- Majjhima Nikāya 107
Gaṇakamoggallānasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Gaṇakamoggallānasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi, Pubbārāma, nơi lâu đài của Migaramatu (Ðông Viên Lộc Mẫu Giảng đường). Rồi Bà-la-môn Ganaka Moggallāna đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến nói lên những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Ganaka Moggallāna bạch Thế Tôn
SC 2—Ví như, thưa Tôn giả Gotama, tại lâu đài Migaramatu này, có thể thấy được một học tập tuần tự, một công trình tuần tự, một đạo lộ tuần tự, tức là những tầng cấp của lầu thượng cuối cùng; thưa Tôn giả Gotama, cũng vậy, đối với những vị Bà-la-môn này, được thấy một học tập tuần tự, một công trình tuần tự, một đạo lộ tuần tự, tức là sự học hỏi (các tập Veda). Thưa Tôn giả Gotama, cũng vậy, đối với những vị bắn cung này, được thấy một học tập tuần tự, một công trình tuần tự, một đạo lộ tuần tự, tức là nghệ thuật bắn cung. Cũng vậy, thưa Tôn giả Gotama, đối với chúng con là những người toán số, sống nhờ nghề toán số, cũng được thấy một học tập tuần tự, một công trình tuần tự, một đạo lộ tuần tự, tức là toán số. Thưa Tôn giả Gotama, vì rằng khi có được người đệ tử, trước hết chúng con bắt người ấy đếm như sau: “Một, một lần, hai, hai lần, ba, ba lần, bốn, bốn lần, năm, năm lần, sáu, sáu lần, bảy, bảy lần, tám, tám lần, chín, chín lần, mười, mười lần”. Và thưa Tôn giả Gotama, chúng con bắt đếm tới một trăm. Có thể trình bày chăng, thưa Tôn giả Gotama, trong Pháp và Luật này, cũng có một tuần tự học tập, một tuần tự công trình, một tuần tự đạo lộ như vậy?
SC 3—Có thể trình bày, này Bà-la-môn, trong Pháp và Luật này, có một tuần tự học tập, có một tuần tự công trình, có một tuần tự đạo lộ. Ví như, này Bà-la-môn, một người huấn luyện ngựa thiện xảo, sau khi được một con ngựa hiền thiện, trước tiên luyện tập cho nó quen mang dây cương, rồi tập luyện cho nó quen các hạnh khác; cũng vậy, này Bà-la-môn, Như Lai khi được một người đáng được điều phục, trước tiên huấn luyện người ấy như sau: “Hãy đến Tỷ-kheo, hãy giữ giới hạnh, hãy sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ trì và học tập các học giới”.
SC 4Này Bà-la-môn, khi vị Tỷ-kheo giữ giới hạnh, chế ngự với sự chế ngự của giới bổn, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ trì và học tập các học giới, Như Lai mới huấn luyện vị ấy thêm như sau: “Hãy đến Tỷ-kheo, hãy hộ trì các căn, khi mắt thấy sắc chớ có nắm giữ tướng chung, chớ có nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì nhãn căn không được chế ngự khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, vị Tỷ-kheo tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng … mũi ngửi hương … lưỡi nếm vị. Thân cảm xúc … ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các pháp ác bất thiện khởi lên, Tỷ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn”.
SC 5Này Bà-la-môn, sau khi Tỷ-kheo hộ trì các căn rồi, Như Lai mới huấn luyện vị ấy thêm như sau: “Hãy đến Tỷ-kheo, hãy tiết độ trong ăn uống, chơn chánh giác sát thọ dụng món ăn, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, chỉ để thân này được duy trì, được bảo dưỡng, khỏi bị gia hại, để chấp trì Phạm hạnh, nghĩ rằng: “Như vậy ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới; và ta sẽ không phạm lỗi lầm, sống được an ổn”.
SC 6Này Bà-la-môn, sau khi Tỷ-kheo tiết độ trong ăn uống rồi, Như Lai mới huấn luyện vị ấy thêm như sau: “Hãy đến Tỷ-kheo, hãy chú tâm cảnh giác! Ban ngày trong khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp; ban đêm trong canh đầu, trong khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp; ban đêm trong canh giữa, hãy nằm xuống phía hông bên phải, như dáng nằm con sư tử, chân gác trên chân với nhau, chánh niệm tỉnh giác, hướng niệm đến lúc ngồi dậy lại. Ban đêm trong canh cuối, khi đã thức dậy, trong khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp”.
SC 7Này, Bà-la-môn, sau khi vị Tỷ-kheo chú tâm tỉnh giác, Như Lai mới huấn luyện vị ấy thêm nữa như sau: “Hãy đến Tỷ-kheo, hãy thành tựu chánh niệm tỉnh giác, khi đi tới khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nuốt, đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác”.
SC 8Này Bà-la-môn, sau khi chánh niệm tỉnh giác rồi, Như Lai mới huấn luyện vị ấy thêm như sau: “Hãy đến Tỷ-kheo, hãy lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch như rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm”.
SC 9Vị ấy lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch, như rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm. Sau khi đi khất thực về và ăn xong, vị ấy ngồi kiết-già, lưng thẳng tại chỗ nói trên và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm hết tham ái. Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên; từ bỏ trạo cử hối tiếc, vị ấy sống không trạo cử, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử hối tiếc; từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với các thiện pháp.
SC 10Khi đoạn trừ năm triền cái ấy, những pháp làm ô nhiễm tâm, làm trí tuệ yếu ớt, vị ấy ly dục, ly bất thiện pháp chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm với tứ. Vị ấy diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Vị ấy ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.
SC 11Này Bà-la-môn, đối với những Tỷ-kheo nào là bậc hữu học, tâm chưa thành tựu, đang sống cần cầu sự vô thượng an tịnh các triền ách, đó là sự giảng dạy của Ta như vậy đối với những vị ấy. Còn đối với những vị Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí giải thoát, những pháp ấy đưa đến sự hiện tại lạc trú và chánh niệm tỉnh giác.
SC 12Khi được nói vậy, Bà-la-môn Ganaka Moggallāna bạch Thế Tôn
SC 13—Các đệ tử của Sa-môn Gotama, khi được Sa-môn Gotama khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, có phải tất cả đều chứng được cứu cánh đích Niết-bàn hay chỉ có một số chứng được?
SC 14—Này Bà-la-môn, một số đệ tử của Ta, khi được khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, chứng được cứu cánh đích Niết-bàn, một số không chứng được.
SC 15—Thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì trong khi có mặt Niết-bàn, trong khi có mặt con đường đưa đến Niết-bàn, trong khi có mặt Tôn giả Gotama là bậc chỉ đường, tuy vậy các đệ tử Tôn giả Gotama, được Tôn giả Gotama khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, một số chứng được cứu cánh đích Niết-bàn, một số không chứng được?
SC 16—Này Bà-la-môn, ở đây Ta sẽ hỏi Ông. Nếu Ông kham nhẫn, hãy trả lời cho Ta. Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Ông có giỏi về con đường đi đến Rājagaha (Vương Xá)?
SC 17—Thưa Tôn giả, con có giỏi về con đường đi đến Rājagaha.
SC 18—Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, có một người, muốn đi đến Rājagaha, người này đến Ông và nói như sau: “Thưa Tôn giả, tôi muốn đi đến Rājagaha. Hãy chỉ cho tôi con đường đi đến Rājagaha”. Ông nói với người ấy như sau: “Ðược, này Bạn, đây là con đường đưa đến Rājagaha. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi trong một thời gian, Bạn sẽ thấy một làng tên như thế này. Hãy đi theo trong một thời gian. Sau khi đi trong một thời gian, Bạn sẽ thấy một thị trấn tên như thế này. Hãy đi theo trong một thời gian. Sau khi đi trong một thời gian, Bạn sẽ thấy Rājagaha với những khu vườn mỹ diệu, với những khu rừng mỹ diệu, với những vùng đất mỹ diệu, với những hồ ao mỹ diệu”. Dầu cho người ấy được khuyến giáo như vậy, được giảng dạy như vậy, nhưng lại lấy con đường sai lạc, đi về hướng Tây. Rồi một người thứ hai đến, muốn đi đến Rājagaha. Người này đến Ông và hỏi như sau: “Thưa Tôn giả, tôi muốn đi đến Rājagaha, mong Tôn giả chỉ con đường ấy cho tôi”. Rồi Ông nói với người ấy như sau: “Ðược, này Bạn, đây là đường đi đến Rājagaha. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi một thời gian, Bạn sẽ thấy một làng có tên như thế này. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi một thời gian, Bạn sẽ thấy một thị trấn có tên như thế này. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi theo con đường ấy trong một thời gian, Bạn sẽ thấy Rājagaha với những khu vườn mỹ diệu, với những khu rừng mỹ diệu, với những vùng đất mỹ diệu, với những ao hồ mỹ diệu”. Người ấy được Ông khuyến giáo như vậy, giảng như vậy, đi đến Rājagaha một cách an toàn.
SC 19Này Bà-la-môn, do nhân gì, do duyên gì, trong khi có mặt Rājagaha, trong khi có mặt con đường đưa đến Rājagaha, trong khi có mặt Ông là người chỉ đường, dầu cho Ông có khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, một người lấy con đường sai lạc, đi về hướng Tây, còn một người có thể đi đến Rājagaha một cách an toàn?
SC 20—Thưa Tôn giả Gotama, ở đây, con làm gì được? Con chỉ là người chỉ đường, thưa Tôn giả Gotama.
SC 21—Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi có mặt Niết-bàn, trong khi có mặt con đường đi đến Niết-bàn, và trong khi có mặt Ta là bậc chỉ đường. Nhưng các đệ tử của Ta, được Ta khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, một số chứng được cứu cánh đích Niết-bàn, một số không chứng được. Ở đây, này Bà-la-môn, Ta làm gì được? Như Lai chỉ là người chỉ đường.
SC 22Khi nghe nói vậy, Bà-la-môn Ganaka Moggalana bạch Thế Tôn
SC 23—Thưa Tôn giả Gotama, đối với những người không phải vì lòng tin, chỉ vì sinh kế, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, những người xảo trá, lường gạt, hư ngụy, mất thăng bằng, cao mạn, dao động, nói phô tạp nhạp, không hộ trì các căn, ăn uống không tiết độ, không chú tâm cảnh giác, thờ ơ với Sa-môn hạnh, không tôn kính học tập, sống quá đầy đủ, uể oải, đi đầu trong thối thất, từ bỏ gánh nặng viễn ly, biếng nhác, tinh cần thấp kém, thất niệm, không tỉnh giác, không định tâm, tâm tán loạn, liệt tuệ, câm ngọng; Tôn giả Gotama không thể sống với những người như vậy.
SC 24Còn những Thiện gia nam tử vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, không xảo trá, không lường gạt, không hư ngụy, không mất thăng bằng, không cao mạn, không dao động, không nói phô tạp nhạp, hộ trì các căn, ăn uống có tiết độ, chú tâm tỉnh giác, không thờ ơ với Sa-môn hạnh, tôn kính học tập, sống không quá đầy đủ, không uể oải, từ bỏ thối thất, đi đầu trong viễn ly, tinh cần, tinh tấn, chánh niệm, an trú, tỉnh giác, định tĩnh, nhứt tâm, có trí tuệ, không câm ngọng; Tôn giả Gotama sống hòa hợp với những vị ấy.
SC 25Ví như Tôn giả Gotama, trong các loại căn hương, hắc chiên đàn hương được gọi là tối thượng; trong các loại lõi cây hương, xích chiên đàn hương được gọi là tối thượng; trong các loại hoa hương, vũ quý hương (jasmine) được gọi là tối thượng. Cũng vậy là lời khuyến giáo của Tôn giả Gotama được xem là cao nhất trong những lời khuyến giáo hiện nay.
SC 26Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho những người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và chúng Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (11/99) (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). 11–10–2003 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
7. Kinh Gaṇaka Moggallāna
74. Tôi nghe như vầy – một thời, Thế Tôn trú tại Sāvatthī, ở Pubbārāma, trong lâu đài của mẹ Migāra. Bấy giờ, Bà-la-môn Gaṇaka Moggallāna đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, ông cùng Thế Tôn trao đổi lời chào hỏi thân mật. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi đáng ghi nhớ, ông ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Gaṇaka Moggallāna bạch với Thế Tôn lời này:
“Seyyathāpi, bho gotama, imassa migāramātupāsādassa dissati anupubbasikkhā anupubbakiriyā anupubbapaṭipadā yadidaṁ—yāva pacchimasopānakaḷevarā; imesampi hi, bho gotama, brāhmaṇānaṁ dissati anupubbasikkhā anupubbakiriyā anupubbapaṭipadā yadidaṁ—ajjhene; imesampi hi, bho gotama, issāsānaṁ dissati anupubbasikkhā anupubbakiriyā anupubbapaṭipadā yadidaṁ—issatthe. Amhākampi hi, bho gotama, gaṇakānaṁ gaṇanājīvānaṁ dissati anupubbasikkhā anupubbakiriyā anupubbapaṭipadā yadidaṁ—saṅkhāne. Mayañhi, bho gotama, antevāsiṁ labhitvā paṭhamaṁ evaṁ gaṇāpema: ‘ekaṁ ekakaṁ, dve dukā, tīṇi tikā, cattāri catukkā, pañca pañcakā, cha chakkā, satta sattakā, aṭṭha aṭṭhakā, nava navakā, dasa dasakā’ti; satampi mayaṁ, bho gotama, gaṇāpema, bhiyyopi gaṇāpema. Sakkā nu kho, bho gotama, imasmimpi dhammavinaye evameva anupubbasikkhā anupubbakiriyā anupubbapaṭipadā paññapetun”ti?
“Worthy Gotama, in this stilt longhouse we can see gradual training, gradual progress, and gradual practice down to the last step of the staircase. Among the brahmins we can see gradual training, gradual progress, and gradual practice in recitation. Among archers we can see gradual training, gradual progress, and gradual practice in archery. Among us accountants, who earn a living by accounting, we can see gradual training, gradual progress, and gradual practice in mathematics. For when we get an apprentice we first make them count: ‘One one, two twos, three threes, four fours, five fives, six sixes, seven sevens, eight eights, nine nines, ten tens.’ We even make them count up to a hundred. Is it possible to similarly describe a gradual training, gradual progress, and gradual practice in this teaching and training?”
“Thưa Tôn giả Gotama, ví như lâu đài của mẹ Migāra này, người ta thấy có sự học tập tuần tự, hành động tuần tự, tiến trình tuần tự, cho đến tận bậc thang cuối cùng. Thưa Tôn giả Gotama, cũng vậy, đối với các Bà-la-môn này, người ta thấy có sự học tập tuần tự, hành động tuần tự, tiến trình tuần tự, trong việc học tập các kinh điển. Thưa Tôn giả Gotama, cũng vậy, đối với các cung thủ này, người ta thấy có sự học tập tuần tự, hành động tuần tự, tiến trình tuần tự, trong thuật bắn cung. Thưa Tôn giả Gotama, đối với chúng tôi là những người kế toán, sống bằng nghề kế toán, người ta cũng thấy có sự học tập tuần tự, hành động tuần tự, tiến trình tuần tự, trong việc tính toán. Thưa Tôn giả Gotama, khi chúng tôi nhận một người đệ tử, trước hết chúng tôi dạy họ đếm như vầy: ‘một là một, hai là hai, ba là ba, bốn là bốn, năm là năm, sáu là sáu, bảy là bảy, tám là tám, chín là chín, mười là mười.’ Thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi dạy họ đếm đến một trăm, và còn đếm xa hơn nữa. Thưa Tôn giả Gotama, liệu có thể thiết lập một sự học tập tuần tự, hành động tuần tự, tiến trình tuần tự tương tự như vậy trong Pháp và Luật này không?”
“Sakkā, brāhmaṇa, imasmimpi dhammavinaye anupubbasikkhā anupubbakiriyā anupubbapaṭipadā paññapetuṁ. Seyyathāpi, brāhmaṇa, dakkho assadammako bhaddaṁ assājānīyaṁ labhitvā paṭhameneva mukhādhāne kāraṇaṁ kāreti, atha uttariṁ kāraṇaṁ kāreti; evameva kho, brāhmaṇa, tathāgato purisadammaṁ labhitvā paṭhamaṁ evaṁ vineti: ‘ehi tvaṁ, bhikkhu, sīlavā hohi, pātimokkhasaṁvarasaṁvuto viharāhi ācāragocarasampanno aṇumattesu vajjesu bhayadassāvī, samādāya sikkhassu sikkhāpadesū’ti.
“It is possible, brahmin. Suppose a deft horse trainer were to obtain a fine thoroughbred. First of all he’d make it get used to wearing the bit. In the same way, when the Realized One gets a person fit for training they first guide them like this: ‘Come, mendicant, be ethical and restrained in the monastic code, conducting yourself well and resorting for alms in suitable places. Seeing danger in the slightest fault, keep the rules you’ve undertaken.’
75. Này Bà la môn, trong Pháp và Luật này, có thể trình bày về sự tuần tự học tập, tuần tự hành động, tuần tự thực hành. Này Bà la môn, ví như một người luyện ngựa thiện xảo, sau khi nhận được một con ngựa thuần chủng tốt, trước tiên tập cho nó quen với việc đeo hàm thiếc, rồi sau đó mới tập cho nó những việc cao hơn. Cũng vậy, này Bà la môn, Như Lai sau khi nhận được một người cần được điều phục, trước tiên huấn luyện như vầy: ‘Này tỳ khưu, hãy đến đây, ngươi hãy là người có giới, hãy sống được thu thúc bởi sự thu thúc của giới bổn Pātimokkha, hãy đầy đủ oai nghi và hành xứ, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi lầm dù là nhỏ nhặt, hãy thọ trì và học tập trong các học giới’.
Yato kho, brāhmaṇa, bhikkhu sīlavā hoti, pātimokkhasaṁvarasaṁvuto viharati ācāragocarasampanno aṇumattesu vajjesu bhayadassāvī, samādāya sikkhati sikkhāpadesu, tamenaṁ tathāgato uttariṁ vineti: ‘ehi tvaṁ, bhikkhu, indriyesu guttadvāro hohi, cakkhunā rūpaṁ disvā mā nimittaggāhī hohi mānubyañjanaggāhī. Yatvādhikaraṇamenaṁ cakkhundriyaṁ asaṁvutaṁ viharantaṁ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṁ tassa saṁvarāya paṭipajjāhi; rakkhāhi cakkhundriyaṁ, cakkhundriye saṁvaraṁ āpajjāhi. Sotena saddaṁ sutvā …pe… ghānena gandhaṁ ghāyitvā …pe… jivhāya rasaṁ sāyitvā …pe… kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā …pe… manasā dhammaṁ viññāya mā nimittaggāhī hohi mānubyañjanaggāhī. Yatvādhikaraṇamenaṁ manindriyaṁ asaṁvutaṁ viharantaṁ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṁ tassa saṁvarāya paṭipajjāhi; rakkhāhi manindriyaṁ, manindriye saṁvaraṁ āpajjāhī’ti.
When they have ethical conduct, the Realized One guides them further: ‘Come, mendicant, guard your sense doors. When you see a sight with your eyes, don’t get caught up in the features and details. If the faculty of sight were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, practice restraint, protect the faculty of sight, and achieve its restraint. When you hear a sound with your ears … When you smell an odor with your nose … When you taste a flavor with your tongue … When you feel a touch with your body … When you know an idea with your mind, don’t get caught up in the features and details. If the faculty of mind were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, practice restraint, protect the faculty of mind, and achieve its restraint.’
Này Bà la môn, khi vị tỳ khưu là người có giới, sống được thu thúc bởi sự thu thúc của giới bổn Pātimokkha, đầy đủ oai nghi và hành xứ, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi lầm dù là nhỏ nhặt, thọ trì và học tập trong các học giới, Như Lai huấn luyện vị ấy cao hơn nữa: ‘Này tỳ khưu, hãy đến đây, ngươi hãy là người có các căn được phòng hộ. Sau khi thấy sắc bằng mắt, đừng nắm giữ tướng chung, đừng nắm giữ tướng riêng. Do nhân nào mà nếu sống không thu thúc nhãn căn, các pháp ác, bất thiện là tham và ưu sẽ xâm chiếm, hãy thực hành để thu thúc nhân ấy; hãy hộ trì nhãn căn, hãy đạt đến sự thu thúc trong nhãn căn. Sau khi nghe tiếng bằng tai... sau khi ngửi hương bằng mũi... sau khi nếm vị bằng lưỡi... sau khi cảm xúc bằng thân... sau khi biết pháp bằng ý, đừng nắm giữ tướng chung, đừng nắm giữ tướng riêng. Do nhân nào mà nếu sống không thu thúc ý căn, các pháp ác, bất thiện là tham và ưu sẽ xâm chiếm, hãy thực hành để thu thúc nhân ấy; hãy hộ trì ý căn, hãy đạt đến sự thu thúc trong ý căn’.
Yato kho, brāhmaṇa, bhikkhu indriyesu guttadvāro hoti, tamenaṁ tathāgato uttariṁ vineti: ‘ehi tvaṁ, bhikkhu, bhojane mattaññū hohi. Paṭisaṅkhā yoniso āhāraṁ āhāreyyāsi—neva davāya na madāya na maṇḍanāya na vibhūsanāya, yāvadeva imassa kāyassa ṭhitiyā yāpanāya vihiṁsūparatiyā brahmacariyānuggahāya—iti purāṇañca vedanaṁ paṭihaṅkhāmi, navañca vedanaṁ na uppādessāmi, yātrā ca me bhavissati anavajjatā ca phāsuvihāro cā’ti.
When they guard their sense doors, the Realized One guides them further: ‘Come, mendicant, eat in moderation. Reflect rationally on the food that you eat: “Not for fun, indulgence, adornment, or decoration, but only to sustain this body, to avoid harm, and to support spiritual practice. In this way, I shall put an end to old discomfort and not give rise to new discomfort, and I will have the means to keep going, blamelessness, and a comfortable abiding.”’
Này Bà la môn, khi vị tỳ khưu là người có các căn được phòng hộ, Như Lai huấn luyện vị ấy cao hơn nữa: ‘Này tỳ khưu, hãy đến đây, ngươi hãy là người biết tiết độ trong ăn uống. Hãy suy xét một cách như lý và thọ dụng vật thực, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để làm đẹp, mà chỉ để cho thân này được duy trì, được bảo dưỡng, để chấm dứt sự khổ não, để hỗ trợ cho phạm hạnh. Với suy nghĩ rằng: “Như vậy ta sẽ diệt trừ cảm thọ cũ, và sẽ không làm phát sinh cảm thọ mới. Sự điều độ, sự không bị chê trách, và sự sống an ổn sẽ có cho ta”’.
Yato kho, brāhmaṇa, bhikkhu bhojane mattaññū hoti, tamenaṁ tathāgato uttariṁ vineti: ‘ehi tvaṁ, bhikkhu, jāgariyaṁ anuyutto viharāhi, divasaṁ caṅkamena nisajjāya āvaraṇīyehi dhammehi cittaṁ parisodhehi, rattiyā paṭhamaṁ yāmaṁ caṅkamena nisajjāya āvaraṇīyehi dhammehi cittaṁ parisodhehi, rattiyā majjhimaṁ yāmaṁ dakkhiṇena passena sīhaseyyaṁ kappeyyāsi pāde pādaṁ accādhāya sato sampajāno uṭṭhānasaññaṁ manasikaritvā, rattiyā pacchimaṁ yāmaṁ paccuṭṭhāya caṅkamena nisajjāya āvaraṇīyehi dhammehi cittaṁ parisodhehī’ti.
When they eat in moderation, the Realized One guides them further: ‘Come, mendicant, be committed to wakefulness. Practice walking and sitting meditation by day, purifying your mind from obstacles. In the first watch of the night, continue to practice walking and sitting meditation. In the middle watch, lie down in the lion’s posture—on the right side, placing one foot on top of the other—mindful and aware, and focused on the time of getting up. In the last watch, get up and continue to practice walking and sitting meditation, purifying your mind from obstacles.’
Này Bà la môn, khi vị tỳ khưu là người biết tiết độ trong ăn uống, Như Lai huấn luyện vị ấy cao hơn nữa: ‘Này tỳ khưu, hãy đến đây, ngươi hãy sống chuyên tâm vào sự tỉnh thức. Vào ban ngày, bằng cách đi kinh hành và ngồi, hãy gột sạch tâm khỏi các pháp chướng ngại. Trong canh đầu của đêm, bằng cách đi kinh hành và ngồi, hãy gột sạch tâm khỏi các pháp chướng ngại. Trong canh giữa của đêm, hãy thực hiện tư thế nằm của sư tử bằng hông bên phải, đặt chân này lên chân kia, có chánh niệm và tỉnh giác, tác ý đến tưởng về sự thức dậy. Trong canh cuối của đêm, sau khi thức dậy, bằng cách đi kinh hành và ngồi, hãy gột sạch tâm khỏi các pháp chướng ngại’.
Yato kho, brāhmaṇa, bhikkhu jāgariyaṁ anuyutto hoti, tamenaṁ tathāgato uttariṁ vineti: ‘ehi tvaṁ, bhikkhu, satisampajaññena samannāgato hohi, abhikkante paṭikkante sampajānakārī, ālokite vilokite sampajānakārī, samiñjite pasārite sampajānakārī, saṅghāṭipattacīvaradhāraṇe sampajānakārī, asite pīte khāyite sāyite sampajānakārī, uccārapassāvakamme sampajānakārī, gate ṭhite nisinne sutte jāgarite bhāsite tuṇhībhāve sampajānakārī’ti.
When they are committed to wakefulness, the Realized One guides them further: ‘Come, mendicant, have mindfulness and situational awareness. Act with situational awareness when going out and coming back; when looking ahead and aside; when bending and extending the limbs; when bearing the outer robe, bowl and robes; when eating, drinking, chewing, and tasting; when urinating and defecating; when walking, standing, sitting, sleeping, waking, speaking, and keeping silent.’
Này Bà la môn, khi vị tỳ khưu là người chuyên tâm vào sự tỉnh thức, Như Lai huấn luyện vị ấy cao hơn nữa: ‘Này tỳ khưu, hãy đến đây, ngươi hãy là người đầy đủ chánh niệm và tỉnh giác. Hãy hành động với sự tỉnh giác khi đi tới, khi đi lui; khi nhìn thẳng, khi nhìn nghiêng; khi co lại, khi duỗi ra; trong việc mang y tăng-già-lê, bát và y; khi ăn, uống, nhai, nếm; trong việc đại tiện, tiểu tiện; khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng’.
Yato kho, brāhmaṇa, bhikkhu satisampajaññena samannāgato hoti, tamenaṁ tathāgato uttariṁ vineti: ‘ehi tvaṁ, bhikkhu, vivittaṁ senāsanaṁ bhajāhi araññaṁ rukkhamūlaṁ pabbataṁ kandaraṁ giriguhaṁ susānaṁ vanapatthaṁ abbhokāsaṁ palālapuñjan’ti. So vivittaṁ senāsanaṁ bhajati araññaṁ rukkhamūlaṁ pabbataṁ kandaraṁ giriguhaṁ susānaṁ vanapatthaṁ abbhokāsaṁ palālapuñjaṁ.
So pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto nisīdati pallaṅkaṁ ābhujitvā, ujuṁ kāyaṁ paṇidhāya, parimukhaṁ satiṁ upaṭṭhapetvā. So abhijjhaṁ loke pahāya vigatābhijjhena cetasā viharati, abhijjhāya cittaṁ parisodheti; byāpādapadosaṁ pahāya abyāpannacitto viharati sabbapāṇabhūtahitānukampī, byāpādapadosā cittaṁ parisodheti; thinamiddhaṁ pahāya vigatathinamiddho viharati ālokasaññī sato sampajāno, thinamiddhā cittaṁ parisodheti; uddhaccakukkuccaṁ pahāya anuddhato viharati ajjhattaṁ vūpasantacitto, uddhaccakukkuccā cittaṁ parisodheti; vicikicchaṁ pahāya tiṇṇavicikiccho viharati akathaṅkathī kusalesu dhammesu, vicikicchāya cittaṁ parisodheti.
When they have mindfulness and situational awareness, the Realized One guides them further: ‘Come, mendicant, frequent a secluded lodging—a wilderness, the root of a tree, a hill, a ravine, a mountain cave, a charnel ground, a forest, the open air, a heap of straw.’ And they do so.
After the meal, they return from almsround, sit down cross-legged, set their body straight, and bring mindfulness to the present. Giving up covetousness for the world, they meditate with a heart rid of covetousness, cleansing the mind of covetousness. Giving up ill will and malevolence, they meditate with a mind rid of ill will, full of sympathy for all living beings, cleansing the mind of ill will. Giving up dullness and drowsiness, they meditate with a mind rid of dullness and drowsiness, perceiving light, mindful and aware, cleansing the mind of dullness and drowsiness. Giving up restlessness and remorse, they meditate without restlessness, their mind settled internally, cleansing the mind of restlessness and remorse. Giving up doubt, they meditate having gone beyond doubt, not undecided about skillful qualities, cleansing the mind of doubt.
Này Bà la môn, khi vị tỳ khưu là người đầy đủ chánh niệm và tỉnh giác, Như Lai huấn luyện vị ấy cao hơn nữa: ‘Này tỳ khưu, hãy đến đây, ngươi hãy tìm đến chỗ ở vắng vẻ: khu rừng, gốc cây, núi, hang, động núi, nghĩa địa, lùm cây trong rừng, ngoài trời, đống rơm’. Vị ấy tìm đến chỗ ở vắng vẻ: khu rừng, gốc cây, núi, hang, động núi, nghĩa địa, lùm cây trong rừng, ngoài trời, đống rơm. Sau bữa ăn, sau khi đi khất thực về, vị ấy ngồi xuống, xếp bằng kiết-già, giữ thân ngay thẳng, an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm không tham ái, gột sạch tâm khỏi tham ái. Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, có lòng thương tưởng đến lợi ích của tất cả chúng sanh, gột sạch tâm khỏi sân hận. Từ bỏ hôn trầm và thụy miên, vị ấy sống không có hôn trầm và thụy miên, có tưởng về ánh sáng, chánh niệm, tỉnh giác, gột sạch tâm khỏi hôn trầm và thụy miên. Từ bỏ trạo cử và hối quá, vị ấy sống không trạo cử, với tâm nội tĩnh, gột sạch tâm khỏi trạo cử và hối quá. Từ bỏ hoài nghi, vị ấy sống đã vượt qua hoài nghi, không còn phân vân đối với các thiện pháp, gột sạch tâm khỏi hoài nghi.
So ime pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ …pe… dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Pītiyā ca virāgā … tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Sukhassa ca pahānā … catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
They give up these five hindrances, corruptions of the heart that weaken wisdom. Then, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, they enter and remain in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected. As the placing of the mind and keeping it connected are stilled, they enter and remain in the second absorption, which has the rapture and bliss born of immersion, with internal clarity and mind at one, without placing the mind and keeping it connected. And with the fading away of rapture, they enter and remain in the third absorption, where they meditate with equanimity, mindful and aware, experiencing for themselves the bliss of which the noble ones declare, ‘Equanimous and mindful, one meditates in bliss.’ With the giving up of pleasure and pain and the disappearance of former happiness and sadness, they enter and remain in the fourth absorption, without pleasure or pain, with pure equanimity and mindfulness.
76. Vị ấy, sau khi đã từ bỏ năm triền cái này, là những cấu uế của tâm, là những thứ làm cho trí tuệ suy yếu, ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Do sự tịnh chỉ của tầm và tứ, vị ấy chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, nội tĩnh nhất tâm... Do ly hỷ... vị ấy chứng và trú thiền thứ ba. Do xả lạc... vị ấy chứng và trú thiền thứ tư.
Ye kho te, brāhmaṇa, bhikkhū sekkhā apattamānasā anuttaraṁ yogakkhemaṁ patthayamānā viharanti tesu me ayaṁ evarūpī anusāsanī hoti. Ye pana te bhikkhū arahanto khīṇāsavā vusitavanto katakaraṇīyā ohitabhārā anuppattasadatthā parikkhīṇabhavasaṁyojanā sammadaññāvimuttā tesaṁ ime dhammā diṭṭhadhammasukhavihārāya ceva saṁvattanti, satisampajaññāya cā”ti.
That’s how I instruct the mendicants who are trainees—who haven’t achieved their heart’s desire, but live aspiring to the supreme sanctuary from the yoke. But for those mendicants who are perfected—who have ended the defilements, completed the spiritual journey, done what had to be done, laid down the burden, achieved their heart’s goal, utterly ended the fetter of continued existence, and are rightly freed through enlightenment—these things lead to blissful meditation in this life, and to mindfulness and awareness.”
Này Bà-la-môn, đối với những vị Tỳ-khưu là bậc hữu học, tâm chưa thành tựu, đang mong cầu sự an ổn vô thượng thoát khỏi các ách縛, lời giáo huấn này của ta là như vậy. Còn đối với những vị Tỳ-khưu là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã hoàn thành phạm hạnh, việc cần làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích tối hậu, các kiết sử trói buộc vào sự tồn tại đã được đoạn trừ, đã giải thoát nhờ chánh trí, những pháp này đưa đến sự an trú lạc trong hiện tại và đưa đến chánh niệm tỉnh giác.
Evaṁ vutte, gaṇakamoggallāno brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca: “kiṁ nu kho bhoto gotamassa sāvakā bhotā gotamena evaṁ ovadīyamānā evaṁ anusāsīyamānā sabbe accantaṁ niṭṭhaṁ nibbānaṁ ārādhenti udāhu ekacce nārādhentī”ti?
“Appekacce kho, brāhmaṇa, mama sāvakā mayā evaṁ ovadīyamānā evaṁ anusāsīyamānā accantaṁ niṭṭhaṁ nibbānaṁ ārādhenti, ekacce nārādhentī”ti.
When he had spoken, Moggallāna the Accountant said to the Buddha, “When his disciples are instructed and advised like this by the worthy Gotama, do all of them achieve the ultimate goal, extinguishment, or do some of them fail?”
“Some succeed, while others fail.”
Khi được nói như vậy, Bà-la-môn Gaṇaka Moggallāna bạch với Thế Tôn lời này: 'Thưa Tôn giả Gotama, phải chăng tất cả các đệ tử của Tôn giả Gotama, khi được Tôn giả Gotama giáo giới như vậy, khuyên dạy như vậy, đều thành tựu được Niết-bàn, mục đích tối hậu, hay là có một số vị không thành tựu được?'. 'Này Bà-la-môn, một số đệ tử của ta, khi được ta giáo giới như vậy, khuyên dạy như vậy, đã thành tựu được Niết-bàn, mục đích tối hậu; còn một số vị thì không thành tựu được.'
“Ko nu kho, bho gotama, hetu ko paccayo yaṁ tiṭṭhateva nibbānaṁ, tiṭṭhati nibbānagāmī maggo, tiṭṭhati bhavaṁ gotamo samādapetā; atha ca pana bhoto gotamassa sāvakā bhotā gotamena evaṁ ovadīyamānā evaṁ anusāsīyamānā appekacce accantaṁ niṭṭhaṁ nibbānaṁ ārādhenti, ekacce nārādhentī”ti?
“What is the cause, worthy Gotama, what is the reason why, though extinguishment is present, the path leading to extinguishment is present, and the worthy Gotama is present to encourage them, still some succeed while others fail?”
Thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì, khi mà Niết-bàn vẫn hiện hữu, con đường đưa đến Niết-bàn vẫn hiện hữu, Tôn giả Gotama là người khuyến khích vẫn hiện hữu; thế mà các đệ tử của Tôn giả Gotama, khi được Tôn giả Gotama giáo giới như vậy, khuyên dạy như vậy, một số vị thành tựu được Niết-bàn, mục đích tối hậu, còn một số vị lại không thành tựu được?
“Tena hi, brāhmaṇa, taṁyevettha paṭipucchissāmi. Yathā te khameyya tathā naṁ byākareyyāsi. Taṁ kiṁ maññasi, brāhmaṇa, kusalo tvaṁ rājagahagāmissa maggassā”ti?
“Evaṁ, bho, kusalo ahaṁ rājagahagāmissa maggassā”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, brāhmaṇa, idha puriso āgaccheyya rājagahaṁ gantukāmo. So taṁ upasaṅkamitvā evaṁ vadeyya: ‘icchāmahaṁ, bhante, rājagahaṁ gantuṁ; tassa me rājagahassa maggaṁ upadisā’ti. Tamenaṁ tvaṁ evaṁ vadeyyāsi: ‘ehambho purisa, ayaṁ maggo rājagahaṁ gacchati. Tena muhuttaṁ gaccha, tena muhuttaṁ gantvā dakkhissasi amukaṁ nāma gāmaṁ, tena muhuttaṁ gaccha, tena muhuttaṁ gantvā dakkhissasi amukaṁ nāma nigamaṁ; tena muhuttaṁ gaccha, tena muhuttaṁ gantvā dakkhissasi rājagahassa ārāmarāmaṇeyyakaṁ vanarāmaṇeyyakaṁ bhūmirāmaṇeyyakaṁ pokkharaṇīrāmaṇeyyakan’ti. So tayā evaṁ ovadīyamāno evaṁ anusāsīyamāno ummaggaṁ gahetvā pacchāmukho gaccheyya. Atha dutiyo puriso āgaccheyya rājagahaṁ gantukāmo. So taṁ upasaṅkamitvā evaṁ vadeyya: ‘icchāmahaṁ, bhante, rājagahaṁ gantuṁ; tassa me rājagahassa maggaṁ upadisā’ti. Tamenaṁ tvaṁ evaṁ vadeyyāsi: ‘ehambho purisa, ayaṁ maggo rājagahaṁ gacchati. Tena muhuttaṁ gaccha, tena muhuttaṁ gantvā dakkhissasi amukaṁ nāma gāmaṁ; tena muhuttaṁ gaccha, tena muhuttaṁ gantvā dakkhissasi amukaṁ nāma nigamaṁ; tena muhuttaṁ gaccha, tena muhuttaṁ gantvā dakkhissasi rājagahassa ārāmarāmaṇeyyakaṁ vanarāmaṇeyyakaṁ bhūmirāmaṇeyyakaṁ pokkharaṇīrāmaṇeyyakan’ti. So tayā evaṁ ovadīyamāno evaṁ anusāsīyamāno sotthinā rājagahaṁ gaccheyya. Ko nu kho, brāhmaṇa, hetu ko paccayo yaṁ tiṭṭhateva rājagahaṁ, tiṭṭhati rājagahagāmī maggo, tiṭṭhasi tvaṁ samādapetā; atha ca pana tayā evaṁ ovadīyamāno evaṁ anusāsīyamāno eko puriso ummaggaṁ gahetvā pacchāmukho gaccheyya, eko sotthinā rājagahaṁ gaccheyyā”ti?
“Ettha kyāhaṁ, bho gotama, karomi? Maggakkhāyīhaṁ, bho gotamā”ti.
“Well then, brahmin, I’ll ask you about this in return, and you can answer as you like. What do you think, brahmin? Are you skilled in the road to Rājagaha?”
“Yes, I am.”
“What do you think, brahmin? Suppose a person was to come along who wanted to go to Rājagaha. He’d approach you and say: ‘Sir, I wish to go to Rājagaha. Please point out the road to Rājagaha.’ You’d say to them: ‘Here, my man, this road goes to Rājagaha. Go along it for an hour, and you’ll see a certain village. Go along an hour further, and you’ll see a certain town. Go along an hour further and you’ll see Rājagaha with its delightful parks, woods, meadows, and lotus ponds.’ Instructed like this by you, they might still take the wrong road, heading west. But a second person might come with the same question and receive the same instructions. Instructed by you, they might safely arrive at Rājagaha. What is the cause, brahmin, what is the reason why, though Rājagaha is present, the path leading to Rājagaha is present, and you are there to encourage them, one person takes the wrong path and heads west, while another arrives safely at Rājagaha?”
“What can I do about that, worthy Gotama? I am the one who shows the way.”
77. Này Bà-la-môn, vậy thì ta sẽ hỏi lại ông về vấn đề này. Ông hãy trả lời theo như ông thấy hợp lý. Này Bà-la-môn, ông nghĩ thế nào, ông có rành rẽ con đường đi đến thành Rājagaha không? 'Thưa vâng, Tôn giả, tôi rành rẽ con đường đi đến thành Rājagaha'. 'Này Bà-la-môn, ông nghĩ thế nào, giả sử có một người muốn đi đến thành Rājagaha đến đây. Người ấy đến gần ông và nói như sau: 'Thưa ngài, tôi muốn đi đến thành Rājagaha; xin ngài chỉ cho tôi con đường đến thành Rājagaha'. Ông sẽ nói với người ấy như sau: 'Này ông bạn, hãy đến đây, đây là con đường đi đến thành Rājagaha. Ông hãy đi một lúc theo con đường này, sau khi đi một lúc ông sẽ thấy một ngôi làng tên là... Ông hãy đi một lúc nữa, sau khi đi một lúc ông sẽ thấy một thị trấn tên là...; ông hãy đi một lúc nữa, sau khi đi một lúc ông sẽ thấy những khu vườn khả ái, những khu rừng khả ái, những vùng đất khả ái, những hồ sen khả ái của thành Rājagaha'. Người ấy, được ông giáo giới như vậy, khuyên dạy như vậy, lại đi theo con đường sai và đi ngược trở lại. Rồi một người thứ hai đến, cũng muốn đi đến thành Rājagaha. Người ấy đến gần ông và nói như sau: 'Thưa ngài, tôi muốn đi đến thành Rājagaha; xin ngài chỉ cho tôi con đường đến thành Rājagaha'. Ông sẽ nói với người ấy như sau: 'Này ông bạn, hãy đến đây, đây là con đường đi đến thành Rājagaha. Ông hãy đi một lúc theo con đường này, sau khi đi một lúc ông sẽ thấy một ngôi làng tên là...; ông hãy đi một lúc nữa, sau khi đi một lúc ông sẽ thấy một thị trấn tên là...; ông hãy đi một lúc nữa, sau khi đi một lúc ông sẽ thấy những khu vườn khả ái, những khu rừng khả ái, những vùng đất khả ái, những hồ sen khả ái của thành Rājagaha'. Người ấy, được ông giáo giới như vậy, khuyên dạy như vậy, đã đến thành Rājagaha một cách an toàn. Này Bà-la-môn, do nhân gì, do duyên gì, khi mà thành Rājagaha vẫn hiện hữu, con đường đi đến thành Rājagaha vẫn hiện hữu, và ông là người chỉ đường vẫn hiện hữu; thế mà một người, được ông giáo giới như vậy, khuyên dạy như vậy, lại đi theo con đường sai và đi ngược trở lại, còn người kia lại đến nơi một cách an toàn?'. 'Thưa Tôn giả Gotama, trong trường hợp này tôi có thể làm gì được? Thưa Tôn giả Gotama, tôi chỉ là người chỉ đường mà thôi.'
“Evameva kho, brāhmaṇa, tiṭṭhateva nibbānaṁ, tiṭṭhati nibbānagāmī maggo, tiṭṭhāmahaṁ samādapetā; atha ca pana mama sāvakā mayā evaṁ ovadīyamānā evaṁ anusāsīyamānā appekacce accantaṁ niṭṭhaṁ nibbānaṁ ārādhenti, ekacce nārādhenti. Ettha kyāhaṁ, brāhmaṇa, karomi? Maggakkhāyīhaṁ, brāhmaṇa, tathāgato”ti.
“In the same way, though extinguishment is present, the path leading to extinguishment is present, and I am present to encourage them, still some of my disciples, instructed and advised like this, achieve the ultimate goal, extinguishment, while some of them fail. What can I do about that, brahmin? The Realized One is the one who shows the way.”
Cũng vậy, này Bà-la-môn, Niết-bàn vẫn hiện hữu, con đường đưa đến Niết-bàn vẫn hiện hữu, và ta là người khuyến khích vẫn hiện hữu; thế mà các đệ tử của ta, khi được ta giáo giới như vậy, khuyên dạy như vậy, một số vị thành tựu được Niết-bàn, mục đích tối hậu, còn một số vị lại không thành tựu được. Này Bà-la-môn, trong trường hợp này ta có thể làm gì được? Này Bà-la-môn, Như Lai chỉ là người chỉ đường mà thôi.
Evaṁ vutte, gaṇakamoggallāno brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca: “yeme, bho gotama, puggalā assaddhā jīvikatthā na saddhā agārasmā anagāriyaṁ pabbajitā saṭhā māyāvino ketabino uddhatā unnaḷā capalā mukharā vikiṇṇavācā indriyesu aguttadvārā bhojane amattaññuno jāgariyaṁ ananuyuttā sāmaññe anapekkhavanto sikkhāya na tibbagāravā bāhulikā sāthalikā okkamane pubbaṅgamā paviveke nikkhittadhurā kusītā hīnavīriyā muṭṭhassatino asampajānā asamāhitā vibbhantacittā duppaññā eḷamūgā, na tehi bhavaṁ gotamo saddhiṁ saṁvasati.
When he had spoken, Moggallāna the Accountant said to the Buddha, “Worthy Gotama, there are those faithless individuals who went forth from the lay life to homelessness not out of faith but to earn a livelihood. They’re devious, deceitful, and sneaky. They’re haughty, insolent, fickle, scurrilous, and loose-tongued. They do not guard their sense doors or eat in moderation, and they are not committed to wakefulness. They don’t care about the ascetic life, and don’t keenly respect the training. They’re indulgent and slack, leaders in backsliding, neglecting seclusion, lazy, and lacking energy. They’re unmindful, lacking situational awareness and immersion, with straying minds, witless and idiotic. The worthy Gotama does not live together with these.
78. Khi được nói như vậy, bà-la-môn Gaṇakamoggallāna bạch với Thế Tôn: – Tôn giả Gotama, những người nào không có đức tin, vì sinh kế mà xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, chứ không phải vì đức tin; họ xảo trá, lừa đảo, gian xảo, trạo cử, kiêu mạn, dao động, lắm lời, nói lời buông lung, không phòng hộ các căn, ăn uống không biết tiết độ, không chuyên tâm tỉnh giác, không quan tâm đến đời sống sa-môn, không hết lòng tôn kính học giới, sống buông thả, lười biếng, đi đầu trong việc thoái lui, từ bỏ gánh nặng trong đời sống viễn ly, biếng nhác, ít tinh tấn, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, tâm tán loạn, thiếu trí tuệ, ngu độn; Tôn giả Gotama không chung sống với những người như vậy.
Ye pana te kulaputtā saddhā agārasmā anagāriyaṁ pabbajitā asaṭhā amāyāvino aketabino anuddhatā anunnaḷā acapalā amukharā avikiṇṇavācā indriyesu guttadvārā bhojane mattaññuno jāgariyaṁ anuyuttā sāmaññe apekkhavanto sikkhāya tibbagāravā nabāhulikā nasāthalikā okkamane nikkhittadhurā paviveke pubbaṅgamā āraddhavīriyā pahitattā upaṭṭhitassatino sampajānā samāhitā ekaggacittā paññavanto aneḷamūgā, tehi bhavaṁ gotamo saddhiṁ saṁvasati.
But there are those gentlemen who went forth from the lay life to homelessness out of faith. They’re not devious, deceitful, and sneaky. They’re not haughty, insolent, fickle, scurrilous, and loose-tongued. They guard their sense doors and eat in moderation, and they are committed to wakefulness. They care about the ascetic life, and keenly respect the training. They’re not indulgent or slack, nor are they leaders in backsliding, neglecting seclusion. They’re energetic and determined. They’re mindful, with situational awareness, immersion, and unified minds; wise and clever. The worthy Gotama does live together with these.
Còn những thiện nam tử nào có đức tin, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình; họ không xảo trá, không lừa đảo, không gian xảo, không trạo cử, không kiêu mạn, không dao động, không lắm lời, không nói lời buông lung, phòng hộ các căn, ăn uống biết tiết độ, chuyên tâm tỉnh giác, quan tâm đến đời sống sa-môn, hết lòng tôn kính học giới, không sống buông thả, không lười biếng, từ bỏ gánh nặng trong việc thoái lui, đi đầu trong đời sống viễn ly, tinh tấn, quyết tâm, an trú chánh niệm, tỉnh giác, định tĩnh, tâm chuyên nhất, có trí tuệ, không ngu độn; Tôn giả Gotama chung sống với những người như vậy.
Seyyathāpi, bho gotama, ye keci mūlagandhā, kālānusāri tesaṁ aggamakkhāyati; ye keci sāragandhā, lohitacandanaṁ tesaṁ aggamakkhāyati; ye keci pupphagandhā, vassikaṁ tesaṁ aggamakkhāyati; evameva bhoto gotamassa ovādo paramajjadhammesu.
Of all kinds of fragrant root, spikenard is said to be the best. Of all kinds of fragrant heartwood, red sandalwood is said to be the best. Of all kinds of fragrant flower, jasmine is said to be the best. In the same way, worthy Gotama’s advice is the best of contemporary teachings.
Tôn giả Gotama, ví như trong các loại hương rễ, hương trầm hương được xem là cao quý nhất; trong các loại hương lõi cây, hương chiên-đàn đỏ được xem là cao quý nhất; trong các loại hương hoa, hương hoa lài được xem là cao quý nhất; cũng vậy, lời giáo huấn của Tôn giả Gotama là cao quý nhất trong các pháp hiện tại.
Abhikkantaṁ, bho gotama, abhikkantaṁ, bho gotama. Seyyathāpi, bho gotama, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhotā gotamena anekapariyāyena dhammo pakāsito. Esāhaṁ bhavantaṁ gotamaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca. Upāsakaṁ maṁ bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Excellent, worthy Gotama! Excellent! As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark so people with clear eyes can see what’s there, worthy Gotama has made the Teaching clear in many ways. I go for refuge to the worthy Gotama, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. From this day forth, may the worthy Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
Thật vi diệu, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu, Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama, ví như người ta lật ngửa vật bị úp, hay mở ra vật bị che kín, hay chỉ đường cho người bị lạc, hay cầm ngọn đèn dầu trong bóng tối để người có mắt có thể thấy các sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama trình bày bằng nhiều phương tiện. Con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y Tỳ-khưu Tăng. Mong Tôn giả Gotama ghi nhận con là một cận sự nam đã quy y kể từ hôm nay cho đến trọn đời.
Gaṇakamoggallānasuttaṁ niṭṭhitaṁ sattamaṁ.
Kinh Gaṇakamoggallāna, thứ bảy, chấm dứt.