúng tôi có nơi nương tựa. Chúng tôi có Pháp làm nơi nương tựa.’ Vậy thưa Tôn giả Ānanda, ý nghĩa của lời nói này nên được hiểu như thế nào?’
“Atthi kho, brāhmaṇa, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena bhikkhūnaṁ sikkhāpadaṁ paññattaṁ, pātimokkhaṁ uddiṭṭhaṁ. Te mayaṁ tadahuposathe yāvatikā ekaṁ gāmakhettaṁ upanissāya viharāma te sabbe ekajjhaṁ sannipatāma; sannipatitvā yassa taṁ pavattati taṁ ajjhesāma. Tasmiñce bhaññamāne hoti bhikkhussa āpatti hoti vītikkamo taṁ mayaṁ yathādhammaṁ yathānusiṭṭhaṁ kāremāti.
“The Blessed One, who knows and sees, the perfected one, the fully awakened Buddha laid down training rules and recited the monastic code for the mendicants. On the day of the sabbath all of us who live in dependence on one village district gather together as one. We invite one who transmits the code to recite it. If anyone remembers an offense or transgression while they’re reciting, we make them act in line with the teaching and in line with the instructions.
81. ‘Này Bà-la-môn, có giới luật đã được Thế Tôn, bậc Toàn Tri, Toàn Kiến, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, chế định cho các Tỳ khưu, và có Pātimokkha (Giới Bổn) đã được Ngài tuyên đọc. Vào ngày Uposatha, tất cả chúng tôi, bao nhiêu vị sống nương vào một khu vực làng mạc, đều tụ họp lại một nơi. Sau khi tụ họp, chúng tôi thỉnh mời vị nào thông thuộc Pātimokkha, vị ấy sẽ tụng đọc. Trong khi đang tụng đọc, nếu có vị Tỳ khưu nào phạm tội, có sự vi phạm, chúng tôi sẽ xử lý vị ấy theo đúng Pháp, theo đúng lời chỉ dạy.’
“Atthi nu kho, bho ānanda, ekabhikkhupi yaṁ tumhe etarahi sakkarotha garuṁ karotha mānetha pūjetha; sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharathā”ti?
“Natthi kho, brāhmaṇa, ekabhikkhupi yaṁ mayaṁ etarahi sakkaroma garuṁ karoma mānema pūjema; sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharāmā”ti.
“Worthy Ānanda, is there even a single mendicant who you honor, respect, revere, venerate, and rely on?”
“There is not, brahmin.”
‘Như vậy, không phải các Tôn giả xử lý, mà chính là Pháp xử lý.’ ‘Thưa Tôn giả Ānanda, hiện nay có vị Tỳ khưu nào dù chỉ một người, mà các vị tôn trọng, kính mến, quý trọng, cúng dường; và sau khi tôn trọng, kính mến, các vị sống nương tựa vào vị ấy không?’ ‘Này Bà-la-môn, hiện nay không có vị Tỳ khưu nào dù chỉ một người, mà chúng tôi tôn trọng, kính mến, quý trọng, cúng dường; và sau khi tôn trọng, kính mến, chúng tôi sống nương tựa vào vị ấy.’
“‘Atthi nu kho, bho ānanda, ekabhikkhupi tena bhotā gotamena ṭhapito—ayaṁ vo mamaccayena paṭisaraṇaṁ bhavissatīti yaṁ tumhe etarahi paṭipādeyyāthā’ti—iti puṭṭho samāno ‘natthi kho, brāhmaṇa, ekabhikkhupi tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena ṭhapito—ayaṁ vo mamaccayena paṭisaraṇaṁ bhavissatīti yaṁ mayaṁ etarahi paṭipādeyyāmā’ti vadesi; ‘atthi pana, bho ānanda, ekabhikkhupi saṅghena sammato, sambahulehi therehi bhikkhūhi ṭhapito—ayaṁ no bhagavato accayena paṭisaraṇaṁ bhavissatīti yaṁ tumhe etarahi paṭipādeyyāthā’ti—iti puṭṭho samāno ‘natthi kho, brāhmaṇa, ekabhikkhupi saṅghena sammato, sambahulehi therehi bhikkhūhi ṭhapito—ayaṁ no bhagavato accayena paṭisaraṇaṁ bhavissatīti yaṁ mayaṁ etarahi paṭipādeyyāmā’ti vadesi; ‘atthi nu kho, bho ānanda, ekabhikkhupi yaṁ tumhe etarahi sakkarotha garuṁ karotha mānetha pūjetha; sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharathā’ti—iti puṭṭho samāno ‘natthi kho, brāhmaṇa, ekabhikkhupi yaṁ mayaṁ etarahi sakkaroma garuṁ karoma mānema pūjema; sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharāmā’ti vadesi. Imassa pana, bho ānanda, bhāsitassa kathaṁ attho daṭṭhabbo”ti?
“Worthy Ānanda, when asked whether there was even a single mendicant—either appointed by the worthy Gotama, or elected by the Saṅgha and appointed by several senior mendicants—who serves as your refuge after the Buddha passed away, to whom you now turn, you replied, ‘No, there is not.’ And when asked whether there is even a single mendicant who you honor, respect, revere, venerate, and rely on, you replied, ‘There is not.’ How should I see the meaning of this statement?”
“Thưa ngài Ānanda, có vị tỳ khưu nào được Tôn giả Gotama chỉ định rằng: ‘Sau khi ta diệt độ, vị này sẽ là chỗ nương tựa của các ngươi,’ mà hiện nay các ngài y chỉ theo không?” – Khi được hỏi như vậy, ngài đã trả lời rằng: “Thưa Bà-la-môn, không có một vị tỳ khưu nào được Thế Tôn, bậc Toàn Tri, Toàn Kiến, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác chỉ định rằng: ‘Sau khi ta diệt độ, vị này sẽ là chỗ nương tựa của các ngươi,’ mà hiện nay chúng tôi y chỉ theo.”; “Thưa ngài Ānanda, vậy có vị tỳ khưu nào được Tăng chúng đồng thuận, được nhiều vị trưởng lão tỳ khưu chỉ định rằng: ‘Sau khi Thế Tôn diệt độ, vị này sẽ là chỗ nương tựa của chúng ta,’ mà hiện nay các ngài y chỉ theo không?” – Khi được hỏi như vậy, ngài đã trả lời rằng: “Thưa Bà-la-môn, không có một vị tỳ khưu nào được Tăng chúng đồng thuận, được nhiều vị trưởng lão tỳ khưu chỉ định rằng: ‘Sau khi Thế Tôn diệt độ, vị này sẽ là chỗ nương tựa của chúng ta,’ mà hiện nay chúng tôi y chỉ theo.”; “Thưa ngài Ānanda, vậy có vị tỳ khưu nào mà hiện nay các ngài tôn kính, trọng vọng, quý mến, cúng dường; và sau khi đã tôn kính, trọng vọng, các ngài nương tựa vị ấy mà sống không?” – Khi được hỏi như vậy, ngài đã trả lời rằng: “Thưa Bà-la-môn, không có một vị tỳ khưu nào mà hiện nay chúng tôi tôn kính, trọng vọng, quý mến, cúng dường; và sau khi đã tôn kính, trọng vọng, chúng tôi nương tựa vị ấy mà sống.” Thưa ngài Ānanda, vậy ý nghĩa của lời nói này nên được hiểu như thế nào?”
“Atthi kho, brāhmaṇa, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena dasa pasādanīyā dhammā akkhātā. Yasmiṁ no ime dhammā saṁvijjanti taṁ mayaṁ etarahi sakkaroma garuṁ karoma mānema pūjema; sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharāma. Katame dasa?
“There are ten inspiring things explained by the Blessed One, who knows and sees, the perfected one, the fully awakened Buddha. We honor anyone in whom these things are found. What ten?
82. “Thưa Bà-la-môn, có mười pháp đáng kính tín đã được Thế Tôn, bậc Toàn Tri, Toàn Kiến, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác tuyên thuyết. Vị nào mà ở nơi vị ấy có sự hiện hữu của các pháp này, thì hiện nay chúng tôi tôn kính, trọng vọng, quý mến, cúng dường vị ấy; sau khi đã tôn kính, trọng vọng, chúng tôi nương tựa vị ấy mà sống. Mười pháp ấy là những gì?
Idha, brāhmaṇa, bhikkhu sīlavā hoti, pātimokkhasaṁvarasaṁvuto viharati ācāragocarasampanno, aṇumattesu vajjesu bhayadassāvī, samādāya sikkhati sikkhāpadesu.
It’s when a mendicant is ethical, restrained in the monastic code, conducting themselves well and resorting for alms in suitable places. Seeing danger in the slightest fault, they keep the rules they’ve undertaken.
“Này Bà-la-môn, ở đây, vị tỳ khưu là người có giới hạnh, sống được phòng hộ bởi sự thu thúc của giới bổn Pātimokkha, có đầy đủ oai nghi và nơi hành xứ, thấy sự nguy hiểm trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và tu học trong các học giới.
Bahussuto hoti sutadharo sutasannicayo. Ye te dhammā ādikalyāṇā, majjhekalyāṇā, pariyosānakalyāṇā, sātthaṁ, sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ abhivadanti tathārūpāssa dhammā bahussutā honti dhātā vacasā paricitā manasānupekkhitā diṭṭhiyā suppaṭividdhā.
They’re very learned, remembering and keeping what they’ve learned. These teachings are good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased, describing a spiritual practice that’s entirely full and pure. They are very learned in such teachings, remembering them, rehearsing them, mentally scrutinizing them, and penetrating them theoretically.
“Vị ấy là người đa văn, ghi nhớ những điều đã nghe, tích lũy những điều đã nghe. Những pháp nào toàn thiện ở phần đầu, toàn thiện ở phần giữa, toàn thiện ở phần cuối, có đầy đủ ý nghĩa và văn cú, trình bày về phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và trong sạch, những pháp như vậy đã được vị ấy nghe nhiều, ghi nhớ, thực hành thuần thục bằng lời, quán xét bằng ý, và khéo thông đạt bằng trí tuệ.
Santuṭṭho hoti cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārehi.
They’re content with robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick.
“Vị ấy là người biết đủ với y phục, vật thực, chỗ ở, và dược phẩm trị bệnh.
Catunnaṁ jhānānaṁ ābhicetasikānaṁ diṭṭhadhammasukhavihārānaṁ nikāmalābhī hoti akicchalābhī akasiralābhī.
They get the four absorptions—blissful meditations in this life that belong to the higher mind—when they want, without trouble or difficulty.
“Vị ấy là người đạt được bốn thiền thuộc về tăng thượng tâm, là những pháp hiện tại lạc trú, một cách không khó khăn, không mệt nhọc, theo như ý muốn.
Anekavihitaṁ iddhividhaṁ paccanubhoti—ekopi hutvā bahudhā hoti, bahudhāpi hutvā eko hoti; āvibhāvaṁ tirobhāvaṁ; tirokuṭṭaṁ tiropākāraṁ tiropabbataṁ asajjamāno gacchati, seyyathāpi ākāse; pathaviyāpi ummujjanimujjaṁ karoti, seyyathāpi udake; udakepi abhijjamāne gacchati, seyyathāpi pathaviyaṁ; ākāsepi pallaṅkena kamati, seyyathāpi pakkhī sakuṇo; imepi candimasūriye evaṁmahiddhike evaṁmahānubhāve pāṇinā parimasati parimajjati, yāva brahmalokāpi kāyena vasaṁ vatteti.
They wield the many kinds of psychic power: multiplying themselves and becoming one again; materializing and dematerializing; going unobstructed through a wall, a rampart, or a mountain as if through space; diving in and out of the earth as if it were water; walking on water as if it were earth; flying cross-legged through the sky like a bird; touching and stroking with the hand the sun and moon, so mighty and powerful. They control the body as far as the realm of divinity.
“Vị ấy chứng nghiệm được các loại thần thông khác nhau: một thân hiện thành nhiều thân, nhiều thân hiện thành một thân; hiện hình, biến hình; đi xuyên qua tường, qua vách, qua núi không bị trở ngại, như đi vào hư không; độn thổ, trồi lên khỏi đất như ở trong nước; đi trên nước không chìm, như đi trên đất liền; ngồi kiết già đi trên hư không như con chim có cánh; với bàn tay, vị ấy chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại thần thông, đại uy lực như vậy; và có thể dùng thân để tác động đến tận cõi Phạm thiên.
Dibbāya sotadhātuyā visuddhāya atikkantamānusikāya ubho sadde suṇāti—dibbe ca mānuse ca, ye dūre santike ca.
With clairaudience that is purified and superhuman, they hear both kinds of sounds, human and heavenly, whether near or far.
“Với thiên nhĩ thông thanh tịnh, siêu nhân, vị ấy nghe được hai loại âm thanh, của chư thiên và của loài người, dù ở xa hay ở gần.
Parasattānaṁ parapuggalānaṁ cetasā ceto paricca pajānāti. Sarāgaṁ vā cittaṁ ‘sarāgaṁ cittan’ti pajānāti, vītarāgaṁ vā cittaṁ ‘vītarāgaṁ cittan’ti pajānāti, sadosaṁ vā cittaṁ ‘sadosaṁ cittan’ti pajānāti, vītadosaṁ vā cittaṁ ‘vītadosaṁ cittan’ti pajānāti, samohaṁ vā cittaṁ ‘samohaṁ cittan’ti pajānāti, vītamohaṁ vā cittaṁ ‘vītamohaṁ cittan’ti pajānāti, saṅkhittaṁ vā cittaṁ ‘saṅkhittaṁ cittan’ti pajānāti, vikkhittaṁ vā cittaṁ ‘vikkhittaṁ cittan’ti pajānāti, mahaggataṁ vā cittaṁ ‘mahaggataṁ cittan’ti pajānāti, amahaggataṁ vā cittaṁ ‘amahaggataṁ cittan’ti pajānāti, sauttaraṁ vā cittaṁ ‘sauttaraṁ cittan’ti pajānāti, anuttaraṁ vā cittaṁ ‘anuttaraṁ cittan’ti pajānāti, samāhitaṁ vā cittaṁ ‘samāhitaṁ cittan’ti pajānāti, asamāhitaṁ vā cittaṁ ‘asamāhitaṁ cittan’ti pajānāti, vimuttaṁ vā cittaṁ ‘vimuttaṁ cittan’ti pajānāti, avimuttaṁ vā cittaṁ ‘avimuttaṁ cittan’ti pajānāti.
They understand the minds of other beings and individuals, having encompassed them with their own mind. They understand mind with greed as ‘mind with greed’, and mind without greed as ‘mind without greed’. They understand mind with hate … mind without hate … mind with delusion … mind without delusion … constricted mind … scattered mind … expansive mind … unexpansive mind … mind that is not supreme … mind that is supreme … mind immersed in samādhi … mind not immersed in samādhi … freed mind … They understand unfreed mind as ‘unfreed mind’.
“Vị ấy biết rõ tâm của các chúng sanh khác, của các người khác, bằng tâm của mình. Vị ấy biết rõ tâm có tham là ‘tâm có tham’; tâm không tham là ‘tâm không tham’; tâm có sân là ‘tâm có sân’; tâm không sân là ‘tâm không sân’; tâm có si là ‘tâm có si’; tâm không si là ‘tâm không si’; tâm thu nhiếp là ‘tâm thu nhiếp’; tâm tán loạn là ‘tâm tán loạn’; tâm quảng đại là ‘tâm quảng đại’; tâm không quảng đại là ‘tâm không quảng đại’; tâm hữu thượng là ‘tâm hữu thượng’; tâm vô thượng là ‘tâm vô thượng’; tâm có định là ‘tâm có định’; tâm không có định là ‘tâm không có định’; tâm giải thoát là ‘tâm giải thoát’; và tâm không giải thoát là ‘tâm không giải thoát’.
Anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati, seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ dvepi jātiyo tissopi jātiyo catassopi jātiyo pañcapi jātiyo dasapi jātiyo vīsampi jātiyo tiṁsampi jātiyo cattārīsampi jātiyo paññāsampi jātiyo jātisatampi jātisahassampi jātisatasahassampi anekepi saṁvaṭṭakappe anekepi vivaṭṭakappe anekepi saṁvaṭṭavivaṭṭakappe: ‘amutrāsiṁ evaṁnāmo evaṅgotto evaṁvaṇṇo evamāhāro evaṁsukhadukkhappaṭisaṁvedī evamāyupariyanto, so tato cuto amutra udapādiṁ; tatrāpāsiṁ evaṁnāmo evaṅgotto evaṁvaṇṇo evamāhāro evaṁsukhadukkhappaṭisaṁvedī evamāyupariyanto, so tato cuto idhūpapanno’ti. Iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati.
They recollect many kinds of past lives. That is: one, two, three, four, five, ten, twenty, thirty, forty, fifty, a hundred, a thousand, a hundred thousand rebirths; many eons of the world contracting, many eons of the world expanding, many eons of the world contracting and expanding. They remember: ‘There, I was named this, my clan was that, I looked like this, and that was my food. This was how I felt pleasure and pain, and that was how my life ended. When I passed away from that place I was reborn somewhere else. There, too, I was named this, my clan was that, I looked like this, and that was my food. This was how I felt pleasure and pain, and that was how my life ended. When I passed away from that place I was reborn here.’ And so they recollect their many kinds of past lives, with features and details.
‘Vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ, cụ thể là – một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều kiếp hoại, nhiều kiếp thành, nhiều kiếp thành hoại – ‘Ở nơi kia, ta đã có tên như thế này, dòng họ như thế này, dung sắc như thế này, thức ăn như thế này, đã trải qua khổ lạc như thế này, tuổi thọ có giới hạn như thế này. Ta, sau khi chết từ nơi ấy, đã sanh lại ở nơi kia. Ở nơi đó, ta cũng đã có tên như thế này, dòng họ như thế này, dung sắc như thế này, thức ăn như thế này, đã trải qua khổ lạc như thế này, tuổi thọ có giới hạn như thế này. Ta, sau khi chết từ nơi ấy, đã sanh lại ở đây’. Như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ với các khía cạnh và các chi tiết.
Dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe, sugate duggate yathākammūpage satte pajānāti.
With clairvoyance that is purified and superhuman, they see sentient beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in a good place or a bad place. They understand how sentient beings pass on according to their deeds.
‘Với thiên nhãn thanh tịnh, siêu việt mắt người, vị ấy thấy các chúng sanh đang chết, đang sanh, hạ liệt, cao sang, xinh đẹp, xấu xí, đi đến thiện thú, đi đến ác thú, và biết rõ chúng sanh tùy theo nghiệp của họ.
Āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati.
They realize the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom. And they live having realized it with their own insight in this very life due to the ending of defilements.
‘Do sự đoạn tận các lậu hoặc, vị ấy tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú trong tâm giải thoát, tuệ giải thoát không còn lậu hoặc, ngay trong hiện tại.
Ime kho, brāhmaṇa, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena dasa pasādanīyā dhammā akkhātā. Yasmiṁ no ime dhammā saṁvijjanti taṁ mayaṁ etarahi sakkaroma garuṁ karoma mānema pūjema; sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharāmā”ti.
These are the ten inspiring things explained by the Blessed One, who knows and sees, the perfected one, the fully awakened Buddha. We honor anyone in whom these things are found, and rely on them.”
‘Này Bà-la-môn, mười pháp làm phát sanh tịnh tín này đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, bậc Kiến Giả, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác ấy tuyên thuyết. Vị nào mà chúng tôi thấy có những pháp này, vị ấy được chúng tôi hiện nay tôn kính, trọng vọng, quý mến, cúng dường; sau khi tôn kính, trọng vọng, chúng tôi nương tựa mà sống’.
Evaṁ vutte, vassakāro brāhmaṇo magadhamahāmatto upanandaṁ senāpatiṁ āmantesi: “Taṁ kiṁ maññati bhavaṁ senāpati yadime bhonto sakkātabbaṁ sakkaronti, garuṁ kātabbaṁ garuṁ karonti, mānetabbaṁ mānenti, pūjetabbaṁ pūjenti”?
“Tagghime bhonto sakkātabbaṁ sakkaronti, garuṁ kātabbaṁ garuṁ karonti, mānetabbaṁ mānenti, pūjetabbaṁ pūjenti. Imañca hi te bhonto na sakkareyyuṁ na garuṁ kareyyuṁ na māneyyuṁ na pūjeyyuṁ; atha kiñcarahi te bhonto sakkareyyuṁ garuṁ kareyyuṁ māneyyuṁ pūjeyyuṁ, sakkatvā garuṁ katvā mānetvā pūjetvā upanissāya vihareyyun”ti?
Atha kho vassakāro brāhmaṇo magadhamahāmatto āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca: “kahaṁ pana bhavaṁ ānando etarahi viharatī”ti?
“Veḷuvane khohaṁ, brāhmaṇa, etarahi viharāmī”ti.
“Kacci pana, bho ānanda, veḷuvanaṁ ramaṇīyañceva appasaddañca appanigghosañca vijanavātaṁ manussarāhasseyyakaṁ paṭisallānasāruppan”ti?
“Taggha, brāhmaṇa, veḷuvanaṁ ramaṇīyañceva appasaddañca appanigghosañca vijanavātaṁ manussarāhasseyyakaṁ paṭisallānasāruppaṁ, yathā taṁ tumhādisehi rakkhakehi gopakehī”ti.
“Taggha, bho ānanda, veḷuvanaṁ ramaṇīyañceva appasaddañca appanigghosañca vijanavātaṁ manussarāhasseyyakaṁ paṭisallānasāruppaṁ, yathā taṁ bhavantehi jhāyīhi jhānasīlīhi. Jhāyino ceva bhavanto jhānasīlino ca.
When he had spoken, Vassakāra addressed General Upananda, “What do you think, general? Do these venerables honor, respect, revere, and venerate those who are worthy?”
“Indeed they do. For if these venerables were not to honor, respect, revere, and venerate them, who then would they honor?”
Then Vassakāra said to Ānanda, “Where are you staying at present?”
“In the Bamboo Grove, brahmin.”
“I hope the Bamboo Grove is delightful, quiet and still, far from the madding crowd, remote from human settlements, and fit for retreat?”
“Indeed it is, brahmin. And it is like that owing to such protectors and guardians as yourself.”
“Surely, worthy Ānanda, it is owing to the good fellows who meditate, making a habit of meditating. For the good fellows do in fact meditate and make a habit of meditating.
83. Khi được nói như vậy, Bà-la-môn Vassakāra, đại thần xứ Ma-kiệt-đà, đã nói với tướng quân Upananda: ‘Tôn giả tướng quân nghĩ thế nào, nếu các vị tôn giả này tôn kính người đáng tôn kính, trọng vọng người đáng trọng vọng, quý mến người đáng quý mến, cúng dường người đáng cúng dường?’ ‘Quả thật, các vị tôn giả này tôn kính người đáng tôn kính, trọng vọng người đáng trọng vọng, quý mến người đáng quý mến, cúng dường người đáng cúng dường. Vì nếu các vị tôn giả ấy không tôn kính, không trọng vọng, không quý mến, không cúng dường vị này, thì còn ai khác để các vị tôn giả ấy tôn kính, trọng vọng, quý mến, cúng dường, và sau khi tôn kính, trọng vọng, quý mến, cúng dường, lại nương tựa mà sống?’ Bấy giờ, Bà-la-môn Vassakāra, đại thần xứ Ma-kiệt-đà, đã nói với Tôn giả Ānanda điều này: ‘Hiện nay, Tôn giả Ānanda đang ở đâu?’ ‘Này Bà-la-môn, hiện nay tôi đang ở tại Trúc Lâm.’ ‘Thưa Tôn giả Ānanda, Trúc Lâm có khả ái, ít tiếng động, ít ồn ào, vắng gió người, kín đáo, thích hợp cho việc độc cư không?’ ‘Quả thật, này Bà-la-môn, Trúc Lâm khả ái, ít tiếng động, ít ồn ào, vắng gió người, kín đáo, thích hợp cho việc độc cư, đúng như nơi được những người bảo vệ, những người canh giữ như ngài trông coi.’ ‘Quả thật, thưa Tôn giả Ānanda, Trúc Lâm khả ái, ít tiếng động, ít ồn ào, vắng gió người, kín đáo, thích hợp cho việc độc cư, đúng như nơi dành cho các vị tôn giả là những người hành thiền, có nếp sống thiền định. Và các vị tôn giả quả là những người hành thiền và có nếp sống thiền định.’
Ekamidāhaṁ, bho ānanda, samayaṁ so bhavaṁ gotamo vesāliyaṁ viharati mahāvane kūṭāgārasālāyaṁ. Atha khvāhaṁ, bho ānanda, yena mahāvanaṁ kūṭāgārasālā yena so bhavaṁ gotamo tenupasaṅkamiṁ. Tatra ca pana so bhavaṁ gotamo anekapariyāyena jhānakathaṁ kathesi. Jhāyī ceva so bhavaṁ gotamo ahosi jhānasīlī ca. Sabbañca pana so bhavaṁ gotamo jhānaṁ vaṇṇesī”ti.
This one time, worthy Ānanda, worthy Gotama was staying near Vesālī, at the Great Wood, in the hall with the peaked roof. So I went there to see him. And there he spoke about meditation in many ways. He meditated, and made a habit of meditating. And he praised all kinds of meditation.”
‘Thưa Tôn giả Ānanda, có một thời, Tôn giả Gotama ấy đang ở tại Vesālī, trong Đại Lâm, tại giảng đường có mái nhọn. Bấy giờ, thưa Tôn giả Ānanda, tôi đã đi đến Đại Lâm, đến giảng đường có mái nhọn, đến chỗ Tôn giả Gotama. Ở đó, Tôn giả Gotama đã thuyết giảng về thiền định bằng nhiều cách. Tôn giả Gotama ấy quả là người hành thiền và có nếp sống thiền định. Nhưng có phải Tôn giả Gotama ấy đã tán thán tất cả mọi loại thiền định không?’
“Na ca kho, brāhmaṇa, so bhagavā sabbaṁ jhānaṁ vaṇṇesi, napi so bhagavā sabbaṁ jhānaṁ na vaṇṇesīti. Kathaṁ rūpañca, brāhmaṇa, so bhagavā jhānaṁ na vaṇṇesi? Idha, brāhmaṇa, ekacco kāmarāgapariyuṭṭhitena cetasā viharati kāmarāgaparetena, uppannassa ca kāmarāgassa nissaraṇaṁ yathābhūtaṁ nappajānāti; so kāmarāgaṁyeva antaraṁ karitvā jhāyati pajjhāyati nijjhāyati apajjhāyati. Byāpādapariyuṭṭhitena cetasā viharati byāpādaparetena, uppannassa ca byāpādassa nissaraṇaṁ yathābhūtaṁ nappajānāti; so byāpādaṁyeva antaraṁ karitvā jhāyati pajjhāyati nijjhāyati apajjhāyati. Thinamiddhapariyuṭṭhitena cetasā viharati thinamiddhaparetena, uppannassa ca thinamiddhassa nissaraṇaṁ yathābhūtaṁ nappajānāti; so thinamiddhaṁyeva antaraṁ karitvā jhāyati pajjhāyati nijjhāyati apajjhāyati. Uddhaccakukkuccapariyuṭṭhitena cetasā viharati uddhaccakukkuccaparetena, uppannassa ca uddhaccakukkuccassa nissaraṇaṁ yathābhūtaṁ nappajānāti; so uddhaccakukkuccaṁyeva antaraṁ karitvā jhāyati pajjhāyati nijjhāyati apajjhāyati. Vicikicchāpariyuṭṭhitena cetasā viharati vicikicchāparetena, uppannāya ca vicikicchāya nissaraṇaṁ yathābhūtaṁ nappajānāti; so vicikicchaṁyeva antaraṁ karitvā jhāyati pajjhāyati nijjhāyati apajjhāyati. Evarūpaṁ kho, brāhmaṇa, so bhagavā jhānaṁ na vaṇṇesi.
“No, brahmin, the Buddha did not praise all kinds of meditation, nor did he dispraise all kinds of meditation. And what kind of meditation did he not praise? It’s when someone’s heart is overcome and mired in sensual desire, and they don’t truly understand the escape from sensual desire that has arisen. Hiding sensual desire within, they meditate and concentrate and contemplate and ruminate. Their heart is overcome and mired in ill will … dullness and drowsiness … restlessness and remorse … doubt, and they don’t truly know and see the escape from doubt that has arisen. Hiding doubt within, they meditate and concentrate and contemplate and ruminate. The Buddha didn’t praise this kind of meditation.
84. “Này Bà la môn, thật vậy, Thế Tôn ấy không tán thán tất cả các loại thiền, và Thế Tôn ấy cũng không phải là không tán thán tất cả các loại thiền. Này Bà la môn, Thế Tôn ấy không tán thán loại thiền nào? Này Bà la môn, ở đây, có người sống với tâm bị tham dục xâm chiếm, bị tham dục áp đảo, và không biết như thật sự xuất ly khỏi tham dục đã sanh khởi; vị ấy lấy chính tham dục làm đối tượng bên trong mà thiền quán, trầm tư, chiêm nghiệm, suy xét. (Vị ấy) sống với tâm bị sân hận xâm chiếm, bị sân hận áp đảo, và không biết như thật sự xuất ly khỏi sân hận đã sanh khởi; vị ấy lấy chính sân hận làm đối tượng bên trong mà thiền quán, trầm tư, chiêm nghiệm, suy xét. (Vị ấy) sống với tâm bị hôn trầm thụy miên xâm chiếm, bị hôn trầm thụy miên áp đảo, và không biết như thật sự xuất ly khỏi hôn trầm thụy miên đã sanh khởi; vị ấy lấy chính hôn trầm thụy miên làm đối tượng bên trong mà thiền quán, trầm tư, chiêm nghiệm, suy xét. (Vị ấy) sống với tâm bị trạo cử hối quá xâm chiếm, bị trạo cử hối quá áp đảo, và không biết như thật sự xuất ly khỏi trạo cử hối quá đã sanh khởi; vị ấy lấy chính trạo cử hối quá làm đối tượng bên trong mà thiền quán, trầm tư, chiêm nghiệm, suy xét. (Vị ấy) sống với tâm bị hoài nghi xâm chiếm, bị hoài nghi áp đảo, và không biết như thật sự xuất ly khỏi hoài nghi đã sanh khởi; vị ấy lấy chính hoài nghi làm đối tượng bên trong mà thiền quán, trầm tư, chiêm nghiệm, suy xét. Này Bà la môn, thật vậy, Thế Tôn không tán thán loại thiền như vậy.”
Kathaṁ rūpañca, brāhmaṇa, so bhagavā jhānaṁ vaṇṇesi? Idha, brāhmaṇa, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ … tatiyaṁ jhānaṁ … catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Evarūpaṁ kho, brāhmaṇa, so bhagavā jhānaṁ vaṇṇesī”ti.
And what kind of meditation did he praise? It’s when a mendicant, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected. As the placing of the mind and keeping it connected are stilled, they enter and remain in the second absorption, which has the rapture and bliss born of immersion, with internal clarity and mind at one, without placing the mind and keeping it connected. And with the fading away of rapture, they enter and remain in the third absorption, where they meditate with equanimity, mindful and aware, experiencing for themselves the bliss of which the noble ones declare, ‘Equanimous and mindful, one meditates in bliss.’ With the giving up of pleasure and pain and the disappearance of former happiness and sadness, they enter and remain in the fourth absorption, without pleasure or pain, with pure equanimity and mindfulness. The Buddha praised this kind of meditation.”
“Này Bà la môn, Thế Tôn ấy tán thán loại thiền nào? Này Bà la môn, ở đây, vị tỳ khưu ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú Sơ thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Do diệt tầm và tứ, nội tĩnh nhất tâm, không tầm không tứ, chứng và trú Nhị thiền, một trạng thái hỷ lạc do định sanh... tam thiền... chứng và trú Tứ thiền. Này Bà la môn, thật vậy, Thế Tôn tán thán loại thiền như vậy.”
“Gārayhaṁ kira, bho ānanda, so bhavaṁ gotamo jhānaṁ garahi, pāsaṁsaṁ pasaṁsi. Handa ca dāni mayaṁ, bho ānanda, gacchāma; bahukiccā mayaṁ bahukaraṇīyā”ti.
“Yassadāni tvaṁ, brāhmaṇa, kālaṁ maññasī”ti.
Atha kho vassakāro brāhmaṇo magadhamahāmatto āyasmato ānandassa bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
“Well, worthy Ānanda, it seems that worthy Gotama criticized the kind of meditation that deserves criticism and praised that deserving of praise. Well, now, worthy Ānanda, I must go. I have many duties, and much to do.”
“Please, brahmin, go at your convenience.”
Then Vassakāra the brahmin, having approved and agreed with what Venerable Ānanda said, rose from his seat and left.
“Thưa ngài Ānanda, Tôn giả Gotama đã khiển trách loại thiền đáng khiển trách, và đã tán thán loại thiền đáng tán thán. Thưa ngài Ānanda, bây giờ chúng tôi xin đi; chúng tôi có nhiều công việc, nhiều phận sự phải làm.” – “Này Bà la môn, bây giờ ngài hãy làm theo thời mà ngài nghĩ là thích hợp.” Bấy giờ, Bà la môn Vassakāra, đại thần xứ Magadha, sau khi hoan hỷ, tín thọ lời nói của Tôn giả Ānanda, đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
Atha kho gopakamoggallāno brāhmaṇo acirapakkante vassakāre brāhmaṇe magadhamahāmatte āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca: “yaṁ no mayaṁ bhavantaṁ ānandaṁ apucchimhā taṁ no bhavaṁ ānando na byākāsī”ti.
“Nanu te, brāhmaṇa, avocumhā: ‘natthi kho, brāhmaṇa, ekabhikkhupi tehi dhammehi sabbenasabbaṁ sabbathāsabbaṁ samannāgato yehi dhammehi samannāgato so bhagavā ahosi arahaṁ sammāsambuddho. So hi, brāhmaṇa, bhagavā anuppannassa maggassa uppādetā, asañjātassa maggassa sañjanetā, anakkhātassa maggassa akkhātā, maggaññū, maggavidū, maggakovido. Maggānugā ca pana etarahi sāvakā viharanti pacchā samannāgatā’”ti.
Soon after he had left, Moggallāna the Guardian said to Ānanda, “Worthy Ānanda, you still haven’t answered my question.”
“But brahmin, didn’t I say: ‘There is no single mendicant who has all the same qualities in each and every way as possessed by the worthy Gotama, the perfected one, the fully awakened Buddha. For the Blessed One gave rise to the unarisen path, gave birth to the unborn path, and explained the unexplained path. He is the knower of the path, the discoverer of the path, the expert on the path. And now the disciples live following the path; they acquire it later.’”
Bấy giờ, Bà la môn Gopaka Moggallāna, khi Bà la môn Vassakāra, đại thần xứ Magadha, vừa ra đi không bao lâu, đã nói với Tôn giả Ānanda điều này: “Điều mà chúng tôi đã hỏi Tôn giả Ānanda, Tôn giả Ānanda đã không giải đáp cho chúng tôi.” – “Này Bà la môn, chẳng phải tôi đã nói với ông rồi sao: ‘Này Bà la môn, không có một tỳ khưu nào thành tựu một cách trọn vẹn, một cách toàn diện tất cả các pháp ấy, những pháp mà Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã thành tựu. Này Bà la môn, vì rằng Thế Tôn là bậc làm cho con đường chưa sanh được sanh khởi, làm cho con đường chưa hiện khởi được hiện khởi, là bậc tuyên thuyết con đường chưa được tuyên thuyết, là bậc biết đạo, bậc hiểu đạo, bậc thiện xảo về đạo. Còn các vị đệ tử ngày nay là những người đi theo con đường, và thành tựu (các pháp ấy) về sau.’”
Gopakamoggallānasuttaṁ niṭṭhitaṁ aṭṭhamaṁ.
Kinh Gopaka Moggallāna, thứ tám, chấm dứt.