- Majjhima Nikāya 106
Āneñjasappāyasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Āneñjasappāyasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn trú giữa dân chúng Kuru (Câu-lâu). Kammāsadhamma (Kiềm-ma-sắt-đàm) là thị trấn của dân chúng Kuru. Tại đấy Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau
SC 2—Này các Tỷ-kheo, các dục là vô thường, trống rỗng, giả dối, thuộc ngu si tánh. Này các Tỷ-kheo, đây là lời chào xáo của kẻ ngu xây dựng trên giả dối. Các dục hiện tại, và các dục tương lai, các dục tưởng hiện tại và các dục tưởng tương lai, cả hai đều thuộc lãnh vực của ma, là cảnh giới của ma, là chỗ dinh dưỡng của ma, là chỗ ăn uống của ma.
SC 3Ở đây, các ác bất thiện ý này dẫn đến tham dục, sân hận, khích động, và chính những pháp ấy tác thành chướng ngại ở đây cho Thánh đệ tử học tập. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Các dục hiện tại và các dục tương lai … cho Thánh đệ tử học tập. Vậy ta hãy an trú với tâm quảng đại, đại hành, sau khi chiến thắng thế giới, sau khi xác định vị trí của ý. Khi ta an trú với tâm quảng đại, đại hành chiến thắng thế giới, xác định vị trí của ý, các ác bất thiện ý: tham dục, sân hận, khích động sẽ không khởi lên; với các pháp ấy được đoạn trừ, tâm của ta không trở thành hạn hẹp, trái lại thành vô lượng, khéo tu tập”. Trong khi ấy hành trì như vậy, an trú nhiều lần như vậy, tâm trở thành an tịnh trong giới xứ (của nó). Với tâm an tịnh, vị ấy thành tựu bất động ngay hiện tại hay thiên nặng về trí tuệ. Sau khi thân hoại mạng chung, sự tình này xảy ra, thức diễn tiến (samvattanikam vinnanam) có thể tùy theo đây đạt đến Bất động. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là đệ nhất hành đạo về lợi ích Bất động”.
SC 4Lại nữa này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Những dục hiện tại và những dục tương lai, những dục tưởng hiện tại, và những dục tưởng tương lai, phàm bất cứ sắc pháp gì, là bốn đại chủng và sắc do bốn đại tạo thành”. Trong khi vị ấy hành trì như vậy, an trú nhiều lần như vậy, tâm trở thành an tịnh trong giới xứ (của nó). Với tâm an tịnh, vị ấy thành tựu Bất động ngay trong hiện tại hay thiên nặng về trí tuệ. Sau khi thân hoại mạng chung, sự tình này xảy ra, thức diễn tiến ấy có thể tùy theo đây đạt đến Bất động. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là đệ nhị hành đạo về lợi ích Bất động.
SC 5Lại nữa này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Những dục hiện tại và những dục tương lai, những dục tưởng hiện tại và những dục tưởng tương lai, những sắc pháp hiện tại và những sắc pháp tương lai, những sắc tưởng hiện tại và những sắc tưởng tương lai, cả hai đều vô thường. Cái gì vô thường thời không đáng để được hoan hỷ, không đáng để được hoan nghênh, không đáng để được chấp trước”. Trong khi vị ấy hành trì như vậy, an trú nhiều lần như vậy, tâm trí trở thành an tịnh trong giới xứ (của nó). Với tâm an tịnh, vị ấy thành tựu Bất động ngay trong hiện tại hay thiên nặng về trí tuệ. Sau khi thân hoại mạng chung, sự tình này xảy ra, thức diễn tiến ấy có thể tùy theo đây đạt đến Bất động. Như vậy, này các Tỷ-kheo được gọi là đệ tam hành đạo về lợi ích Bất động.
SC 6Lại nữa này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Những dục hiện tại … và những sắc tưởng tương lai, và những bất động tưởng, tất cả tưởng, chỗ nào các tưởng ấy được đoạn diệt không có dư tàn, như vậy là tịch tịnh, như vậy là thù diệu, tức là vô sở hữu”. Trong khi vị ấy hành trì như vậy, an trú nhiều lần như vậy, tâm trí trở thành an tịnh trong giới xứ (của nó). Với tâm an tịnh, vị ấy thành tựu Vô sở hữu xứ ngay trong hiện tại hay thiên nặng về trí tuệ. Sau khi thân hoại mạng chung, sự tình này xảy ra, thức diễn tiến ấy có thể tùy theo đây đạt đến Vô sở hữu xứ. Như vậy, này các Tỷ-kheo được gọi là đệ nhất hành đạo về lợi ích Vô sở hữu xứ.
SC 7Lại nữa này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử đi đến khu rừng hay đi đến dưới gốc cây và suy nghĩ như sau: “Trống không là tự ngã hay ngã này sở hữu”. Trong khi vị ấy hành trì như vậy, an trú nhiều lần như vậy, tâm trí trở thành an tịnh trong giới xứ (của nó). Với tâm an tịnh, vị ấy thành tựu Vô sở hữu xứ ngay trong hiện tại hay thiên nặng về trí tuệ. Sau khi thân hoại mạng chung, sự tình này xảy ra, thức diễn tiến ấy có thể tùy theo đây đạt đến Vô sở hữu xứ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là đệ nhị hành đạo về lợi ích Vô sở hữu xứ.
SC 8Lại nữa này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Ta không có bất cứ chỗ nào, cho ai và trong hình thức nào, và sở thuộc của ta không có bất cứ chỗ nào, cho ai và trong hình thức nào”. Trong khi vị ấy hành trì như vậy, an trú nhiều lần như vậy, tâm trí trở thành an tịnh trong trú xứ (của nó). Với tâm an tịnh, vị ấy thành tựu Vô sở hữu xứ trong hiện tại hay thiên nặng về trí tuệ. Sau khi thân hoại mạng chung, sự tình này xảy ra, thức diễn tiến ấy có thể tùy theo đây đạt đến Vô sở hữu xứ. Như vậy, này các Tỷ-kheo được gọi là đệ tam hành đạo về lợi ích Vô sở hữu xứ.
SC 9Và lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Những dục hiện tại. Và những sắc tưởng và những Bất động tưởng, và những Vô sở hữu xứ tưởng, tất cả các tưởng, chỗ nào các tưởng ấy được đoạn diệt không có dư tàn, như vậy là tịch tịnh, như vậy là thù diệu, tức là Phi tưởng phi phi tưởng xứ”. Trong khi vị ấy hành trì như vậy, an trú nhiều lần như vậy, tâm trí trở thành an tịnh trong trú xứ (của nó). Với tâm an tịnh vị ấy có thể thành tựu Phi tưởng phi phi tưởng xứ ngay trong hiện tại, hoặc thiên nặng về trí tuệ. Sau khi thân hoại mạng chung, sự tình này xảy ra, thức diễn tiến ấy có thể tùy theo đây đạt đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là hành đạo về lợi ích Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
SC 10Khi được nói như vậy, Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 11—Ở đây, bạch Thế Tôn, vị Tỷ-kheo hành trì như vậy và suy nghĩ: “Nếu trước không có như vậy, thời có thể không là của ta; nếu nay không có như vậy thời có thể sẽ không là của ta. Ta đoạn trừ những gì hiện có và những gì đã có”. Và như vậy vị ấy được xả. Bạch Thế Tôn, môt vị Tỷ-kheo như vậy có chứng được cứu cánh Niết-bàn không?
SC 12—Ở đây, này Ānanda, một số Tỷ-kheo có thể chứng được cứu cánh Niết-bàn, và ở đây, một số Tỷ-kheo có thể không chứng được cứu cánh Niết-bàn.
SC 13—Do nhân gì, do duyên gì, bạch Thế Tôn, ở đây, một số Tỷ-kheo có thể chứng được cứu cánh Niết-bàn, và ở đây, một số Tỷ-kheo có thể không chứng được cứu cánh Niết-bàn?
SC 14—Ở đây, này Ānanda, một Tỷ-kheo hành trì như vậy và suy nghĩ: “Nếu trước không có như vậy thời có thể không là của ta. Nếu nay không có như vậy, thời có thể sẽ không là của ta. Ta đoạn trừ những gì hiện có và những gì đã có”. Và như vậy vị ấy được xả. Vị ấy hoan hỷ trong xả ấy, hoan nghênh, chấp trước xả ấy. Do vị ấy hoan hỷ trong xả ấy, hoan nghênh, chấp trước xả ấy, thức lệ thuộc xả ấy và thủ trước xả ấy. Có thủ trước, này Ānanda, vị Tỷ-kheo không chứng cứu cánh Niết-bàn.
SC 15—Bạch Thế Tôn, vị Tỷ-kheo ấy thủ trước là thủ trước chỗ nào?
SC 16—Này Ānanda, Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
SC 17—Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo ấy thủ trước, thủ trước như vậy là thủ trước tối thượng?
SC 18—Này Ānanda, Vị Tỷ-kheo ấy thủ trước, thủ trước như vậy là thủ trước tối thượng. Này Ānanda, đây là thủ trước tối thượng, tức là Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Ở đây, này Ānanda, vị Tỷ-kheo hành trì như vậy và suy nghĩ: “Nếu (trước) không có như vậy thời có thể không là của ta. Nếu (nay) không có như vậy, thời có thể không là của ta. Ta đoạn trừ những gì hiện có và những gì đã có”. Như vậy, vị ấy được xả, vị ấy không hoan hỷ trong xả ấy, không hoan nghênh, không chấp trước xả ấy. Do vị ấy không hoan hỷ trong xả ấy, không hoan nghênh, không thủ trước xả ấy, thức không lệ thuộc xả ấy và không thủ trước xả ấy. Không thủ trước, này Ānanda, vị Tỷ-kheo chứng cứu cánh Niết-bàn.
SC 19—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Chính mười y cứ sự này sự kia, bạch Thế Tôn, sự vượt thoát dòng nước mạnh đã được Thế Tôn nói lên. Nhưng bạch Thế Tôn, thế nào là Thánh giải thoát?
SC 20—Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Những dục hiện tại và những dục tương lai, những dục tưởng hiện tại và những dục tưởng tương lai, những sắc pháp hiện tại và những sắc pháp tương lai, những Bất động tưởng, những Vô sở hữu xứ tưởng, và những Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng, cái gì thuộc tự thân, là tự thân. Ðây là bất tử tức là tâm giải thoát không thủ trước”. Này Ānanda, đây là đạo lộ về lợi ích Bất động được Ta thuyết giảng, đạo lộ về lợi ích Vô sở hữu xứ được Ta thuyết giảng, đạo lộ về lợi ích Phi tưởng phi phi tưởng xứ được Ta thuyết giảng, là sự vượt qua dòng nước mạnh do y cứ sự này sự kia được Ta thuyết giảng, Thánh giải thoát được Ta thuyết giảng.
SC 21Những gì, này Ānanda, vị Ðạo sư cần phải làm, vì lòng từ mẫn mưu tìm hạnh phúc cho các đệ tử, những điều ấy đã được Ta làm, vì lòng từ mẫn của Ta đối với Ông. Này Ānanda, đây là những gốc cây, đây là những khoảng trống. Hãy tu Thiền, này Ānanda, chớ có phóng dật, chớ có hối hận về sau. Ðây là lời dạy của Ta cho Ông.
SC 22Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ānanda hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). 12-07-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
6. Kinh Thích Hợp Với Bất Động
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“Aniccā, bhikkhave, kāmā tucchā musā mosadhammā. Māyākatametaṁ, bhikkhave, bālalāpanaṁ. Ye ca diṭṭhadhammikā kāmā, ye ca samparāyikā kāmā; yā ca diṭṭhadhammikā kāmasaññā, yā ca samparāyikā kāmasaññā—ubhayametaṁ māradheyyaṁ, mārassesa visayo, mārassesa nivāpo, mārassesa gocaro. Etthete pāpakā akusalā mānasā abhijjhāpi byāpādāpi sārambhāpi saṁvattanti. Teva ariyasāvakassa idhamanusikkhato antarāyāya sambhavanti.
Tatra, bhikkhave, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati: ‘ye ca diṭṭhadhammikā kāmā, ye ca samparāyikā kāmā; yā ca diṭṭhadhammikā kāmasaññā, yā ca samparāyikā kāmasaññā—ubhayametaṁ māradheyyaṁ, mārassesa visayo, mārassesa nivāpo, mārassesa gocaro. Etthete pāpakā akusalā mānasā abhijjhāpi byāpādāpi sārambhāpi saṁvattanti, teva ariyasāvakassa idhamanusikkhato antarāyāya sambhavanti. Yannūnāhaṁ vipulena mahaggatena cetasā vihareyyaṁ abhibhuyya lokaṁ adhiṭṭhāya manasā. Vipulena hi me mahaggatena cetasā viharato abhibhuyya lokaṁ adhiṭṭhāya manasā ye pāpakā akusalā mānasā abhijjhāpi byāpādāpi sārambhāpi te na bhavissanti. Tesaṁ pahānā aparittañca me cittaṁ bhavissati appamāṇaṁ subhāvitan’ti.
Tassa evaṁpaṭipannassa tabbahulavihārino āyatane cittaṁ pasīdati. Sampasāde sati etarahi vā āneñjaṁ samāpajjati paññāya vā adhimuccati. Kāyassa bhedā paraṁ maraṇā, ṭhānametaṁ vijjati yaṁ taṁsaṁvattanikaṁ viññāṇaṁ assa āneñjūpagaṁ. Ayaṁ, bhikkhave, paṭhamā āneñjasappāyā paṭipadā akkhāyati.
“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
“Mendicants, sensual pleasures are impermanent, hollow, false, and deceptive. This is made by illusion, mendicants, lamented by fools. Sensual pleasures in this life and in lives to come, sensual perceptions in this life and in lives to come; both of these are Māra’s dominion, Māra’s domain, Māra’s lair, and Māra’s range. They conduce to bad, unskillful notions such as desire, ill will, and aggression. And they create an obstacle for a noble disciple training here.
A noble disciple reflects on this: ‘Sensual pleasures in this life and in lives to come, sensual perceptions in this life and in lives to come; both of these are Māra’s dominion, Māra’s domain, Māra’s lair, and Māra’s range. They conduce to bad, unskillful notions such as desire, ill will, and aggression. And they create an obstacle for a noble disciple training here. Why don’t I meditate with an abundant, expansive heart, having mastered the world and stabilized the mind? Then I will have no more bad, unskillful notions such as desire, ill will, and aggression. And by giving them up my mind, no longer limited, will become limitless and well developed.’
Practicing in this way and meditating on it often their mind becomes confident in this dimension. Being confident, they either attain the imperturbable now, or are freed by wisdom. When their body breaks up, after death, it’s possible that that conducive consciousness will be reborn in the imperturbable. This is said to be the first way of practice suitable for attaining the imperturbable.
66. Tôi nghe như vầy – một thời Thế Tôn trú ở xứ Kuru, tại một thị trấn của người Kuru tên là Kammāsadhamma. Tại đấy, Thế Tôn gọi các tỳ khưu: “Này các tỳ khưu”. “Bạch Thế Tôn”, các tỳ khưu ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói điều này: “Này các tỳ khưu, các dục là vô thường, trống rỗng, giả dối, có bản chất lừa dối. Này các tỳ khưu, đó là trò huyễn thuật, là lời nói rỗng của kẻ ngu. Những dục nào thuộc hiện tại, những dục nào thuộc tương lai; những tưởng về dục nào thuộc hiện tại, những tưởng về dục nào thuộc tương lai – cả hai loại này đều là lãnh địa của Ma, là cảnh giới của Ma, là mảnh đất gieo trồng của Ma, là nơi kiếm ăn của Ma. Ở đây, những tâm hành xấu ác, bất thiện này khởi lên: tham ái, sân hận, và tranh cạnh. Chúng trở thành chướng ngại cho vị Thánh đệ tử đang tu học ở đây. Này các tỳ khưu, ở đây, vị Thánh đệ tử suy xét như sau: ‘Những dục nào thuộc hiện tại, những dục nào thuộc tương lai; những tưởng về dục nào thuộc hiện tại, những tưởng về dục nào thuộc tương lai – cả hai loại này đều là lãnh địa của Ma, là cảnh giới của Ma, là mảnh đất gieo trồng của Ma, là nơi kiếm ăn của Ma. Ở đây, những tâm hành xấu ác, bất thiện này khởi lên: tham ái, sân hận, và tranh cạnh. Chúng trở thành chướng ngại cho vị Thánh đệ tử đang tu học ở đây. Vậy thì, ta hãy an trú với tâm rộng lớn, cao thượng, chinh phục thế gian, quyết định bằng tâm. Khi ta an trú với tâm rộng lớn, cao thượng, chinh phục thế gian, quyết định bằng tâm, những tâm hành xấu ác, bất thiện là tham ái, sân hận, và tranh cạnh sẽ không tồn tại. Do sự đoạn trừ chúng, tâm của ta sẽ trở nên không nhỏ hẹp, vô lượng, được khéo tu tập.’ Đối với vị ấy, khi đã thực hành như vậy, thường xuyên an trú như vậy, tâm trở nên tịnh tín trong đối tượng (của thiền). Khi có sự tịnh tín, vị ấy hoặc ngay bây giờ chứng đạt Bất Động, hoặc giải thoát bằng trí tuệ. Sau khi thân hoại mạng chung, có trường hợp này xảy ra là thức tương ứng của vị ấy sẽ đi đến trạng thái Bất Động. Này các tỳ khưu, đây được gọi là con đường thực hành thứ nhất thích hợp với Bất Động.”
Puna caparaṁ, bhikkhave, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati: ‘ye ca diṭṭhadhammikā kāmā, ye ca samparāyikā kāmā; yā ca diṭṭhadhammikā kāmasaññā, yā ca samparāyikā kāmasaññā; yaṁ kiñci rūpaṁ sabbaṁ rūpaṁ cattāri ca mahābhūtāni, catunnañca mahābhūtānaṁ upādāyarūpan’ti. Tassa evaṁpaṭipannassa tabbahulavihārino āyatane cittaṁ pasīdati. Sampasāde sati etarahi vā āneñjaṁ samāpajjati paññāya vā adhimuccati. Kāyassa bhedā paraṁ maraṇā, ṭhānametaṁ vijjati yaṁ taṁsaṁvattanikaṁ viññāṇaṁ assa āneñjūpagaṁ. Ayaṁ, bhikkhave, dutiyā āneñjasappāyā paṭipadā akkhāyati.
Furthermore, a noble disciple reflects: ‘Sensual pleasures in this life and in lives to come, sensual perceptions in this life and in lives to come; whatever form there is, all form is the four principal states, or form derived from the four principal states.’ Practicing in this way and meditating on it often their mind becomes confident in this dimension. Being confident, they either attain the imperturbable now, or are freed by wisdom. When their body breaks up, after death, it’s possible that that conducive consciousness will be reborn in the imperturbable. This is said to be the second way of practice suitable for attaining the imperturbable.
67. “Lại nữa, này các tỳ khưu, vị Thánh đệ tử suy xét như sau: ‘Những dục nào thuộc hiện tại, những dục nào thuộc tương lai; những tưởng về dục nào thuộc hiện tại, những tưởng về dục nào thuộc tương lai; bất cứ sắc nào (tất cả sắc) đều là bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành.’ Đối với vị ấy, khi đã thực hành như vậy, thường xuyên an trú như vậy, tâm trở nên tịnh tín trong đối tượng (của thiền). Khi có sự tịnh tín, vị ấy hoặc ngay bây giờ chứng đạt Bất Động, hoặc giải thoát bằng trí tuệ. Sau khi thân hoại mạng chung, có trường hợp này xảy ra là thức tương ứng của vị ấy sẽ đi đến trạng thái Bất Động. Này các tỳ khưu, đây được gọi là con đường thực hành thứ hai thích hợp với Bất Động.”
Puna caparaṁ, bhikkhave, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati: ‘ye ca diṭṭhadhammikā kāmā, ye ca samparāyikā kāmā; yā ca diṭṭhadhammikā kāmasaññā, yā ca samparāyikā kāmasaññā; ye ca diṭṭhadhammikā rūpā, ye ca samparāyikā rūpā; yā ca diṭṭhadhammikā rūpasaññā, yā ca samparāyikā rūpasaññā—ubhayametaṁ aniccaṁ. Yadaniccaṁ taṁ nālaṁ abhinandituṁ, nālaṁ abhivadituṁ, nālaṁ ajjhositun’ti. Tassa evaṁpaṭipannassa tabbahulavihārino āyatane cittaṁ pasīdati. Sampasāde sati etarahi vā āneñjaṁ samāpajjati paññāya vā adhimuccati. Kāyassa bhedā paraṁ maraṇā, ṭhānametaṁ vijjati yaṁ taṁsaṁvattanikaṁ viññāṇaṁ assa āneñjūpagaṁ. Ayaṁ, bhikkhave, tatiyā āneñjasappāyā paṭipadā akkhāyati.
Furthermore, a noble disciple reflects: ‘Sensual pleasures in this life and in lives to come, sensual perceptions in this life and in lives to come, visions in this life and in lives to come, perceptions of visions in this life and in lives to come; all of these are impermanent. And what’s impermanent is not worth approving, welcoming, or clinging to.’ Practicing in this way and meditating on it often their mind becomes confident in this dimension. Being confident, they either attain the imperturbable now, or are freed by wisdom. When their body breaks up, after death, it’s possible that that conducive consciousness will be reborn in the imperturbable. This is said to be the third way of practice suitable for attaining the imperturbable.
Này các tỳ khưu, lại nữa, vị thánh đệ tử suy xét như sau: ‘Những dục nào thuộc hiện tại, những dục nào thuộc tương lai; những tưởng về dục nào thuộc hiện tại, những tưởng về dục nào thuộc tương lai; những sắc pháp nào thuộc hiện tại, những sắc pháp nào thuộc tương lai; những tưởng về sắc pháp nào thuộc hiện tại, những tưởng về sắc pháp nào thuộc tương lai – cả hai loại này đều là vô thường. Cái gì vô thường thì không đáng để hoan hỷ, không đáng để tán dương, không đáng để chấp thủ.’ Đối với vị ấy, người đã thực hành như vậy, người thường an trú trong pháp ấy, tâm được tịnh tín ở nơi xứ ấy. Khi có sự tịnh tín, vị ấy hoặc là chứng đạt Bất Động ngay trong hiện tại, hoặc là được giải thoát bằng trí tuệ. Sau khi thân hoại mạng chung, có trường hợp này là thức tương ưng với điều ấy của vị ấy sẽ đi đến trạng thái Bất Động. Này các tỳ khưu, đây được gọi là con đường thứ ba tương ứng với Bất Động.
Puna caparaṁ, bhikkhave, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati: ‘ye ca diṭṭhadhammikā kāmā, ye ca samparāyikā kāmā; yā ca diṭṭhadhammikā kāmasaññā, yā ca samparāyikā kāmasaññā; ye ca diṭṭhadhammikā rūpā, ye ca samparāyikā rūpā; yā ca diṭṭhadhammikā rūpasaññā, yā ca samparāyikā rūpasaññā; yā ca āneñjasaññā—sabbā saññā. Yatthetā aparisesā nirujjhanti etaṁ santaṁ etaṁ paṇītaṁ—yadidaṁ ākiñcaññāyatanan’ti. Tassa evaṁpaṭipannassa tabbahulavihārino āyatane cittaṁ pasīdati. Sampasāde sati etarahi vā ākiñcaññāyatanaṁ samāpajjati paññāya vā adhimuccati. Kāyassa bhedā paraṁ maraṇā, ṭhānametaṁ vijjati yaṁ taṁsaṁvattanikaṁ viññāṇaṁ assa ākiñcaññāyatanūpagaṁ. Ayaṁ, bhikkhave, paṭhamā ākiñcaññāyatanasappāyā paṭipadā akkhāyati.
Furthermore, a noble disciple reflects: ‘Sensual pleasures in this life and in lives to come, sensual perceptions in this life and in lives to come, visions in this life and in lives to come, perceptions of visions in this life and in lives to come, and perceptions of the imperturbable; all are perceptions. Where they cease without remainder, that is peaceful, that is sublime, namely the dimension of nothingness.’ Practicing in this way and meditating on it often their mind becomes confident in this dimension. Being confident, they either attain the dimension of nothingness now, or are freed by wisdom. When their body breaks up, after death, it’s possible that that conducive consciousness will be reborn in the dimension of nothingness. This is said to be the first way of practice suitable for attaining the dimension of nothingness.
68. Này các tỳ khưu, lại nữa, vị thánh đệ tử suy xét như sau: ‘Những dục nào thuộc hiện tại, những dục nào thuộc tương lai; những tưởng về dục nào thuộc hiện tại, những tưởng về dục nào thuộc tương lai; những sắc pháp nào thuộc hiện tại, những sắc pháp nào thuộc tương lai; những tưởng về sắc pháp nào thuộc hiện tại, những tưởng về sắc pháp nào thuộc tương lai; và tưởng về Bất Động – tất cả các tưởng này, nơi nào chúng được đoạn diệt không còn dư tàn, đó là tịch tịnh, đó là vi diệu – tức là Vô Sở Hữu Xứ.’ Đối với vị ấy, người đã thực hành như vậy, người thường an trú trong pháp ấy, tâm được tịnh tín ở nơi xứ ấy. Khi có sự tịnh tín, vị ấy hoặc là chứng đạt Vô Sở Hữu Xứ ngay trong hiện tại, hoặc là được giải thoát bằng trí tuệ. Sau khi thân hoại mạng chung, có trường hợp này là thức tương ưng với điều ấy của vị ấy sẽ đi đến Vô Sở Hữu Xứ. Này các tỳ khưu, đây được gọi là con đường thứ nhất tương ứng với Vô Sở Hữu Xứ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, ariyasāvako araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā iti paṭisañcikkhati: ‘suññamidaṁ attena vā attaniyena vā’ti. Tassa evaṁpaṭipannassa tabbahulavihārino āyatane cittaṁ pasīdati. Sampasāde sati etarahi vā ākiñcaññāyatanaṁ samāpajjati paññāya vā adhimuccati. Kāyassa bhedā paraṁ maraṇā, ṭhānametaṁ vijjati yaṁ taṁsaṁvattanikaṁ viññāṇaṁ assa ākiñcaññāyatanūpagaṁ. Ayaṁ, bhikkhave, dutiyā ākiñcaññāyatanasappāyā paṭipadā akkhāyati.
Furthermore, a noble disciple has gone to a wilderness, or to the root of a tree, or to an empty hut, and reflects like this: ‘This is empty of a self or what belongs to a self.’ Practicing in this way and meditating on it often their mind becomes confident in this dimension. Being confident, they either attain the dimension of nothingness now, or are freed by wisdom. When their body breaks up, after death, it’s possible that that conducive consciousness will be reborn in the dimension of nothingness. This is said to be the second way of practice suitable for attaining the dimension of nothingness.
69. Này các tỳ khưu, lại nữa, vị thánh đệ tử đi đến khu rừng, hoặc đi đến gốc cây, hoặc đi đến ngôi nhà trống, rồi suy xét như sau: ‘Cái này là trống không, không có tự ngã hay những gì thuộc về tự ngã.’ Đối với vị ấy, người đã thực hành như vậy, người thường an trú trong pháp ấy, tâm được tịnh tín ở nơi xứ ấy. Khi có sự tịnh tín, vị ấy hoặc là chứng đạt Vô Sở Hữu Xứ ngay trong hiện tại, hoặc là được giải thoát bằng trí tuệ. Sau khi thân hoại mạng chung, có trường hợp này là thức tương ưng với điều ấy của vị ấy sẽ đi đến Vô Sở Hữu Xứ. Này các tỳ khưu, đây được gọi là con đường thứ hai tương ứng với Vô Sở Hữu Xứ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati: ‘nāhaṁ kvacani kassaci kiñcanatasmiṁ, na ca mama kvacani kismiñci kiñcanaṁ natthī’ti. Tassa evaṁpaṭipannassa tabbahulavihārino āyatane cittaṁ pasīdati. Sampasāde sati etarahi vā ākiñcaññāyatanaṁ samāpajjati paññāya vā adhimuccati. Kāyassa bhedā paraṁ maraṇā, ṭhānametaṁ vijjati yaṁ taṁsaṁvattanikaṁ viññāṇaṁ assa ākiñcaññāyatanūpagaṁ. Ayaṁ, bhikkhave, tatiyā ākiñcaññāyatanasappāyā paṭipadā akkhāyati.
Furthermore, a noble disciple reflects: ‘I don’t belong to anyone anywhere! And nothing belongs to me anywhere!’ Practicing in this way and meditating on it often their mind becomes confident in this dimension. Being confident, they either attain the dimension of nothingness now, or are freed by wisdom. When their body breaks up, after death, it’s possible that that conducive consciousness will be reborn in the dimension of nothingness. This is said to be the third way of practice suitable for attaining the dimension of nothingness.
70. Này các tỳ khưu, lại nữa, vị thánh đệ tử suy xét như sau: ‘Ta không là một cái gì của bất cứ ai ở bất cứ đâu, và cũng không có cái gì của ta ở bất cứ đâu trong bất cứ vật gì.’ Đối với vị ấy, người đã thực hành như vậy, người thường an trú trong pháp ấy, tâm được tịnh tín ở nơi xứ ấy. Khi có sự tịnh tín, vị ấy hoặc là chứng đạt Vô Sở Hữu Xứ ngay trong hiện tại, hoặc là được giải thoát bằng trí tuệ. Sau khi thân hoại mạng chung, có trường hợp này là thức tương ưng với điều ấy của vị ấy sẽ đi đến Vô Sở Hữu Xứ. Này các tỳ khưu, đây được gọi là con đường thứ ba tương ứng với Vô Sở Hữu Xứ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati: ‘ye ca diṭṭhadhammikā kāmā, ye ca samparāyikā kāmā; yā ca diṭṭhadhammikā kāmasaññā, yā ca samparāyikā kāmasaññā; ye ca diṭṭhadhammikā rūpā, ye ca samparāyikā rūpā; yā ca diṭṭhadhammikā rūpasaññā, yā ca samparāyikā rūpasaññā; yā ca āneñjasaññā, yā ca ākiñcaññāyatanasaññā—sabbā saññā. Yatthetā aparisesā nirujjhanti etaṁ santaṁ etaṁ paṇītaṁ—yadidaṁ nevasaññānāsaññāyatanan’ti. Tassa evaṁpaṭipannassa tabbahulavihārino āyatane cittaṁ pasīdati. Sampasāde sati etarahi vā nevasaññānāsaññāyatanaṁ samāpajjati paññāya vā adhimuccati. Kāyassa bhedā paraṁ maraṇā, ṭhānametaṁ vijjati yaṁ taṁsaṁvattanikaṁ viññāṇaṁ assa nevasaññānāsaññāyatanūpagaṁ. Ayaṁ, bhikkhave, nevasaññānāsaññāyatanasappāyā paṭipadā akkhāyatī”ti.
Furthermore, a noble disciple reflects: ‘Sensual pleasures in this life and in lives to come, sensual perceptions in this life and in lives to come, visions in this life and in lives to come, perceptions of visions in this life and in lives to come, perceptions of the imperturbable, and perceptions of the dimension of nothingness; all are perceptions. Where they cease without remainder, that is peaceful, that is sublime, namely the dimension of neither perception nor non-perception.’ Practicing in this way and meditating on it often their mind becomes confident in this dimension. Being confident, they either attain the dimension of neither perception nor non-perception now, or are freed by wisdom. When their body breaks up, after death, it’s possible that that conducive consciousness will be reborn in the dimension of neither perception nor non-perception. This is said to be the way of practice suitable for attaining the dimension of neither perception nor non-perception.”
Này các tỳ khưu, lại nữa, vị thánh đệ tử suy xét như sau: ‘Những dục nào thuộc hiện tại, những dục nào thuộc tương lai; những tưởng về dục nào thuộc hiện tại, những tưởng về dục nào thuộc tương lai; những sắc pháp nào thuộc hiện tại, những sắc pháp nào thuộc tương lai; những tưởng về sắc pháp nào thuộc hiện tại, những tưởng về sắc pháp nào thuộc tương lai; và tưởng về Bất Động, và tưởng về Vô Sở Hữu Xứ – tất cả các tưởng này, nơi nào chúng được đoạn diệt không còn dư tàn, đó là tịch tịnh, đó là vi diệu – tức là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ.’ Đối với vị ấy, người đã thực hành như vậy, người thường an trú trong pháp ấy, tâm được tịnh tín ở nơi xứ ấy. Khi có sự tịnh tín, vị ấy hoặc là chứng đạt Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ ngay trong hiện tại, hoặc là được giải thoát bằng trí tuệ. Sau khi thân hoại mạng chung, có trường hợp này là thức tương ưng với điều ấy của vị ấy sẽ đi đến Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Này các tỳ khưu, đây được gọi là con đường tương ứng với Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ.
Evaṁ vutte, āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca: “idha, bhante, bhikkhu evaṁ paṭipanno hoti: ‘no cassa, no ca me siyā; na bhavissati, na me bhavissati; yadatthi yaṁ, bhūtaṁ—taṁ pajahāmī’ti. Evaṁ upekkhaṁ paṭilabhati. Parinibbāyeyya nu kho so, bhante, bhikkhu na vā parinibbāyeyyā”ti?
“Apetthekacco, ānanda, bhikkhu parinibbāyeyya, apetthekacco bhikkhu na parinibbāyeyyā”ti.
“Ko nu kho, bhante, hetu ko paccayo yenapetthekacco bhikkhu parinibbāyeyya, apetthekacco bhikkhu na parinibbāyeyyā”ti?
“Idhānanda, bhikkhu evaṁ paṭipanno hoti: ‘no cassa, no ca me siyā; na bhavissati, na me bhavissati; yadatthi, yaṁ bhūtaṁ—taṁ pajahāmī’ti. Evaṁ upekkhaṁ paṭilabhati. So taṁ upekkhaṁ abhinandati, abhivadati, ajjhosāya tiṭṭhati. Tassa taṁ upekkhaṁ abhinandato abhivadato ajjhosāya tiṭṭhato tannissitaṁ hoti viññāṇaṁ tadupādānaṁ. Saupādāno, ānanda, bhikkhu na parinibbāyatī”ti.
“Kahaṁ pana so, bhante, bhikkhu upādiyamāno upādiyatī”ti?
“Nevasaññānāsaññāyatanaṁ, ānandā”ti.
“Upādānaseṭṭhaṁ kira so, bhante, bhikkhu upādiyamāno upādiyatī”ti?
“Upādānaseṭṭhañhi so, ānanda, bhikkhu upādiyamāno upādiyati. Upādānaseṭṭhañhetaṁ, ānanda, yadidaṁ—nevasaññānāsaññāyatanaṁ.
When he said this, Venerable Ānanda said to the Buddha: “Sir, take a mendicant who practices like this: ‘It might not be, and it might not be mine. It will not be, and it will not be mine. I am giving up what exists, what has come to be.’ In this way they gain equanimity. Would that mendicant become extinguished or not?”
“One such mendicant might become extinguished, Ānanda, while another might not.”
“What is the cause, sir, what is the reason for this?”
“Ānanda, take a mendicant who practices like this: ‘It might not be, and it might not be mine. It will not be, and it will not be mine. I am giving up what exists, what has come to be.’ In this way they gain equanimity. They approve, welcome, and keep clinging to that equanimity. Their consciousness has that as support and fuel for grasping. A mendicant with fuel for grasping does not become extinguished.”
“But sir, what is that mendicant grasping?”
“The dimension of neither perception nor non-perception.”
“Sir, it seems that mendicant is grasping the best thing to grasp!”
“Indeed, Ānanda. For the best thing to grasp is the dimension of neither perception nor non-perception.
71. Khi được nói như vậy, Tôn giả Ānanda bạch với Thế Tôn lời này: – “Bạch Thế Tôn, ở đây, vị tỳ khưu thực hành như vầy: ‘Nó đã không có, và nó sẽ không là của ta; nó sẽ không có, và nó sẽ không là của ta; cái gì hiện có, cái gì đã sanh khởi – ta từ bỏ cái ấy.’ Vị ấy chứng đắc tâm xả như vậy. Bạch Thế Tôn, liệu vị tỳ khưu ấy có thể nhập Vô Dư Niết-bàn hay không thể nhập Vô Dư Niết-bàn?” – “Này Ānanda, ở đây có một số tỳ khưu có thể nhập Vô Dư Niết-bàn, và có một số tỳ khưu không thể nhập Vô Dư Niết-bàn.” – “Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì mà ở đây có một số tỳ khưu có thể nhập Vô Dư Niết-bàn, và có một số tỳ khưu không thể nhập Vô Dư Niết-bàn?” – “Này Ānanda, ở đây, vị tỳ khưu thực hành như vầy: ‘Nó đã không có, và nó sẽ không là của ta; nó sẽ không có, và nó sẽ không là của ta; cái gì hiện có, cái gì đã sanh khởi – ta từ bỏ cái ấy.’ Vị ấy chứng đắc tâm xả như vậy. Vị ấy hoan hỷ, tán dương, và an trú với sự chấp thủ vào tâm xả ấy. Đối với vị ấy, người hoan hỷ, tán dương, và an trú với sự chấp thủ vào tâm xả ấy, thức của vị ấy nương tựa vào đó, chấp thủ vào đó. Này Ānanda, vị tỳ khưu có chấp thủ thì không nhập Vô Dư Niết-bàn.” – “Bạch Thế Tôn, khi chấp thủ, vị tỳ khưu ấy chấp thủ vào cái gì?” – “Này Ānanda, vào Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ.” – “Bạch Thế Tôn, dường như khi chấp thủ, vị tỳ khưu ấy chấp thủ vào đối tượng chấp thủ tối thượng.” – “Này Ānanda, quả thật khi chấp thủ, vị tỳ khưu ấy chấp thủ vào đối tượng chấp thủ tối thượng. Này Ānanda, đối tượng chấp thủ tối thượng chính là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ.”
Idhānanda, bhikkhu evaṁ paṭipanno hoti: ‘no cassa, no ca me siyā; na bhavissati, na me bhavissati; yadatthi, yaṁ bhūtaṁ—taṁ pajahāmī’ti. Evaṁ upekkhaṁ paṭilabhati. So taṁ upekkhaṁ nābhinandati, nābhivadati, na ajjhosāya tiṭṭhati. Tassa taṁ upekkhaṁ anabhinandato anabhivadato anajjhosāya tiṭṭhato na tannissitaṁ hoti viññāṇaṁ na tadupādānaṁ. Anupādāno, ānanda, bhikkhu parinibbāyatī”ti.
Take a mendicant who practices like this: ‘It might not be, and it might not be mine. It will not be, and it will not be mine. I am giving up what exists, what has come to be.’ In this way they gain equanimity. They don’t approve, welcome, or keep clinging to that equanimity. So their consciousness doesn’t have that as support and fuel for grasping. A mendicant free of grasping becomes extinguished.”
72. “Này Ānanda, ở đây, vị tỳ khưu thực hành như vầy: ‘Nó đã không có, và nó sẽ không là của ta; nó sẽ không có, và nó sẽ không là của ta; cái gì hiện có, cái gì đã sanh khởi – ta từ bỏ cái ấy.’ Vị ấy chứng đắc tâm xả như vậy. Vị ấy không hoan hỷ, không tán dương, và không an trú với sự chấp thủ vào tâm xả ấy. Đối với vị ấy, người không hoan hỷ, không tán dương, và không an trú với sự chấp thủ vào tâm xả ấy, thức của vị ấy không nương tựa vào đó, không chấp thủ vào đó. Này Ānanda, vị tỳ khưu không có chấp thủ thì nhập Vô Dư Niết-bàn.”
“Acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante. Nissāya nissāya kira no, bhante, bhagavatā oghassa nittharaṇā akkhātā. Katamo pana, bhante, ariyo vimokkho”ti?
“Idhānanda, bhikkhu ariyasāvako iti paṭisañcikkhati: ‘ye ca diṭṭhadhammikā kāmā, ye ca samparāyikā kāmā; yā ca diṭṭhadhammikā kāmasaññā, yā ca samparāyikā kāmasaññā; ye ca diṭṭhadhammikā rūpā, ye ca samparāyikā rūpā; yā ca diṭṭhadhammikā rūpasaññā, yā ca samparāyikā rūpasaññā; yā ca āneñjasaññā, yā ca ākiñcaññāyatanasaññā, yā ca nevasaññānāsaññāyatanasaññā—esa sakkāyo yāvatā sakkāyo. Etaṁ amataṁ yadidaṁ anupādā cittassa vimokkho.
Iti, kho, ānanda, desitā mayā āneñjasappāyā paṭipadā, desitā ākiñcaññāyatanasappāyā paṭipadā, desitā nevasaññānāsaññāyatanasappāyā paṭipadā, desitā nissāya nissāya oghassa nittharaṇā, desito ariyo vimokkho.
Yaṁ kho, ānanda, satthārā karaṇīyaṁ sāvakānaṁ hitesinā anukampakena anukampaṁ upādāya, kataṁ vo taṁ mayā. Etāni, ānanda, rukkhamūlāni, etāni suññāgārāni. Jhāyathānanda, mā pamādattha, mā pacchā vippaṭisārino ahuvattha. Ayaṁ vo amhākaṁ anusāsanī’”ti.
“It’s incredible, sir, it’s amazing! It seems the Buddha has explained to us how to cross over the flood by relying on one support or another. But sir, what is noble liberation?”
“Ānanda, it’s when a noble disciple reflects like this: ‘Sensual pleasures in this life and in lives to come, sensual perceptions in this life and in lives to come, visions in this life and in lives to come, perceptions of visions in this life and in lives to come, perceptions of the imperturbable, perceptions of the dimension of nothingness, perceptions of the dimension of neither perception nor non-perception; that is substantial reality as far as substantial reality extends. But this is freedom from death, namely the liberation of the mind by not grasping.’
So, Ānanda, I have taught the ways of practice suitable for attaining the imperturbable, the dimension of nothingness, and the dimension of neither perception nor non-perception. I have taught how to cross the flood by relying on one support or another, and I have taught noble liberation.
Out of sympathy, I’ve done what a teacher should do who wants what’s best for their disciples. Here are these roots of trees, and here are these empty huts. Practice absorption, Ānanda! Don’t be negligent! Don’t regret it later! This is my instruction to you.”
73. “Bạch Thế Tôn, thật vi diệu! Bạch Thế Tôn, thật hy hữu! Bạch Thế Tôn, dường như Thế Tôn đã tuyên thuyết về sự vượt qua bộc lưu bằng cách nương tựa vào pháp này, pháp kia. Nhưng bạch Thế Tôn, thế nào là sự giải thoát cao thượng?” – “Này Ānanda, ở đây, vị Thánh đệ tử suy xét như vầy: ‘Các dục trong hiện tại và các dục trong tương lai; các tưởng về dục trong hiện tại và các tưởng về dục trong tương lai; các sắc trong hiện tại và các sắc trong tương lai; các tưởng về sắc trong hiện tại và các tưởng về sắc trong tương lai; các tưởng về Bất Động, các tưởng về Vô Sở Hữu Xứ, và các tưởng về Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ – đây là thân kiến, trong phạm vi của thân kiến. Đây là trạng thái bất tử, tức là sự giải thoát của tâm do không còn chấp thủ.’ Này Ānanda, như vậy, Ta đã giảng dạy pháp hành thích hợp với Bất Động, đã giảng dạy pháp hành thích hợp với Vô Sở Hữu Xứ, đã giảng dạy pháp hành thích hợp với Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, đã giảng dạy về sự vượt qua bộc lưu bằng cách nương tựa vào pháp này, pháp kia, đã giảng dạy về sự giải thoát cao thượng. Này Ānanda, những gì một vị Đạo Sư cần làm cho các đệ tử, vì lòng bi mẫn, vì mưu cầu hạnh phúc cho họ, Ta đã làm cho các ngươi. Này Ānanda, đây là những gốc cây, đây là những ngôi nhà trống. Hãy thiền định, này Ānanda, chớ có phóng dật, để sau này các ngươi khỏi phải hối hận. Đây là lời giáo huấn của chúng ta dành cho các ngươi.”
Idamavoca bhagavā. Attamano āyasmā ānando bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
That is what the Buddha said. Satisfied, Venerable Ānanda approved what the Buddha said.
Thế Tôn đã thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ānanda, với tâm hoan hỷ, đã tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Āneñjasappāyasuttaṁ niṭṭhitaṁ chaṭṭhaṁ.
Kinh Thích Hợp Với Bất Động, kinh thứ sáu, kết thúc.