- Majjhima Nikāya 104
Sāmagāmasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Sāmagāmasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn trú ở giữa các vị Sakka (Thích Ca), tại Samagama (Xá-di thôn).
SC 2Lúc bấy giờ, Nigaṇṭha Nātaputta vừa mới tạ thế ở Pāvā. Sau khi vị này tạ thế, các vị Nigaṇṭha chia ra làm hai phái, chia rẽ nhau, tranh chấp nhau, tranh luận nhau và sống tàn hại nhau với binh khí miệng lưỡi. “Ông không biết Pháp và Luật này, ta biết Pháp và Luật này. Sao Ông có thể biết Pháp và Luật này? Ông theo tà hạnh, ta theo chánh hạnh. Lời nói ta tương ưng, lời nói Ông không tương ưng. Ðiều đáng nói trước, Ông nói sau; điều đáng nói sau, Ông nói trước. Ðiều Ông quan niệm, trình bày đã bị đảo lộn. Quan điểm của Ông đã bị thách đố. Ông đã bị đánh bại. Hãy đi giải tỏa quan điểm của Ông. Hãy tự thoát khỏi bế tắc nếu Ông có thể làm được!” Hình như các đệ tử của Nigaṇṭha Nātaputta muốn tàn hại lẫn nhau. Chính các đệ tử cư sĩ mặc đồ trắng của Nigaṇṭha Nātaputta cũng chán ngấy, cơ hiềm, và phản đối các Nigaṇṭha, vì pháp luật của họ đã được trình bày, tuyên bố một cách vụng về, không có hiệu năng hướng dẫn, không hướng đến an tịnh, không do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết, tháp y chỉ đã bị đổ vỡ, không có chỗ y chỉ.
SC 3Rồi Sa-di Cunda, sau khi an cư mùa mưa ở Pāvā, đến thăm Tôn giả Ānanda ở Samagama, sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Ānanda và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Sa-di Cunda bạch Tôn giả Ānanda
SC 4—Bạch Tôn giả, Nigaṇṭha Nataputtta đã từ trần ở Pāvā. Sau khi vị này tạ thế, các Nigaṇṭha chia ra làm hai phái … tháp y chỉ đã bị đổ vỡ, không có chỗ y chỉ.
SC 5Khi nghe nói vậy, Tôn giả Ānanda nói với Sa di Cunda
SC 6—Này Hiền giả Cunda, đây là vấn đề đáng đưa ra để yết kiến Thế Tôn. Này Hiền giả Cunda, chúng ta hãy đi yết kiến Thế Tôn; sau khi đến, chúng ta hãy trình bày vấn đề này để Thế Tôn biết.
—Thưa vâng, Tôn giả.
SC 7Sa di Cunda vâng lời Tôn giả Ānanda. Rồi Tôn giả Ānanda cùng với Sa di Cunda đi đến yết kiến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 8—Bạch Thế Tôn, Sa di Cunda có nói: “Nigaṇṭha Nātaputta đã từ trần ở Pāvā. Sau khi vị này từ trần, các vị Nigaṇṭha chia ra làm hai phái … tháp y chỉ đã bị đổ vỡ, không có chỗ y chỉ”. Bạch Thế Tôn, con nghĩ như sau: “Sau khi Thế Tôn nhập diệt, chớ để cho tranh luận khởi lên giữa Tăng chúng. Tranh luận ấy đưa đến sự bất an cho đa số, bất hạnh cho đa số, thất lợi cho đa số, bất an, đau khổ cho loài Trời, loài người”.
SC 9—Này Ānanda, Ông nghĩ thế nào? Những pháp Ta dạy cho các Ông với thượng trí, như Bốn niệm xứ, Bốn chánh cần, Bốn như ý túc, Năm căn, Năm lực, Bảy Bồ đề phần, Thánh đạo tám ngành. Ông có thấy chăng, này Ānanda, có hai Tỷ-kheo đối với những pháp này tuyên bố sai khác nhau?
SC 10—Bạch Thế Tôn, những pháp Thế Tôn dạy cho con với thượng trí, như Bốn niệm xứ, Bốn chánh cần, Bốn như ý túc, Năm căn, Năm lực, Bảy Bồ đề phần, Thánh đạo tám ngành, con không thấy cho đến hai Tỷ-kheo đối với những pháp này tuyên bố sai khác nhau. Bạch Thế Tôn, và những người nào sống y cứ sùng kính Thế Tôn, những người ấy sau khi Thế Tôn nhập diệt, có thể khởi lên những tranh luận giữa tăng chúng, hoặc về Tăng thượng hoạt mạng, hoặc về Tăng thượng Giới bổn (Pātimokkha). Tranh luận ấy đem đến bất an cho đa số, bất hạnh cho đa số, bất an, đau khổ cho loài Trời, loài Người.
SC 11—Là nhỏ nhặt, này Ānanda, là sự tranh luận ấy, tức là tranh luận về Tăng thượng hoạt mạng hay Tăng thượng giới bổn. Này Ānanda, sự tranh luận khởi lên giữa Tăng chúng về con đường (magga) hay về đường hướng tu hành (patipada), sự tranh luận ấy mới đưa đến bất an cho đa số, thất lợi cho đa số, bất an, đau khổ cho loài Trời, loài Người.
SC 12Này Ānanda, có sáu căn bản tranh chấp này. Thế nào là sáu? Ở đây, Tỷ-kheo phẫn nộ, sân hận. Này Ānanda, vị Tỷ-kheo nào phẩn nộ, sân hận, vị ấy sống không cung kính, không tôn trọng bậc Ðạo sư; sống không cung kính, không tôn trọng Pháp; sống không cung kính, không tôn trọng Tăng chúng, và sống không viên mãn sự học tập. Này Ānanda, Tỷ-kheo nào sống không cung kính, không tôn trọng bậc Ðạo sư; sống không cung kính, không tôn trọng Pháp; sống không cung kính, không tôn trọng Tăng chúng; và sống không viên mãn sự học tập, vị ấy khởi lên tranh luận giữa Tăng chúng. Sự tranh luận nào đưa đến bất an cho đa số, bất hạnh cho đa số, thất lợi cho đa số, bất an, đau khổ cho loài Trời, loài Người. Này Ānanda, nếu Ông thấy căn bản tranh luận như vậy, giữa các Ông hay giữa các người khác, ở đây, này Ānanda, Ông phải tinh tấn đoạn trừ ác căn bản tranh luận ấy. Này Ānanda, nếu Ông không thấy căn bản tranh luận như vậy, giữa các Ông hay giữa các người khác; ở đây, này Ānanda, Ông phải theo một đường hướng để không có sự tiếp tục diễn tiến đến tương lai về ác căn bản tranh luận ấy. Có sự đoạn diệt ác căn bản tranh luận ấy, như vậy mới không có sự tiếp tục diễn tiến đến tương lai về ác căn bản tranh luận ấy như vậy.
SC 13Lại nữa này Ānanda, vị Tỷ-kheo hiềm hận não hại … tật đố, xan tham … gian manh, xảo trá … ác dục tà kiến … chấp thủ thế trí, cố chấp, khó thuyết phục. Này Ānanda, Tỷ-kheo nào chấp thủ thế trí, cố chấp khó thuyết phục, vị ấy sống không cung kính, không tôn trọng bậc Ðạo sư; sống không cung kính, không tôn trọng Pháp; sống không cung kính, không tôn trọng Tăng chúng; và sống không viên mãn sự học tập. Này Ānanda, vị Tỷ-kheo nào sống không cung kính, không tôn trọng bậc Ðạo sư; sống không cung kính, không tôn trọng Pháp; sống không cung kính, không tôn trọng Tăng chúng; và sống không viên mãn sự học tập, vị ấy khởi lên sự tranh luận giữa Tăng chúng. Sự tranh luận nào đưa đến bất an cho đa số, bất hạnh cho đa số, thất lợi cho đa số, bất an, đau khổ cho loài Trời, loài Người, này Ānanda, nếu Ông thấy căn bản tranh luận như vậy, giữa các Ông hay giữa các người khác, ở đây, này Ānanda, Ông phải tinh tấn đoạn trừ ác căn bản tranh luận ấy. Này Ānanda, nếu Ông không thấy căn bản tranh luận như vậy, giữa các Ông hay giữa người khác, ở đây, này Ānanda, Ông phải theo một đường hướng để không có sự tiếp tục diễn tiến đến tương lai về ác căn bản tranh luận ấy. Có sự đoạn diệt ác căn bản tranh luận ấy, như vậy mới không có sự tiếp tục diễn tiến đến tương lai về ác căn bản tranh luận như vậy. Những pháp này, này Ānanda, là sáu căn bản tranh chấp.
SC 14Này Ānanda, có bốn tránh sự này. Thế nào là bốn? Tránh sự khởi lên do tranh luận, tránh sự khởi lên do chỉ trích, tránh sự khởi lên do phạm giới tội, tránh sự khởi lên do trách nhiệm (kiccadhikaranam: hành tránh sự). Những pháp này, này Ānanda, là bốn tránh sự.
SC 15Nhưng này Ānanda, có bảy diệt tránh pháp này để giải quyết diệt trừ các tránh pháp thỉnh thoảng khởi lên: phán quyết với sự hiện diện cần được ban cho (sammukhavinayo databbo: ưng dữ hiện tiền tỳ—ni), phán quyết ức niệm cần được ban cho (sativinayadatabbo: ưng dữ ức niệm tỳ-ni), phán quyết bất si cần được ban cho (amulhavinayo databbo: ưng dữ bất si tỳ-ni), quyết định tùy theo thú nhận (patinnaya karetabbam), quyết định đa số (yebhuya ssika: đa nhân mích tội), quyết định tùy theo giới tội người phạm (tassa papiyyasika), trải cỏ che lấp (tinavattha rako: như thảo phú địa).
SC 16Này Ānanda, thế nào là phán quyết với sự hiện diện cần được ban cho? Ở đây, này Ānanda, các Tỷ-kheo tranh chấp nhau: “Ðây là pháp, hay đây là phi pháp, hay đây là luật, hay đây là phi luật”. Này Ānanda, tất cả các Tỷ-kheo ấy phải tập hợp hòa hợp với nhau, sau khi tập hợp, pháp quy chế (dhammanetti) phải được thảo luận, phân tích. Sau khi pháp quy chế được thảo luận, phân tích, ở đây, làm thế nào để đồng nhất đạt được, như vậy, tránh sự phải được giải quyết. Như vậy, này Ānanda, là phán quyết với sự hiện diện; và như vậy, ở đây là sự giải quyết một số tránh sự tức là dùng phán quyết với sự hiện diện.
SC 17Và này Ānanda, thế nào là quyết định đa số (yebbuyyasika)? Này Ānanda, nếu các Tỷ-kheo kia không có thể giải quyết tránh ấy tại trú xứ ấy, thời này Ānanda, các vị Tỷ-kheo kia cần phải đi đến chỗ trú xứ có nhiều Tỷ-kheo hơn, tại đấy tất cả các Tỷ-kheo phải hòa đồng tập hợp lại; sau khi tập hợp, pháp quy chế (dhammanetti) phải được thảo luận, phân tích. Sau khi pháp quy chế được thảo luận, phân tích, ở đây làm thế nào, để đồng nhất đạt được như vậy, tránh sự phải được giải quyết. Như vậy, này Ānanda, là sự giải quyết một số tránh sự tức là dùng sự quyết định đa số.
SC 18Và này Ānanda, thế nào phán quyết ức niệm? Ở đây, này Ānanda, các Tỷ-kheo buộc tội một Tỷ-kheo về một trọng tội như thế này, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di, nói rằng: “Tôn giả có nhớ Tôn giả đã phạm trọng tội như thế này không, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di?” Vị ấy trả lời như sau: “Chư Hiền, tôi không nhớ tôi đã phạm trọng tội như vậy, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di”. Như vậy, này Ānanda, một phán quyết ức niệm cần phải cho Tỷ-kheo ấy. Như vậy, này Ānanda, là phán quyết ức niệm. Như vậy, ở đây là sự giải quyết một số tránh sự tức là nhờ phán quyết ức niệm.
SC 19Và này Ānanda, thế nào là phán quyết bất si? Ở đây, này Ānanda, các Tỷ-kheo buộc tội một Tỷ-kheo về một trọng tội như thế này, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di nói rằng: “Tôn giả có nhớ Tôn giả đã phạm trọng tội như thế này không, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di?” Vị ấy trả lời như sau: “Chư Hiền, tôi không nhớ tôi đã phạm trọng tội như vậy, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di”. Tỷ-kheo ấy bị các vị Tỷ-kheo kia dồn ép phải thú nhận: “Tôn giả hãy biết cho rõ ràng, nếu Tôn giả có nhớ có phạm trọng tội như thế này, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di”. Tỷ-kheo ấy trả lời như sau: “Này Chư Hiền, tôi đã bị cuồng si, tâm trí tôi điên đảo; do tôi cuồng si như vậy, nhiều việc đã được tôi làm, tôi nói không xứng Sa-môn hạnh. Vì bị cuồng si, tôi không nhớ đã làm như vậy”. Này Ānanda, phán quyết bất si cần phải cho Tỷ-kheo ấy. Như vậy, này Ānanda, là phán quyết bất si. Và như vậy, ở đây là sự giải quyết một số tránh pháp, tức là nhờ phán quyết bất si.
SC 20Và này Ānanda, thế nào là quyết định tùy theo thú nhận? Ở đây, này Ānanda, bị buộc tội hay không bị buộc tội, Tỷ-kheo nhớ một giới tội, tỏ lộ, trình bày. Tỷ-kheo ấy phải đến một Tỷ-kheo lớn tuổi hơn, đắp y phía một bên vai, đảnh lễ chân vị ấy, ngồi gối hai chân, chấp tay và nói như sau: “Bạch Tôn giả, tôi có phạm giới tội tên như thế này, nay xin sám hối”. Tỷ-kheo kia nói như sau: “Ông có thấy chăng?”: “Tôi có thấy”:: “Ông có gìn giữ trong tương lai không?”:: “Tôi sẽ gìn giữ”. Như vậy, này Ānanda, là quyết định tùy theo thú nhận, như vậy, ở đây là sự giải quyết một số tránh sự tức là nhờ quyết định tùy theo thú nhận.
SC 21Và này Ānanda, thế nào là quyết định tùy theo giới tội người phạm? Ở đây, này Ānanda, các Tỷ-kheo buộc tội một Tỷ-kheo về một trọng tội như thế này, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di, nói rằng: “Tôn giả có nhớ Tôn giả đã phạm trọng tội như thế này không, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di?” Vị ấy trả lời như sau: “Chư Hiền, tôi không nhớ tôi đã phạm trọng tội như vậy, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di”. Tỷ-kheo ấy bị các Tỷ-kheo kia dồn ép phải tỏ lộ ra: “Tôn giả hãy biết cho rõ ràng, nếu Tôn giả có nhớ có phạm trọng tội như thế này, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di?” Tỷ-kheo ấy trả lời như sau: “Chư Hiền, tôi không có nhớ tôi có phạm trọng tội như thế này, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di. Chư Hiền, tôi nhớ tôi có phạm khinh tội như thế này”. Tỷ-kheo ấy bị các Tỷ-kheo kia dồn ép phải tỏ lộ: “Tôn giả hãy biết cho rõ ràng, nếu Tôn giả nhớ có phạm trọng tội như thế này, hoặc Ba-la-di hoặc gần Ba-la-di?”. Vị ấy trả lời như sau: “Chư Hiền, dầu không ai hỏi tội, tôi sẽ thú nhận có phạm khinh tội như thế này, làm sao tôi có thể, khi có người hỏi tôi, lại không thú nhận có phạm trọng tội như thế này, hoặc Ba la di, hoặc gần Ba-la-di?” Vị kia nói như sau: “Này Hiền giả, dầu Ông có phạm khinh tội này, nếu không hỏi, Ông sẽ không thú nhận, làm sao khi đã phạm trọng tội như thế này, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di, nếu có hỏi, Ông lại có thể thú nhận? Tôn giả hãy biết rõ ràng, nếu Tôn giả nhớ có phạm trọng tội như thế này không, hoặc Ba-la-di. Hoặc gần Ba-la-di?” Vị ấy trả lời như sau: “Chư Hiền, tôi nhớ, tôi có phạm trọng tội như thế này, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di. Ðiều tôi đã nói như vậy, là nói chơi, điều tôi đã nói như vậy là để cười (rava) Tôi không có nhớ tôi đã phạm trọng tội như thế này, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di”. Như vậy, này Ānanda, là quyết định tùy theo giới tội người phạm. Và như vậy, ở đây là sự giải quyết một số tránh tội, tức là nhờ quyết định tùy theo giới tội người phạm.
SC 22Và này Ānanda, thế nào là trải cỏ che lấp? Ở đây, này Ānanda, một số Tỷ-kheo sống tranh chấp, tranh cãi, tranh luận với nhau, có nhiều việc đã làm, đã nói không xứng Sa-môn hạnh. Tất cả các Tỷ-kheo ấy phải tập hợp hòa đồng với nhau. Sau khi tập hợp, một Tỷ-kheo thông minh có kinh nghiệm hơn của một phe nhóm Tỷ-kheo, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp y về phía một bên vai, chắp tay, bạch Tăng chúng, nói rằng: “Chư Tôn giả, Tăng chúng hãy nghe tôi. Khi chúng tôi sống tranh chấp, tranh cãi, tranh luận với nhau, nhiều việc đã làm, đã nói không xứng Sa-môn hạnh. Nếu Tăng chúng xem là phải thời, tôi xin tỏ lộ bất cứ giới tội nào của các Tôn giả này và bất cứ giới tội nào của tôi. Vì lợi ích cho chư Tôn giả và cũng vì lợi ích cho tự thân, tôi xin tỏ lộ giữa Tăng chúng, như lấy cỏ trải ra, trừ các trọng tội, trừ tội liên hệ đến cư sĩ”.
SC 23Rồi một vị Tỷ-kheo thông minh, kinh nghiệm của nhóm Tỷ-kheo khác, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp y về phía một bên vai, chấp tay bạch Tăng chúng, nói rằng: “Chư Tôn giả, Tăng chúng hãy nghe tôi. Khi chúng tôi sống tranh chấp, tranh cãi, tranh luận với nhau, nhiều việc đã làm, đã nói không xứng Sa-môn hạnh. Nếu Tăng chúng xem là phải thời, tôi xin tỏ lộ bất cứ giới tội nào của các Tôn giả này và bất cứ giới tội nào của tôi. Vì lợi ích cho chư Tôn giả và cũng vì lợi ích cho tự thân, tôi xin tỏ lộ giữa Tăng chúng, như lấy cỏ trải ra, trừ các trọng tội, trừ tội liên hệ đến cư sĩ”. Như vậy, này Ānanda, là trải cỏ che lấp, và như vậy, ở đây là sự giải quyết một số tránh pháp, tức là nhờ trải cỏ che lấp.
SC 24Này Ānanda, có sáu khả niệm pháp này, tác thành khả ái, tác thành tôn kính, đưa đến đoàn tụ, không tranh luận, hòa hợp, đồng nhất. Thế nào là sáu?
SC 25Ở đây, này Ānanda, Tỷ-kheo an trú từ thân nghiệp, đối với các vị đồng Phạm hạnh, chỗ đông người và chỗ vắng người. Khả niệm pháp này, tác thành khả ái, tác thành tôn kính đưa đến đoàn tụ, không tranh luận, hòa hợp, đồng nhất.
SC 26Và lại nữa, này Ānanda, Tỷ-kheo an trú từ khẩu nghiệp, đối với các vị đồng Phạm hạnh, chỗ đông người và chỗ vắng người. Khả niệm pháp này, tác thành khả ái, tác thành tôn kính đưa đến đoàn tụ, không tranh luận, hòa hợp, đồng nhất.
SC 27Và lại nữa, này Ānanda, Tỷ-kheo an trú từ ý nghiệp đối với các vị đồng Phạm hạnh, chỗ đông người và chỗ vắng người. Khả niệm pháp này tác thành khả ái, tác thành tôn kính, đưa đến đoàn tụ, không tranh luận, hòa hợp, đồng nhất.
SC 28Và lại nữa, này Ānanda, với mọi sở đắc như pháp, mọi lợi dưỡng đúng pháp cho đến những thọ lãnh trong bình bát, Tỷ-kheo là vị san sẻ các lợi dưỡng như vậy, là vị thọ hưởng chúng cùng với các vị đồng Phạm hạnh có giới đức. Khả niệm pháp này cũng tác thành khả ái, tác thành tôn kính, đưa đến đoàn tụ, không tranh luận, hòa hợp, đồng nhất.
SC 29Và lại nữa, này Ānanda, đối với mọi giới luật nào, không sứt mẻ, không tỳ, không vết, không ô uế, giải thoát, được người trí tán thán, không chấp thủ, đưa đến Thiền định, Tỷ-kheo sống thành tựu những giới luật như vậy cùng với các vị đồng Phạm hạnh giữa chỗ đông người và tại chỗ vắng người. Khả niệm pháp này cũng tác thành khả ái, tác thành tôn kính, đưa đến đoàn tụ, không tranh luận, hòa hợp, đồng nhất.
SC 30Và lại nữa, này Ānanda, đối với mọi tri kiến thánh thiện, đưa đến xuất ly, dẫn đến sự chơn chánh, đoạn diệt khổ đau cho những ai thực hành theo, Tỷ-kheo sống thành tựu những tri kiến như vậy cùng với các vị đồng Phạm hạnh trước chỗ đông người và tại chỗ vắng người. Khả niệm pháp này cũng tác thành khả ái, tác thành tôn kính đưa đến đoàn tụ, không tranh luận, hòa đồng, đồng nhất.
SC 31Này Ānanda, sáu pháp khả niệm này tác thành khả ái, tác thành tôn kính, đưa đến đoàn tụ, không tranh luận, hòa đồng, đồng nhất. Này Ānanda, nếu Ông thọ trì và thực hành sáu pháp khả niệm này, thời này Ānanda, Ông thấy có những cách nói nào, hoặc tế hoặc thô, khiến Ông không có thể kham nhẫn?
SC 32—Thưa không, bạch Thế Tôn.
SC 33—Do vậy, này Ānanda, hãy thọ trì và thực hành sáu pháp khả niệm này, như vậy sẽ đưa đến cho Ông an lạc và hạnh phúc lâu dài.
SC 34Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ānanda hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). 12–07–2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
4. Kinh Sāmagāma
Tena kho pana samayena nigaṇṭho nāṭaputto pāvāyaṁ adhunākālaṅkato hoti. Tassa kālaṅkiriyāya bhinnā nigaṇṭhā dvedhikajātā bhaṇḍanajātā kalahajātā vivādāpannā aññamaññaṁ mukhasattīhi vitudantā viharanti: “na tvaṁ imaṁ dhammavinayaṁ ājānāsi, ahaṁ imaṁ dhammavinayaṁ ājānāmi. Kiṁ tvaṁ imaṁ dhammavinayaṁ ājānissasi. Micchāpaṭipanno tvamasi, ahamasmi sammāpaṭipanno. Sahitaṁ me, asahitaṁ te. Purevacanīyaṁ pacchā avaca, pacchāvacanīyaṁ pure avaca. Adhiciṇṇaṁ te viparāvattaṁ. Āropito te vādo. Niggahitosi, cara vādappamokkhāya; nibbeṭhehi vā sace pahosī”ti. Vadhoyeva kho maññe nigaṇṭhesu nāṭaputtiyesu vattati. Yepi nigaṇṭhassa nāṭaputtassa sāvakā gihī odātavasanā tepi nigaṇṭhesu nāṭaputtiyesu nibbinnarūpā virattarūpā paṭivānarūpā yathā taṁ durakkhāte dhammavinaye duppavedite aniyyānike anupasamasaṁvattanike asammāsambuddhappavedite bhinnathūpe appaṭisaraṇe.
Now at that time the Jain ascetic of the Ñātika clan had recently passed away at Pāvā. With his passing the Jain ascetics split, dividing into two factions, fighting, quarreling, and disputing, continually wounding each other with barbed words: “You don’t understand this teaching and training. I understand this teaching and training. What, you understand this teaching and training? You’re practicing wrong. I’m practicing right. I stay on topic, you don’t. You said last what you should have said first. You said first what you should have said last. What you’ve thought so much about has been disproved. Your doctrine is refuted. Go on, save your doctrine! You’re trapped; get yourself out of this—if you can!” You’d think there was nothing but slaughter going on among the Jain ascetics. And the Jain Ñātika’s white-clothed lay disciples were disillusioned, dismayed, and disappointed in the Jain ascetics. They were equally disappointed with a teaching and training so poorly explained and poorly propounded, not emancipating, not leading to peace, proclaimed by someone who is not a fully awakened Buddha, with broken monument and without a refuge.
41. Tôi nghe như vầy. Một thời, Thế Tôn trú ở Sāmagāma trong xứ Sakka. Lúc bấy giờ, Nigaṇṭha Nāṭaputta vừa mới qua đời ở Pāvā. Sau khi ông qua đời, các Nigaṇṭha bị chia rẽ, phân thành hai phe, cãi vã, tranh chấp, rơi vào xung đột, và đả kích nhau bằng những lời lẽ sắc như dao găm: ‘Ngươi không biết Pháp và Luật này, ta mới biết Pháp và Luật này. Làm sao ngươi có thể biết Pháp và Luật này? Ngươi đã thực hành sai, ta mới thực hành đúng. Lời của ta có ý nghĩa, lời của ngươi vô nghĩa. Điều đáng nói trước thì ngươi lại nói sau, điều đáng nói sau thì ngươi lại nói trước. Lý thuyết mà ngươi dày công xây dựng đã bị đảo lộn. Luận điểm của ngươi đã bị bác bỏ. Ngươi đã bị đánh bại. Hãy đi mà bảo vệ luận điểm của mình; hãy gỡ rối đi nếu có thể!’ Dường như chỉ có sự tàn sát diễn ra giữa các Nigaṇṭha, đệ tử của Nāṭaputta. Ngay cả các đệ tử tại gia mặc áo trắng của Nigaṇṭha Nāṭaputta cũng tỏ ra chán nản, ghê tởm, và xa lánh các Nigaṇṭha, đệ tử của Nāṭaputta, vì Pháp và Luật đã được thuyết giảng và trình bày một cách tồi tệ, không hướng đến giải thoát, không đưa đến an tịnh, không do một bậc Chánh Đẳng Giác tuyên thuyết, với nền tảng đã sụp đổ, không nơi nương tựa.
Atha kho cundo samaṇuddeso pāvāyaṁ vassaṁvuṭṭho yena sāmagāmo yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho cundo samaṇuddeso āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca: “nigaṇṭho, bhante, nāṭaputto pāvāyaṁ adhunākālaṅkato. Tassa kālaṅkiriyāya bhinnā nigaṇṭhā dvedhikajātā …pe… bhinnathūpe appaṭisaraṇe”ti.
Evaṁ vutte, āyasmā ānando cundaṁ samaṇuddesaṁ etadavoca: “atthi kho idaṁ, āvuso cunda, kathāpābhataṁ bhagavantaṁ dassanāya. Āyāma, āvuso cunda, yena bhagavā tenupasaṅkamissāma; upasaṅkamitvā etamatthaṁ bhagavato ārocessāmā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho cundo samaṇuddeso āyasmato ānandassa paccassosi.
And then, after completing the rainy season residence near Pāvā, the novice Cunda went to see Venerable Ānanda at Sāma village. He bowed, sat down to one side, and told him what had happened.
Ānanda said to him, “Reverend Cunda, we should see the Buddha about this matter. Come, let’s go to the Buddha and inform him about this.”
“Yes, sir,” replied Cunda.
42. Bấy giờ, sa-di Cunda, sau khi an cư mùa mưa tại Pāvā, đi đến làng Sāma, đến chỗ Tôn giả Ānanda; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Ānanda rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, sa-di Cunda bạch Tôn giả Ānanda rằng: ‘Bạch Tôn giả, Nigaṇṭha Nāṭaputta vừa mới mệnh chung tại Pāvā. Do sự mệnh chung của ông ấy, các Nigaṇṭha bị chia rẽ, phân thành hai phái... (v.v.)... nền tảng bị phá vỡ, không còn nơi nương tựa.’ Khi được nói vậy, Tôn giả Ānanda nói với sa-di Cunda rằng: ‘Này hiền giả Cunda, đây quả là một câu chuyện đáng làm quà để đến yết kiến Thế Tôn. Này hiền giả Cunda, chúng ta hãy đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, chúng ta sẽ trình báo việc này lên Thế Tôn.’ ‘Thưa vâng, bạch Tôn giả.’ Sa-di Cunda vâng lời Tôn giả Ānanda.
Atha kho āyasmā ca ānando cundo ca samaṇuddeso yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca: “ayaṁ, bhante, cundo samaṇuddeso evamāha: ‘nigaṇṭho, bhante, nāṭaputto pāvāyaṁ adhunākālaṅkato. Tassa kālaṅkiriyāya bhinnā nigaṇṭhā dvedhikajātā …pe… bhinnathūpe appaṭisaraṇe’ti. Tassa mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti: ‘mā heva bhagavato accayena saṅghe vivādo uppajji;
Then Ānanda and Cunda went to the Buddha, bowed, sat down to one side, and Ānanda informed him of what Cunda had said. He went on to say, “Sir, it occurs to me: ‘When the Buddha has passed away, let no dispute arise in the Saṅgha.
Bấy giờ, Tôn giả Ānanda và sa-di Cunda cùng đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn rằng: ‘Bạch Thế Tôn, sa-di Cunda này đã nói như sau: ‘Bạch Tôn giả, Nigaṇṭha Nāṭaputta vừa mới mệnh chung tại Pāvā. Do sự mệnh chung của ông ấy, các Nigaṇṭha bị chia rẽ, phân thành hai phái... (v.v.)... nền tảng bị phá vỡ, không còn nơi nương tựa.’ Bạch Thế Tôn, con có suy nghĩ như vầy: ‘Mong rằng sau khi Thế Tôn diệt độ, sự tranh cãi không khởi lên trong Tăng chúng; sự tranh cãi ấy sẽ đưa đến bất hạnh, bất lạc cho đa số, đưa đến sự vô ích, bất hạnh, và đau khổ cho chư thiên và loài người.’
“Taṁ kiṁ maññasi, ānanda, ye vo mayā dhammā abhiññā desitā, seyyathidaṁ—cattāro satipaṭṭhānā cattāro sammappadhānā cattāro iddhipādā pañcindriyāni pañca balāni satta bojjhaṅgā ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, passasi no tvaṁ, ānanda, imesu dhammesu dvepi bhikkhū nānāvāde”ti?
“Ye me, bhante, dhammā bhagavatā abhiññā desitā, seyyathidaṁ—cattāro satipaṭṭhānā cattāro sammappadhānā cattāro iddhipādā pañcindriyāni pañca balāni satta bojjhaṅgā ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, nāhaṁ passāmi imesu dhammesu dvepi bhikkhū nānāvāde. Ye ca kho, bhante, puggalā bhagavantaṁ patissayamānarūpā viharanti tepi bhagavato accayena saṅghe vivādaṁ janeyyuṁ ajjhājīve vā adhipātimokkhe vā. Svāssa vivādo bahujanāhitāya bahujanāsukhāya bahuno janassa anatthāya ahitāya dukkhāya devamanussānan”ti.
“Appamattako so, ānanda, vivādo yadidaṁ—ajjhājīve vā adhipātimokkhe vā. Magge vā hi, ānanda, paṭipadāya vā saṅghe vivādo uppajjamāno uppajjeyya; svāssa vivādo bahujanāhitāya bahujanāsukhāya bahuno janassa anatthāya ahitāya dukkhāya devamanussānaṁ.
“What do you think, Ānanda? Do you see even two mendicants whose opinion differs regarding the things I have taught from my direct knowledge, that is, the four kinds of mindfulness meditation, the four right efforts, the four bases of psychic power, the five faculties, the five powers, the seven awakening factors, and the noble eightfold path?”
“No, sir, I do not. Nevertheless, there are some individuals who appear to live obedient to the Buddha, but when the Buddha has passed away they might create a dispute in the Saṅgha regarding livelihood or the monastic code. Such a dispute would be for the detriment and unhappiness of the people, against the people, for the harm, detriment, and suffering of gods and humans.”
“Ānanda, dispute about livelihood or the monastic code is a minor matter. But should a dispute arise in the Saṅgha concerning the path or the practice, that would be for the detriment and unhappiness of the people, against the people, for the harm, detriment, and suffering of gods and humans.
43. ‘Này Ānanda, Ông nghĩ thế nào? Về những pháp mà Ta đã thuyết giảng cho các ông sau khi đã chứng ngộ với thắng trí, nghĩa là: bốn Niệm xứ, bốn Chánh cần, bốn Thần túc, năm Căn, năm Lực, bảy Giác chi, Thánh đạo tám ngành, này Ānanda, trong những pháp này, ông có thấy hai vị tỳ-khưu nào có quan điểm khác nhau không?’ ‘Bạch Thế Tôn, về những pháp mà Thế Tôn đã thuyết giảng sau khi đã chứng ngộ với thắng trí, nghĩa là: bốn Niệm xứ, bốn Chánh cần, bốn Thần túc, năm Căn, năm Lực, bảy Giác chi, Thánh đạo tám ngành, trong những pháp này, con không thấy hai vị tỳ-khưu nào có quan điểm khác nhau. Nhưng bạch Thế Tôn, có những người sống nương tựa vào Thế Tôn, sau khi Thế Tôn diệt độ, họ có thể gây ra tranh cãi trong Tăng chúng về vấn đề sinh kế hoặc về giới bổn Pātimokkha. Sự tranh cãi ấy sẽ đưa đến bất hạnh, bất lạc cho đa số, đưa đến sự vô ích, bất hạnh, và đau khổ cho chư thiên và loài người.’ ‘Này Ānanda, sự tranh cãi ấy, dù là về sinh kế hay về giới bổn Pātimokkha, chỉ là việc nhỏ nhặt. Này Ānanda, nếu sự tranh cãi khởi lên trong Tăng chúng về Đạo hay về Pháp hành, sự tranh cãi ấy mới thực sự đưa đến bất hạnh, bất lạc cho đa số, đưa đến sự vô ích, bất hạnh, và đau khổ cho chư thiên và loài người.’
Chayimāni, ānanda, vivādamūlāni. Katamāni cha? Idhānanda, bhikkhu kodhano hoti upanāhī. Yo so, ānanda, bhikkhu kodhano hoti upanāhī so sattharipi agāravo viharati appatisso, dhammepi agāravo viharati appatisso, saṅghepi agāravo viharati appatisso, sikkhāyapi na paripūrakārī hoti. Yo so, ānanda, bhikkhu satthari agāravo viharati appatisso, dhamme … saṅghe agāravo viharati appatisso, sikkhāya na paripūrakārī hoti, so saṅghe vivādaṁ janeti; yo hoti vivādo bahujanāhitāya bahujanāsukhāya, bahuno janassa anatthāya ahitāya dukkhāya devamanussānaṁ. Evarūpañce tumhe, ānanda, vivādamūlaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā samanupasseyyātha, tatra tumhe, ānanda, tasseva pāpakassa vivādamūlassa pahānāya vāyameyyātha. Evarūpañce tumhe, ānanda, vivādamūlaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā na samanupasseyyātha. Tatra tumhe, ānanda, tasseva pāpakassa vivādamūlassa āyatiṁ anavassavāya paṭipajjeyyātha. Evametassa pāpakassa vivādamūlassa pahānaṁ hoti, evametassa pāpakassa vivādamūlassa āyatiṁ anavassavo hoti.
Ānanda, there are these six roots of dispute. What six? Firstly, a mendicant is irritable and acrimonious. Such a mendicant lacks respect and reverence for the Teacher, the teaching, and the Saṅgha, and they don’t fulfill the training. They create a dispute in the Saṅgha, which is for the detriment and unhappiness of the people, against the people, for the harm, detriment, and suffering of gods and humans. If you see such a root of dispute in yourselves or others, you should try to give up this bad thing. If you don’t see it, you should practice so that it doesn’t come up in the future. That’s how to give up this bad root of dispute, so it doesn’t come up in the future.
44. ‘Này Ānanda, có sáu gốc rễ của sự tranh cãi này. Thế nào là sáu? Này Ānanda, ở đây, vị tỳ-khưu phẫn nộ, hay ôm hận. Này Ānanda, vị tỳ-khưu nào phẫn nộ, hay ôm hận, vị ấy sống không kính trọng, không vâng phục Bậc Đạo Sư; sống không kính trọng, không vâng phục Giáo Pháp; sống không kính trọng, không vâng phục Tăng chúng; và không phải là người hoàn thành trọn vẹn việc học tập. Này Ānanda, vị tỳ-khưu nào sống không kính trọng, không vâng phục Bậc Đạo Sư, không vâng phục Giáo Pháp, không vâng phục Tăng chúng, và không phải là người hoàn thành trọn vẹn việc học tập, vị ấy gây ra tranh cãi trong Tăng chúng; sự tranh cãi ấy đưa đến bất hạnh, bất lạc cho đa số, đưa đến sự vô ích, bất hạnh, và đau khổ cho chư thiên và loài người. Này Ānanda, nếu các ông nhận thấy một gốc rễ tranh cãi như vậy ở bên trong hay bên ngoài, thì này Ānanda, các ông nên nỗ lực để đoạn trừ chính gốc rễ tranh cãi xấu ác ấy. Này Ānanda, nếu các ông không nhận thấy một gốc rễ tranh cãi như vậy ở bên trong hay bên ngoài, thì này Ānanda, các ông nên thực hành để gốc rễ tranh cãi xấu ác ấy không phát sinh trong tương lai. Như vậy là sự đoạn trừ gốc rễ tranh cãi xấu ác này; như vậy là sự không phát sinh trong tương lai của gốc rễ tranh cãi xấu ác này.
Puna caparaṁ, ānanda, bhikkhu makkhī hoti paḷāsī …pe… issukī hoti maccharī …pe… saṭho hoti māyāvī …pe… pāpiccho hoti micchādiṭṭhi …pe… sandiṭṭhiparāmāsī hoti ādhānaggāhī duppaṭinissaggī. Yo so, ānanda, bhikkhu sandiṭṭhiparāmāsī hoti ādhānaggāhī duppaṭinissaggī so sattharipi agāravo viharati appatisso, dhammepi agāravo viharati appatisso, saṅghepi agāravo viharati appatisso, sikkhāyapi na paripūrakārī hoti. Yo so, ānanda, bhikkhu satthari agāravo viharati appatisso, dhamme … saṅghe … sikkhāya na paripūrakārī hoti so saṅghe vivādaṁ janeti; yo hoti vivādo bahujanāhitāya bahujanāsukhāya, bahuno janassa anatthāya ahitāya dukkhāya devamanussānaṁ. Evarūpañce tumhe, ānanda, vivādamūlaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā samanupasseyyātha. Tatra tumhe, ānanda, tasseva pāpakassa vivādamūlassa pahānāya vāyameyyātha. Evarūpañce tumhe, ānanda, vivādamūlaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā na samanupasseyyātha, tatra tumhe, ānanda, tasseva pāpakassa vivādamūlassa āyatiṁ anavassavāya paṭipajjeyyātha. Evametassa pāpakassa vivādamūlassa pahānaṁ hoti, evametassa pāpakassa vivādamūlassa āyatiṁ anavassavo hoti. Imāni kho, ānanda, cha vivādamūlāni.
Furthermore, a mendicant is offensive and contemptuous … They’re jealous and stingy … They’re devious and deceitful … They have corrupt wishes and wrong view … They’re attached to their own views, holding them tight, and refusing to let go. Such a mendicant lacks respect and reverence for the Teacher, the teaching, and the Saṅgha, and they don’t fulfill the training. They create a dispute in the Saṅgha, which is for the detriment and unhappiness of the people, against the people, for the harm, detriment, and suffering of gods and humans. If you see such a root of dispute in yourselves or others, you should try to give up this bad thing. If you don’t see it, you should practice so that it doesn’t come up in the future. That’s how to give up this bad root of dispute, so it doesn’t come up in the future. These are the six roots of dispute.
45. Này Ānanda, lại nữa, vị tỳ khưu hay phỉ báng, hay cạnh tranh... hay ganh tỵ, hay keo kiệt... hay xảo trá, hay gian dối... có ác dục, có tà kiến... cố chấp vào quan điểm riêng, bám giữ chặt chẽ, khó từ bỏ. Này Ānanda, vị tỳ khưu nào cố chấp vào quan điểm riêng, bám giữ chặt chẽ, khó từ bỏ, vị ấy sống không tôn kính, không vâng phục Bậc Đạo Sư; sống không tôn kính, không vâng phục Pháp; sống không tôn kính, không vâng phục Tăng; và không phải là người thực hành đầy đủ học giới. Này Ānanda, vị tỳ khưu nào sống không tôn kính, không vâng phục Bậc Đạo Sư, Pháp, Tăng, và không phải là người thực hành đầy đủ học giới, vị ấy gây ra tranh cãi trong Tăng chúng; sự tranh cãi ấy đưa đến bất hạnh, bất an cho đa số, đưa đến sự vô ích, bất hạnh, đau khổ cho chư thiên và loài người. Này Ānanda, nếu các ngươi nhận thấy một nguồn gốc tranh cãi như vậy ở bên trong hay bên ngoài, thì này Ānanda, các ngươi hãy cố gắng để đoạn trừ chính nguồn gốc tranh cãi xấu ác ấy. Này Ānanda, nếu các ngươi không nhận thấy một nguồn gốc tranh cãi như vậy ở bên trong hay bên ngoài, thì này Ānanda, các ngươi hãy thực hành để cho chính nguồn gốc tranh cãi xấu ác ấy không phát sinh trong tương lai. Như vậy là sự đoạn trừ nguồn gốc tranh cãi xấu ác ấy, như vậy là sự không phát sinh trong tương lai của nguồn gốc tranh cãi xấu ác ấy. Này Ānanda, đó là sáu nguồn gốc tranh cãi.
Cattārimāni, ānanda, adhikaraṇāni. Katamāni cattāri? Vivādādhikaraṇaṁ, anuvādādhikaraṇaṁ, āpattādhikaraṇaṁ, kiccādhikaraṇaṁ—imāni kho, ānanda, cattāri adhikaraṇāni. Satta kho panime, ānanda, adhikaraṇasamathā uppannuppannānaṁ adhikaraṇānaṁ samathāya vūpasamāya—sammukhāvinayo dātabbo, sativinayo dātabbo, amūḷhavinayo dātabbo, paṭiññāya kāretabbaṁ, yebhuyyasikā, tassapāpiyasikā, tiṇavatthārako.
There are four kinds of disciplinary issues. What four? Disciplinary issues due to disputes, accusations, offenses, or business. These are the four kinds of disciplinary issues. There are these seven means of settling any disciplinary issues that might arise. Resolution face-to-face to be applied. Resolution through recollection to be granted. Resolution because of past insanity to be granted. Acting according to what has been admitted. Majority decision. Further penalty. Covering over as if with grass.
46. Này Ānanda, có bốn loại tranh tụng này. Bốn loại nào? Tranh tụng về tranh cãi, tranh tụng về khiển trách, tranh tụng về tội phạm, tranh tụng về phận sự – này Ānanda, đó là bốn loại tranh tụng. Và này Ānanda, có bảy cách dàn xếp tranh tụng này – để dập tắt và giải quyết các tranh tụng đã phát sinh: cần áp dụng luật đối diện, cần áp dụng luật cho người có trí nhớ, cần áp dụng luật cho người không mê loạn, cần thực hiện theo sự thú nhận, luật y theo đa số, luật dành cho người có hành vi xấu, và luật phủ cỏ.
Kathañcānanda, sammukhāvinayo hoti? Idhānanda, bhikkhū vivadanti dhammoti vā adhammoti vā vinayoti vā avinayoti vā. Tehānanda, bhikkhūhi sabbeheva samaggehi sannipatitabbaṁ. Sannipatitvā dhammanetti samanumajjitabbā. Dhammanettiṁ samanumajjitvā yathā tattha sameti tathā taṁ adhikaraṇaṁ vūpasametabbaṁ. Evaṁ kho, ānanda, sammukhāvinayo hoti; evañca panidhekaccānaṁ adhikaraṇānaṁ vūpasamo hoti yadidaṁ—sammukhāvinayena.
And how is there resolution face-to-face? It’s when mendicants are disputing: ‘This is the teaching,’ ‘This is not the teaching,’ ‘This is the monastic law,’ ‘This is not the monastic law.’ Those mendicants should all sit together in harmony and thoroughly go over the guidelines of the teaching. They should settle that disciplinary issue in agreement with the guidelines. That’s how there is resolution face-to-face. And that’s how certain disciplinary issues are settled, that is, by resolution face-to-face.
47. Này Ānanda, thế nào là luật đối diện? Này Ānanda, ở đây các tỳ khưu tranh cãi rằng: ‘Đây là Pháp’ hay ‘Đây không phải là Pháp’, ‘Đây là Luật’ hay ‘Đây không phải là Luật’. Này Ānanda, tất cả các tỳ khưu ấy phải hòa hợp hội họp lại. Sau khi hội họp, cần phải xem xét kỹ lưỡng đường lối của Pháp. Sau khi đã xem xét kỹ lưỡng đường lối của Pháp, cần phải dàn xếp vụ tranh tụng ấy theo cách thức phù hợp với đường lối đó. Này Ānanda, như vậy là luật đối diện; và như vậy là sự dàn xếp một số tranh tụng ở đây, tức là bằng luật đối diện.
Kathañcānanda, yebhuyyasikā hoti? Te ce, ānanda, bhikkhū na sakkonti taṁ adhikaraṇaṁ tasmiṁ āvāse vūpasametuṁ. Tehānanda, bhikkhūhi yasmiṁ āvāse bahutarā bhikkhū so āvāso gantabbo. Tattha sabbeheva samaggehi sannipatitabbaṁ. Sannipatitvā dhammanetti samanumajjitabbā. Dhammanettiṁ samanumajjitvā yathā tattha sameti tathā taṁ adhikaraṇaṁ vūpasametabbaṁ. Evaṁ kho, ānanda, yebhuyyasikā hoti, evañca panidhekaccānaṁ adhikaraṇānaṁ vūpasamo hoti yadidaṁ—yebhuyyasikāya.
Kathañcānanda, sativinayo hoti? Idhānanda, bhikkhū bhikkhuṁ evarūpāya garukāya āpattiyā codenti pārājikena vā pārājikasāmantena vā: ‘saratāyasmā evarūpiṁ garukaṁ āpattiṁ āpajjitā pārājikaṁ vā pārājikasāmantaṁ vā’ti? So evamāha: ‘na kho ahaṁ, āvuso, sarāmi evarūpiṁ garukaṁ āpattiṁ āpajjitā pārājikaṁ vā pārājikasāmantaṁ vā’ti.
And how is there majority decision? If those mendicants are not able to settle that issue in that monastery, they should go to another monastery with more mendicants. There they should all sit together in harmony and thoroughly go over the guidelines of the teaching. They should settle that disciplinary issue in agreement with the guidelines. That’s how there is majority decision. And that’s how certain disciplinary issues are settled, that is, by majority decision.
And how is there resolution through recollection? It’s when a mendicant accuses a mendicant of a serious offense; one entailing expulsion, or close to it: ‘Venerable, do you recall committing the kind of serious offense that entails expulsion or close to it?’ They say: ‘No, reverend, I don’t recall committing such an offense.’
48. Này Ānanda, thế nào là luật y theo đa số? Này Ānanda, nếu các tỳ khưu ấy không thể dàn xếp vụ tranh tụng đó tại trú xứ ấy. Thì này Ānanda, các tỳ khưu ấy phải đi đến trú xứ nào có nhiều tỳ khưu hơn. Tại đó, tất cả phải hòa hợp hội họp lại. Sau khi hội họp, cần phải xem xét kỹ lưỡng đường lối của Pháp. Sau khi đã xem xét kỹ lưỡng đường lối của Pháp, cần phải dàn xếp vụ tranh tụng ấy theo cách thức phù hợp với đường lối đó. Này Ānanda, như vậy là luật y theo đa số; và như vậy là sự dàn xếp một số tranh tụng ở đây, tức là bằng luật y theo đa số.
49. Này Ānanda, thế nào là luật cho người có trí nhớ? Này Ānanda, ở đây các tỳ khưu tố cáo một tỳ khưu về một tội nặng tương tự như vậy, hoặc là tội bất cộng trụ, hoặc là tội gần với tội bất cộng trụ: ‘Thưa hiền giả, hiền giả có nhớ đã phạm một tội nặng như vậy, hoặc là tội bất cộng trụ, hoặc là tội gần với tội bất cộng trụ không?’ Vị ấy nói như sau: ‘Thưa các hiền giả, tôi không nhớ đã phạm một tội nặng như vậy, hoặc là tội bất cộng trụ, hoặc là tội gần với tội bất cộng trụ.’ Này Ānanda, đối với vị tỳ khưu ấy, cần phải áp dụng luật cho người có trí nhớ. Này Ānanda, như vậy là luật cho người có trí nhớ; và như vậy là sự dàn xếp một số tranh tụng ở đây, tức là bằng luật cho người có trí nhớ.
Kathañcānanda, amūḷhavinayo hoti? Idhānanda, bhikkhū bhikkhuṁ evarūpāya garukāya āpattiyā codenti pārājikena vā pārājikasāmantena vā: ‘saratāyasmā evarūpiṁ garukaṁ āpattiṁ āpajjitā pārājikaṁ vā pārājikasāmantaṁ vā’ti? So evamāha: ‘na kho ahaṁ, āvuso, sarāmi evarūpiṁ garukaṁ āpattiṁ āpajjitā pārājikaṁ vā pārājikasāmantaṁ vā’ti. Tamenaṁ so nibbeṭhentaṁ ativeṭheti: ‘iṅghāyasmā sādhukameva jānāhi yadi sarasi evarūpiṁ garukaṁ āpattiṁ āpajjitā pārājikaṁ vā pārājikasāmantaṁ vā’ti. So evamāha: ‘ahaṁ kho, āvuso, ummādaṁ pāpuṇiṁ cetaso vipariyāsaṁ. Tena me ummattakena bahuṁ assāmaṇakaṁ ajjhāciṇṇaṁ bhāsitaparikkantaṁ. Nāhaṁ taṁ sarāmi. Mūḷhena me etaṁ katan’ti. Tassa kho, ānanda, bhikkhuno amūḷhavinayo dātabbo. Evaṁ kho, ānanda, amūḷhavinayo hoti, evañca panidhekaccānaṁ adhikaraṇānaṁ vūpasamo hoti yadidaṁ—amūḷhavinayena.
And how is there resolution because of past insanity? It’s when a mendicant accuses a mendicant of the kind of serious offense that entails expulsion, or close to it: ‘Venerable, do you recall committing the kind of serious offense that entails expulsion or close to it?’ They say: ‘No, reverend, I don’t recall committing such an offense.’ But though they try to get out of it, the mendicant pursues the issue: ‘Surely the venerable must know perfectly well if you recall committing an offense that entails expulsion or close to it!’ They say: ‘Reverend, I had gone mad, I was out of my mind. And while I was mad I did and said many things that are not proper for an ascetic. I don’t remember any of that, I was mad when I did it.’ The resolution because of past insanity should be granted to them. That’s how there is resolution because of past insanity. And that’s how certain disciplinary issues are settled, that is, by resolution because of past insanity.
50. Này Ānanda, thế nào là luật cho người không mê loạn? Này Ānanda, ở đây các tỳ khưu tố cáo một tỳ khưu về một tội nặng tương tự như vậy, hoặc là tội bất cộng trụ, hoặc là tội gần với tội bất cộng trụ: ‘Thưa hiền giả, hiền giả có nhớ đã phạm một tội nặng như vậy, hoặc là tội bất cộng trụ, hoặc là tội gần với tội bất cộng trụ không?’ Vị ấy nói như sau: ‘Thưa các hiền giả, tôi đã bị điên cuồng, tâm trí rối loạn. Do sự điên cuồng ấy, tôi đã làm và nói nhiều điều không xứng với sa-môn. Tôi không nhớ điều đó. Việc ấy đã được tôi làm trong lúc mê loạn.’ Này Ānanda, đối với vị tỳ khưu ấy, cần phải áp dụng luật cho người không mê loạn. Này Ānanda, như vậy là luật cho người không mê loạn; và như vậy là sự dàn xếp một số tranh tụng ở đây, tức là bằng luật cho người không mê loạn.
Kathañcānanda, paṭiññātakaraṇaṁ hoti? Idhānanda, bhikkhu codito vā acodito vā āpattiṁ sarati, vivarati uttānīkaroti. Tena, ānanda, bhikkhunā vuḍḍhataraṁ bhikkhuṁ upasaṅkamitvā ekaṁsaṁ cīvaraṁ katvā pāde vanditvā ukkuṭikaṁ nisīditvā añjaliṁ paggahetvā evamassa vacanīyo: ‘ahaṁ, bhante, itthannāmaṁ āpattiṁ āpanno, taṁ paṭidesemī’ti. So evamāha: ‘passasī’ti? ‘Āma passāmī’ti. ‘Āyatiṁ saṁvareyyāsī’ti. ‘Saṁvarissāmī’ti. Evaṁ kho, ānanda, paṭiññātakaraṇaṁ hoti, evañca panidhekaccānaṁ adhikaraṇānaṁ vūpasamo hoti yadidaṁ—paṭiññātakaraṇena.
And how is there acting according to what has been admitted? It’s when a mendicant, whether accused or not, recalls an offense and clarifies it and reveals it. After approaching a more senior mendicant, that mendicant should arrange his robe over one shoulder, bow to that mendicant’s feet, squat on their heels, raise their cupped palms, and say: ‘Sir, I have fallen into such-and-such an offense. I confess it.’ The senior mendicant says: ‘Do you see it?’ ‘Yes, I see it.’ ‘Then restrain yourself in future.’ ‘I shall restrain myself.’ That’s how there is acting according to what has been admitted. And that’s how certain disciplinary issues are settled, that is, by acting according to what has been admitted.
51. “Này Ānanda, thế nào là sự giải quyết bằng cách thừa nhận? Này Ānanda, ở đây, một vị tỳ khưu, dù bị chất vấn hay không bị chất vấn, nhớ lại một tội, phơi bày ra, làm cho rõ ràng. Này Ānanda, vị tỳ khưu ấy nên đến gặp một vị tỳ khưu lớn tuổi hơn, vắt y qua một bên vai, đảnh lễ chân, ngồi xổm, chắp tay và nên nói như sau: ‘Bạch Đại đức, con đã phạm tội tên là như thế này, con xin sám hối tội ấy.’ Vị kia nói như vầy: ‘Thầy có thấy không?’ ‘Vâng, con thấy.’ ‘Sau này thầy nên thu thúc.’ ‘(Con sẽ thu thúc.)’ Này Ānanda, như vậy là sự giải quyết bằng cách thừa nhận. Và như vậy, đối với một số tranh tụng, có sự lắng dịu, đó là bằng cách thừa nhận.”
Kathañcānanda, tassapāpiyasikā hoti? Idhānanda, bhikkhu bhikkhuṁ evarūpāya garukāya āpattiyā codeti pārājikena vā pārājikasāmantena vā: ‘saratāyasmā evarūpiṁ garukaṁ āpattiṁ āpajjitā pārājikaṁ vā pārājikasāmantaṁ vā’ti? So evamāha: ‘na kho ahaṁ, āvuso, sarāmi evarūpiṁ garukaṁ āpattiṁ āpajjitā pārājikaṁ vā pārājikasāmantaṁ vā’ti. Tamenaṁ so nibbeṭhentaṁ ativeṭheti: ‘iṅghāyasmā sādhukameva jānāhi yadi sarasi evarūpiṁ garukaṁ āpattiṁ āpajjitā pārājikaṁ vā pārājikasāmantaṁ vā’ti. So evamāha: ‘na kho ahaṁ, āvuso, sarāmi evarūpiṁ garukaṁ āpattiṁ āpajjitā pārājikaṁ vā pārājikasāmantaṁ vā; sarāmi ca kho ahaṁ, āvuso, evarūpiṁ appamattikaṁ āpattiṁ āpajjitā’ti. Tamenaṁ so nibbeṭhentaṁ ativeṭheti: ‘iṅghāyasmā sādhukameva jānāhi yadi sarasi evarūpiṁ garukaṁ āpattiṁ āpajjitā pārājikaṁ vā pārājikasāmantaṁ vā’ti? So evamāha: ‘imañhi nāmāhaṁ, āvuso, appamattikaṁ āpattiṁ āpajjitvā apuṭṭho paṭijānissāmi. Kiṁ panāhaṁ evarūpiṁ garukaṁ āpattiṁ āpajjitvā pārājikaṁ vā pārājikasāmantaṁ vā puṭṭho na paṭijānissāmī’ti? So evamāha: ‘imañhi nāma tvaṁ, āvuso, appamattikaṁ āpattiṁ āpajjitvā apuṭṭho na paṭijānissasi, kiṁ pana tvaṁ evarūpiṁ garukaṁ āpattiṁ āpajjitvā pārājikaṁ vā pārājikasāmantaṁ vā puṭṭho paṭijānissasi? Iṅghāyasmā sādhukameva jānāhi yadi sarasi evarūpiṁ garukaṁ āpattiṁ āpajjitā pārājikaṁ vā pārājikasāmantaṁ vā’ti. So evamāha: ‘sarāmi kho ahaṁ, āvuso, evarūpiṁ garukaṁ āpattiṁ āpajjitā pārājikaṁ vā pārājikasāmantaṁ vā. Davā me etaṁ vuttaṁ, ravā me etaṁ vuttaṁ—nāhaṁ taṁ sarāmi evarūpiṁ garukaṁ āpattiṁ āpajjitā pārājikaṁ vā pārājikasāmantaṁ vā’ti. Evaṁ kho, ānanda, tassapāpiyasikā hoti, evañca panidhekaccānaṁ adhikaraṇānaṁ vūpasamo hoti yadidaṁ—tassapāpiyasikāya.
And how is there a verdict of further penalty? It’s when a mendicant accuses a mendicant of the kind of serious offense that entails expulsion, or close to it: ‘Venerable, do you recall committing the kind of serious offense that entails expulsion or close to it?’ They say: ‘No, reverend, I don’t recall committing such an offense.’ But though they try to get out of it, the mendicant pursues the issue: ‘Surely the venerable must know perfectly well if you recall committing an offense that entails expulsion or close to it!’ They say: ‘Reverend, I don’t recall committing a serious offense of that nature. But I do recall committing a light offense.’ But though they try to get out of it, the mendicant pursues the issue: ‘Surely the venerable must know perfectly well if you recall committing an offense that entails expulsion or close to it!’ They say: ‘Reverend, I’ll go so far as to admit this light offense even when not asked. Why wouldn’t I admit a serious offense when asked?’ They say: ‘You wouldn’t have admitted that light offense without being asked, so why would you admit a serious offense? Surely the venerable must know perfectly well if you recall committing an offense that entails expulsion or close to it!’ They say: ‘Reverend, I do recall committing the kind of serious offense that entails expulsion or close to it. I spoke too hastily when I said that I didn’t recall it.’ That’s how there is further penalty. And that’s how certain disciplinary issues are settled, that is, by further penalty.
52. “Này Ānanda, thế nào là (phép) Tassa pāpiyasikā? Này Ānanda, ở đây, một vị tỳ khưu tố cáo một vị tỳ khưu khác về một tội nặng có hình thức như vầy, là tội pārājika hoặc gần với tội pārājika: ‘Thưa hiền giả, hiền giả có nhớ là đã phạm một tội nặng có hình thức như vầy, là tội pārājika hoặc gần với tội pārājika không?’ Vị kia nói như vầy: ‘Thưa chư hiền, tôi quả thật không nhớ là đã phạm một tội nặng có hình thức như vầy, là tội pārājika hoặc gần với tội pārājika.’ Trong khi vị kia đang lẩn tránh, vị này lại ép thêm: ‘Nào, hiền giả, hãy biết cho rõ, nếu hiền giả nhớ là đã phạm một tội nặng có hình thức như vầy, là tội pārājika hoặc gần với tội pārājika.’ Vị kia nói như vầy: ‘Thưa chư hiền, tôi quả thật không nhớ là đã phạm một tội nặng có hình thức như vầy, là tội pārājika hoặc gần với tội pārājika; nhưng thưa chư hiền, tôi có nhớ là đã phạm một tội nhỏ có hình thức như vầy.’ Trong khi vị kia đang lẩn tránh, vị này lại ép thêm: ‘Nào, hiền giả, hãy biết cho rõ, nếu hiền giả nhớ là đã phạm một tội nặng có hình thức như vầy, là tội pārājika hoặc gần với tội pārājika?’ Vị kia nói như vầy: ‘Thưa chư hiền, tôi đã phạm một tội nhỏ này mà không được hỏi còn tự thú. Huống nữa là tôi đã phạm một tội nặng có hình thức như vầy, là tội pārājika hoặc gần với tội pārājika, khi được hỏi lại không tự thú sao?’ Vị kia nói như vầy: ‘Thưa hiền giả, hiền giả đã phạm một tội nhỏ này mà không được hỏi còn không tự thú, huống nữa là hiền giả đã phạm một tội nặng có hình thức như vầy, là tội pārājika hoặc gần với tội pārājika, khi được hỏi lại tự thú sao? Nào, hiền giả, hãy biết cho rõ, nếu hiền giả nhớ là đã phạm một tội nặng có hình thức như vầy, là tội pārājika hoặc gần với tội pārājika.’ Vị kia nói như vầy: ‘Thưa chư hiền, tôi quả thật có nhớ là đã phạm một tội nặng có hình thức như vầy, là tội pārājika hoặc gần với tội pārājika. Lời đó tôi đã nói đùa, lời đó tôi đã nói lỡ. Tôi không nhớ là đã phạm một tội nặng có hình thức như vầy, là tội pārājika hoặc gần với tội pārājika.’ Này Ānanda, như vậy là (phép) Tassa pāpiyasikā. Và như vậy, đối với một số tranh tụng, có sự lắng dịu, đó là bằng (phép) Tassa pāpiyasikā.”
Kathañcānanda, tiṇavatthārako hoti? Idhānanda, bhikkhūnaṁ bhaṇḍanajātānaṁ kalahajātānaṁ vivādāpannānaṁ viharataṁ bahuṁ assāmaṇakaṁ ajjhāciṇṇaṁ hoti bhāsitaparikkantaṁ. Tehānanda, bhikkhūhi sabbeheva samaggehi sannipatitabbaṁ. Sannipatitvā ekatopakkhikānaṁ bhikkhūnaṁ byattena bhikkhunā uṭṭhāyāsanā ekaṁsaṁ cīvaraṁ katvā añjaliṁ paṇāmetvā saṅgho ñāpetabbo—
And how is there the covering over as if with grass? It’s when the mendicants continually fight, quarrel, and dispute, doing and saying many things that are not proper for an ascetic. Those mendicants should all sit together in harmony. A competent mendicant of one party, having risen from their seat, arranged their robe over one shoulder, and raised their cupped palms, should inform the Saṅgha:
53. “Này Ānanda, thế nào là (phép) Tiṇavatthāraka? Này Ānanda, ở đây, khi các vị tỳ khưu sống trong cãi vã, xung đột, rơi vào tranh chấp, có nhiều điều không xứng với sa-môn đã được thực hiện, cả bằng lời nói và hành động. Này Ānanda, tất cả các vị tỳ khưu ấy phải hòa hợp hội họp lại. Sau khi hội họp, một vị tỳ khưu có khả năng của một phe nên đứng dậy khỏi chỗ ngồi, vắt y qua một bên vai, chắp tay và trình cho Tăng chúng biết –”
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Idaṁ amhākaṁ bhaṇḍanajātānaṁ kalahajātānaṁ vivādāpannānaṁ viharataṁ bahuṁ assāmaṇakaṁ ajjhāciṇṇaṁ bhāsitaparikkantaṁ. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, ahaṁ yā ceva imesaṁ āyasmantānaṁ āpatti yā ca attano āpatti, imesañceva āyasmantānaṁ atthāya attano ca atthāya, saṅghamajjhe tiṇavatthārakena deseyyaṁ, ṭhapetvā thullavajjaṁ ṭhapetvā gihipaṭisaṁyuttan’ti.
‘Sir, let the Saṅgha listen to me. We have been continually fighting, quarreling, and disputing, doing and saying many things that are not proper for an ascetic. If it seems appropriate to the Saṅgha, then—for the benefit of these venerables and myself—I disclose in the middle of the Saṅgha by means of covering over as if with grass any offenses committed by these venerables and by myself, excepting only those that are gravely blameworthy and those connected with laypeople.’
“‘Bạch chư Đại đức, xin Tăng chúng hãy nghe con. Trong khi chúng con sống trong cãi vã, xung đột, rơi vào tranh chấp, nhiều điều không xứng với sa-môn này đã được thực hiện, cả bằng lời nói và hành động. Nếu đây là thời điểm thích hợp cho Tăng chúng, con, vì lợi ích của các vị hiền giả này và vì lợi ích của chính con, xin sám hối giữa Tăng chúng bằng (phép) Tiṇavatthāraka, đối với các tội của các vị hiền giả này và tội của chính con, ngoại trừ tội nặng và ngoại trừ tội liên quan đến người tại gia.’”
Athāparesaṁ ekatopakkhikānaṁ bhikkhūnaṁ byattena bhikkhunā uṭṭhāyāsanā ekaṁsaṁ cīvaraṁ katvā añjaliṁ paṇāmetvā saṅgho ñāpetabbo:
Then a competent mendicant of the other party, having risen from their seat, arranged their robe over one shoulder, and raising their cupped palms, should inform the Saṅgha:
“Sau đó, một vị tỳ khưu có khả năng của phe bên kia nên đứng dậy khỏi chỗ ngồi, vắt y qua một bên vai, chắp tay và trình cho Tăng chúng biết –”
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Idaṁ amhākaṁ bhaṇḍanajātānaṁ kalahajātānaṁ vivādāpannānaṁ viharataṁ bahuṁ assāmaṇakaṁ ajjhāciṇṇaṁ bhāsitaparikkantaṁ. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, ahaṁ yā ceva imesaṁ āyasmantānaṁ āpatti yā ca attano āpatti, imesañceva āyasmantānaṁ atthāya attano ca atthāya, saṅghamajjhe tiṇavatthārakena deseyyaṁ, ṭhapetvā thullavajjaṁ ṭhapetvā gihipaṭisaṁyuttan’ti.
‘Sir, let the Saṅgha listen to me. We have been continually fighting, quarreling, and disputing, doing and saying many things that are not proper for an ascetic. If it seems appropriate to the Saṅgha, then—for the benefit of these venerables and myself—I disclose in the middle of the Saṅgha by means of covering over as if with grass any offenses committed by these venerables and by myself, excepting only those that are gravely blameworthy and those connected with laypeople.’
“‘Bạch chư Đại đức, xin Tăng chúng hãy nghe con. Trong khi chúng con sống trong cãi vã, xung đột, rơi vào tranh chấp, nhiều điều không xứng với sa-môn này đã được thực hiện, cả bằng lời nói và hành động. Nếu đây là thời điểm thích hợp cho Tăng chúng, con, vì lợi ích của các vị hiền giả này và vì lợi ích của chính con, xin sám hối giữa Tăng chúng bằng (phép) Tiṇavatthāraka, đối với các tội của các vị hiền giả này và tội của chính con, ngoại trừ tội nặng và ngoại trừ tội liên quan đến người tại gia.’”
Evaṁ kho, ānanda, tiṇavatthārako hoti, evañca panidhekaccānaṁ adhikaraṇānaṁ vūpasamo hoti yadidaṁ—tiṇavatthārakena.
That’s how there is the covering over as if with grass. And that’s how certain disciplinary issues are settled, that is, by covering over as if with grass.
“Này Ānanda, như vậy là (phép) Tiṇavatthāraka. Và như vậy, đối với một số tranh tụng, có sự lắng dịu, đó là bằng (phép) Tiṇavatthārakena.”
Chayime, ānanda, dhammā sāraṇīyā piyakaraṇā garukaraṇā saṅgahāya avivādāya sāmaggiyā ekībhāvāya saṁvattanti. Katame cha? Idhānanda, bhikkhuno mettaṁ kāyakammaṁ paccupaṭṭhitaṁ hoti sabrahmacārīsu āvi ceva raho ca. Ayampi dhammo sāraṇīyo piyakaraṇo garukaraṇo saṅgahāya avivādāya sāmaggiyā ekībhāvāya saṁvattati.
Ānanda, these six warm-hearted qualities make for fondness and respect, conducing to inclusion, harmony, and unity, without quarreling. What six? Firstly, a mendicant consistently treats their spiritual companions with bodily kindness, both in public and in private. This warm-hearted quality makes for fondness and respect, conducing to inclusion, harmony, and unity, without dispute.
54. “Này Ānanda, có sáu pháp này đáng ghi nhớ, tạo ra sự thân ái, tạo ra sự kính trọng, đưa đến sự nhiếp phục, không tranh cãi, hòa hợp, và hợp nhất. Sáu pháp nào? Này Ānanda, ở đây, một vị tỳ khưu duy trì thân nghiệp từ ái đối với các vị đồng phạm hạnh, cả công khai lẫn kín đáo. Pháp này cũng đáng ghi nhớ, tạo ra sự thân ái, tạo ra sự kính trọng, đưa đến sự nhiếp phục, không tranh cãi, hòa hợp, và hợp nhất.”
Puna caparaṁ, ānanda, bhikkhuno mettaṁ vacīkammaṁ paccupaṭṭhitaṁ hoti sabrahmacārīsu āvi ceva raho ca. Ayampi dhammo sāraṇīyo piyakaraṇo garukaraṇo saṅgahāya avivādāya sāmaggiyā ekībhāvāya saṁvattati.
Furthermore, a mendicant consistently treats their spiritual companions with verbal kindness … This too is a warm-hearted quality.
Lại nữa, này Ānanda, vị tỳ khưu có lời nói từ ái được thể hiện đối với các vị đồng phạm hạnh, cả lúc có mặt lẫn lúc vắng mặt. Pháp này cũng là đáng ghi nhớ, tạo ra sự thân ái, tạo ra sự kính trọng, đưa đến sự nhiếp phục, đưa đến sự không tranh cãi, đưa đến sự hòa hợp, đưa đến sự hợp nhất.
Puna caparaṁ, ānanda, bhikkhuno mettaṁ manokammaṁ paccupaṭṭhitaṁ hoti sabrahmacārīsu āvi ceva raho ca. Ayampi dhammo sāraṇīyo piyakaraṇo garukaraṇo saṅgahāya avivādāya sāmaggiyā ekībhāvāya saṁvattati.
Furthermore, a mendicant consistently treats their spiritual companions with mental kindness … This too is a warm-hearted quality.
Lại nữa, này Ānanda, vị tỳ khưu có ý nghĩ từ ái được thể hiện đối với các vị đồng phạm hạnh, cả lúc có mặt lẫn lúc vắng mặt. Pháp này cũng là đáng ghi nhớ, tạo ra sự thân ái, tạo ra sự kính trọng, đưa đến sự nhiếp phục, đưa đến sự không tranh cãi, đưa đến sự hòa hợp, đưa đến sự hợp nhất.
Puna caparaṁ, ānanda, bhikkhu—ye te lābhā dhammikā dhammaladdhā antamaso pattapariyāpannamattampi tathārūpehi lābhehi—apaṭivibhattabhogī hoti, sīlavantehi sabrahmacārīhi sādhāraṇabhogī. Ayampi dhammo sāraṇīyo piyakaraṇo garukaraṇo saṅgahāya avivādāya sāmaggiyā ekībhāvāya saṁvattati.
Furthermore, a mendicant shares without reservation any material things they have gained by legitimate means, even the food placed in the alms-bowl, using them in common with their ethical spiritual companions. This too is a warm-hearted quality.
Lại nữa, này Ānanda, vị tỳ khưu đối với những lợi lộc đúng Pháp, có được đúng Pháp, cho đến chỉ là vật thực trong bình bát, vị ấy là người không hưởng dụng riêng, là người hưởng dụng chung với các vị đồng phạm hạnh có giới đức. Pháp này cũng là đáng ghi nhớ, tạo ra sự thân ái, tạo ra sự kính trọng, đưa đến sự nhiếp phục, đưa đến sự không tranh cãi, đưa đến sự hòa hợp, đưa đến sự hợp nhất.
Puna caparaṁ, ānanda, bhikkhu—yāni tāni sīlāni akhaṇḍāni acchiddāni asabalāni akammāsāni bhujissāni viññuppasatthāni aparāmaṭṭhāni samādhisaṁvattanikāni tathārūpesu sīlesu—sīlasāmaññagato viharati sabrahmacārīhi āvi ceva raho ca. Ayampi dhammo sāraṇīyo piyakaraṇo garukaraṇo saṅgahāya avivādāya sāmaggiyā ekībhāvāya saṁvattati.
Furthermore, a mendicant lives according to the precepts shared with their spiritual companions, both in public and in private. Those precepts are intact, impeccable, spotless, and unmarred, liberating, praised by sensible people, not mistaken, and leading to immersion. This too is a warm-hearted quality.
Lại nữa, này Ānanda, vị tỳ khưu sống đồng đẳng về giới với các vị đồng phạm hạnh, cả lúc có mặt lẫn lúc vắng mặt, trong những giới luật không bị sứt mẻ, không bị đứt đoạn, không bị tỳ vết, không bị pha tạp, có tính giải thoát, được bậc trí tán thán, không bị chấp thủ, đưa đến định. Pháp này cũng là đáng ghi nhớ, tạo ra sự thân ái, tạo ra sự kính trọng, đưa đến sự nhiếp phục, đưa đến sự không tranh cãi, đưa đến sự hòa hợp, đưa đến sự hợp nhất.
Puna caparaṁ, ānanda, bhikkhu—yāyaṁ diṭṭhi ariyā niyyānikā niyyāti takkarassa sammā dukkhakkhayāya tathārūpāya diṭṭhiyā—diṭṭhisāmaññagato viharati sabrahmacārīhi āvi ceva raho ca. Ayampi dhammo sāraṇīyo piyakaraṇo garukaraṇo saṅgahāya avivādāya sāmaggiyā ekībhāvāya saṁvattati.
Ime kho, ānanda, cha sāraṇīyā dhammā piyakaraṇā garukaraṇā saṅgahāya avivādāya sāmaggiyā ekībhāvāya saṁvattanti.
Furthermore, a mendicant lives according to the view shared with their spiritual companions, both in public and in private. That view is noble and emancipating, and delivers one who applies it to the complete ending of suffering. This too is a warm-hearted quality.
These six warm-hearted qualities make for fondness and respect, conducing to inclusion, harmony, and unity, without dispute.
Lại nữa, này Ānanda, vị tỳ khưu sống đồng đẳng về tri kiến với các vị đồng phạm hạnh, cả lúc có mặt lẫn lúc vắng mặt, trong tri kiến thánh thiện, có tính hướng xuất, đưa đến sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau cho người thực hành theo. Pháp này cũng là đáng ghi nhớ, tạo ra sự thân ái, tạo ra sự kính trọng, đưa đến sự nhiếp phục, đưa đến sự không tranh cãi, đưa đến sự hòa hợp, đưa đến sự hợp nhất. Này Ānanda, sáu pháp đáng ghi nhớ này tạo ra sự thân ái, tạo ra sự kính trọng, đưa đến sự nhiếp phục, đưa đến sự không tranh cãi, đưa đến sự hòa hợp, đưa đến sự hợp nhất.
Ime ce tumhe, ānanda, cha sāraṇīye dhamme samādāya vatteyyātha, passatha no tumhe, ānanda, taṁ vacanapathaṁ aṇuṁ vā thūlaṁ vā yaṁ tumhe nādhivāseyyāthā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Tasmātihānanda, ime cha sāraṇīye dhamme samādāya vattatha. Taṁ vo bhavissati dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti.
If you should proceed having undertaken these six warm-hearted qualities, do you see any criticism, large or small, that you could not endure?”
“No, sir.”
“That’s why, Ānanda, you should proceed having undertaken these six warm-hearted qualities. That will be for your lasting welfare and happiness.”
Này Ānanda, nếu các ngươi thực hành theo sáu pháp đáng ghi nhớ này, này Ānanda, các ngươi có thấy một lối nói nào, dù vi tế hay thô thiển, mà các ngươi không thể kham nhẫn không?” “Bạch Thế Tôn, không ạ.” “Vì vậy, này Ānanda, hãy thực hành theo sáu pháp đáng ghi nhớ này. Điều ấy sẽ đem lại cho các ngươi hạnh phúc và an lạc lâu dài.”
Idamavoca bhagavā. Attamano āyasmā ānando bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
That is what the Buddha said. Satisfied, Venerable Ānanda approved what the Buddha said.
Thế Tôn đã thuyết như vậy. Tôn giả Ānanda hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Sāmagāmasuttaṁ niṭṭhitaṁ catutthaṁ.
Kinh Sāmagāma, kinh thứ tư, chấm dứt.