- Majjhima Nikāya 105
Sunakkhattasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Sunakkhattasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn trú tại Vesālī (Tỳ-xá-ly), ở Ðại Lâm, tại Trùng Các giảng đường (Kutagarasala).
SC 2Lúc bấy giờ nhiều Tỷ-kheo, trước mặt Thế Tôn tuyên bố đã chứng trí giác: “Chúng tôi biết rằng sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những điều nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa”.
SC 3Sunakkhatta Licchaviputta (Thiện Tinh Ly-xa Tử) được nghe: “Nhiều Tỷ-kheo, trước mặt Thế Tôn tuyên bố đã chứng trí giác: ‘Chúng tôi biết rằng sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những điều nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa’”. Rồi Sunakkhatta Licchaviputta đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Sunakkhatta Licchaviputta bạch Thế Tôn
SC 4—Bạch Thế Tôn, con có được nghe như sau: “Nhiều Tỷ-kheo, trước mặt Thế Tôn tuyên bố đã chứng trí giác: ‘Chúng tôi biết rằng sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những điều nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa’”. Bạch Thế Tôn, không biết các Tỷ-kheo ấy đã tuyên bố một cách chơn chánh chứng trí giác, hay ở đây có một số Tỷ-kheo, vì tăng thượng mạn đã tuyên bố chứng trí giác?
SC 5—Này Sunakkhatta, những vị Tỷ-kheo trước mặt Ta đã tuyên bố chứng trí giác: “Chúng tôi biết rằng, sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa”. Ở đây, có một số Tỷ-kheo đã chơn chánh tuyên bố chứng trí giác; nhưng ở đây, cũng có một số Tỷ-kheo chính vì tăng thượng mạn, đã tuyên bố chứng trí giác. Ở đây, này Sunakkhatta, những vị Tỷ-kheo nào đã chơn chánh tuyên bố chứng trí giác, thời đối với các vị ấy, thật là đúng như vậy. Nhưng đối với các vị Tỷ-kheo nào, vì tăng thượng mạn đã tuyên bố chứng tri giác, ở đây, này Sunakkhatta, Như Lai nghĩ như sau: “Ta hãy thuyết pháp cho những vị ấy”. Và như vậy, ở đây, này Sunakkhatta, Như Lai suy nghĩ: “Ta hãy thuyết pháp cho những vị ấy”. Nhưng ở đây, nếu có một số người ngu si, bày đặt câu hỏi, đến hỏi Như Lai; ở đây, này Sunakkhatta, Như Lai suy nghĩ như sau: “Ta hãy thuyết pháp cho những người ấy”. Như Lai suy nghĩ như vậy, không có làm khác.
SC 6—Nay đã đúng thời để thuyết pháp, bạch Thế Tôn! Nay đã đúng thời để thuyết pháp, bạch Thiện Thệ! Thế Tôn thuyết pháp như thế nào, sau khi nghe Thế Tôn xong, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
SC 7—Vậy này Sunakkhatta, hãy nghe và khéo tác ý kỹ, Ta sẽ giảng.
SC 8—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 9Sunakkhatta Licchaviputta vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau
SC 10—Này Sunakkhatta, có năm dục trưởng dưỡng này. Thế nào là năm? Các sắc do mắt nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến dục, hấp dẫn; các tiếng do tai nhận thức …; các hương do mũi nhận thức …; các vị do lưỡi nhận thức …; các xúc do thân cảm xúc khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này Sunakkhatta, những pháp này là năm dục trưởng dưỡng.
SC 11Nhưng này Sunakkhatta, sự tình này xảy ra khi ở đây có số người thiên nặng về vật chất thế gian. Ðối với người thiên nặng về vật chất thế gian, này Sunakkhatta, câu chuyện (thích hợp với người ấy) phải tùy thuộc như thế nào để phù hợp với điều người ấy suy tầm và suy tư, và người ấy chỉ giao thiệp với người nào người ấy thích thú. Nhưng nếu câu chuyện chỉ nói liên hệ đến bất động, thời người ấy không nghe, không lóng tai, và tâm không an trú vào trí giác. Và người ấy không giao thiệp với người mà người ấy không thích thú.
SC 12Ví như, này Sunakkhatta, có người đã lâu không trú ở trong làng hay thị trấn của mình, và có thể thấy một người vừa mới từ làng ấy hay thị trấn ấy lại. Người này sẽ hỏi người ấy về sự an ninh của làng hay thị trấn ấy, về đồ ăn uống sung túc và về ít bệnh tật, và người ấy sẽ nói cho người này biết về sự an ổn của làng hay thị trấn ấy, về đồ ăn uống sung túc và về ít bệnh tật. Này Sunakkhatta, Ông nghĩ thế nào? Có phải người này sẽ nghe người kia, lóng tai, tâm an trú vào trí giác và người này sẽ giao thiệp với người ấy mà người này thích thú?
SC 13—Thưa phải vậy, bạch Thế Tôn.
SC 14—Cũng vậy, này Sunakkhatta, sự tình này xảy ra khi ở đây có số người thiên nặng về vật chất thế gian. Ðối với người thiên nặng về vật chất thế gian, này Sunakkhatta, câu chuyện thích hợp với người ấy phải tùy thuộc như thế nào để phù hợp với điều người ấy suy tầm và suy tư, và người ấy chỉ giao thiệp với người mà người ấy thích thú. Nhưng nếu câu chuyện chỉ nói liên hệ đến Bất động, thời người ấy không nghe, không lóng tai và tâm không an trú vào thượng trí, và người ấy không giao thiệp với người mà người ấy không thích thú. Người ấy cần được hiểu như vầy: “Là hạng người thiên nặng về vật chất thế gian”.
SC 15Này Sunakkhatta, sự tình này xảy ra, khi một số người thiên nặng về Bất động. Ðối với người thiên nặng về Bất động, này Sunakkhatta, câu chuyện thích hợp (với người ấy) phải tùy thuộc như thế nào để phù hợp với điều người ấy suy tầm và suy tư, và người ấy chỉ giao thiệp với người mà người ấy thích thú. Nhưng nếu câu chuyện chỉ nói liên hệ đến vật chất thế gian, thời người ấy không nghe, không lóng tai và tâm không an trú vào thượng trí, và người ấy không giao thiệp với người mà người ấy không thích thú.
SC 16Ví như, này Sunakkhatta, một lá vàng khô đã rời khỏi cành, không còn xanh trở lại; cũng vậy, này Sunakkhatta, đối với hạng người thiên nặng về Bất động, đã rời khỏi kiết sử vật chất thế gian. Người ấy cần được hiểu như sau: “Ðây là hạng người không liên hệ với kiết sử vật chất thế gian, thiên nặng về Bất động”.
SC 17Này Sunakkhatta, sự tình này xảy ra. Ở đây, có một số người thiên nặng về Vô sở hữu. Ðối với người thiên nặng về Vô sở hữu, này Sunakkhatta, câu chuyện thích hợp với người ấy phải tùy thuộc như thế nào để phù hợp với điều người ấy suy tầm và suy tư, và người ấy chỉ giao thiệp với người mà người ấy thích thú. Nhưng nếu câu chuyện chỉ nói liên hệ đến Bất động, thời người ấy không nghe, không lóng tai, và tâm không an trú vào trí giác, và người ấy không giao thiệp với người mà người ấy không thích thú.
SC 18Ví như, này Sunakkhatta, một hòn đá bị vỡ làm đôi không thể nối liền lại được; cũng vậy, này Sunakkhatta, đối với hạng người thiên nặng về Vô sở hữu, đã bị chặt đứt khỏi kiết sử Bất động, người ấy cần được hiểu như sau: “Ðây là hạng người không liên hệ với kiết sử Bất động, thiên nặng về Vô sở hữu”.
SC 19Này Sunakkhatta, sự tình này xảy ra. Ở đây, có một số người thiên nặng về Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Ðối với người thiên nặng về Phi tưởng phi phi tưởng xứ, này Sunakkhatta, câu chuyện thích hợp với người ấy phải tùy thuộc như thế nào để phù hợp với điều người ấy suy tầm và suy tư, và người ấy chỉ giao thiệp với người mà người ấy thích thú. Nhưng nếu câu chuyện chỉ nói liên hệ đến Vô sở hữu xứ, thời người ấy không nghe, không lóng tai, và tâm không an trú vào trí giác, và người ấy không giao thiệp với người mà người ấy không thích thú.
SC 20Ví như, này Sunakkhatta, một người đã ăn các món ăn mỹ vị và đã quăng bỏ. Này Sunakkhatta, Ông nghĩ thế nào? Người ấy có ưa ăn lại món ăn ấy không?
SC 21—Bạch Thế Tôn không. Vì sao vậy? Vì rằng, bạch Thế Tôn, món ăn ấy được xem là ghê tởm rồi.
SC 22—Cũng vậy, này Sunakkhatta, đối với hạng người thiên nặng về Phi tưởng phi phi tưởng xứ, đã để một bên kiết sử Vô sở hữu xứ. Người ấy cần được hiểu như sau: “Ðây là hạng người không liên hệ với kiết sử Vô sở hữu xứ, thiên nặng về Phi tưởng phi phi tưởng xứ”.
SC 23Này Sunakkhatta sự tình này xảy ra, khi ở đây, có số người thiên nặng về chánh Niết-bàn. Ðối với hạng người thiên nặng về chánh Niết-bàn, này Sunakkhatta, câu chuyện thích hợp với người ấy phải tùy thuộc như thế nào để phù hợp với điều người ấy suy tầm và suy tư, và người ấy chỉ giao thiệp với người mà người ấy thích thú. Nhưng nếu câu chuyện chỉ nói liên hệ đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ, thời người ấy không nghe, không lóng tai, và tâm không an trú vào trí giác. Và người ấy không giao thiệp với người mà người mà ấy không thích.
SC 24Ví như, này Sunakkhatta, cây tala ngọn cây đã bị chặt đứt không thể lớn được nữa; cũng vậy, này Sunakkhatta, đối với hạng người thiên nặng về chánh Niết-bàn, đã cắt đứt kiết sử Phi tưởng phi phi tưởng xứ, đã cắt đứt từ rễ, làm cho như cây tala không thể tái sanh, không thể khởi lên lại trong tương lai. Người ấy cần phải được hiểu như sau: “Ðây là hạng người không liên hệ với kiết sử Phi tưởng phi phi tưởng xứ, thiên nặng về chánh Niết-bàn”.
SC 25Này Sunakkhatta, sự tình này xảy ra, khi ở đây, có một số người suy nghĩ như sau: “Tham ái được vị Sa-môn gọi là mũi tên. Thuốc độc vô minh làm não hại con người với dục, tham, sân. Mũi tên tham ái đã được ta đoạn diệt; thuốc độc vô minh đã được trừ khử; ta thiên nặng về chánh Niết-bàn”. Vị ấy có thể tự hào với mục đích hiện tại. Vị ấy có thể truy cầu những gì không thích hợp với khuynh hướng chánh Niết-bàn, mắt vị ấy có thể truy cầu sắc không thích hợp, tai có thể truy cầu tiếng không thích hợp, mũi có thể truy cầu hương không thích hợp, lưỡi có thể truy cầu vị không thích hợp, thân có thể truy cầu xúc không thích hợp, ý có thể truy cầu pháp không thích hợp. Khi mắt truy cầu sắc không thích hợp, tai truy cầu tiếng không thích hợp, mũi truy cầu hương không thích hợp, lưỡi truy cầu vị không thích hợp, thân truy cầu xúc không thích hợp, ý truy cầu pháp không thích hợp, thời tham dục nhiễu loạn tâm vị ấy. Vị ấy do tâm bị tham dục nhiễu loạn đi đến chết hay đi đến khổ gần như chết.
SC 26Ví như, này Sunakkhatta, một người bị mũi tên bắn, tên ấy có tẩm thuốc độc rất dày. Bạn bè thân hữu, bà con huyết thống người ấy cho mời một y sĩ giải phẫu. Vị y sĩ giải phẫu ấy có thể cắt xung quanh miệng vết thương với con dao; sau khi cắt xung quanh miệng vết thương với con dao, vị y sĩ giải phẫu có thể dò tìm mũi tên với một vật dụng dò tìm. Sau khi dò tìm mũi tên với một vật dụng dò tìm, y sĩ có thể rút mũi tên ra. Y sĩ có thể trừ khử hết thuốc độc, còn để lại một ít nhưng nghĩ không có thuốc độc nào còn lại, y sĩ nói như sau: “Này Hiền giả, mũi tên của Bạn đã được rút ra, thuốc độc đã được trừ khử, không còn dư tàn, và không còn gì nguy hiểm nữa cho Bạn, nhưng Bạn phải chỉ ăn các đồ ăn thích hợp, và hãy gìn giữ, nếu ăn đồ ăn không thích hợp, vết thương của Bạn sẽ làm mủ lại, và thường thường phải cho rửa vết thương, thường thường phải xức thuốc cho miệng vết thương. Trong khi thường thường cho rửa vết thương, thường thường xức thuốc cho miệng vết thương, chớ có để máu cũ đóng khô trên miệng vết thương và hãy cẩn thận khi đi ra giữa gió và nắng; hãy cẩn thận khi đi ra giữa gió và nắng, nếu không, bụi và nhớp có thể nhiễu hại miệng vết thương. Và này Bạn, nếu Bạn chăm sóc vết thương, thời vết thương sẽ được lành”.
SC 27Người ấy suy nghĩ như sau: “Mũi tên đã được rút khỏi (thân) ta, nọc độc đã được trừ khử, không còn dư tàn, và ta đã thoát khỏi nguy hiểm”. Và người ấy ăn những đồ ăn không thích hợp. Vì người ấy ăn những đồ ăn không thích hợp, nên vết thương làm mủ lại. Và thường thường người ấy không rửa vết thương, thường thường không xức thuốc miệng vết thương. Vì người ấy thường thường không rửa vết thương, vì người ấy thường thường không xức thuốc miệng vết thương, nên máu cũ đông lại trên miệng vết thương. Và người ấy thường hay đi giữa gió và nắng. Do người ấy thường hay đi giữa gió và nắng, bụi và nhớp nhiễu hại miệng vết thương; và vì người ấy không chăm sóc vết thương nên vết thương không được lành. Vì người ấy làm chính những việc không thích hợp, và do thuốc độc được trừ khử nhưng còn dư tàn, do cả hai điều ấy nên miệng vết thương có thể lở to hơn trước. Do vết thương lở to, người ấy có thể đi đến chết hay đau khổ gần như chết.
SC 28Cũng vậy, này Sunakkhatta, sự kiện này xảy ra, khi ở đây một số Tỷ-kheo nghĩ như sau: “Tham ái được bậc Sa-môn gọi là mũi tên, thuốc độc vô minh làm não hại (con người) với dục, tham, sân. Mũi tên tham ái đã được ta đoạn diệt; thuốc độc vô minh đã được trừ khử. Ta thiên nặng về chánh Niết-bàn”. Vị ấy có thể tự hào với mục đích hiện tại. Vị ấy có thể truy cầu những gì không thích hợp với khuynh hướng chánh Niết-bàn. Mắt có thể truy cầu sắc không thích hợp, tai có thể truy cầu tiếng không thích hợp, mũi có thể truy cầu hương không thích hợp, lưỡi có thể truy cầu vị không thích hợp, thân có thể truy cầu xúc không thích hợp, ý có thể truy cầu pháp không thích hợp. Khi mắt truy cầu sắc không thích hợp, tai truy cầu tiếng không thích hợp, mũi truy cầu hương không thích hợp, lưỡi truy cầu vị không thích hợp, thân truy cầu xúc không thích hợp, ý truy cầu pháp không thích hợp, thời tham dục nhiễu loạn tâm vị ấy. Vị ấy do tham dục nhiễu loạn tâm, đi đến chết hay đi đến khổ gần như chết.
SC 29Như vậy, này Sunakkhatta, là chết trong giới luật của bậc Thánh, khi vị ấy từ bỏ tu tập, trở về hoàn tục, và như vậy, này Sunakkhatta, là khổ như chết, khi vị ấy phạm một ô uế tội nào.
SC 30Này Sunakkhatta, sự tình này xảy ra, khi ở đây một số Tỷ-kheo suy nghĩ như sau: “Tham ái được bậc Sa-môn gọi là mũi tên, thuốc độc vô minh làm não hại con người với dục, tham, sân. Mũi tên tham ái đã được ta đoạn diệt, thuốc độc vô minh đã được trừ khử. Ta thiên nặng về chánh Niết-bàn”. Chính vì thiên nặng về chánh Niết-bàn, vị ấy không truy cầu những gì không thích hợp với khuynh hướng thiên nặng về Niết-bàn, mắt không truy cầu sắc không thích hợp, tai không truy cầu tiếng không thích hợp, mũi không truy cầu hương không thích hợp, lưỡi không truy cầu vị không thích hợp, thân không truy cầu xúc không thích hợp, ý không truy cầu pháp không thích hợp. Vì mắt vị ấy không truy cầu sắc không thích hợp, vì tai không truy cầu tiếng không thích hợp, vì mũi không truy cầu hương không thích hợp, vì lưỡi không truy cầu vị không thích hợp, vì thân không truy cầu xúc không thích hợp, vì ý không truy cầu pháp không thích hợp, nên tham dục không nhiễu loạn tâm, vì tham dục không nhiễu loạn tâm; nên vị ấy không đi đến chết hay đi đến khổ gần như chết.
SC 31Ví như, này Sunakkhatta, một người bị tên bắn, và mũi tên bị tẩm thuốc độc rất dày. Bạn bè thân hữu, bà con huyết thống người ấy cho mời một y sĩ giải phẫu. Vị y sĩ giải phẫu ấy có thể cắt xung quanh miệng vết thương với con dao; sau khi cắt xung quanh miệng vết thương với con dao, vị y sĩ giải phẫu có thể dò tìm tên với một vật dụng dò tìm. Sau khi dò tìm mũi tên với một vật dụng dò tìm, y sĩ có thể rút mũi tên ra … Y sĩ có thể trừ khử hết thuốc độc không còn để dư lại và biết rằng không còn để dư lại. Vị ấy nói như sau: “Này Bạn, mũi tên của Bạn đã được rút ra, thuốc độc đã được trừ khử, không có dư tàn, nhưng vẫn còn nguy hiểm cho Bạn. Và Bạn hãy ăn những đồ ăn thích hợp, chớ ăn những đồ ăn không thích hợp khiến vết thương có thể làm mủ; và thường thường hãy rửa vết thương, thường thường hãy xức thuốc miệng vết thương, thường thường rửa vết thương, thường thường xức thuốc miệng vết thương, chớ để máu cũ đóng khô lại trên miệng vết thương. Và chớ có đi ra giữa gió và nắng; đi ra giữa gió và nắng, chớ để bụi và nhớp làm nhiễu hại miệng vết thương, hãy sống gìn giữ vết thương, này Bạn, và vết thương sẽ lành”.
SC 32Người ấy suy nghĩ như sau: “Mũi tên đã được rút ra khỏi ta, thuốc độc đã được trừ khử, không có dư tàn. Và ta chưa thoát khỏi nguy hiểm”. Và vị ấy có thể chỉ ăn các đồ ăn thích hợp. Do chỉ ăn các đồ ăn thích hợp miệng vết thương có thể không làm mủ. Và thường thường vị ấy có thể rửa vết thương, thường thường có thể xức thuốc miệng vết thương. Do thường thường rửa vết thương, do thường thường xức thuốc miệng vết thương, máu cũ không có thể đóng khô lại trên miệng vết thương. Người ấy không sốt sắng đi giữa gió và nắng. Do người ấy không sốt sắng đi giữa gió và nắng, bụi và nhớp không có thể nhiễu hại miệng vết thương và người ấy sống gìn giữ vết thương, và vết thương được lành. Vì người ấy chỉ làm những điều thích hợp và vì thuốc độc được trừ khử không còn dư tàn, do hai nhân duyên ấy vết thương được khép kín lại. Khi vết thương được da che kín lại, người ấy không đi đến chết hay không đi đến khổ gần như chết.
SC 33Cũng vậy, này Sunakkhatta, sự kiện này xảy ra, khi ở đây một số Tỷ-kheo suy nghĩ như sau: “Tham ái được bậc Sa-môn gọi là mũi tên, thuốc độc vô minh làm não hại con người với dục, tham, sân. Mũi tên tham ái đã được ta đoạn diệt … không có truy cầu những gì không thích hợp. Mắt không truy cầu sắc không thích hợp, tai không truy cầu tiếng không thích hợp, mũi không truy cầu hương không thích hợp, lưỡi không truy cầu vị không thích hợp, thân không truy cầu xúc không thích hợp, ý không truy cầu pháp không thích hợp. Do mắt người ấy không truy cầu sắc không thích hợp, do tai không truy cầu tiếng không thích hợp, do mũi không truy cầu hương không thích hợp, do lưỡi không truy cầu vị không thích hợp, do thân không truy cầu xúc không thích hợp, do ý không truy cầu pháp không thích hợp, tham dục có thể không nhiễu hại tâm. Do tâm không bị tham dục nhiễu hại, nên người ấy không đi đến chết, hay không đi đến khổ gần như chết.
SC 34Này Sunakkhatta, Ta nói ví dụ này với mục đích làm sáng tỏ ý nghĩa. Nghĩa ở đây như sau: Vết thương, này Sunakkhatta, là đồng nghĩa với sáu xúc xứ (phassayatana); thuốc độc, này Sunakkhatta, là đồng nghĩa với vô minh; mũi tên, này Sunakkhatta, là đồng nghĩa với ái; vật dụng dò tìm, này Sunakkhatta, là đồng nghĩa với niệm; con dao, này Sunakkhatta, là đồng nghĩa với Thánh trí tuệ. Vị y sĩ giải phẫu, này Sunakkhatta, là đồng nghĩa với Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác.
SC 35Thật vậy, này Sunakkhatta, Tỷ-kheo tự mình phòng hộ đối với sáu xúc xứ, nghĩ rằng: “Sanh y (Upadhi) là căn bản của khổ”, sau khi biết như vậy, vị ấy trở thành vô sanh y, giải thoát nhờ đoạn diệt sanh y. Vị ấy còn chú thân của mình trên sanh y hay để tâm đến sanh y, sự tình như vậy không xảy ra.
SC 36Ví như, này Sunakkhatta, một chén uống nước bằng đồng, đẹp đẽ và hương thơm, và chén ấy lại tẩm thuốc độc. Rồi một người đến, muốn sống, muốn không chết, muốn lạc, yếm ly khổ. Này Sunakkhatta, Ông nghĩ thế nào? Người ấy có uống chén bằng đồng này không, nếu người ấy biết: “Sau khi tôi uống từ đây, tôi sẽ đi đến chết hoặc đi đến gần như chết?”
SC 37—Thưa không, bạch Thế Tôn.
SC 38—Cũng vậy, này Sunakkhatta, Tỷ-kheo ấy chắc chắn phòng hộ đối với sáu xúc xứ. “Sanh y là căn bản của đau khổ”, sau khi biết vậy, vị ấy trở thành vô sanh y, giải thoát nhờ đoạn diệt sanh y. Còn chú thân của vị ấy trên sanh y, để tâm đến sanh y, sự tình như vậy không xảy ra. Ví như, này Sunakkhatta, một con rắn độc hết sức độc hại, và có một người đến, muốn sống, muốn không chết, muốn lạc, yếm ly khổ. Này Sunakkhatta, Ông nghĩ thế nào? Người ấy có đưa tay hay gót chân cho con rắn độc hại này không, nếu người ấy biết: “Nếu ta bị con rắn này cắn, ta sẽ đi đến chết hay khổ gần như chết?”
SC 39—Thưa không, bạch Thế Tôn.
SC 40—Cũng vậy, này Sunakkhatta, Tỷ-kheo ấy chắc chắn phòng hộ sáu xúc xứ. “Sanh y là căn bản đau khổ”, sau khi biết vậy, vị ấy trở thành vô sanh y, giải thoát nhờ đoạn diệt sanh y. Còn chú thân của vị ấy trên sanh y, hay để tâm đến sanh y, sự tình như vậy không xảy ra.
SC 41Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Sunakkhatta Licchaviputta hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). 12–07–2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
5. Kinh Sunakkhatta
Tena kho pana samayena sambahulehi bhikkhūhi bhagavato santike aññā byākatā hoti:
“‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāmā”ti.
Assosi kho sunakkhatto licchaviputto: “sambahulehi kira bhikkhūhi bhagavato santike aññā byākatā hoti: ‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyāti pajānāmā’”ti.
Atha kho sunakkhatto licchaviputto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho sunakkhatto licchaviputto bhagavantaṁ etadavoca: “sutaṁ metaṁ, bhante: ‘sambahulehi kira bhikkhūhi bhagavato santike aññā byākatā—khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyāti pajānāmā’ti. Ye te, bhante, bhikkhū bhagavato santike aññaṁ byākaṁsu: ‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyāti pajānāmā’ti, kacci te, bhante, bhikkhū sammadeva aññaṁ byākaṁsu udāhu santetthekacce bhikkhū adhimānena aññaṁ byākaṁsū”ti?
Now at that time several mendicants had declared their enlightenment in the Buddha’s presence:
“We understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’”
Sunakkhatta the Licchavi heard about this.
He went to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him, “Sir, I have heard that several mendicants have declared their enlightenment in the Buddha’s presence. I trust they did so rightly—or are there some who declared enlightenment out of overestimation?”
55. Tôi nghe như vầy. Một thời, Thế Tôn trú tại Vesālī, trong Đại Lâm, tại ngôi giảng đường có mái nhọn. Lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ khưu đã tuyên bố chánh trí ở trước mặt Thế Tôn rằng: “Chúng con biết rõ: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’” Sunakkhatta, con trai của bộ tộc Licchavi, nghe rằng: “Nghe nói có nhiều vị tỳ khưu đã tuyên bố chánh trí ở trước mặt Thế Tôn rằng: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’” Bấy giờ, Sunakkhatta, con trai của bộ tộc Licchavi, đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Sunakkhatta, con trai của bộ tộc Licchavi, bạch với Thế Tôn rằng: “Bạch Thế Tôn, con nghe như vầy: ‘Nghe nói có nhiều vị tỳ khưu đã tuyên bố chánh trí ở trước mặt Thế Tôn rằng: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’’” “Bạch Thế Tôn, những vị tỳ khưu đã tuyên bố chánh trí ở trước mặt Thế Tôn rằng: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa,’ có phải chăng, bạch Thế Tôn, những vị tỳ khưu ấy đã tuyên bố chánh trí một cách chân chánh, hay là có một số tỳ khưu ở đây đã tuyên bố chánh trí do tăng thượng mạn?”
“Ye te, sunakkhatta, bhikkhū mama santike aññaṁ byākaṁsu: ‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyāti pajānāmā’ti. Santetthekacce bhikkhū sammadeva aññaṁ byākaṁsu, santi panidhekacce bhikkhū adhimānenapi aññaṁ byākaṁsu. Tatra, sunakkhatta, ye te bhikkhū sammadeva aññaṁ byākaṁsu tesaṁ taṁ tatheva hoti; ye pana te bhikkhū adhimānena aññaṁ byākaṁsu tatra, sunakkhatta, tathāgatassa evaṁ hoti: ‘dhammaṁ nesaṁ desessan’ti. Evañcettha, sunakkhatta, tathāgatassa hoti: ‘dhammaṁ nesaṁ desessan’ti. Atha ca panidhekacce moghapurisā pañhaṁ abhisaṅkharitvā abhisaṅkharitvā tathāgataṁ upasaṅkamitvā pucchanti. Tatra, sunakkhatta, yampi tathāgatassa evaṁ hoti: ‘dhammaṁ nesaṁ desessan’ti tassapi hoti aññathattan”ti.
“Etassa bhagavā kālo, etassa sugata kālo, yaṁ bhagavā dhammaṁ deseyya. Bhagavato sutvā bhikkhū dhāressantī”ti.
“Tena hi, sunakkhatta, suṇāhi, sādhukaṁ manasi karohi; bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho sunakkhatto licchaviputto bhagavato paccassosi. Bhagavā etadavoca—
“Some of them did so rightly, Sunakkhatta, while others did so out of overestimation. Now, when mendicants declare enlightenment rightly, that is their truth. But when mendicants declare enlightenment out of overestimation, the Realized One thinks: ‘I should teach them the Dhamma.’ If the Realized One thinks he should teach them the Dhamma, but then certain futile men, having carefully planned a question, approach the Realized One and ask it, then the Realized One changes his mind.”
“Now is the time, Blessed One! Now is the time, Holy One! Let the Buddha teach the Dhamma. The mendicants will listen and remember it.”
“Well then, Sunakkhatta, listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” replied Sunakkhatta. The Buddha said this:
56. Này Sunakkhatta, trong số những vị tỳ khưu đã tuyên bố chánh trí ở trước mặt ta rằng: ‘Chúng con biết rõ: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa,’’ có một số tỳ khưu đã tuyên bố chánh trí một cách chân chánh, và cũng có một số tỳ khưu ở đây đã tuyên bố chánh trí do tăng thượng mạn. Này Sunakkhatta, trong trường hợp đó, những vị tỳ khưu đã tuyên bố chánh trí một cách chân chánh, sự việc của họ là đúng như vậy. Còn những vị tỳ khưu đã tuyên bố chánh trí do tăng thượng mạn, này Sunakkhatta, trong trường hợp đó, Như Lai khởi lên ý nghĩ: ‘Ta sẽ thuyết pháp cho họ.’ Này Sunakkhatta, mặc dù Như Lai có ý nghĩ như vậy: ‘Ta sẽ thuyết pháp cho họ,’ nhưng có một số kẻ ngu si ở đây, sau khi sắp đặt câu hỏi này đến câu hỏi khác, đến hỏi Như Lai. Này Sunakkhatta, trong trường hợp đó, ý nghĩ của Như Lai: ‘Ta sẽ thuyết pháp cho họ,’ cũng trở thành khác đi.” “Bạch Thế Tôn, đây là thời, bạch Thiện Thệ, đây là thời để Thế Tôn thuyết pháp. Sau khi nghe từ Thế Tôn, các tỳ khưu sẽ ghi nhớ.” “Vậy thì, này Sunakkhatta, hãy lắng nghe và khéo tác ý, ta sẽ nói.” “Vâng, bạch Thế Tôn,” Sunakkhatta, con trai của bộ tộc Licchavi, vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn đã nói như sau:
Pañca kho ime, sunakkhatta, kāmaguṇā. Katame pañca? Cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā, sotaviññeyyā saddā …pe… ghānaviññeyyā gandhā … jivhāviññeyyā rasā … kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā—ime kho, sunakkhatta, pañca kāmaguṇā.
“Sunakkhatta, there are these five kinds of sensual stimulation. What five? Sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. Sounds known by the ear … Smells known by the nose … Tastes known by the tongue … Touches known by the body, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. These are the five kinds of sensual stimulation.
57. Này Sunakkhatta, có năm loại dục trưởng dưỡng này. Thế nào là năm? Các sắc pháp được nhận biết bởi nhãn thức, đáng mong cầu, đáng ưa thích, đáng hài lòng, có hình thức đáng yêu, liên hệ đến dục vọng, có tính chất khêu gợi lòng tham ái; các thanh... các hương... các vị... các xúc pháp được nhận biết bởi thân thức, đáng mong cầu, đáng ưa thích, đáng hài lòng, có hình thức đáng yêu, liên hệ đến dục vọng, có tính chất khêu gợi lòng tham ái. Này Sunakkhatta, đây chính là năm loại dục trưởng dưỡng.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, sunakkhatta, vijjati yaṁ idhekacco purisapuggalo lokāmisādhimutto assa. Lokāmisādhimuttassa kho, sunakkhatta, purisapuggalassa tappatirūpī ceva kathā saṇṭhāti, tadanudhammañca anuvitakketi, anuvicāreti, tañca purisaṁ bhajati, tena ca vittiṁ āpajjati; āneñjapaṭisaṁyuttāya ca pana kathāya kacchamānāya na sussūsati, na sotaṁ odahati, na aññā cittaṁ upaṭṭhāpeti, na ca taṁ purisaṁ bhajati, na ca tena vittiṁ āpajjati.
Seyyathāpi, sunakkhatta, puriso sakamhā gāmā vā nigamā vā ciravippavuttho assa. So aññataraṁ purisaṁ passeyya tamhā gāmā vā nigamā vā acirapakkantaṁ. So taṁ purisaṁ tassa gāmassa vā nigamassa vā khematañca subhikkhatañca appābādhatañca puccheyya; tassa so puriso tassa gāmassa vā nigamassa vā khematañca subhikkhatañca appābādhatañca saṁseyya. Taṁ kiṁ maññasi, sunakkhatta, api nu so puriso tassa purisassa sussūseyya, sotaṁ odaheyya, aññā cittaṁ upaṭṭhāpeyya, tañca purisaṁ bhajeyya, tena ca vittiṁ āpajjeyyā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Evameva kho, sunakkhatta, ṭhānametaṁ vijjati yaṁ idhekacco purisapuggalo lokāmisādhimutto assa. Lokāmisādhimuttassa kho, sunakkhatta, purisapuggalassa tappatirūpī ceva kathā saṇṭhāti, tadanudhammañca anuvitakketi, anuvicāreti, tañca purisaṁ bhajati, tena ca vittiṁ āpajjati; āneñjapaṭisaṁyuttāya ca pana kathāya kacchamānāya na sussūsati, na sotaṁ odahati, na aññā cittaṁ upaṭṭhāpeti, na ca taṁ purisaṁ bhajati, na ca tena vittiṁ āpajjati. So evamassa veditabbo: ‘āneñjasaṁyojanena hi kho visaṁyutto lokāmisādhimutto purisapuggalo’ti.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, sunakkhatta, vijjati yaṁ idhekacco purisapuggalo āneñjādhimutto assa.
It’s possible that a certain individual person may be intent on worldly pleasures of the flesh. Such an individual engages in pertinent conversation, thinking and considering in line with that. They associate with that kind of person, and they find it rewarding. But when talk connected with the imperturbable is going on they don’t want to listen. They don’t actively listen or try to understand. They don’t associate with that kind of person, and they don’t find it rewarding.
Suppose a person had left their own village or town long ago, and they saw another person who had only recently left there. They would ask about whether their village was safe, with plenty of food and little disease, and the other person would tell them the news. What do you think, Sunakkhatta? Would that person want to listen to that other person? Would they actively listen and try to understand? Would they associate with that person, and find it rewarding?”
“Yes, sir.”
“In the same way, it’s possible that a certain individual may be intent on worldly pleasures of the flesh. Such an individual engages in pertinent conversation, thinking and considering in line with that. They associate with that kind of person, and they find it rewarding. But when talk connected with the imperturbable is going on they don’t want to listen. They don’t actively listen or try to understand. They don’t associate with that kind of person, and they don’t find it rewarding. You should know of them: ‘That individual is intent on pleasures of the flesh, for they’re detached from things connected with the imperturbable.’
It’s possible that a certain individual person may be intent on the imperturbable.
58. Này Sunakkhatta, lại nữa, có trường hợp này, ở đây có hạng người hướng tâm đến vật chất thế gian. Này Sunakkhatta, đối với hạng người hướng tâm đến vật chất thế gian, câu chuyện tương ứng với điều ấy được thiết lập, vị ấy suy tư và thẩm sát về pháp tương ứng với điều ấy, vị ấy thân cận người ấy, và vị ấy có được sự hài lòng với người ấy; nhưng khi câu chuyện liên quan đến trạng thái bất động được nói đến, vị ấy không muốn lắng nghe, không lắng tai, không an trú tâm để hiểu biết, không thân cận người ấy, và không có được sự hài lòng với người ấy. Ví như, này Sunakkhatta, có người đàn ông đã xa lìa làng mạc hay thị trấn của mình từ lâu. Vị ấy gặp một người đàn ông khác vừa mới rời khỏi làng mạc hay thị trấn ấy. Vị ấy hỏi người đàn ông kia về sự an ổn, sự sung túc, và sự không bệnh tật của làng mạc hay thị trấn ấy; và người đàn ông kia kể cho vị ấy về sự an ổn, sự sung túc, và sự không bệnh tật của làng mạc hay thị trấn ấy. Này Sunakkhatta, ngươi nghĩ thế nào? Người đàn ông kia có lắng nghe người đàn ông nọ, có lắng tai, có an trú tâm để hiểu biết, có thân cận người đàn ông nọ, và có được sự hài lòng với người ấy không?” “Thưa vâng, bạch Thế Tôn.” “Cũng vậy, này Sunakkhatta, có trường hợp này, ở đây có hạng người hướng tâm đến vật chất thế gian. Này Sunakkhatta, đối với hạng người hướng tâm đến vật chất thế gian, câu chuyện tương ứng với điều ấy được thiết lập, vị ấy suy tư và thẩm sát về pháp tương ứng với điều ấy, vị ấy thân cận người ấy, và vị ấy có được sự hài lòng với người ấy; nhưng khi câu chuyện liên quan đến trạng thái bất động được nói đến, vị ấy không muốn lắng nghe, không lắng tai, không an trú tâm để hiểu biết, không thân cận người ấy, và không có được sự hài lòng với người ấy. Vị ấy cần được hiểu biết như sau: ‘Đây là hạng người đã rời xa khỏi sự trói buộc của trạng thái bất động, là người hướng tâm đến vật chất thế gian.’”
Seyyathāpi, sunakkhatta, paṇḍupalāso bandhanā pavutto abhabbo haritattāya; evameva kho, sunakkhatta, āneñjādhimuttassa purisapuggalassa ye lokāmisasaṁyojane se pavutte. So evamassa veditabbo: ‘lokāmisasaṁyojanena hi kho visaṁyutto āneñjādhimutto purisapuggalo’ti.
Suppose there was a fallen, withered leaf. It’s incapable of becoming green again. In the same way, an individual intent on the imperturbable has dropped the connection with worldly pleasures of the flesh. You should know of them: ‘That individual is intent on the imperturbable, for they’re detached from things connected with pleasures of the flesh.’
59. Này Sunakkhatta, lại nữa, có trường hợp này, ở đây có hạng người hướng tâm đến trạng thái bất động. Này Sunakkhatta, đối với hạng người hướng tâm đến trạng thái bất động, câu chuyện tương ứng với điều ấy được thiết lập, vị ấy suy tư và thẩm sát về pháp tương ứng với điều ấy, vị ấy thân cận người ấy, và vị ấy có được sự hài lòng với người ấy; nhưng khi câu chuyện liên quan đến vật chất thế gian được nói đến, vị ấy không muốn lắng nghe, không lắng tai, không an trú tâm để hiểu biết, không thân cận người ấy, và không có được sự hài lòng với người ấy. Ví như, này Sunakkhatta, chiếc lá vàng úa đã rụng khỏi cuống thì không thể trở lại xanh tươi được nữa; cũng vậy, này Sunakkhatta, đối với hạng người hướng tâm đến trạng thái bất động, những sự trói buộc nào thuộc về vật chất thế gian thì đã được rụng bỏ. Vị ấy cần được hiểu biết như sau: ‘Đây là hạng người đã rời xa khỏi sự trói buộc của vật chất thế gian, là người hướng tâm đến trạng thái bất động.’”
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, sunakkhatta, vijjati yaṁ idhekacco purisapuggalo ākiñcaññāyatanādhimutto assa. Ākiñcaññāyatanādhimuttassa kho, sunakkhatta, purisapuggalassa tappatirūpī ceva kathā saṇṭhāti, tadanudhammañca anuvitakketi, anuvicāreti, tañca purisaṁ bhajati, tena ca vittiṁ āpajjati; āneñjapaṭisaṁyuttāya ca pana kathāya kacchamānāya na sussūsati, na sotaṁ odahati, na aññā cittaṁ upaṭṭhāpeti, na ca taṁ purisaṁ bhajati, na ca tena vittiṁ āpajjati.
Seyyathāpi, sunakkhatta, puthusilā dvedhābhinnā appaṭisandhikā hoti; evameva kho, sunakkhatta, ākiñcaññāyatanādhimuttassa purisapuggalassa ye āneñjasaṁyojane se bhinne. So evamassa veditabbo: ‘āneñjasaṁyojanena hi kho visaṁyutto ākiñcaññāyatanādhimutto purisapuggalo’ti.
It’s possible that a certain individual person may be intent on the dimension of nothingness. Such an individual engages in pertinent conversation, thinking and considering in line with that. They associate with that kind of person, and they find it rewarding. But when talk connected with the imperturbable is going on they don’t want to listen. They don’t actively listen or try to understand. They don’t associate with that kind of person, and they don’t find it rewarding.
Suppose there was a broad rock that had been broken in half, so that it could not be put back together again. In the same way, an individual intent on the dimension of nothingness has broken the connection with the imperturbable. You should know of them: ‘That individual is intent on the dimension of nothingness, for they’re detached from things connected with the imperturbable.’
60. Này Sunakkhatta, lại nữa, có trường hợp này, ở đây có hạng người hướng tâm đến Vô Sở Hữu Xứ. Này Sunakkhatta, đối với hạng người hướng tâm đến Vô Sở Hữu Xứ, câu chuyện tương ứng với điều ấy được thiết lập, vị ấy suy tư và thẩm sát về pháp tương ứng với điều ấy, vị ấy thân cận người ấy, và vị ấy có được sự hài lòng với người ấy; nhưng khi câu chuyện liên quan đến trạng thái bất động được nói đến, vị ấy không muốn lắng nghe, không lắng tai, không an trú tâm để hiểu biết, không thân cận người ấy, và không có được sự hài lòng với người ấy. Ví như, này Sunakkhatta, một tảng đá lớn bị vỡ làm đôi thì không thể gắn liền lại được; cũng vậy, này Sunakkhatta, đối với hạng người hướng tâm đến Vô Sở Hữu Xứ, những sự trói buộc nào thuộc về trạng thái bất động thì đã bị phá vỡ. Vị ấy cần được hiểu biết như sau: ‘Đây là hạng người đã rời xa khỏi sự trói buộc của trạng thái bất động, là người hướng tâm đến Vô Sở Hữu Xứ.’”
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, sunakkhatta, vijjati yaṁ idhekacco purisapuggalo nevasaññānāsaññāyatanādhimutto assa. Nevasaññānāsaññāyatanādhimuttassa kho, sunakkhatta, purisapuggalassa tappatirūpī ceva kathā saṇṭhāti, tadanudhammañca anuvitakketi, anuvicāreti, tañca purisaṁ bhajati, tena ca vittiṁ āpajjati; ākiñcaññāyatanapaṭisaṁyuttāya ca pana kathāya kacchamānāya na sussūsati, na sotaṁ odahati, na aññā cittaṁ upaṭṭhāpeti, na ca taṁ purisaṁ bhajati, na ca tena vittiṁ āpajjati.
Seyyathāpi, sunakkhatta, puriso manuññabhojanaṁ bhuttāvī chaḍḍeyya. Taṁ kiṁ maññasi, sunakkhatta, api nu tassa purisassa tasmiṁ bhatte puna bhottukamyatā assā”ti?
“No hetaṁ, bhante”. “Taṁ kissa hetu”? “Aduñhi, bhante, bhattaṁ paṭikūlasammatan”ti.
“Evameva kho, sunakkhatta, nevasaññānāsaññāyatanādhimuttassa purisapuggalassa ye ākiñcaññāyatanasaṁyojane se vante. So evamassa veditabbo: ‘ākiñcaññāyatanasaṁyojanena hi kho visaṁyutto nevasaññānāsaññāyatanādhimutto purisapuggalo’ti.
It’s possible that a certain individual person may be intent on the dimension of neither perception nor non-perception. Such an individual engages in pertinent conversation, thinking and considering in line with that. They associate with that kind of person, and they find it rewarding. But when talk connected with the dimension of nothingness is going on they don’t want to listen. They don’t actively listen or try to understand. They don’t associate with that kind of person, and they don’t find it rewarding.
Suppose someone had eaten some satisfying food and thrown it up. What do you think, Sunakkhatta? Would that person want to eat that food again?”
“No, sir. Why is that? Because that food is deemed repulsive.”
“In the same way, an individual intent on the dimension of neither perception nor non-perception has vomited the connection with the dimension of nothingness. You should know of them: ‘That individual is intent on the dimension of neither perception nor non-perception, for they’re detached from things connected with the dimension of nothingness.’
61. “Này Sunakkhatta, lại nữa, có trường hợp này, ở đây có người hướng tâm đến Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Này Sunakkhatta, đối với người hướng tâm đến Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, câu chuyện tương ứng với pháp ấy được thiết lập, vị ấy suy tư và quán xét về pháp ấy, thân cận với người như vậy, và đạt được sự vui thích từ đó. Tuy nhiên, khi có cuộc nói chuyện liên quan đến Vô Sở Hữu Xứ, vị ấy không muốn nghe, không lắng tai, không an trú tâm để hiểu biết, không thân cận với người như vậy, và không đạt được sự vui thích từ đó. Này Sunakkhatta, ví như một người sau khi ăn một bữa ăn ngon lại nôn ra. Này Sunakkhatta, ngươi nghĩ sao, người ấy có còn muốn ăn lại bữa ăn đó không?” “Bạch Thế Tôn, không ạ.” “Vì sao vậy?” “Bạch Thế Tôn, vì bữa ăn đó được xem là đáng ghê tởm.” “Cũng vậy, này Sunakkhatta, đối với người hướng tâm đến Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, những gì là kiết sử của Vô Sở Hữu Xứ đã được vị ấy nôn ra. Vị ấy cần được hiểu như sau: ‘Người này đã lìa khỏi kiết sử Vô Sở Hữu Xứ, là người hướng tâm đến Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ.’”
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, sunakkhatta, vijjati yaṁ idhekacco purisapuggalo sammā nibbānādhimutto assa. Sammā nibbānādhimuttassa kho, sunakkhatta, purisapuggalassa tappatirūpī ceva kathā saṇṭhāti, tadanudhammañca anuvitakketi, anuvicāreti, tañca purisaṁ bhajati, tena ca vittiṁ āpajjati; nevasaññānāsaññāyatanapaṭisaṁyuttāya ca pana kathāya kacchamānāya na sussūsati, na sotaṁ odahati, na aññā cittaṁ upaṭṭhāpeti, na ca taṁ purisaṁ bhajati, na ca tena vittiṁ āpajjati.
Seyyathāpi, sunakkhatta, tālo matthakacchinno abhabbo puna viruḷhiyā; evameva kho, sunakkhatta, sammā nibbānādhimuttassa purisapuggalassa ye nevasaññānāsaññāyatanasaṁyojane se ucchinnamūle tālāvatthukate anabhāvaṅkate āyatiṁ anuppādadhamme. So evamassa veditabbo: ‘nevasaññānāsaññāyatanasaṁyojanena hi kho visaṁyutto sammā nibbānādhimutto purisapuggalo’ti.
It’s possible that a certain individual person may be rightly intent on extinguishment. Such an individual engages in pertinent conversation, thinking and considering in line with that. They associate with that kind of person, and they find it rewarding. But when talk connected with the dimension of neither perception nor non-perception is going on they don’t want to listen. They don’t actively listen or try to understand. They don’t associate with that kind of person, and they don’t find it rewarding.
Suppose there was a palm tree with its crown cut off. It’s incapable of further growth. In the same way, an individual rightly intent on extinguishment has cut off the connection with the dimension of neither perception nor non-perception at the root, made it like a palm stump, obliterated it, so it’s unable to arise in the future. You should know of them: ‘That individual is rightly intent on extinguishment, for they’re detached from things connected with the dimension of neither perception nor non-perception.’
62. “Này Sunakkhatta, lại nữa, có trường hợp này, ở đây có người hướng tâm chân chánh đến Niết-bàn. Này Sunakkhatta, đối với người hướng tâm chân chánh đến Niết-bàn, câu chuyện tương ứng với pháp ấy được thiết lập, vị ấy suy tư và quán xét về pháp ấy, thân cận với người như vậy, và đạt được sự vui thích từ đó. Tuy nhiên, khi có cuộc nói chuyện liên quan đến Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, vị ấy không muốn nghe, không lắng tai, không an trú tâm để hiểu biết, không thân cận với người như vậy, và không đạt được sự vui thích từ đó. Này Sunakkhatta, ví như cây thốt nốt bị chặt ngọn, không thể mọc lại được nữa; cũng vậy, này Sunakkhatta, đối với người hướng tâm chân chánh đến Niết-bàn, những gì là kiết sử của Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ đã được nhổ tận gốc, làm cho như thân cây thốt nốt, làm cho không thể hiện hữu, không có pháp sanh khởi trong tương lai. Vị ấy cần được hiểu như sau: ‘Người này đã lìa khỏi kiết sử Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, là người hướng tâm chân chánh đến Niết-bàn.’”
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, sunakkhatta, vijjati yaṁ idhekaccassa bhikkhuno evamassa: ‘taṇhā kho sallaṁ samaṇena vuttaṁ, avijjāvisadoso, chandarāgabyāpādena ruppati. Taṁ me taṇhāsallaṁ pahīnaṁ, apanīto avijjāvisadoso, sammā nibbānādhimuttohamasmī’ti. Evaṁmāni assa atathaṁ samānaṁ. So yāni sammā nibbānādhimuttassa asappāyāni tāni anuyuñjeyya; asappāyaṁ cakkhunā rūpadassanaṁ anuyuñjeyya, asappāyaṁ sotena saddaṁ anuyuñjeyya, asappāyaṁ ghānena gandhaṁ anuyuñjeyya, asappāyaṁ jivhāya rasaṁ anuyuñjeyya, asappāyaṁ kāyena phoṭṭhabbaṁ anuyuñjeyya, asappāyaṁ manasā dhammaṁ anuyuñjeyya. Tassa asappāyaṁ cakkhunā rūpadassanaṁ anuyuttassa, asappāyaṁ sotena saddaṁ anuyuttassa, asappāyaṁ ghānena gandhaṁ anuyuttassa, asappāyaṁ jivhāya rasaṁ anuyuttassa, asappāyaṁ kāyena phoṭṭhabbaṁ anuyuttassa, asappāyaṁ manasā dhammaṁ anuyuttassa rāgo cittaṁ anuddhaṁseyya. So rāgānuddhaṁsitena cittena maraṇaṁ vā nigaccheyya maraṇamattaṁ vā dukkhaṁ.
Seyyathāpi, sunakkhatta, puriso sallena viddho assa savisena gāḷhūpalepanena. Tassa mittāmaccā ñātisālohitā bhisakkaṁ sallakattaṁ upaṭṭhāpeyyuṁ. Tassa so bhisakko sallakatto satthena vaṇamukhaṁ parikanteyya. Satthena vaṇamukhaṁ parikantitvā esaniyā sallaṁ eseyya. Esaniyā sallaṁ esitvā sallaṁ abbuheyya, apaneyya visadosaṁ saupādisesaṁ. Saupādisesoti jānamāno so evaṁ vadeyya: ‘ambho purisa, ubbhataṁ kho te sallaṁ, apanīto visadoso saupādiseso. Analañca te antarāyāya. Sappāyāni ceva bhojanāni bhuñjeyyāsi, mā te asappāyāni bhojanāni bhuñjato vaṇo assāvī assa. Kālena kālañca vaṇaṁ dhoveyyāsi, kālena kālaṁ vaṇamukhaṁ ālimpeyyāsi, mā te na kālena kālaṁ vaṇaṁ dhovato na kālena kālaṁ vaṇamukhaṁ ālimpato pubbalohitaṁ vaṇamukhaṁ pariyonandhi. Mā ca vātātape cārittaṁ anuyuñji, mā te vātātape cārittaṁ anuyuttassa rajosūkaṁ vaṇamukhaṁ anuddhaṁsesi. Vaṇānurakkhī ca, ambho purisa, vihareyyāsi vaṇasāropī’ti.
Tassa evamassa: ‘ubbhataṁ kho me sallaṁ, apanīto visadoso anupādiseso. Analañca me antarāyāyā’ti. So asappāyāni ceva bhojanāni bhuñjeyya. Tassa asappāyāni bhojanāni bhuñjato vaṇo assāvī assa. Na ca kālena kālaṁ vaṇaṁ dhoveyya, na ca kālena kālaṁ vaṇamukhaṁ ālimpeyya. Tassa na kālena kālaṁ vaṇaṁ dhovato, na kālena kālaṁ vaṇamukhaṁ ālimpato pubbalohitaṁ vaṇamukhaṁ pariyonandheyya. Vātātape ca cārittaṁ anuyuñjeyya. Tassa vātātape cārittaṁ anuyuttassa rajosūkaṁ vaṇamukhaṁ anuddhaṁseyya. Na ca vaṇānurakkhī vihareyya na vaṇasāropī. Tassa imissā ca asappāyakiriyāya, asuci visadoso apanīto saupādiseso tadubhayena vaṇo puthuttaṁ gaccheyya.
It’s possible that a certain mendicant might think: ‘The Ascetic has said that craving is a dart; and that the poison of ignorance is inflicted by desire and ill will. I have given up the dart of craving and expelled the poison of ignorance; I am rightly intent on extinguishment.’ Having such conceit, though it’s not based in fact, they would engage in things unconducive to extinguishment: unsuitable sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas. Doing so, lust infects their mind, resulting in death or deadly pain.
Suppose a man was struck by an arrow thickly smeared with poison. Their friends and colleagues, relatives and kin would get a surgeon to treat them. The surgeon would cut open the wound with a scalpel, probe for the arrow, extract it, and expel the poison, leaving some residue behind. Imagining that no residue remained, the surgeon would say: ‘My man, the dart has been extracted and the poison expelled without residue. It is still capable of harming you. Eat only suitable food. Don’t eat unsuitable food, or else the wound may get infected. Regularly wash the wound and anoint the opening, or else it’ll get covered with pus and blood. Don’t walk too much in the wind and sun, or else dust and dirt will infect the wound. Take care of the wound, my man, heal it.’
They’d think: ‘The dart has been extracted and the poison expelled with no residue. It’s not capable of harming me.’ They’d eat unsuitable food, and the wound would get infected. And they wouldn’t regularly wash and anoint the opening, so it would get covered in pus and blood. And they’d walk too much in the wind and sun, so dust and dirt infected the wound. And they wouldn’t take care of the wound or heal it. Then both because they did what was unsuitable, and because of the residue of unclean poison, the wound would expand,
63. “Này Sunakkhatta, lại nữa, có trường hợp này, ở đây có vị Tỳ-khưu khởi lên ý nghĩ như sau: ‘Sa-môn đã nói tham ái là mũi tên, nọc độc vô minh bị khuấy động bởi dục, tham, và sân. Mũi tên tham ái ấy đã được ta nhổ bỏ, nọc độc vô minh đã được ta loại trừ, ta là người hướng tâm chân chánh đến Niết-bàn.’ Vị ấy có sự ngã mạn như vậy trong khi điều đó không đúng sự thật. Vị ấy có thể theo đuổi những điều không thích hợp cho người hướng tâm chân chánh đến Niết-bàn; vị ấy có thể theo đuổi việc thấy các sắc không thích hợp bằng mắt, nghe các tiếng không thích hợp bằng tai, ngửi các mùi không thích hợp bằng mũi, nếm các vị không thích hợp bằng lưỡi, chạm các xúc không thích hợp bằng thân, biết các pháp không thích hợp bằng ý. Đối với vị ấy, khi theo đuổi việc thấy các sắc không thích hợp bằng mắt, khi theo đuổi việc nghe các tiếng không thích hợp bằng tai, khi theo đuổi việc ngửi các mùi không thích hợp bằng mũi, khi theo đuổi việc nếm các vị không thích hợp bằng lưỡi, khi theo đuổi việc chạm các xúc không thích hợp bằng thân, khi theo đuổi việc biết các pháp không thích hợp bằng ý, tham dục sẽ xâm chiếm tâm. Với tâm bị tham dục xâm chiếm, vị ấy có thể đi đến cái chết hoặc sự đau khổ tương đương với cái chết.”
Evameva kho, sunakkhatta, ṭhānametaṁ vijjati yaṁ idhekaccassa bhikkhuno evamassa: ‘taṇhā kho sallaṁ samaṇena vuttaṁ, avijjāvisadoso chandarāgabyāpādena ruppati. Taṁ me taṇhāsallaṁ pahīnaṁ, apanīto avijjāvisadoso, sammā nibbānādhimuttohamasmī’ti. Evaṁmāni assa atathaṁ samānaṁ. So yāni sammā nibbānādhimuttassa asappāyāni tāni anuyuñjeyya, asappāyaṁ cakkhunā rūpadassanaṁ anuyuñjeyya, asappāyaṁ sotena saddaṁ anuyuñjeyya, asappāyaṁ ghānena gandhaṁ anuyuñjeyya, asappāyaṁ jivhāya rasaṁ anuyuñjeyya, asappāyaṁ kāyena phoṭṭhabbaṁ anuyuñjeyya, asappāyaṁ manasā dhammaṁ anuyuñjeyya. Tassa asappāyaṁ cakkhunā rūpadassanaṁ anuyuttassa, asappāyaṁ sotena saddaṁ anuyuttassa, asappāyaṁ ghānena gandhaṁ anuyuttassa, asappāyaṁ jivhāya rasaṁ anuyuttassa, asappāyaṁ kāyena phoṭṭhabbaṁ anuyuttassa, asappāyaṁ manasā dhammaṁ anuyuttassa rāgo cittaṁ anuddhaṁseyya. So rāgānuddhaṁsitena cittena maraṇaṁ vā nigaccheyya maraṇamattaṁ vā dukkhaṁ.
Maraṇañhetaṁ, sunakkhatta, ariyassa vinaye yo sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattati; maraṇamattañhetaṁ, sunakkhatta, dukkhaṁ yaṁ aññataraṁ saṅkiliṭṭhaṁ āpattiṁ āpajjati.
In the same way, it’s possible that a certain mendicant might think: ‘The Ascetic has said that craving is a dart; and that the poison of ignorance is inflicted by desire and ill will. I have given up the dart of craving and expelled the poison of ignorance; I am rightly intent on extinguishment.’ Having such conceit, though it’s not based in fact, they would engage in things unconducive to extinguishment: unsuitable sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas. Doing so, lust infects their mind, resulting in death or deadly pain.
For it is death in the training of the Noble One to resign the training and return to a lesser life. And it is deadly pain to commit one of the corrupt offenses.
“Này Sunakkhatta, cũng tương tự như vậy, có trường hợp này, ở đây có vị tỳ khưu khởi lên ý nghĩ như sau: ‘Sa-môn đã dạy rằng ái dục là mũi tên, độc tố vô minh bị khuấy động bởi dục tham và sân hận. Mũi tên ái dục ấy của ta đã được nhổ bỏ, độc tố vô minh đã được loại trừ. Ta là người có tâm hoàn toàn hướng về Niết Bàn.’ Vị ấy có sự ngã mạn như vậy trong khi điều đó không đúng sự thật. Vị ấy theo đuổi những điều không thích hợp đối với người có tâm hoàn toàn hướng về Niết Bàn: vị ấy theo đuổi việc thấy sắc không thích hợp bằng mắt, theo đuổi việc nghe tiếng không thích hợp bằng tai, theo đuổi việc ngửi mùi không thích hợp bằng mũi, theo đuổi việc nếm vị không thích hợp bằng lưỡi, theo đuổi việc cảm xúc không thích hợp bằng thân, theo đuổi việc biết pháp không thích hợp bằng ý. Đối với vị ấy, người theo đuổi việc thấy sắc không thích hợp bằng mắt, người theo đuổi việc nghe tiếng không thích hợp bằng tai, người theo đuổi việc ngửi mùi không thích hợp bằng mũi, người theo đuổi việc nếm vị không thích hợp bằng lưỡi, người theo đuổi việc cảm xúc không thích hợp bằng thân, người theo đuổi việc biết pháp không thích hợp bằng ý, tham ái sẽ làm hư hoại tâm trí. Với tâm trí bị tham ái làm hư hoại, vị ấy sẽ đi đến cái chết hoặc sự đau khổ tương đương với cái chết. Này Sunakkhatta, trong giới luật của bậc Thánh, cái chết chính là việc vị tỳ khưu từ bỏ học giới và hoàn tục về đời sống thấp kém; này Sunakkhatta, sự đau khổ tương đương với cái chết chính là việc phạm phải một trong những tội uế nhiễm.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, sunakkhatta, vijjati yaṁ idhekaccassa bhikkhuno evamassa: ‘taṇhā kho sallaṁ samaṇena vuttaṁ, avijjāvisadoso chandarāgabyāpādena ruppati. Taṁ me taṇhāsallaṁ pahīnaṁ, apanīto avijjāvisadoso, sammā nibbānādhimuttohamasmī’ti. Sammā nibbānādhimuttasseva sato so yāni sammā nibbānādhimuttassa asappāyāni tāni nānuyuñjeyya, asappāyaṁ cakkhunā rūpadassanaṁ nānuyuñjeyya, asappāyaṁ sotena saddaṁ nānuyuñjeyya, asappāyaṁ ghānena gandhaṁ nānuyuñjeyya, asappāyaṁ jivhāya rasaṁ nānuyuñjeyya, asappāyaṁ kāyena phoṭṭhabbaṁ nānuyuñjeyya, asappāyaṁ manasā dhammaṁ nānuyuñjeyya. Tassa asappāyaṁ cakkhunā rūpadassanaṁ nānuyuttassa, asappāyaṁ sotena saddaṁ nānuyuttassa, asappāyaṁ ghānena gandhaṁ nānuyuttassa, asappāyaṁ jivhāya rasaṁ nānuyuttassa, asappāyaṁ kāyena phoṭṭhabbaṁ nānuyuttassa, asappāyaṁ manasā dhammaṁ nānuyuttassa rāgo cittaṁ nānuddhaṁseyya. So na rāgānuddhaṁsitena cittena neva maraṇaṁ vā nigaccheyya na maraṇamattaṁ vā dukkhaṁ.
It’s possible that a certain mendicant might think: ‘The Ascetic has said that craving is a dart; and that the poison of ignorance is inflicted by desire and ill will. I have given up the dart of craving and expelled the poison of ignorance; I am rightly intent on extinguishment.’ Being rightly intent on extinguishment, they wouldn’t engage in things unconducive to extinguishment: unsuitable sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas. Doing so, lust wouldn’t infect their mind, so no death or deadly pain would result.
64. “Lại nữa, này Sunakkhatta, có trường hợp này, ở đây có vị tỳ khưu khởi lên ý nghĩ như sau: ‘Sa-môn đã dạy rằng ái dục là mũi tên, độc tố vô minh bị khuấy động bởi dục tham và sân hận. Mũi tên ái dục ấy của ta đã được nhổ bỏ, độc tố vô minh đã được loại trừ. Ta là người có tâm hoàn toàn hướng về Niết Bàn.’ Vì là người có tâm hoàn toàn hướng về Niết Bàn, vị ấy không theo đuổi những điều không thích hợp đối với người có tâm hoàn toàn hướng về Niết Bàn: vị ấy không theo đuổi việc thấy sắc không thích hợp bằng mắt, không theo đuổi việc nghe tiếng không thích hợp bằng tai, không theo đuổi việc ngửi mùi không thích hợp bằng mũi, không theo đuổi việc nếm vị không thích hợp bằng lưỡi, không theo đuổi việc cảm xúc không thích hợp bằng thân, không theo đuổi việc biết pháp không thích hợp bằng ý. Đối với vị ấy, người không theo đuổi việc thấy sắc không thích hợp bằng mắt, người không theo đuổi việc nghe tiếng không thích hợp bằng tai, người không theo đuổi việc ngửi mùi không thích hợp bằng mũi, người không theo đuổi việc nếm vị không thích hợp bằng lưỡi, người không theo đuổi việc cảm xúc không thích hợp bằng thân, người không theo đuổi việc biết pháp không thích hợp bằng ý, tham ái sẽ không làm hư hoại tâm trí. Với tâm trí không bị tham ái làm hư hoại, vị ấy sẽ không đi đến cái chết hoặc sự đau khổ tương đương với cái chết.
Seyyathāpi, sunakkhatta, puriso sallena viddho assa savisena gāḷhūpalepanena. Tassa mittāmaccā ñātisālohitā bhisakkaṁ sallakattaṁ upaṭṭhāpeyyuṁ. Tassa so bhisakko sallakatto satthena vaṇamukhaṁ parikanteyya. Satthena vaṇamukhaṁ parikantitvā esaniyā sallaṁ eseyya. Esaniyā sallaṁ esitvā sallaṁ abbuheyya, apaneyya visadosaṁ anupādisesaṁ. Anupādisesoti jānamāno so evaṁ vadeyya: ‘ambho purisa, ubbhataṁ kho te sallaṁ, apanīto visadoso anupādiseso. Analañca te antarāyāya. Sappāyāni ceva bhojanāni bhuñjeyyāsi, mā te asappāyāni bhojanāni bhuñjato vaṇo assāvī assa. Kālena kālañca vaṇaṁ dhoveyyāsi, kālena kālaṁ vaṇamukhaṁ ālimpeyyāsi. Mā te na kālena kālaṁ vaṇaṁ dhovato na kālena kālaṁ vaṇamukhaṁ ālimpato pubbalohitaṁ vaṇamukhaṁ pariyonandhi. Mā ca vātātape cārittaṁ anuyuñji, mā te vātātape cārittaṁ anuyuttassa rajosūkaṁ vaṇamukhaṁ anuddhaṁsesi. Vaṇānurakkhī ca, ambho purisa, vihareyyāsi vaṇasāropī’ti.
Tassa evamassa: ‘ubbhataṁ kho me sallaṁ, apanīto visadoso anupādiseso. Analañca me antarāyāyā’ti. So sappāyāni ceva bhojanāni bhuñjeyya. Tassa sappāyāni bhojanāni bhuñjato vaṇo na assāvī assa. Kālena kālañca vaṇaṁ dhoveyya, kālena kālaṁ vaṇamukhaṁ ālimpeyya. Tassa kālena kālaṁ vaṇaṁ dhovato kālena kālaṁ vaṇamukhaṁ ālimpato na pubbalohitaṁ vaṇamukhaṁ pariyonandheyya. Na ca vātātape cārittaṁ anuyuñjeyya. Tassa vātātape cārittaṁ ananuyuttassa rajosūkaṁ vaṇamukhaṁ nānuddhaṁseyya. Vaṇānurakkhī ca vihareyya vaṇasāropī. Tassa imissā ca sappāyakiriyāya asu ca visadoso apanīto anupādiseso tadubhayena vaṇo viruheyya. So ruḷhena vaṇena sañchavinā neva maraṇaṁ vā nigaccheyya na maraṇamattaṁ vā dukkhaṁ.
Suppose a man was struck by an arrow thickly smeared with poison. Their friends and colleagues, relatives and kin would get a surgeon to treat them. The surgeon would cut open the wound with a scalpel, probe for the arrow, extract it, and expel the poison, leaving no residue behind. Knowing that no residue remained, the surgeon would say: ‘My man, the dart has been extracted and the poison expelled with no residue. It’s not capable of harming you. Eat only suitable food. Don’t eat unsuitable food, or else the wound may get infected. Regularly wash the wound and anoint the opening, or else it’ll get covered with pus and blood. Don’t walk too much in the wind and sun, or else dust and dirt will infect the wound. Take care of the wound, my man, heal it.’
They’d think: ‘The dart has been extracted and the poison expelled with no residue. It’s not capable of harming me.’ They’d eat suitable food, and the wound wouldn’t get infected. And they’d regularly wash and anoint the opening, so it wouldn’t get covered in pus and blood. And they wouldn’t walk too much in the wind and sun, so dust and dirt wouldn’t infect the wound. And they’d take care of the wound and heal it. Then both because they did what was suitable, and the unclean poison had left no residue, the wound would heal, and no death or deadly pain would result.
“Này Sunakkhatta, ví như một người bị trúng mũi tên tẩm độc, thuốc độc được bôi rất dày. Bạn bè, thân hữu, và bà con huyết thống của người ấy mời một vị thầy thuốc giải phẫu đến. Vị thầy thuốc giải phẫu ấy dùng dao rạch miệng vết thương của người đó. Sau khi dùng dao rạch miệng vết thương, ông ta dùng que dò để tìm mũi tên. Sau khi dùng que dò tìm ra mũi tên, ông ta nhổ mũi tên ra, và loại bỏ chất độc không còn sót lại. Biết rằng chất độc đã được loại bỏ không còn sót lại, ông ta nói như sau: ‘Này ông, mũi tên của ông đã được nhổ ra, chất độc đã được loại bỏ không còn sót lại. Nó không còn đủ sức gây nguy hiểm cho ông nữa. Ông nên ăn những thức ăn thích hợp, đừng để vết thương bị chảy mủ do ăn những thức ăn không thích hợp. Ông nên rửa vết thương và bôi thuốc lên miệng vết thương theo thời gian. Đừng để mủ và máu bao phủ miệng vết thương do không rửa vết thương và không bôi thuốc lên miệng vết thương theo thời gian. Đừng đi lại ngoài gió và nắng, đừng để bụi bặm làm ô nhiễm miệng vết thương khi ông đi lại ngoài gió và nắng. Này ông, ông nên sống, chăm sóc vết thương, để vết thương được lành.’ Người ấy nghĩ rằng: ‘Mũi tên của ta đã được nhổ ra, chất độc đã được loại bỏ không còn sót lại. Nó không còn đủ sức gây nguy hiểm cho ta nữa.’ Người ấy ăn những thức ăn thích hợp. Do ăn những thức ăn thích hợp, vết thương của người ấy không bị chảy mủ. Người ấy rửa vết thương và bôi thuốc lên miệng vết thương theo thời gian. Do rửa vết thương và bôi thuốc lên miệng vết thương theo thời gian, mủ và máu không bao phủ miệng vết thương của người ấy. Người ấy không đi lại ngoài gió và nắng. Do không đi lại ngoài gió và nắng, bụi bặm không làm ô nhiễm miệng vết thương của người ấy. Người ấy sống, chăm sóc vết thương, để vết thương được lành. Nhờ cả hai việc này: hành động thích hợp và chất độc đã được loại bỏ không còn sót lại, vết thương của người ấy sẽ lành. Với vết thương đã lành và da đã liền lại, người ấy sẽ không đi đến cái chết hay sự đau khổ đến mức chết.”
Evameva kho, sunakkhatta, ṭhānametaṁ vijjati yaṁ idhekaccassa bhikkhuno evamassa: ‘taṇhā kho sallaṁ samaṇena vuttaṁ, avijjāvisadoso chandarāgabyāpādena ruppati. Taṁ me taṇhāsallaṁ pahīnaṁ, apanīto avijjāvisadoso, sammā nibbānādhimuttohamasmī’ti. Sammā nibbānādhimuttasseva sato so yāni sammā nibbānādhimuttassa asappāyāni tāni nānuyuñjeyya, asappāyaṁ cakkhunā rūpadassanaṁ nānuyuñjeyya, asappāyaṁ sotena saddaṁ nānuyuñjeyya, asappāyaṁ ghānena gandhaṁ nānuyuñjeyya, asappāyaṁ jivhāya rasaṁ nānuyuñjeyya, asappāyaṁ kāyena phoṭṭhabbaṁ nānuyuñjeyya, asappāyaṁ manasā dhammaṁ nānuyuñjeyya. Tassa asappāyaṁ cakkhunā rūpadassanaṁ nānuyuttassa, asappāyaṁ sotena saddaṁ nānuyuttassa, asappāyaṁ ghānena gandhaṁ nānuyuttassa, asappāyaṁ jivhāya rasaṁ nānuyuttassa, asappāyaṁ kāyena phoṭṭhabbaṁ nānuyuttassa, asappāyaṁ manasā dhammaṁ nānuyuttassa, rāgo cittaṁ nānuddhaṁseyya. So na rāgānuddhaṁsitena cittena neva maraṇaṁ vā nigaccheyya na maraṇamattaṁ vā dukkhaṁ.
In the same way, it’s possible that a certain mendicant might think: ‘The Ascetic has said that craving is a dart; and that the poison of ignorance is inflicted by desire and ill will. I have given up the dart of craving and expelled the poison of ignorance; I am rightly intent on extinguishment.’ Being rightly intent on extinguishment, they wouldn’t engage in things unconducive to extinguishment: unsuitable sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas. Doing so, lust wouldn’t infect their mind, so no death or deadly pain would result.
“Này Sunakkhatta, cũng vậy, trường hợp này có thể xảy ra, khi một vị Tỳ-kheo ở đây có thể nghĩ như sau: ‘Sa-môn đã nói rằng ái dục là mũi tên, chất độc vô minh bị khuấy động bởi tham dục và sân hận. Mũi tên ái dục ấy của ta đã được từ bỏ, chất độc vô minh đã được loại bỏ, ta là người có tâm hoàn toàn hướng về Niết-bàn.’ Là người có tâm hoàn toàn hướng về Niết-bàn, vị ấy không nên theo đuổi những gì không thích hợp cho người có tâm hoàn toàn hướng về Niết-bàn, không nên theo đuổi việc thấy các sắc không thích hợp bằng mắt, không nên theo đuổi việc nghe các âm thanh không thích hợp bằng tai, không nên theo đuổi việc ngửi các mùi hương không thích hợp bằng mũi, không nên theo đuổi việc nếm các vị không thích hợp bằng lưỡi, không nên theo đuổi việc cảm xúc các vật xúc chạm không thích hợp bằng thân, không nên theo đuổi việc nhận thức các pháp không thích hợp bằng ý. Khi vị ấy không theo đuổi việc thấy các sắc không thích hợp bằng mắt, không theo đuổi việc nghe các âm thanh không thích hợp bằng tai, không theo đuổi việc ngửi các mùi hương không thích hợp bằng mũi, không theo đuổi việc nếm các vị không thích hợp bằng lưỡi, không theo đuổi việc cảm xúc các vật xúc chạm không thích hợp bằng thân, không theo đuổi việc nhận thức các pháp không thích hợp bằng ý, thì tham ái không làm ô nhiễm tâm của vị ấy. Với tâm không bị tham ái làm ô nhiễm, vị ấy sẽ không đi đến cái chết hay sự đau khổ đến mức chết.”
Upamā kho me ayaṁ, sunakkhatta, katā atthassa viññāpanāya. Ayaṁyevettha attho—vaṇoti kho, sunakkhatta, channetaṁ ajjhattikānaṁ āyatanānaṁ adhivacanaṁ; visadosoti kho, sunakkhatta, avijjāyetaṁ adhivacanaṁ; sallanti kho, sunakkhatta, taṇhāyetaṁ adhivacanaṁ; esanīti kho, sunakkhatta, satiyāyetaṁ adhivacanaṁ; satthanti kho, sunakkhatta, ariyāyetaṁ paññāya adhivacanaṁ; bhisakko sallakattoti kho, sunakkhatta, tathāgatassetaṁ adhivacanaṁ arahato sammāsambuddhassa.
I’ve made up this simile to make a point. And this is the point: ‘Wound’ is a term for the six interior sense fields. ‘Poison’ is a term for ignorance. ‘Dart’ is a term for craving. ‘Probing’ is a term for mindfulness. ‘Scalpel’ is a term for noble wisdom. ‘Surgeon’ is a term for the Realized One, the perfected one, the fully awakened Buddha.
65. “Này Sunakkhatta, ví dụ này được Ta đưa ra để làm rõ ý nghĩa. Đây là ý nghĩa của nó: Này Sunakkhatta, ‘vết thương’ là tên gọi cho sáu nội xứ; này Sunakkhatta, ‘chất độc’ là tên gọi cho vô minh; này Sunakkhatta, ‘mũi tên’ là tên gọi cho ái dục; này Sunakkhatta, ‘que dò’ là tên gọi cho niệm; này Sunakkhatta, ‘con dao’ là tên gọi cho trí tuệ thánh thiện; này Sunakkhatta, ‘thầy thuốc giải phẫu’ là tên gọi cho Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác.”
So vata, sunakkhatta, bhikkhu chasu phassāyatanesu saṁvutakārī. ‘Upadhi dukkhassa mūlan’ti—iti viditvā nirupadhi upadhisaṅkhaye vimutto upadhismiṁ vā kāyaṁ upasaṁharissati cittaṁ vā uppādessatīti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Seyyathāpi, sunakkhatta, āpānīyakaṁso vaṇṇasampanno gandhasampanno rasasampanno; so ca kho visena saṁsaṭṭho. Atha puriso āgaccheyya jīvitukāmo amaritukāmo sukhakāmo dukkhapaṭikūlo. Taṁ kiṁ maññasi, sunakkhatta, api nu so puriso amuṁ āpānīyakaṁsaṁ piveyya yaṁ jaññā: ‘imāhaṁ pivitvā maraṇaṁ vā nigacchāmi maraṇamattaṁ vā dukkhan’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Evameva kho, sunakkhatta, so vata bhikkhu chasu phassāyatanesu saṁvutakārī. ‘Upadhi dukkhassa mūlan’ti—iti viditvā nirupadhi upadhisaṅkhaye vimutto upadhismiṁ vā kāyaṁ upasaṁharissati cittaṁ vā uppādessatīti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Seyyathāpi, sunakkhatta, āsīviso ghoraviso. Atha puriso āgaccheyya jīvitukāmo amaritukāmo sukhakāmo dukkhapaṭikūlo. Taṁ kiṁ maññasi, sunakkhatta, api nu so puriso amussa āsīvisassa ghoravisassa hatthaṁ vā aṅguṭṭhaṁ vā dajjā yaṁ jaññā: ‘imināhaṁ daṭṭho maraṇaṁ vā nigacchāmi maraṇamattaṁ vā dukkhan’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Evameva kho, sunakkhatta, so vata bhikkhu chasu phassāyatanesu saṁvutakārī. ‘Upadhi dukkhassa mūlan’ti—iti viditvā nirupadhi upadhisaṅkhaye vimutto upadhismiṁ vā kāyaṁ upasaṁharissati cittaṁ vā uppādessatīti—netaṁ ṭhānaṁ vijjatī”ti.
Truly, Sunakkhatta, that mendicant practices restraint regarding the six fields of contact. Understanding that attachment is the root of suffering, they are freed with the ending of attachments. It’s not possible that they would apply their body or interest their mind in any attachment.
Suppose there was a bronze goblet of beverage that had a nice color, aroma, and flavor. But it was mixed with poison. Then a person would come along who wants to live and doesn’t want to die, who wants to be happy and recoils from pain. What do you think, Sunakkhatta? Would that person drink that beverage if they knew that it would result in death or deadly suffering?”
“No, sir.”
“In the same way, Sunakkhatta, that mendicant practices restraint regarding the six fields of contact. Understanding that attachment is the root of suffering, they are freed with the ending of attachments. It’s not possible that they would apply their body or interest their mind in any attachment.
Suppose there was a lethal viper. Then a person would come along who wants to live and doesn’t want to die, who wants to be happy and recoils from pain. What do you think, Sunakkhatta? Would that person give that lethal viper their hand or finger if they knew that it would result in death or deadly suffering?”
“No, sir.”
“In the same way, Sunakkhatta, that mendicant practices restraint regarding the six fields of contact. Understanding that attachment is the root of suffering, they are freed with the ending of attachments. It’s not possible that they would apply their body or interest their mind in any attachment.”
“Này Sunakkhatta, thật vậy, vị tỳ khưu ấy hộ trì trong sáu xứ xúc, sau khi biết như vầy: ‘Sanh y là gốc rễ của khổ đau’, vị ấy không còn sanh y, được giải thoát trong sự đoạn tận sanh y, lại sẽ đưa thân đến sanh y hoặc khởi lên tâm (liên quan đến sanh y), trường hợp này không xảy ra. Này Sunakkhatta, ví như có một cốc nước uống có màu sắc đẹp, hương thơm, vị ngon; nhưng lại được trộn lẫn với thuốc độc. Rồi một người đi đến, muốn sống, không muốn chết, muốn được an lạc, ghê sợ khổ đau. Này Sunakkhatta, ngươi nghĩ thế nào? Người ấy, sau khi biết rằng: ‘Nếu ta uống cái này, ta sẽ đi đến cái chết hoặc sự khổ đau gần như chết’, có uống cốc nước ấy không?” “Bạch Thế Tôn, chắc chắn là không.” “Này Sunakkhatta, cũng vậy, thật vậy, vị tỳ khưu ấy hộ trì trong sáu xứ xúc, sau khi biết như vầy: ‘Sanh y là gốc rễ của khổ đau’, vị ấy không còn sanh y, được giải thoát trong sự đoạn tận sanh y, lại sẽ đưa thân đến sanh y hoặc khởi lên tâm (liên quan đến sanh y), trường hợp này không xảy ra. Này Sunakkhatta, ví như có một con rắn độc, nọc độc kinh khủng. Rồi một người đi đến, muốn sống, không muốn chết, muốn được an lạc, ghê sợ khổ đau. Này Sunakkhatta, ngươi nghĩ thế nào? Người ấy, sau khi biết rằng: ‘Nếu bị con rắn này cắn, ta sẽ đi đến cái chết hoặc sự khổ đau gần như chết’, có đưa tay hay ngón chân cái cho con rắn độc, nọc độc kinh khủng ấy không?” “Bạch Thế Tôn, chắc chắn là không.” “Này Sunakkhatta, cũng vậy, thật vậy, vị tỳ khưu ấy hộ trì trong sáu xứ xúc, sau khi biết như vầy: ‘Sanh y là gốc rễ của khổ đau’, vị ấy không còn sanh y, được giải thoát trong sự đoạn tận sanh y, lại sẽ đưa thân đến sanh y hoặc khởi lên tâm (liên quan đến sanh y), trường hợp này không xảy ra.”
Idamavoca bhagavā. Attamano sunakkhatto licchaviputto bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
That is what the Buddha said. Satisfied, Sunakkhatta of the Licchavi clan approved what the Buddha said.
Thế Tôn đã thuyết như vậy. Tôn giả Sunakkhatta, con trai của dòng họ Licchavi, hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Sunakkhattasuttaṁ niṭṭhitaṁ pañcamaṁ.
Kinh Sunakkhatta, thứ năm, đã chấm dứt.