- Majjhima Nikāya 101
Devadahasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Devadahasutta
Như vầy tôi nghe:
SC 1Một thời Thế Tôn trú ở giữa các Sakka (Thích ca). Devadaha là một thị trấn các Sakka. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”.
SC 2“—Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau
SC 3—Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: “Phàm cảm giác gì con người này lãnh thọ, lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ, tất cả đều do nhân các nghiệp quá khứ; với sự đốt cháy, đoạn diệt các nghiệp quá khứ, với sự không tạo tác các nghiệp mới, sẽ không có diễn tiến đến tương lai. Do không có diễn tiến đến tương lai, nghiệp đoạn diệt; do nghiệp đoạn diệt, khổ được đoạn diệt; do khổ đoạn diệt, cảm thọ được đoạn diệt; do cảm thọ được đoạn diệt, tất cả khổ sẽ diệt tận”.
SC 4Nầy các Tỷ-kheo, lý thuyết các Nigaṇṭha (Ni kiền tử) là vậy. Nầy các Tỷ-kheo, Ta nói như vậy, Ta đi đến các Nigaṇṭha và nói như sau:
SC 5“—Chư Hiền Nigaṇṭha, có đúng sự thật chăng, các Ông có lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: “Phàm cảm giác gì con người này lãnh thọ, lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ, tất cả đều do nhân các nghiệp quá khứ; với sự đốt cháy, đoạn diệt các nghiệp quá khứ, với sự không tạo tác các nghiệp mới, sẽ không có diễn tiến đến tương lai. Do không có diễn tiến đến tương lai, nghiệp được đoạn diệt, do nghiệp đoạn diệt khổ được đoạn diệt; do khổ đoạn diệt, cảm thọ được đoạn diệt; do cảm thọ được đoạn diệt, tất cả khổ sẽ được diệt tận?”
SC 6Này các Tỷ-kheo, nếu các Nigaṇṭha ấy, khi được Ta hỏi, tự nhận có nói như vậy, Ta liền nói như sau:
SC 7“—Chư Hiền Nigaṇṭha, các Ông có biết: “Trong quá khứ, chúng tôi có hiện hữu, chúng tôi không hiện hữu?”
SC 8“—Thưa Hiền giả, không như vậy.
SC 9“—Chư Hiền Nigaṇṭha, các Ông có biết: “Trong quá khứ, chúng tôi có tạo ác nghiệp, chúng tôi không tạo ác nghiệp?”
SC 10“—Thưa Hiền giả, không như vậy.
SC 11“—Chư Hiền Nigaṇṭha, các ông có biết: “Chúng tôi có tạo ác nghiệp như thế này hay như thế kia?”
SC 12“—Thưa Hiền giả, không như vậy.
SC 13“—Chư Hiền Nigaṇṭha, các ông có biết: “Khổ mức độ như thế này đã được diệt tận hay khổ mức độ như thế này cần phải được diệt tận, hay với sự diệt tận khổ mức độ như thế này, tất cả khổ sẽ được diệt tận?”
SC 14“—Thưa Hiền giả, không như vậy.
SC 15“—Chư Hiền Nigaṇṭha, các Ông có biết: “Sự đoạn tận các bất thiện pháp ngay trong hiện tại hay sự thành tựu các thiện pháp?”
SC 16“—Thưa Hiền giả, không như vậy.
SC 17“—Chư Hiền Nigaṇṭha, như các Ông đã nói, các Ông không biết: “Trong quá khứ, chúng tôi có hiện hữu, chúng tôi không hiện hữu”; các Ông không biết: “Trong quá khứ, chúng tôi có tạo ác nghiệp, chúng tôi không tạo ác nghiệp”; các Ông không biết: “Chúng tôi có tạo ác nghiệp như thế này, hay như thế kia”; các Ông không biết: “Khổ mức độ như thế này đã được diệt tận, khổ mức độ như thế này cần phải được diệt tận, hay với sự diệt tận khổ mức độ như thế này, tất cả khổ sẽ được diệt tận”; các Ông không biết: “Sự đoạn tận các bất thiện pháp ngay trong hiện tại hay sự thành tựu các thiện pháp”; sự tình là như vậy, thời có hợp lý chăng, khi các Tôn giả Nigaṇṭha lại trả lời: “Phàm cảm giác gì con người này lãnh thọ, lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ, tất cả đều do nhân các nghiệp quá khứ, với sự đốt cháy, đoạn diệt các nghiệp quá khứ, với sự không tạo các nghiệp mới, sẽ không có diễn tiến đến tương lai. Do không có diễn tiến đến tương lai, nghiệp được đoạn diệt; do nghiệp được đoạn diệt, khổ được đoạn diệt; do khổ đoạn diệt, cảm thọ được đoạn diệt; do cảm thọ được đoạn diệt tất cả khổ thọ sẽ được diệt tận?”.
SC 18“—Chư Hiền Nigaṇṭha, nếu các Ông được biết: “Trong quá khứ, chúng tôi có hiện hữu, chúng tôi không hiện hữu”; các Ông được biết: “Trong quá khứ, chúng tôi có tạo ác nghiệp, chúng tôi không tạo ác nghiệp”; các Ông được biết: “Chúng tôi có tạo ác nghiệp như thế này, hay như thế kia”; các Ông được biết: “Khổ mức độ như thế này đã được diệt tận, hay khổ mức độ như thế này cần phải được diệt tận, hay với sự diệt tận khổ mức độ như thế này, tất cả khổ sẽ được diệt tận”; các Ông được biết: “Sự đoạn tận các bất thiện pháp ngay trong hiện tại hay sự thành tựu các thiện pháp”; sự tình là như vậy, thời thật là hợp lý khi các Tôn giả Nigaṇṭha trả lời: “Phàm cảm giác gì con người này lãnh thọ, lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ, tất cả đều do nhân các nghiệp quá khứ với sự đốt cháy, đoạn diệt các nghiệp quá khứ; với sự không tạo các nghiệp mới, sẽ không có diễn tiến đến tương lai. Do không có diễn tiến đến tương lai, nghiệp được đoạn diệt; do nghiệp đoạn diệt, khổ được đoạn diệt; do khổ đoạn diệt, cảm thọ được đoạn diệt, do cảm thọ được đoạn diệt, tất cả khổ sẽ được diệt tận”.
SC 19“—Chư Hiền Nigaṇṭha, ví như một người bị mũi tên bắn, mũi tên được tẩm thuốc độc rất dày. Người ấy do nhân cảm xúc mũi tên, thọ lãnh các cảm giác đau đớn, cực khổ, thống khổ. Bạn bè, bà con huyết thống của người ấy mời một y sĩ giải phẫu đến. Vị y sĩ giải phẫu lấy dao cắt rộng miệng vết thương. Người ấy do nhân dao cắt miệng vết thương, thọ lãnh các cảm giác đau đớn, cực khổ, thống khổ. Vị y sĩ giải phẫu ấy dò tìm mũi tên với vật dụng dò tìm. Người ấy do nhân bị dò tìm mũi tên với vật dụng dò tìm, thọ lãnh các cảm giác đau đớn, cực khổ, thống khổ. Vị y sĩ giải phẫu rút mũi tên ra khỏi người ấy. Người ấy do nhân được rút mũi tên, thọ lãnh các cảm giác đau đớn, cực khổ, thống khổ. Vị y sĩ giải phẫu ấy cho đốt miệng vết thương với than đỏ (hay đắp miệng vết thương với vải nóng như than đỏ). Người ấy do nhân miệng vết thương bị than đỏ đốt, thọ lãnh các cảm giác đau đớn, cực khổ, thống khổ. Sau một thời gian, khi da đã bắt đầu lành trên miệng vết thương, người ấy không bệnh, an lạc, tự do, tự tại, và đi vào chỗ nào người ấy muốn. Người ấy suy nghĩ như sau: “Trước kia ta bị mũi tên bắn, mũi tên được tẩm thuốc độc rất dày. Do nhân cảm xúc mũi tên, ta thọ lãnh các cảm giác đau đớn, cực khổ, thống khổ. Bạn bè, bà con huyết thống của ta có mời một y sĩ giải phẫu đến. Vị y sĩ giải phẫu ấy lấy dao cắt rộng miệng vết thương. Ta do nhân dao cắt rộng miệng vết thương thọ lãnh các cảm giác đau đớn, cực khổ, thống khổ. Vị y sĩ giải phẫu ấy dò tìm mũi tên với vật dụng dò tìm. Do nhân bị dò tìm mũi tên với vật dụng dò tìm ta thọ lãnh các cảm giác đau đớn, cực khổ, thống khổ. Vị y sĩ giải phẫu ấy rút mũi tên ra khỏi ta. Do nhân được rút mũi tên, ta thọ lãnh các cảm giác đau đớn, cực khổ, thống khổ. Vị y sĩ giải phẫu ấy cho đốt miệng vết thương với than đỏ (hay đắp miệng vết thương với vải nóng như than đỏ). Do nhân miệng vết thương bị than đỏ đốt, ta thọ lãnh các cảm giác đau đớn, cực khổ, thống khổ. Nay da đã bắt đầu lành trên miệng vết thương, ta không bệnh, an lạc, tự do, tự tại, và đi chỗ nào ta muốn”.
SC 20“Như vậy, này chư Hiền Nigaṇṭha, nếu các Ông được biết: “Trong quá khứ, chúng tôi hiện hữu, chúng tôi không hiện hữu”; các Ông được biết: “Trong quá khứ, chúng tôi có tạo ác nghiệp, chúng tôi không tạo ác nghiệp”, các Ông được biết: “Chúng tôi có tạo ác nghiệp, như thế này hay như thế kia”, các Ông được biết: “Khổ mức độ như thế này đã được diệt tận, hay khổ mức độ như thế này cần phải được diệt tận; hay với sự diệt tận khổ mức độ như thế này, tất cả khổ sẽ được diệt tận”; các Ông được biết: “Sự đoạn tận các bất thiện pháp ngay trong hiện tại hay sự thành tựu các thiện pháp”; sự tình là như vậy, thời thật là hợp lý khi các Tôn giả Nigaṇṭha trả lời: “Phàm cảm giác gì con người này lãnh thọ, lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ, tất cả đều do nhân các nghiệp quá khứ; với sự đốt cháy, đoạn diệt các nghiệp quá khứ, với sự không tạo tác các nghiệp mới, sẽ không có diễn tiến đến tương lai. Do không có diễn tiến đến tương lai, nghiệp được đoạn diệt; do nghiệp đoạn diệt, khổ được đoạn diệt; do khổ đoạn diệt, cảm thọ được đoạn diệt; do cảm thọ được đoạn diệt, tất cả khổ sẽ được diệt tận”.
SC 21“Chư Hiền Nigaṇṭha, và vì rằng các Ông không được biết: “Trong quá khứ, chúng tôi có hiện hữu, chúng tôi không hiện hữu”; các Ông không được biết: “Chúng tôi có tạo ác nghiệp, chúng tôi không tạo ác nghiệp”; các Ông không được biết: “Chúng tôi có tạo ác nghiệp như thế này, hay như thế kia”; các Ông không được biết: “Khổ mức độ như thế này đã được diệt tận, hay khổ mức độ như thế này cần phải được diệt tận, hay với sự diệt tận khổ mức độ như thế này, tất cả khổ sẽ được diệt tận”; các Ông không được biết: “Sự đoạn tận các bất thiện pháp ngay trong hiện tại hay sự thành tựu các thiện pháp”; thời thật là không hợp lý khi các Tôn giả Nigaṇṭha trả lời: “Phàm cảm giác gì con người lãnh thọ, lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ, tất cả đều do nhân các nghiệp quá khứ; với sự đốt cháy, đoạn diệt các nghiệp quá khứ; với sự không tạo các nghiệp mới, sẽ không có diễn tiến đến tương lai. Do không có diễn tiến đến tương lai, nghiệp được đoạn diệt; do nghiệp đoạn diệt, khổ được đoạn diệt; do khổ đoạn diệt, cảm thọ được đoạn diệt; do cảm thọ được đoạn diệt, tất cả khổ sẽ được diệt tận”.
SC 22Này các Tỷ-kheo, khi được nói vậy, các Nigaṇṭha ấy nói với Ta:
SC 23“—Thưa Hiền giả, Nigaṇṭha Nātaputta là bậc toàn tri, toàn kiến, tự xưng là có tri kiến toàn diện như sau: “Dầu ta có đi, có đứng, có ngủ và có thức, tri kiến luôn luôn được tồn tại liên tục ở nơi ta”. Vị ấy nói như sau: “Này các Nigaṇṭha, nếu xưa kia các Ông có làm ác nghiệp, hãy làm cho nghiệp ấy tiêu mòn bằng khổ hạnh thống khổ này. Chính do hộ trì thân, hộ trì lời nói, hộ trì ý ở đây, ngay trong hiện tại nên không làm các nghiệp trong tương lai. Với sự đốt cháy, đoạn diệt các nghiệp quá khứ, với sự không tạo các nghiệp mới, sẽ không có diễn tiến đến tương lai. Do không có diễn tiến đến tương lai, nghiệp được đoạn diệt; do nghiệp đoạn diệt, khổ được đoạn diệt; do khổ đoạn diệt, cảm thọ được đoạn diệt; do cảm thọ được đoạn diệt, tất cả khổ sẽ được diệt tận”. Và vì chúng tôi chấp nhận và chúng tôi kham nhẫn điều ấy, nên chúng tôi được hoan hỷ”.
SC 24Khi được nói vậy, này các Tỷ-kheo, Ta nói với các vị Nigaṇṭha ấy:
SC 25“—Chư Hiền Nigaṇṭha, có năm pháp này, ngay trong hiện tại có hai quả báo. Thế nào là năm? Tín, hỷ, tùy văn, thẩm định lý do (akaraparivitakka), kham nhẫn chấp thọ (tà) kiến. Này chư Hiền Nigaṇṭha, năm pháp này ngay trong hiện tại có hai quả báo. Ở đây, thế nào là lòng tin các Tôn giả Nigaṇṭha ấy đối với bậc Ðạo sư trong quá khứ? Thế nào là sự hoan hỷ, thế nào là sự tùy văn, thế nào là thẩm định lý do, thế nào là kham nhẫn chấp thọ (tà) kiến các vị ấy?”
SC 26Này các Tỷ-kheo, nói như vậy, Ta không thấy một câu trả lời hợp pháp nào giữa các vị Nigaṇṭha. Và lại nữa này các Tỷ-kheo, Ta nói với các vị Nigaṇṭha ấy như sau:
SC 27“—Chư Hiền Nigaṇṭha, các Ông nghĩ thế nào? Khi các Ông tha thiết tinh tấn, tha thiết tinh cần, khi ấy có phải các Ông thọ lãnh những cảm giác thống khổ, đột khởi, đau đớn, cực khổ, thống khổ? Còn trong khi các Ông không tha thiết tinh tấn, không tha thiết tinh cần, khi ấy có phải các Ông không thọ lãnh những cảm giác thống khổ, đột khởi, đau đớn, cực khổ, thống khổ?
SC 28“—Thưa Hiền giả Gotama, khi chúng tôi tha thiết tinh tấn, tha thiết tinh cần, khi ấy chúng tôi thọ lãnh những cảm giác thống khổ, đột khởi, đau đớn, cực khổ, thống khổ. Còn trong khi chúng tôi không tha thiết tinh tấn, không tha thiết tinh cần, khi ấy chúng tôi không thọ lãnh những cảm giác thống khổ, đột khởi, đau đớn, cực khổ, thống khổ.
SC 29“—Như vậy, này chư Hiền Nigaṇṭha, khi các Ông tha thiết tinh tấn, tha thiết tinh cần, khi ấy các Ông thọ lãnh những cảm giác thống khổ, đột khởi, đau đớn, cực khổ, thống khổ. Còn trong khi các Ông không tha thiết tinh tấn, không tha thiết tinh cần, khi ấy các Ông không thọ lãnh những cảm giác thống khổ, đột khởi, đau đớn, cực khổ, thống khổ. Sự tình là như vậy, thời thật là hợp lý khi các Tôn giả Nigaṇṭha trả lời: “Phàm cảm giác gì con người này lãnh thọ, lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ, tất cả đều do nhân các nghiệp quá khứ; với sự đốt cháy, đoạn diệt các nghiệp quá khứ, với sự không tạo các nghiệp mới, sẽ không có diễn tiến đến tương lai. Do không có diễn tiến đến tương lai, nghiệp được đoạn diệt; do nghiệp được đoạn diệt, khổ được đoạn diệt; do khổ đoạn diệt, cảm thọ được đoạn diệt; do cảm thọ được đoạn diệt, tất cả khổ sẽ được diệt tận”.
SC 30“Này chư Hiền Nigaṇṭha, nếu trong khi các Ông tha thiết tinh tấn, tha thiết tinh cần, khi ấy các cảm giác thống khổ, đột khởi, đau đớn, cực khổ, thống khổ được tồn tại. Còn trong khi các Ông không tha thiết tinh tấn, không tha thiết tinh cần, khi ấy các cảm giác thống khổ, đột khởi, đau đớn, cực khổ, thống khổ cũng được tồn tại. Sự tình là như vậy, thời thật là hợp lý khi các Tôn giả Nigaṇṭha trả lời: “Phàm cảm giác gì con người này lãnh thọ, lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ, tất cả đều do nhân các nghiệp quá khứ, với sự đốt cháy, đoạn diệt các nghiệp quá khứ … (như trên) … tất cả khổ được diệt tận”.
SC 31“Và vì rằng, chư Hiền Nigaṇṭha, trong khi các Ông tha thiết tinh tấn, tha thiết tinh cần, khi ấy các Ông lãnh thọ những cảm giác thống khổ, đột khởi, đau đớn, cực khổ thống khổ, còn trong khi các Ông không tha thiết tinh tấn, không tha thiết tinh cần, khi ấy các Ông không lãnh thọ những cảm giác thống khổ, đột khởi, đau đớn, cực khổ, thống khổ. Như vậy, thật chính các Ông trong khi lãnh thọ những cảm giác thống khổ, đột khởi, đau đớn, cực khổ, thống khổ, tự bị lừa dối bởi vô minh, vô trí, ngu muội, khi các Ông nói: “Phàm cảm giác gì con người này lãnh thọ, lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ, tất cả đều do nhân các nghiệp quá khứ; với sự đốt cháy, đoạn diệt các nghiệp quá khứ, với sự không tạo tác các nghiệp mới, sẽ không có diễn tiến đến tương lai. Do không có diễn tiến đến tương lai, nghiệp được đoạn diệt; do nghiệp được đoạn diệt, khổ được đoạn diệt; do khổ được đoạn diệt; cảm thọ được đoạn diệt; do cảm thọ được đoạn diệt, tất cả khổ sẽ được diệt tận”.
SC 32Này các Tỷ-kheo, nói như vậy, Ta không thấy một câu trả lời hợp lý nào giữa các vị Nigaṇṭha. Và lại nữa, này các Tỷ-kheo, Ta nói với các vị Nigaṇṭha ấy như sau:
SC 33“—Chư Hiền Nigaṇṭha, các ông nghĩ thế nào? Có thể được chăng: “Mong rằng nghiệp được thọ quả hiện tại này, do tinh tấn, hay do tinh cần có thể khiến được thọ quả tương lai?”
SC 34“—Thưa không vậy, Hiền giả.
SC 35“—Có thể được chăng: “Mong rằng nghiệp được thọ quả tương lai này do tinh tấn hay do tinh cần có thể khiến được thọ quả hiện tại?”
SC 36“—Thưa không vậy, Hiền giả.
SC 37“—Chư Hiền Nigaṇṭha, các Ông nghĩ thế nào? Có thể được chăng: “Mong rằng nghiệp được lãnh lạc thọ này, do tinh tấn hay tinh cần có thể được lãnh khổ thọ?”
SC 38“—Thưa không vậy, Hiền giả.
SC 39“—Có thể được chăng: “Mong rằng nghiệp được lãnh khổ thọ này, do tinh tấn hay tinh cần có thể được lãnh lạc thọ?”
SC 40“—Thưa không vậy, Hiền giả.
SC 41“—Chư Hiền Nigaṇṭha, các Ông nghĩ thế nào? Có thể được chăng: “Mong rằng nghiệp mà quả lãnh thọ đã được thuần thục này do tinh tấn hay tinh cần, có thể trở thành không thuần thục?”
SC 42“—Thưa không vậy, Hiền giả.
SC 43“—Có thể được chăng: “Mong rằng nghiệp mà quả lãnh thọ chưa được thuần thục này, do tinh tấn hay tinh cần, có thể trở thành thuần thục?”
SC 44“—Thưa không vậy, Hiền giả.
SC 45“—Chư Hiền Nigaṇṭha, các Ông nghĩ thế nào? Có thể được chăng: “Mong rằng nghiệp đa sở thọ này do tinh tấn hay tinh cần trở thành thiểu sở thọ?”
SC 46“—Thưa không vậy, Hiền giả.
SC 47“—Có thể nói được chăng: “Mong rằng nghiệp thiểu sở thọ này do tinh tấn hay do tinh cần trở thành đã sở thọ?”
SC 48“—Thưa không vậy, Hiền giả.
SC 49“—Chư Hiền Nigaṇṭha, các Ông nghĩ thế nào? Có thể được chăng: “Mong rằng nghiệp có sở thọ này do tinh tấn hay tinh cần trở thành nghiệp không có sở thọ?”
SC 50“—Thưa không vậy, Hiền giả.
SC 51“—Có thể được chăng: “Mong rằng nghiệp không có sở thọ này, do tinh tấn hay tinh cần trở thành nghiệp có sở thọ?”
SC 52“—Thưa không vậy, Hiền giả.
SC 53“—Như vậy, này chư Hiền Nigaṇṭha, không thể được: “Mong rằng nghiệp được thọ quả hiện tại này, do tinh tấn hay tinh cần trở thành nghiệp được thọ quả tương lai”. Không thể được: “Mong rằng nghiệp được thọ quả tương lai này, do tinh tấn hay do tinh cần, trở thành nghiệp được thọ quả hiện tại”. Không thể được: “Mong rằng nghiệp được lãnh lạc thọ này, do tinh tấn hay tinh cần trở thành nghiệp được lãnh khổ thọ”. Không thể được: “Mong rằng nghiệp được lãnh khổ thọ này, do tinh tấn hay tinh cần trở thành nghiệp được lãnh lạc thọ”. Không thể được: “Mong rằng nghiệp mà quả lãnh thọ đã được thành thục này, do tinh tấn hay tinh cần có thể trở thành không thành thục”. Không thể được: “Mong rằng nghiệp mà quả lãnh thọ không thành thục này, do tinh tấn hay tinh cần có trở thành thành thục”. Không thể được: “Mong rằng nghiệp đa sở thọ này do tinh tấn hay tinh cần, trở thành thiểu sở thọ”. Không thể được: “Mong rằng nghiệp thiểu sở thọ này, do tinh tấn hay tinh cần trở thành đa sở thọ”. Không thể được: “Mong rằng nghiệp không có sở thọ này, do tinh tấn hay tinh cần trở thành có sở thọ”. Không thể được: “Mong rằng nghiệp có sở thọ này, do tinh tấn hay tinh cần trở thành không có sở thọ”. Sự tình là như vậy, thời sự tinh tấn của các Tôn giả Nigaṇṭha là không có kết quả, sự tinh cần của họ là không có kết quả”.
SC 54Này các Tỷ-kheo, các Nigaṇṭha nói như vậy. Này các Tỷ-kheo, mười thuyết tùy thuyết (Tùy thuận thuyết Vadanuvada) hợp pháp do các Nigaṇṭha đã nói như vậy đưa đến sự chỉ trích:
SC 55(1) Này các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân các việc làm quá khứ, lãnh thọ lạc khổ, thời này các Tỷ-kheo, các Nigaṇṭha thật sự đã làm những ác hạnh trong thời quá khứ, nên nay họ phải lãnh thọ những cảm giác đau đớn, cực khổ, thống khổ như vậy.
SC 56(2) Này các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân một vị Tạo hóa tạo ra lãnh thọ những cảm giác lạc khổ, thời này các Tỷ-kheo, các Nigaṇṭha thật sự được tạo ra bởi một vị Tạo hóa ác độc, vì rằng nay họ lãnh thọ những cảm giác đau đớn, cực khổ, thống khổ.
SC 57(3) Như vậy, này các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân kết hợp các điều kiện (sangatibhava), thọ lãnh lạc khổ, thời này các Tỷ-kheo, các Nigaṇṭha thật sự bị ác kết hợp, vì rằng nay họ lãnh thọ những cảm giác đau đớn, cực khổ, thống khổ như vậy.
SC 58(4) Này các Tỷ-kheo, nếu các loài hữu tình do nhân sanh loại (ahbijati) lãnh thọ những cảm giác lạc khổ, thời này các Tỷ-kheo, các Nigaṇṭha thật sự bị ác sinh loại, vì rằng nay họ lãnh thọ những cảm giác đau đớn, cực khổ, thống khổ như vậy.
SC 59(5) Này các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân tinh tấn hiện tại, thọ lãnh lạc khổ, thời này các Tỷ-kheo, các Nigaṇṭha thật sự đã tạo ác tinh tấn hiện tại, vì rằng nay họ lãnh thọ những cảm giác đau đớn, cực khổ, thống khổ.
SC 60(6) Này các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân việc làm quá khứ thọ lãnh lạc khổ, các Nigaṇṭha đáng bị chỉ trích. Nếu các hữu tình không do nhân việc làm quá khứ thọ lãnh lạc khổ, các Nigaṇṭha đáng bị chỉ trích.
SC 61(7) Này các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân được một vị Tạo hóa tạo ra thọ lãnh lạc khổ, các Nigaṇṭha đáng bị chỉ trích. Nếu các hữu tình không do nhân được một vị Tạo hóa tạo ra thọ lãnh lạc khổ, các Nigaṇṭha đáng bị chỉ trích.
SC 62(8) Này các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân kết hợp các điều kiện thọ lãnh lạc khổ, các Nigaṇṭha đáng bị chỉ trích. Nếu các hữu tình không do nhân kết hợp các điều kiện thọ lãnh lạc khổ các Nigaṇṭha đáng bị chỉ trích.
SC 63(9) Này các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân sanh loại thọ lãnh lạc khổ, các Nigaṇṭha đáng bị chỉ trích. Nếu các hữu tình không do nhân sanh loại thọ lãnh lạc khổ, các Nigaṇṭha đáng bị chỉ trích.
SC 64(10) Này các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân tinh cần hiện tại thọ lãnh lạc khổ, các Nigaṇṭha đáng bị chỉ trích. Nếu các hữu tình không do nhân tinh cần hiện tại thọ lãnh lạc khổ, các Nigaṇṭha đáng bị chỉ trích.
SC 65Này các Tỷ-kheo, các Nigaṇṭha nói như vậy. Này các Tỷ-kheo, mười thuyết tùy thuyết hợp pháp các Nigaṇṭha đã nói như vậy đưa đến sự chỉ trích. Như vậy, này các Tỷ-kheo, sự tinh tấn của các Nigaṇṭha là không có kết quả, sự tinh cần của họ là không có kết quả.
SC 66—Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sự tinh tấn có kết quả? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo không để cho tự ngã chưa bị nhiếp phục, bị đau khổ nhiếp phục và không từ bỏ lạc thọ hợp pháp, và không để lạc thọ ấy chi phối. Vị ấy biết như sau: “Trong khi ta tinh cần chống lại nguyên nhân đau khổ này, do chống lại nguyên nhân đau khổ, ta không có tham dục. Nhưng trong khi ta xả đối với nguyên nhân đau khổ này, trong khi tu tập xả, ta không có tham dục”. Khi vị Tỷ-kheo tinh cần chống lại nguyên nhân đau khổ, do tinh cần chống lại nguyên nhân đau khổ, vị ấy không có tham dục. Do vậy, ở đây, vị ấy tinh cần chống lại nguyên nhân đau khổ. Nhưng trong khi vị ấy xả đối với nguyên nhân đau khổ, trong khi tu tập xả, vị ấy không có tham dục. Do vậy, ở đây, vị ấy tu tập xả. Trong khi vị ấy tinh cần chống lại nguyên nhân đau khổ ấy, do tinh cần chống lại nguyên nhân, vị ấy không có tham dục. Như vậy sự đau khổ ấy đối với vị ấy được diệt tận. Trong khi vị ấy xả đối với nguyên nhân đau khổ ấy, trong khi tu tập xả, vị ấy không có tham dục. Như vậy sự đau khổ ấy đối với vị ấy được diệt tận.
SC 67Này các Tỷ-kheo, ví như một người luyến ái một nữ nhân, tâm tư say đắm, nhiệt tình ái mộ, nhiệt tình luyến mộ. Người ấy thấy nữ nhân này đứng với một người đàn ông khác, nói chuyện, đùa giỡn và cười cợt. Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Người ấy, khi thấy nữ nhân này đứng với một người đàn ông khác, nói chuyện, đùa giỡn và cười cợt, có sanh sầu, bi, khổ, ưu, não không?
SC 68—Thưa có vậy, bạch Thế Tôn. Vì sao vậy? Vì rằng người ấy luyến ái nữ nhân kia, tâm tư say đắm, nhiệt tình ái mộ, nhiệt tình luyến mộ. Do vậy, người ấy khi thấy nữ nhân kia đứng với một người đàn ông khác, nói chuyện, đùa giỡn và cười cợt, nên sanh sầu, bi, khổ, ưu, não.
SC 69—Nhưng này các Tỷ-kheo, người ấy có thể suy nghĩ như sau: “Ta luyến ái nữ nhân này, tâm tư say đắm, nhiệt tình ái mộ, nhiệt tình luyến mộ. Khi ta thấy nữ nhân này đứng với một người đàn ông khác, nói chuyện đùa giỡn và cười cợt, ta sanh sầu, bi, khổ, ưu, não. Vậy ta hãy bỏ lòng tham luyến đối với nữ nhân này”. Rồi người ấy bỏ lòng tham luyến đối với nữ nhân kia. Sau một thời gian, người ấy thấy nữ nhân kia đứng với một người đàn ông khác, nói chuyện, đùa giỡn và cười cợt. Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Người ấy khi thấy nữ nhân kia đứng với một người đàn ông khác, nói chuyện, đùa giỡn và cười cợt, có sanh sầu, bi, khổ, ưu não, không?
SC 70—Bạch Thế Tôn, không. Vì sao vậy? Bạch Thế Tôn vì rằng, người này đối với nữ nhân kia không còn tham luyến. Do vậy, khi thấy nữ nhân kia đứng với một người đàn ông khác, nói chuyện, đùa giỡn và cười cợt, người ấy không sanh sầu bi, khổ, ưu, não.
SC 71—Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, một người không để cho tự ngã chưa bị nhiếp phục, bị đau khổ nhiếp phục và không từ bỏ lạc thọ hợp pháp, và không để lạc thọ ấy chi phối. Vị ấy biết như sau: “Trong khi ta tinh cần chống lại nguyên nhân đau khổ này, do chống lại nguyên nhân đau khổ, ta không có tham dục. Nhưng trong khi ta xả đối với nguyên nhân đau khổ này, trong khi tu tập xả, ta không có tham dục”. Khi vị ấy tinh cần chống lại nguyên nhân đau khổ, do tinh cần chống lại nguyên nhân đau khổ, vị ấy không có tham dục. Do vậy, ở đây, vị ấy tinh cần chống lại nguyên nhân đau khổ. Nhưng trong khi vị ấy xả đối với nguyên nhân đau khổ, trong khi tu tập xả, vị ấy không có tham dục. Do vậy, ở đây, vị ấy tu tập xả. Trong khi vị ấy tinh cần chống lại nguyên nhân đau khổ ấy, do tinh cần chống lại nguyên nhân, vị ấy không có tham dục. Như vậy, sự đau khổ đối với vị ấy được diệt tận. Trong khi vị ấy xả đối với nguyên nhân đau khổ ấy, trong khi tu tập xả, vị ấy không có tham dục. Như vậy, sự đau khổ đối với vị ấy được diệt tận. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là sự tinh tấn có kết quả, sự tinh cần có kết quả.
SC 72Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo lại suy nghĩ như sau: “Khi ta trú vào lạc, bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp giảm thiểu. Nhưng khi ta tinh cần dùng đau khổ chống với tự ngã, các bất thiện pháp giảm thiểu, các thiện pháp tăng trưởng. Vậy ta hãy tinh cần dùng đau khổ chống với tự ngã”. Vị ấy tinh cần dùng đau khổ chống với tự ngã. Do tinh cần dùng đau khổ chống với tự ngã, các bất thiện pháp giảm thiểu, các thiện pháp tăng trưởng. Vị ấy sau một thời gian, không tinh cần dùng đau khổ chống với tự ngã. Vì sao vậy? Vì mục đích vị Tỷ-kheo ấy tinh cần dùng đau khổ chống với tự ngã đã thành tựu. Do vậy, sau một thời gian vị ấy không tinh cần dùng đau khổ chống với tự ngã.
SC 73Ví như, này các Tỷ-kheo, một người làm tên, hơ nóng và đốt nóng thân tên giữa hai ngọn lửa, khiến thân tên được thẳng và dễ uốn nắn. Nhưng này các Tỷ-kheo, khi thân tên của người làm tên, đã được hơ nóng và đốt nóng giữa hai ngọn lửa trở thành thẳng và dễ uốn nắn, người ấy sau một thời gian không còn hơ nóng và đốt nóng thân tên giữa hai ngọn lửa, khiến thân tên được thẳng và dễ uốn nắn. Vì sao vậy? Vì mục đích người làm tên ấy hơ nóng và đốt nóng thân tên giữa hai ngọn lửa, khiến thân tên được thẳng và dễ uốn nắn đã được thành tựu. Do vậy, sau một thời gian, người ấy không còn hơ nóng, đốt nóng thân tên giữa hai ngọn lửa để trở thành thẳng và dễ uốn nắn.
SC 74Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ấy suy nghĩ như sau: “Khi ta trú vào lạc, bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp giảm thiểu. Nhưng khi ta tinh cần dùng đau khổ chống với tự ngã, các bất thiện pháp giảm thiểu, các thiện pháp tăng trưởng. Vậy ta hãy tinh cần dùng đau khổ chống với tự ngã”. Vị ấy tinh cần dùng đau khổ chống với tự ngã. Do tinh cần dùng đau khổ chống với tự ngã, các bất thiện pháp giảm thiểu, các thiện pháp tăng trưởng. Vị ấy sau một thời gian, không tinh cần dùng đau khổ chống với tự ngã. Vì sao vậy? Vì mục đích vị Tỷ-kheo ấy tinh cần dùng đau khổ chống với tự ngã đã thành tựu. Do vậy, sau một thời gian, vị ấy không tinh cần dùng đau khổ chống với tự ngã. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là sự tinh cần có kết quả.
SC 75Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây, Như Lai sanh ra ở đời, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Như Lai sau khi riêng tự chứng ngộ với thượng trí, thế giới này là Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, gồm cả thế giới này với Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Nhơn, lại tuyên bố điều Ngài đã chứng ngộ. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, đầy đủ văn nghĩa, Ngài truyền dạy Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh.
SC 76Người gia trưởng hay con người gia trưởng, hay một người sanh ở giai cấp (hạ tiện) nghe pháp ấy, sau khi nghe pháp, người ấy sanh lòng tín ngưỡng Như Lai. Khi có lòng tín ngưỡng ấy, người ấy suy nghĩ: “Ðời sống gia đình đầy những triền phược, con đường đầy những bụi đời. Ðời sống xuất gia phóng khoáng như hư không. Thật không dễ gì cho một người sống ở gia đình có thể sống theo Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình”. Một thời gian sau, người ấy bỏ tài sản nhỏ, hay bỏ tài sản lớn, bỏ bà con quyến thuộc nhỏ, hay bỏ bà con quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, và xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
SC 77Vị ấy xuất gia như vậy, hành trì các học giới và hạnh sống các Tỷ-kheo, từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết xấu hổ, sợ hãi, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Vị ấy từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống thanh tịnh, không có trộm cướp. Vị ấy từ bỏ đời sống không Phạm hạnh, sống theo Phạm hạnh, sống đời sống viễn ly, tránh xa dâm dục hạ liệt.
SC 78Vị ấy từ bỏ nói láo, nói những lời chân thật, liên hệ đến sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không lường gạt đời. Vị ấy từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đến chỗ kia nói để sanh chia rẽ ở những người này; nghe điều gì ở chỗ kia, không đi nói với những người này để sanh chuyện chia rẽ ở những người kia. Như vậy, vị ấy sống hòa hợp những kẻ ly gián, khuyến khích những kẻ hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, thích thú trong hòa hợp, hân hoan trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp. Vị ấy từ bỏ nói lời độc ác, tránh xa lời nói độc ác, nói những lời nói dịu hiền, đẹp tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người; vị ấy nói những lời nói như vậy. Vị ấy từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù phiếm, nói đúng thời, nói chân thật, nói có ý nghĩa, nói pháp, nói luật, nói những lời đáng được gìn giữ, những lời hợp thời, hợp lý, có mạch lạc hệ thống, có ích lợi.
SC 79Vị ấy từ bỏ không làm hại đến các hạt giống và các loại cây cỏ, dùng một ngày một bữa, không ăn ban đêm; từ bỏ các món ăn phi thời; từ bỏ không đi xem múa, hát, nhạc, các cuộc trình diễn; từ bỏ không dùng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa, trang sức, và các thời trang; từ bỏ không dùng giường cao và giường lớn; từ bỏ không nhận vàng và bạc; từ bỏ không nhận các hạt sống; từ bỏ không nhận thịt sống, từ bỏ không nhận đàn bà con gái; từ bỏ không nhận nô tỳ gái và trai; từ bỏ không nhận cừu và dê; từ bỏ không nhận gia cầm và heo; từ bỏ không nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái; từ bỏ không nhận ruộng nương đất đai; từ bỏ không dùng người làm môi giới hoặc tự mình làm môi giới; từ bỏ không buôn bán; từ bỏ các sự gian lận bằng cân, tiền bạc và đo lường; từ bỏ các tà hạnh như hối lộ, gian trá, lừa đảo; từ bỏ không làm thương tổn, sát hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá.
SC 80Vị ấy sống biết đủ, bằng lòng với tấm y để che thân với đồ ăn khất thực để nuôi sống, đi tại chỗ nào cũng mang theo (y và bình bát). Như con chim bay đến chỗ nào cũng mang theo hai cánh, cũng vậy, Tỷ-kheo bằng lòng với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi sống, đi tại chỗ nào cũng mang theo. Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này, nội tâm hưởng lạc thọ không khuyết phạm.
SC 81Khi mắt thấy sắc, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì con mắt không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, vị ấy tự chế ngự các nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng … mũi ngửi hương … lưỡi nếm vị … thân cảm xúc … ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng, những nguyên nhân gì, vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, vị ấy chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. Vị ấy thành tựu Thánh hộ trì các căn này, nội tâm hưởng lạc thọ không uế nhiễm.
SC 82Vị ấy khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nuốt đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác.
SC 83Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này, thành tựu Thánh hộ trì các căn này, thành tựu Thánh chánh niệm tỉnh giác này, lựa một trú xứ thanh vắng, như khu rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây ngoài trời, đống rơm.
SC 84Sau khi ăn xong và đi khất thực trở về, vị ấy ngồi kiết-già, lưng thẳng tại chỗ nói trên, và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ dục tham ở đời, sống với tâm thoát ly dục tham, gột rửa tâm hết dục tham. Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng sanh hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên. Từ bỏ trạo cử, hối quá, vị ấy sống không trạo cử, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử, hối quá. Từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp.
SC 85Vị ấy, từ bỏ năm triền cái làm cho tâm ô uế, làm cho trí tuệ muội lược này, ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là sự tinh tấn có kết quả, là sự tinh cần có kết quả.
SC 86Và lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhứt tâm. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là sự tinh tấn có kết quả, là sự tinh cần có kết quả.
SC 87Và lại nữa này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú thiền thứ ba. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là sự tinh tấn có kết quả, là sự tinh cần có kết quả.
SC 88Và lại nữa này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là sự tinh tấn có kết quả, là sự tinh cần có kết quả.
SC 89Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến túc mạng trí. Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, hai mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp. Vị ấy nhớ rằng: “Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi tại chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây”. Như vậy vị ấy nhớ đến những đời sống quá khứ, cũng với các nét đại cương và các chi tiết. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là sự tinh tấn có kết quả, là sự tinh cần có kết quả.
SC 90Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến sanh tử trí của chúng sanh. Vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy tuệ tri rõ rằng chúng sanh người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Vị ấy nghĩ rằng: “Thật sự những vị chúng sanh này thành tựu những ác hạnh về thân, thành tựu những ác hạnh về lời nói, thành tựu những ác hạnh về ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những vị chúng sanh này thành tựu những thiện hạnh về thân, thành tựu những thiện hạnh về lời nói, thành tựu những thiện hạnh về ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến, những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, Thiên giới, trên đời này. Như vậy, vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Vị ấy tuệ tri rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là sự tinh tấn có kết quả, là sự tinh cần có kết quả.
SC 91Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến lậu tận trí. Vị ấy tuệ tri như thật: “Ðây là Khổ”, tuệ tri như thật: “Ðây là Khổ tập”, tuệ tri như thật: “Ðây là Khổ diệt”, tuệ tri như thật: “Ðây là Con Ðường đưa đến khổ diệt” tuệ tri như thật: “Ðây là những lậu hoặc”, tuệ tri như thật: “Ðây là nguyên nhân của các lậu hoặc”, tuệ tri như thật: “Ðây là sự diệt trừ các lậu hoặc”, tuệ tri như thật: “Ðây là Con Ðường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc”.
SC 92Nhờ biết như vậy, thấy như vậy, tâm vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy khởi lên sự hiểu biết: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy tuệ tri: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm; sau đời hiện tại, không có trở lui đời sống này nữa”. Như vậy, này các Tỷ-kheo là sự tinh tấn có kết quả, là sự tinh cần có kết quả.
SC 93Này các Tỷ-kheo, Như Lai nói như vậy. Này các Tỷ-kheo, mười thuyết tùy thuyết hợp pháp của Như Lai đã nói như vậy đưa đến sự tán thán:
SC 94(1) Này các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân các việc đã làm trong quá khứ thọ lãnh lạc khổ, thời này các Tỷ-kheo, Như Lai thật sự đã làm những thiện hạnh trong thời quá khứ nên nay mới thọ lãnh vô lậu lạc thọ như vậy.
SC 95(2) Này các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân một vị Tạo hóa tạo ra, thọ lãnh lạc khổ, thời này các Tỷ-kheo, Như Lai thật sự được tạo ra bởi một vị Tạo hóa hiền thiện, nên nay mới thọ lãnh vô lậu lạc thọ như vậy.
SC 96(3) Này các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân kết hợp các điều kiện, thọ lãnh lạc khổ, thời này các Tỷ-kheo, Như Lai thật sự được thiện kết hợp, nên nay mới thọ lãnh vô lậu lạc thọ như vậy.
SC 97(4) Này các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân sanh loại, thọ lãnh lạc khổ, thời này các Tỷ-kheo, Như Lai thật sự được thiện sanh loại, nên nay thọ lãnh vô lậu lạc thọ như vậy.
SC 98(5) Này các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân tinh tấn hiện tại thọ lãnh lạc khổ, thời này các Tỷ-kheo, Như Lai thật sự đã tạo thiện tinh tấn hiện tại, vì rằng nay thọ lãnh vô lậu lạc thọ như vậy.
SC 99(6) Này các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân hành động quá khứ thọ lãnh lạc khổ, Như Lai đáng được tán thán. Nếu các hữu tình không do nhân hành động quá khứ thọ lãnh lạc khổ, Như Lai đáng được tán thán.
SC 100(7) Này các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân được một vị Tạo hóa tạo ra, thọ lãnh lạc khổ, Như Lai đáng được tán thán. Nếu các hữu tình không do nhân được một vị Tạo hóa tạo ra, thọ lãnh lạc khổ, Như Lai đáng được tán thán.
SC 101(8) Này các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân kết hợp các điều kiện thọ lãnh lạc khổ, Như Lai đáng được tán thán. Nếu các hữu tình không do nhân các điều kiện kết hợp thọ lãnh lạc thọ khổ thọ, Như Lai đáng được tán thán.
SC 102(9) Này các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân sanh loại thọ lãnh lạc khổ, Như Lai đáng được tán thán. Nếu các hữu tình, không do nhân sanh loại thọ lãnh lạc khổ, Như Lai đáng được tán thán.
SC 103(10) Này các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân tinh cần hiện tại thọ lãnh lạc khổ, Như Lai đáng được tán thán.
SC 104Này các Tỷ-kheo, Như Lai nói như vậy. Này các Tỷ-kheo, mười thuyết tùy thuyết hợp pháp này Như Lai đã nói như vậy đưa đến sự tán thán.
SC 105Thế Tôn thuyết giảng như vậy, các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). 11–07–2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
1. Kinh Devadaha
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“santi, bhikkhave, eke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘yaṁ kiñcāyaṁ purisapuggalo paṭisaṁvedeti sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā, sabbaṁ taṁ pubbekatahetu. Iti purāṇānaṁ kammānaṁ tapasā byantībhāvā, navānaṁ kammānaṁ akaraṇā, āyatiṁ anavassavo; āyatiṁ anavassavā kammakkhayo; kammakkhayā dukkhakkhayo; dukkhakkhayā vedanākkhayo; vedanākkhayā sabbaṁ dukkhaṁ nijjiṇṇaṁ bhavissatī’ti. Evaṁvādino, bhikkhave, nigaṇṭhā.
“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
“Mendicants, there are some ascetics and brahmins who have this doctrine and view: ‘Everything this individual person experiences—pleasurable, painful, or neutral—is because of past deeds. So, due to eliminating past deeds by fervent mortification, and not doing any new deeds, there’s nothing to come up in the future. With no future consequence, deeds end. With the ending of deeds, suffering ends. With the ending of suffering, feeling ends. And with the ending of feeling, all suffering will have been worn away.’ Such is the doctrine of the Jain ascetics.
1. Tôi nghe như vầy: Một thời, Đức Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Sakya, tại một thị trấn của dòng họ Sakya tên là Devadaha. Tại đấy, Đức Thế Tôn gọi các tỳ khưu: "Này các tỳ khưu." "Bạch Thế Tôn," các tỳ khưu ấy vâng đáp Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn nói lời này: "Này các tỳ khưu, có một số sa-môn, bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến giải như vầy: 'Bất cứ điều gì mà người này cảm thọ, hoặc là lạc, hoặc là khổ, hoặc là không khổ không lạc, tất cả điều ấy đều do nhân đã làm từ trước. Như vậy, do sự chấm dứt các nghiệp cũ bằng khổ hạnh, do sự không làm các nghiệp mới, trong tương lai sẽ không có hậu quả; do trong tương lai không có hậu quả nên nghiệp được đoạn tận; do nghiệp đoạn tận nên khổ được đoạn tận; do khổ đoạn tận nên thọ được đoạn tận; do thọ đoạn tận nên tất cả khổ sẽ được tiêu trừ.' Này các tỳ khưu, các Ni-kiền-tử có thuyết như vậy.
Evaṁvādāhaṁ, bhikkhave, nigaṇṭhe upasaṅkamitvā evaṁ vadāmi: ‘saccaṁ kira tumhe, āvuso nigaṇṭhā, evaṁvādino evaṁdiṭṭhino—yaṁ kiñcāyaṁ purisapuggalo paṭisaṁvedeti sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā, sabbaṁ taṁ pubbekatahetu. Iti purāṇānaṁ kammānaṁ tapasā byantībhāvā, navānaṁ kammānaṁ akaraṇā, āyatiṁ anavassavo; āyatiṁ anavassavā kammakkhayo; kammakkhayā dukkhakkhayo; dukkhakkhayā vedanākkhayo; vedanākkhayā sabbaṁ dukkhaṁ nijjiṇṇaṁ bhavissatī’ti? Te ca me, bhikkhave, nigaṇṭhā evaṁ puṭṭhā ‘āmā’ti paṭijānanti.
I’ve gone up to the Jain ascetics who say this and said, ‘Is it really true that this is the venerables’ view?’ They admitted that it is.
Này các tỳ khưu, Ta đã đến gần các Ni-kiền-tử có thuyết như vậy và nói như vầy: 'Này chư hiền Ni-kiền-tử, có thật chăng các ngài có thuyết như vầy, có kiến giải như vầy: "Bất cứ điều gì mà người này cảm thọ, hoặc là lạc, hoặc là khổ, hoặc là không khổ không lạc, tất cả điều ấy đều do nhân đã làm từ trước. Như vậy, do sự chấm dứt các nghiệp cũ bằng khổ hạnh, do sự không làm các nghiệp mới, trong tương lai sẽ không có hậu quả; do trong tương lai không có hậu quả nên nghiệp được đoạn tận; do nghiệp đoạn tận nên khổ được đoạn tận; do khổ đoạn tận nên thọ được đoạn tận; do thọ đoạn tận nên tất cả khổ sẽ được tiêu trừ"?' Này các tỳ khưu, các Ni-kiền-tử ấy, khi được Ta hỏi như vậy, đã thừa nhận: 'Đúng vậy.'
Tyāhaṁ evaṁ vadāmi: ‘kiṁ pana tumhe, āvuso nigaṇṭhā, jānātha—ahuvamheva mayaṁ pubbe, na nāhuvamhā’ti?
‘No hidaṁ, āvuso’.
I said to them, ‘But reverends, do you know for sure that you existed in the past, and it is not the case that you did not exist?’
‘No we don’t, reverend.’
Ta nói với họ như vầy: 'Này chư hiền Ni-kiền-tử, vậy các ngài có biết chăng: "Chúng ta trong quá khứ đã từng có mặt, chứ không phải là không từng có mặt"?' 'Thưa hiền giả, chúng tôi không biết điều này.'
‘Kiṁ pana tumhe, āvuso nigaṇṭhā, jānātha—akaramheva mayaṁ pubbe pāpakammaṁ, na nākaramhā’ti?
‘No hidaṁ, āvuso’.
‘But reverends, do you know for sure that you did bad deeds in the past?’
‘No we don’t, reverend.’
'Này chư hiền Ni-kiền-tử, vậy các ngài có biết chăng: "Chúng ta trong quá khứ đã từng làm ác nghiệp, chứ không phải là không từng làm"?' 'Thưa hiền giả, chúng tôi không biết điều này.'
‘Kiṁ pana tumhe, āvuso nigaṇṭhā, jānātha—evarūpaṁ vā evarūpaṁ vā pāpakammaṁ akaramhā’ti?
‘No hidaṁ, āvuso’.
‘But reverends, do you know that you did bad deeds of this type or that?’
‘No we don’t, reverend.’
'Này chư hiền Ni-kiền-tử, vậy các ngài có biết chăng: "Chúng ta đã làm ác nghiệp loại này hay loại này"?' 'Thưa hiền giả, chúng tôi không biết điều này.'
‘Kiṁ pana tumhe, āvuso nigaṇṭhā, jānātha—ettakaṁ vā dukkhaṁ nijjiṇṇaṁ, ettakaṁ vā dukkhaṁ nijjīretabbaṁ, ettakamhi vā dukkhe nijjiṇṇe sabbaṁ dukkhaṁ nijjiṇṇaṁ bhavissatī’ti?
‘No hidaṁ, āvuso’.
‘But reverends, do you know that so much suffering has already been worn away? Or that so much suffering still remains to be worn away? Or that when so much suffering is worn away all suffering will have been worn away?’
‘No we don’t, reverend.’
'Này chư hiền Ni-kiền-tử, vậy các ngài có biết chăng: "Chừng này khổ đã được tiêu trừ, chừng này khổ cần phải được tiêu trừ, khi chừng này khổ được tiêu trừ thì tất cả khổ sẽ được tiêu trừ"?' 'Thưa hiền giả, chúng tôi không biết điều này.'
‘Kiṁ pana tumhe, āvuso nigaṇṭhā, jānātha—diṭṭheva dhamme akusalānaṁ dhammānaṁ pahānaṁ, kusalānaṁ dhammānaṁ upasampadan’ti?
‘No hidaṁ, āvuso’.
‘But reverends, do you know about giving up unskillful qualities in this very life and embracing skillful qualities?’
‘No we don’t, reverend.’
'Này chư hiền Ni-kiền-tử, vậy các ngài có biết chăng sự đoạn trừ các pháp bất thiện, sự thành tựu các pháp thiện ngay trong hiện tại?' 'Thưa hiền giả, chúng tôi không biết điều này.'
‘Iti kira tumhe, āvuso nigaṇṭhā, na jānātha—ahuvamheva mayaṁ pubbe, na nāhuvamhāti, na jānātha—akaramheva mayaṁ pubbe pāpakammaṁ, na nākaramhāti, na jānātha—evarūpaṁ vā evarūpaṁ vā pāpakammaṁ akaramhāti, na jānātha—ettakaṁ vā dukkhaṁ nijjiṇṇaṁ, ettakaṁ vā dukkhaṁ nijjīretabbaṁ, ettakamhi vā dukkhe nijjiṇṇe sabbaṁ dukkhaṁ nijjiṇṇaṁ bhavissatīti, na jānātha—diṭṭheva dhamme akusalānaṁ dhammānaṁ pahānaṁ, kusalānaṁ dhammānaṁ upasampadaṁ; evaṁ sante āyasmantānaṁ nigaṇṭhānaṁ na kallamassa veyyākaraṇāya: “yaṁ kiñcāyaṁ purisapuggalo paṭisaṁvedeti sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā, sabbaṁ taṁ pubbekatahetu. Iti purāṇānaṁ kammānaṁ tapasā byantībhāvā, navānaṁ kammānaṁ akaraṇā, āyatiṁ anavassavo; āyatiṁ anavassavā kammakkhayo; kammakkhayā dukkhakkhayo; dukkhakkhayā vedanākkhayo; vedanākkhayā sabbaṁ dukkhaṁ nijjiṇṇaṁ bhavissatī”ti.
‘So it seems that you don’t know any of these things. In that case, it’s not appropriate for the Jain venerables to declare this.
2. Như vậy, này chư hiền Ni-kiền-tử, các ngài không biết: 'Chúng ta trong quá khứ đã từng có mặt, chứ không phải là không từng có mặt,' các ngài không biết: 'Chúng ta trong quá khứ đã từng làm ác nghiệp, chứ không phải là không từng làm,' các ngài không biết: 'Chúng ta đã làm ác nghiệp loại này hay loại này,' các ngài không biết: 'Chừng này khổ đã được tiêu trừ, chừng này khổ cần phải được tiêu trừ, khi chừng này khổ được tiêu trừ thì tất cả khổ sẽ được tiêu trừ,' các ngài không biết sự đoạn trừ các pháp bất thiện, sự thành tựu các pháp thiện ngay trong hiện tại; khi sự việc là như vậy, việc các tôn giả Ni-kiền-tử tuyên bố rằng: 'Bất cứ điều gì mà người này cảm thọ, hoặc là lạc, hoặc là khổ, hoặc là không khổ không lạc, tất cả điều ấy đều do nhân đã làm từ trước. Như vậy, do sự chấm dứt các nghiệp cũ bằng khổ hạnh, do sự không làm các nghiệp mới, trong tương lai sẽ không có hậu quả; do trong tương lai không có hậu quả nên nghiệp được đoạn tận; do nghiệp đoạn tận nên khổ được đoạn tận; do khổ đoạn tận nên thọ được đoạn tận; do thọ đoạn tận nên tất cả khổ sẽ được tiêu trừ' là không thích hợp.
Sace pana tumhe, āvuso nigaṇṭhā, jāneyyātha—ahuvamheva mayaṁ pubbe, na nāhuvamhāti, jāneyyātha—akaramheva mayaṁ pubbe pāpakammaṁ, na nākaramhāti, jāneyyātha—evarūpaṁ vā evarūpaṁ vā pāpakammaṁ akaramhāti, jāneyyātha—ettakaṁ vā dukkhaṁ nijjiṇṇaṁ, ettakaṁ vā dukkhaṁ nijjīretabbaṁ, ettakamhi vā dukkhe nijjiṇṇe sabbaṁ dukkhaṁ nijjiṇṇaṁ bhavissatīti, jāneyyātha—diṭṭheva dhamme akusalānaṁ dhammānaṁ pahānaṁ, kusalānaṁ dhammānaṁ upasampadaṁ; evaṁ sante āyasmantānaṁ nigaṇṭhānaṁ kallamassa veyyākaraṇāya: “yaṁ kiñcāyaṁ purisapuggalo paṭisaṁvedeti sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā, sabbaṁ taṁ pubbekatahetu. Iti purāṇānaṁ kammānaṁ tapasā byantībhāvā, navānaṁ kammānaṁ akaraṇā, āyatiṁ anavassavo; āyatiṁ anavassavā kammakkhayo; kammakkhayā dukkhakkhayo; dukkhakkhayā vedanākkhayo; vedanākkhayā sabbaṁ dukkhaṁ nijjiṇṇaṁ bhavissatī”ti.
Now, supposing you did know these things. In that case, it would be appropriate for the Jain venerables to declare this.
Nhưng này chư hiền Ni-kiền-tử, nếu các ngài biết: 'Chúng ta trong quá khứ đã từng có mặt, chứ không phải là không từng có mặt,' nếu các ngài biết: 'Chúng ta trong quá khứ đã từng làm ác nghiệp, chứ không phải là không từng làm,' nếu các ngài biết: 'Chúng ta đã làm ác nghiệp loại này hay loại này,' nếu các ngài biết: 'Chừng này khổ đã được tiêu trừ, chừng này khổ cần phải được tiêu trừ, khi chừng này khổ được tiêu trừ thì tất cả khổ sẽ được tiêu trừ,' nếu các ngài biết sự đoạn trừ các pháp bất thiện, sự thành tựu các pháp thiện ngay trong hiện tại; khi sự việc là như vậy, việc các tôn giả Ni-kiền-tử tuyên bố rằng: 'Bất cứ điều gì mà người này cảm thọ, hoặc là lạc, hoặc là khổ, hoặc là không khổ không lạc, tất cả điều ấy đều do nhân đã làm từ trước. Như vậy, do sự chấm dứt các nghiệp cũ bằng khổ hạnh, do sự không làm các nghiệp mới, trong tương lai sẽ không có hậu quả; do trong tương lai không có hậu quả nên nghiệp được đoạn tận; do nghiệp đoạn tận nên khổ được đoạn tận; do khổ đoạn tận nên thọ được đoạn tận; do thọ đoạn tận nên tất cả khổ sẽ được tiêu trừ' là thích hợp.
Seyyathāpi, āvuso nigaṇṭhā, puriso sallena viddho assa savisena gāḷhūpalepanena; so sallassapi vedhanahetu dukkhā tibbā kaṭukā vedanā vediyeyya. Tassa mittāmaccā ñātisālohitā bhisakkaṁ sallakattaṁ upaṭṭhāpeyyuṁ. Tassa so bhisakko sallakatto satthena vaṇamukhaṁ parikanteyya; so satthenapi vaṇamukhassa parikantanahetu dukkhā tibbā kaṭukā vedanā vediyeyya. Tassa so bhisakko sallakatto esaniyā sallaṁ eseyya; so esaniyāpi sallassa esanāhetu dukkhā tibbā kaṭukā vedanā vediyeyya. Tassa so bhisakko sallakatto sallaṁ abbuheyya; so sallassapi abbuhanahetu dukkhā tibbā kaṭukā vedanā vediyeyya. Tassa so bhisakko sallakatto agadaṅgāraṁ vaṇamukhe odaheyya; so agadaṅgārassapi vaṇamukhe odahanahetu dukkhā tibbā kaṭukā vedanā vediyeyya. So aparena samayena rūḷhena vaṇena sañchavinā arogo assa sukhī serī sayaṁvasī yena kāmaṅgamo.
Tassa evamassa: “ahaṁ kho pubbe sallena viddho ahosiṁ savisena gāḷhūpalepanena. Sohaṁ sallassapi vedhanahetu dukkhā tibbā kaṭukā vedanā vediyiṁ. Tassa me mittāmaccā ñātisālohitā bhisakkaṁ sallakattaṁ upaṭṭhapesuṁ. Tassa me so bhisakko sallakatto satthena vaṇamukhaṁ parikanti; sohaṁ satthenapi vaṇamukhassa parikantanahetu dukkhā tibbā kaṭukā vedanā vediyiṁ. Tassa me so bhisakko sallakatto esaniyā sallaṁ esi; so ahaṁ esaniyāpi sallassa esanāhetu dukkhā tibbā kaṭukā vedanā vediyiṁ. Tassa me so bhisakko sallakatto sallaṁ abbuhi; sohaṁ sallassapi abbuhanahetu dukkhā tibbā kaṭukā vedanā vediyiṁ. Tassa me so bhisakko sallakatto agadaṅgāraṁ vaṇamukhe odahi; sohaṁ agadaṅgārassapi vaṇamukhe odahanahetu dukkhā tibbā kaṭukā vedanā vediyiṁ. Somhi etarahi rūḷhena vaṇena sañchavinā arogo sukhī serī sayaṁvasī yena kāmaṅgamo”ti.
Suppose a man was struck by an arrow thickly smeared with poison, causing painful feelings, sharp and severe. Their friends and colleagues, relatives and kin would get a surgeon to treat them. The surgeon would cut open the wound with a scalpel, causing painful feelings, sharp and severe. They’d probe for the arrow, causing painful feelings, sharp and severe. They’d extract the arrow, causing painful feelings, sharp and severe. They’d apply cauterizing medicine to the wound, causing painful feelings, sharp and severe. After some time that wound would be healed and the skin regrown. They’d be healthy, happy, autonomous, master of themselves, able to go where they wanted.
They’d think, “Earlier I was struck by an arrow thickly smeared with poison, causing painful feelings, sharp and severe. My friends and colleagues, relatives and kin got a surgeon to treat me. At each step, the treatment was painful. But these days that wound is healed and the skin regrown. I’m healthy, happy, autonomous, my own master, able to go where I want.”
3. “Này các hiền hữu Nigantha, ví như một người bị trúng mũi tên tẩm độc, được bôi thuốc dày đặc; do bị mũi tên đâm, người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, dữ dội, khốc liệt. Bạn bè, thân hữu, và bà con huyết thống của người ấy mời một vị thầy thuốc chuyên trị vết thương do tên bắn đến. Vị thầy thuốc ấy dùng dao rạch miệng vết thương của người ấy; do việc rạch miệng vết thương bằng dao, người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, dữ dội, khốc liệt. Vị thầy thuốc ấy dùng que dò để tìm mũi tên; do việc tìm mũi tên bằng que dò, người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, dữ dội, khốc liệt. Vị thầy thuốc ấy nhổ mũi tên ra; do việc nhổ mũi tên ra, người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, dữ dội, khốc liệt. Vị thầy thuốc ấy đắp thuốc tro vào miệng vết thương; do việc đắp thuốc tro vào miệng vết thương, người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, dữ dội, khốc liệt. Về sau, khi vết thương đã lành, da đã mọc lại, người ấy không còn bệnh, được an lạc, tự do, tự tại, đi đến bất cứ nơi nào mình muốn. Người ấy có thể suy nghĩ như sau: ‘Trước đây, ta đã bị trúng mũi tên tẩm độc, được bôi thuốc dày đặc. Do bị mũi tên đâm, ta đã cảm thọ những cảm giác đau đớn, dữ dội, khốc liệt. Bạn bè, thân hữu, và bà con huyết thống của ta đã mời một vị thầy thuốc chuyên trị vết thương do tên bắn đến. Vị thầy thuốc ấy đã dùng dao rạch miệng vết thương của ta; do việc rạch miệng vết thương bằng dao, ta đã cảm thọ những cảm giác đau đớn, dữ dội, khốc liệt. Vị thầy thuốc ấy đã dùng que dò để tìm mũi tên của ta; do việc tìm mũi tên bằng que dò, ta đã cảm thọ những cảm giác đau đớn, dữ dội, khốc liệt. Vị thầy thuốc ấy đã nhổ mũi tên của ta ra; do việc nhổ mũi tên ra, ta đã cảm thọ những cảm giác đau đớn, dữ dội, khốc liệt. Vị thầy thuốc ấy đã đắp thuốc tro vào miệng vết thương của ta; do việc đắp thuốc tro vào miệng vết thương, ta đã cảm thọ những cảm giác đau đớn, dữ dội, khốc liệt. Giờ đây, ta với vết thương đã lành, da đã mọc lại, không còn bệnh, được an lạc, tự do, tự tại, đi đến bất cứ nơi nào mình muốn.’”
Evameva kho, āvuso nigaṇṭhā, sace tumhe jāneyyātha—ahuvamheva mayaṁ pubbe, na nāhuvamhāti, jāneyyātha—akaramheva mayaṁ pubbe pāpakammaṁ, na nākaramhāti, jāneyyātha—evarūpaṁ vā evarūpaṁ vā pāpakammaṁ akaramhāti, jāneyyātha—ettakaṁ vā dukkhaṁ nijjiṇṇaṁ, ettakaṁ vā dukkhaṁ nijjīretabbaṁ, ettakamhi vā dukkhe nijjiṇṇe sabbaṁ dukkhaṁ nijjiṇṇaṁ bhavissatīti, jāneyyātha—diṭṭheva dhamme akusalānaṁ dhammānaṁ pahānaṁ, kusalānaṁ dhammānaṁ upasampadaṁ; evaṁ sante āyasmantānaṁ nigaṇṭhānaṁ kallamassa veyyākaraṇāya: “yaṁ kiñcāyaṁ purisapuggalo paṭisaṁvedeti sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā, sabbaṁ taṁ pubbekatahetu. Iti purāṇānaṁ kammānaṁ tapasā byantībhāvā, navānaṁ kammānaṁ akaraṇā, āyatiṁ anavassavo; āyatiṁ anavassavā kammakkhayo; kammakkhayā dukkhakkhayo; dukkhakkhayā vedanākkhayo; vedanākkhayā sabbaṁ dukkhaṁ nijjiṇṇaṁ bhavissatī”ti.
In the same way, reverends, if you knew about these things, it would be appropriate for the Jain venerables to declare this.
“Này các hiền hữu Nigantha, cũng vậy, nếu các ông biết được rằng: ‘Chúng ta đã từng có mặt trong quá khứ, chứ không phải là không từng có mặt;’ nếu các ông biết được rằng: ‘Chúng ta đã từng làm ác nghiệp trong quá khứ, chứ không phải là không từng làm;’ nếu các ông biết được rằng: ‘Chúng ta đã làm ác nghiệp như thế này hay như thế kia;’ nếu các ông biết được rằng: ‘Chừng này khổ đã được đoạn tận, chừng này khổ cần phải được đoạn tận, và khi chừng này khổ được đoạn tận thì tất cả khổ sẽ được đoạn tận;’ nếu các ông biết được sự từ bỏ các pháp bất thiện và sự thành tựu các pháp thiện ngay trong hiện tại; thì này các hiền hữu Nigantha, khi được như vậy, việc giải thích của quý vị mới là hợp lý rằng: ‘Bất cứ cảm thọ nào mà người này cảm nhận, dù là lạc, khổ, hay không khổ không lạc, tất cả đều do nhân đã tạo trong quá khứ. Như vậy, do sự chấm dứt các nghiệp cũ bằng khổ hạnh, do không tạo các nghiệp mới, nên trong tương lai không có sự tuôn chảy (của nghiệp); do không có sự tuôn chảy trong tương lai nên nghiệp được đoạn tận; do nghiệp đoạn tận nên khổ đoạn tận; do khổ đoạn tận nên cảm thọ đoạn tận; do cảm thọ đoạn tận nên tất cả khổ sẽ được đoạn tận.’”
Yasmā ca kho tumhe, āvuso nigaṇṭhā, na jānātha—ahuvamheva mayaṁ pubbe, na nāhuvamhāti, na jānātha—akaramheva mayaṁ pubbe pāpakammaṁ, na nākaramhāti, na jānātha—evarūpaṁ vā evarūpaṁ vā pāpakammaṁ akaramhāti, na jānātha—ettakaṁ vā dukkhaṁ nijjiṇṇaṁ, ettakaṁ vā dukkhaṁ nijjīretabbaṁ, ettakamhi vā dukkhe nijjiṇṇe sabbaṁ dukkhaṁ nijjiṇṇaṁ bhavissatīti, na jānātha—diṭṭheva dhamme akusalānaṁ dhammānaṁ pahānaṁ, kusalānaṁ dhammānaṁ upasampadaṁ; tasmā āyasmantānaṁ nigaṇṭhānaṁ na kallamassa veyyākaraṇāya: “yaṁ kiñcāyaṁ purisapuggalo paṭisaṁvedeti sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā, sabbaṁ taṁ pubbekatahetu. Iti purāṇānaṁ kammānaṁ tapasā byantībhāvā, navānaṁ kammānaṁ akaraṇā, āyatiṁ anavassavo; āyatiṁ anavassavā kammakkhayo; kammakkhayā dukkhakkhayo; dukkhakkhayā vedanākkhayo; vedanākkhayā sabbaṁ dukkhaṁ nijjiṇṇaṁ bhavissatī”’ti.
But since you don’t know any of these things, it’s not appropriate for the Jain venerables to declare this.’
“Và này, các hiền hữu Nigantha, vì các ông không biết rằng: ‘Chúng ta đã từng có mặt trong quá khứ, chứ không phải là không từng có mặt;’ vì các ông không biết rằng: ‘Chúng ta đã từng làm ác nghiệp trong quá khứ, chứ không phải là không từng làm;’ vì các ông không biết rằng: ‘Chúng ta đã làm ác nghiệp như thế này hay như thế kia;’ vì các ông không biết rằng: ‘Chừng này khổ đã được đoạn tận, chừng này khổ cần phải được đoạn tận, và khi chừng này khổ được đoạn tận thì tất cả khổ sẽ được đoạn tận;’ vì các ông không biết sự từ bỏ các pháp bất thiện và sự thành tựu các pháp thiện ngay trong hiện tại; cho nên, này các hiền hữu Nigantha, việc giải thích của quý vị là không hợp lý rằng: ‘Bất cứ cảm thọ nào mà người này cảm nhận, dù là lạc, khổ, hay không khổ không lạc, tất cả đều do nhân đã tạo trong quá khứ. Như vậy, do sự chấm dứt các nghiệp cũ bằng khổ hạnh, do không tạo các nghiệp mới, nên trong tương lai không có sự tuôn chảy (của nghiệp); do không có sự tuôn chảy trong tương lai nên nghiệp được đoạn tận; do nghiệp đoạn tận nên khổ đoạn tận; do khổ đoạn tận nên cảm thọ đoạn tận; do cảm thọ đoạn tận nên tất cả khổ sẽ được đoạn tận.’”
Evaṁ vutte, bhikkhave, te nigaṇṭhā maṁ etadavocuṁ: ‘nigaṇṭho, āvuso, nāṭaputto sabbaññū sabbadassāvī, aparisesaṁ ñāṇadassanaṁ paṭijānāti. “Carato ca me tiṭṭhato ca suttassa ca jāgarassa ca satataṁ samitaṁ ñāṇadassanaṁ paccupaṭṭhitan”ti.
So evamāha: “atthi kho vo, āvuso nigaṇṭhā, pubbeva pāpakammaṁ kataṁ, taṁ imāya kaṭukāya dukkarakārikāya nijjīretha, yaṁ panettha etarahi kāyena saṁvutā vācāya saṁvutā manasā saṁvutā taṁ āyatiṁ pāpakammassa akaraṇaṁ. Iti purāṇānaṁ kammānaṁ tapasā byantībhāvā, navānaṁ kammānaṁ akaraṇā, āyatiṁ anavassavo; āyatiṁ anavassavā kammakkhayo; kammakkhayā dukkhakkhayo; dukkhakkhayā vedanākkhayo; vedanākkhayā sabbaṁ dukkhaṁ nijjiṇṇaṁ bhavissatī”ti. Tañca panamhākaṁ ruccati ceva khamati ca, tena camhā attamanā’ti.
When I said this, those Jain ascetics said to me, ‘Reverend, the Jain ascetic of the Ñātika clan claims to be all-knowing and all-seeing, to know and see everything without exception, thus: “Knowledge and vision are constantly and continually present to me, while walking, standing, sleeping, and waking.”
He says: “O reverend Jain ascetics, you have done bad deeds in a past life. Wear them away with these severe and grueling austerities. And when in the present you are restrained in body, speech, and mind, you’re not doing any bad deeds for the future. So, due to eliminating past deeds by fervent mortification, and not doing any new deeds, there’s nothing to come up in the future. With no future consequence, deeds end. With the ending of deeds, suffering ends. With the ending of suffering, feeling ends. And with the ending of feeling, all suffering will have been worn away.” We endorse and accept this, and we are satisfied with it.’
4. Này các Tỳ khưu, khi được nói như vậy, các Ni-kiền-tử ấy đã nói với ta điều này: ‘Thưa hiền hữu, Ni-kiền-tử Nāṭaputta là bậc toàn tri, toàn kiến, tự nhận là có tri kiến một cách hoàn toàn. (Vị ấy nói): ‘Khi ta đang đi, hoặc đang đứng, hoặc đang ngủ, hoặc đang thức, tri kiến luôn luôn, liên tục hiện hữu nơi ta.’ Vị ấy đã nói như vầy: ‘Thưa các hiền hữu Ni-kiền-tử, chắc chắn các vị đã có ác nghiệp được làm từ trước, các vị hãy làm cho nó mòn đi bằng khổ hạnh khốc liệt này. Và điều gì ở đây, trong hiện tại, các vị được thu thúc thân, thu thúc khẩu, thu thúc ý, điều ấy là sự không làm ác nghiệp trong tương lai. Như vậy, do sự tiêu diệt các nghiệp cũ bằng khổ hạnh, do sự không làm các nghiệp mới, sẽ không có sự tuôn chảy trong tương lai; do không có sự tuôn chảy trong tương lai, nghiệp được đoạn tận; do nghiệp được đoạn tận, khổ được đoạn tận; do khổ được đoạn tận, thọ được đoạn tận; do thọ được đoạn tận, tất cả khổ sẽ được chấm dứt.’ Và điều ấy chúng tôi vừa ý và kham nhẫn, và do đó chúng tôi hoan hỷ.’
Evaṁ vutte, ahaṁ, bhikkhave, te nigaṇṭhe etadavocaṁ: ‘pañca kho ime, āvuso nigaṇṭhā, dhammā diṭṭheva dhamme dvidhāvipākā. Katame pañca? Saddhā, ruci, anussavo, ākāraparivitakko, diṭṭhinijjhānakkhanti—ime kho, āvuso nigaṇṭhā, pañca dhammā diṭṭheva dhamme dvidhāvipākā. Tatrāyasmantānaṁ nigaṇṭhānaṁ kā atītaṁse satthari saddhā, kā ruci, ko anussavo, ko ākāraparivitakko, kā diṭṭhinijjhānakkhantī’ti. Evaṁvādī kho ahaṁ, bhikkhave, nigaṇṭhesu na kañci sahadhammikaṁ vādapaṭihāraṁ samanupassāmi.
Puna caparāhaṁ, bhikkhave, te nigaṇṭhe evaṁ vadāmi: ‘taṁ kiṁ maññatha, āvuso nigaṇṭhā. Yasmiṁ vo samaye tibbo upakkamo hoti tibbaṁ padhānaṁ, tibbā tasmiṁ samaye opakkamikā dukkhā tibbā kaṭukā vedanā vediyetha; yasmiṁ pana vo samaye na tibbo upakkamo hoti na tibbaṁ padhānaṁ, na tibbā tasmiṁ samaye opakkamikā dukkhā tibbā kaṭukā vedanā vediyethā’ti?
When they said this, I said to them, ‘These five things can be seen to turn out in two different ways in this very life. What five? Faith, endorsement, oral transmission, reasoned train of thought, and acceptance of a view after deliberation. These are the five things that can be seen to turn out in two different ways in this very life. In this case, what faith in your teacher do you have when it comes to the past? What endorsement, oral transmission, reasoned train of thought, or acceptance of a view after deliberation?’ When I said this, I did not see any legitimate defense of their doctrine from the Jains.
Furthermore, I said to those Jain ascetics, ‘What do you think, reverends? At a time of intense exertion and striving do you suffer painful, sharp, severe, acute feelings due to exertion? Whereas at a time without intense exertion and striving do you not suffer painful, sharp, severe, acute feelings due to exertion?’
5. Này các Tỳ khưu, khi được nói như vậy, ta đã nói với các Ni-kiền-tử ấy điều này: ‘Thưa các hiền hữu Ni-kiền-tử, có năm pháp này có hai loại quả ngay trong hiện tại. Năm pháp nào? Tín, sự ưa thích, sự nghe nói lại, sự suy xét theo các khía cạnh, sự chấp nhận quan điểm sau khi cân nhắc. Thưa các hiền hữu Ni-kiền-tử, năm pháp này có hai loại quả ngay trong hiện tại. Ở đây, đối với bậc đạo sư của các Tôn giả Ni-kiền-tử về quá khứ, tín là gì, sự ưa thích là gì, sự nghe nói lại là gì, sự suy xét theo các khía cạnh là gì, sự chấp nhận quan điểm sau khi cân nhắc là gì?’ Này các Tỳ khưu, khi nói như vậy, ta không thấy có sự phản luận hợp pháp nào từ các Ni-kiền-tử.
‘Yasmiṁ no, āvuso gotama, samaye tibbo upakkamo hoti tibbaṁ padhānaṁ, tibbā tasmiṁ samaye opakkamikā dukkhā tibbā kaṭukā vedanā vediyāma; yasmiṁ pana no samaye na tibbo upakkamo hoti na tibbaṁ padhānaṁ, na tibbā tasmiṁ samaye opakkamikā dukkhā tibbā kaṭukā vedanā vediyāmā’ti.
‘Reverend Gotama, at a time of intense exertion we suffer painful, sharp feelings due to exertion, not without intense exertion.’
Này các Tỳ khưu, lại nữa, ta nói với các Ni-kiền-tử ấy như vầy: ‘Thưa các hiền hữu Ni-kiền-tử, các vị nghĩ thế nào? Vào lúc các vị có sự nỗ lực mãnh liệt, có sự tinh tấn mãnh liệt, vào lúc ấy các vị có cảm nhận những cảm thọ đau đớn, khốc liệt, dữ dội do sự nỗ lực ấy không? Và vào lúc các vị không có sự nỗ lực mãnh liệt, không có sự tinh tấn mãnh liệt, vào lúc ấy các vị có không cảm nhận những cảm thọ đau đớn, khốc liệt, dữ dội do sự nỗ lực ấy không?’ ‘Thưa hiền hữu Gotama, vào lúc chúng tôi có sự nỗ lực mãnh liệt, có sự tinh tấn mãnh liệt, vào lúc ấy chúng tôi cảm nhận những cảm thọ đau đớn, khốc liệt, dữ dội do sự nỗ lực ấy. Và vào lúc chúng tôi không có sự nỗ lực mãnh liệt, không có sự tinh tấn mãnh liệt, vào lúc ấy chúng tôi không cảm nhận những cảm thọ đau đớn, khốc liệt, dữ dội do sự nỗ lực ấy.’”
‘Iti kira, āvuso nigaṇṭhā, yasmiṁ vo samaye tibbo upakkamo hoti tibbaṁ padhānaṁ, tibbā tasmiṁ samaye opakkamikā dukkhā tibbā kaṭukā vedanā vediyetha; yasmiṁ pana vo samaye na tibbo upakkamo hoti na tibbaṁ padhānaṁ, na tibbā tasmiṁ samaye opakkamikā dukkhā tibbā kaṭukā vedanā vediyetha. Evaṁ sante āyasmantānaṁ nigaṇṭhānaṁ na kallamassa veyyākaraṇāya: “yaṁ kiñcāyaṁ purisapuggalo paṭisaṁvedeti sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā, sabbaṁ taṁ pubbekatahetu. Iti purāṇānaṁ kammānaṁ tapasā byantībhāvā, navānaṁ kammānaṁ akaraṇā, āyatiṁ anavassavo; āyatiṁ anavassavā kammakkhayo; kammakkhayā dukkhakkhayo; dukkhakkhayā vedanākkhayo; vedanākkhayā sabbaṁ dukkhaṁ nijjiṇṇaṁ bhavissatī”ti.
Sace, āvuso nigaṇṭhā, yasmiṁ vo samaye tibbo upakkamo hoti tibbaṁ padhānaṁ, na tibbā tasmiṁ samaye opakkamikā dukkhā tibbā kaṭukā vedanā vediyetha; yasmiṁ pana vo samaye na tibbo upakkamo hoti na tibbaṁ padhānaṁ, tibbā tasmiṁ samaye opakkamikā dukkhā tibbā kaṭukā vedanā vediyetha; evaṁ sante āyasmantānaṁ nigaṇṭhānaṁ kallamassa veyyākaraṇāya: “yaṁ kiñcāyaṁ purisapuggalo paṭisaṁvedeti sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā, sabbaṁ taṁ pubbekatahetu. Iti purāṇānaṁ kammānaṁ tapasā byantībhāvā, navānaṁ kammānaṁ akaraṇā, āyatiṁ anavassavo; āyatiṁ anavassavā kammakkhayo; kammakkhayā dukkhakkhayo; dukkhakkhayā vedanākkhayo; vedanākkhayā sabbaṁ dukkhaṁ nijjiṇṇaṁ bhavissatī”ti.
‘So it seems that only at a time of intense exertion do you suffer painful, sharp feelings due to exertion, not without intense exertion. In that case, it’s not appropriate for the Jain venerables to declare: “Everything this individual person experiences—pleasurable, painful, or neutral—is because of past deeds. …”
If at a time of intense exertion you did not suffer painful, sharp feelings due to exertion, and if without intense exertion you did experience such feelings, it would be appropriate for the Jain venerables to declare this.
6. ‘Thưa các hiền hữu Ni-kiền-tử, như vậy, vào lúc các vị có sự nỗ lực mãnh liệt, có sự tinh tấn mãnh liệt, vào lúc ấy các vị cảm nhận những cảm thọ đau đớn, khốc liệt, dữ dội do sự nỗ lực ấy; và vào lúc các vị không có sự nỗ lực mãnh liệt, không có sự tinh tấn mãnh liệt, vào lúc ấy các vị không cảm nhận những cảm thọ đau đớn, khốc liệt, dữ dội do sự nỗ lực ấy. Khi sự việc là như vậy, thì việc các Tôn giả Ni-kiền-tử tuyên bố rằng: ‘Bất cứ điều gì mà cá nhân này cảm nhận, hoặc lạc, hoặc khổ, hoặc phi khổ phi lạc, tất cả điều ấy đều do nhân đã làm từ trước. Như vậy, do sự tiêu diệt các nghiệp cũ bằng khổ hạnh, do sự không làm các nghiệp mới, sẽ không có sự tuôn chảy trong tương lai; do không có sự tuôn chảy trong tương lai, nghiệp được đoạn tận; do nghiệp được đoạn tận, khổ được đoạn tận; do khổ được đoạn tận, thọ được đoạn tận; do thọ được đoạn tận, tất cả khổ sẽ được chấm dứt’ là không hợp lý. Thưa các hiền hữu Ni-kiền-tử, nếu vào lúc các vị có sự nỗ lực mãnh liệt, có sự tinh tấn mãnh liệt, vào lúc ấy các vị không cảm nhận những cảm thọ đau đớn, khốc liệt, dữ dội do sự nỗ lực ấy; và vào lúc các vị không có sự nỗ lực mãnh liệt, không có sự tinh tấn mãnh liệt, vào lúc ấy các vị lại cảm nhận những cảm thọ đau đớn, khốc liệt, dữ dội do sự nỗ lực ấy; khi sự việc là như vậy, thì việc các Tôn giả Ni-kiền-tử tuyên bố rằng: ‘Bất cứ điều gì mà cá nhân này cảm nhận, hoặc lạc, hoặc khổ, hoặc phi khổ phi lạc, tất cả điều ấy đều do nhân đã làm từ trước. Như vậy, do sự tiêu diệt các nghiệp cũ bằng khổ hạnh, do sự không làm các nghiệp mới, sẽ không có sự tuôn chảy trong tương lai; do không có sự tuôn chảy trong tương lai, nghiệp được đoạn tận; do nghiệp được đoạn tận, khổ được đoạn tận; do khổ được đoạn tận, thọ được đoạn tận; do thọ được đoạn tận, tất cả khổ sẽ được chấm dứt’ là hợp lý.’
Yasmā ca kho, āvuso nigaṇṭhā, yasmiṁ vo samaye tibbo upakkamo hoti tibbaṁ padhānaṁ, tibbā tasmiṁ samaye opakkamikā dukkhā tibbā kaṭukā vedanā vediyetha; yasmiṁ pana vo samaye na tibbo upakkamo hoti na tibbaṁ padhānaṁ, na tibbā tasmiṁ samaye opakkamikā dukkhā tibbā kaṭukā vedanā vediyetha; te tumhe sāmaṁyeva opakkamikā dukkhā tibbā kaṭukā vedanā vedayamānā avijjā aññāṇā sammohā vipaccetha: “yaṁ kiñcāyaṁ purisapuggalo paṭisaṁvedeti sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā, sabbaṁ taṁ pubbekatahetu. Iti purāṇānaṁ kammānaṁ tapasā byantībhāvā, navānaṁ kammānaṁ akaraṇā, āyatiṁ anavassavo; āyatiṁ anavassavā kammakkhayo; kammakkhayā dukkhakkhayo; dukkhakkhayā vedanākkhayo; vedanākkhayā sabbaṁ dukkhaṁ nijjiṇṇaṁ bhavissatī”’ti. Evaṁvādīpi kho ahaṁ, bhikkhave, nigaṇṭhesu na kañci sahadhammikaṁ vādapaṭihāraṁ samanupassāmi.
But since this is not the case, aren’t you experiencing painful, sharp feelings due only to your own exertion, which out of ignorance, unknowing, and confusion you misconstrue to imply: “Everything this individual person experiences—pleasurable, painful, or neutral—is because of past deeds. …”?’ When I said this, I did not see any legitimate defense of their doctrine from the Jains.
“Này các hiền hữu Nigaṇṭha, vì lẽ rằng khi các vị có sự nỗ lực mãnh liệt, sự tinh tấn mãnh liệt, vào lúc ấy các vị cảm thọ những khổ thọ mãnh liệt, đau đớn, do nỗ lực mà có; nhưng khi các vị không có sự nỗ lực mãnh liệt, không có sự tinh tấn mãnh liệt, vào lúc ấy các vị không cảm thọ những khổ thọ mãnh liệt, đau đớn, do nỗ lực mà có. Chính các vị, trong khi cảm thọ những nỗi khổ đau đớn do chính nỗ lực của mình gây ra, lại tin tưởng một cách sai lạc do vô minh, vô trí, si mê rằng: ‘Bất cứ điều gì con người này cảm thọ, dù lạc, hay khổ, hay bất khổ bất lạc, tất cả đều do nhân từ quá khứ. Như vậy, nhờ đoạn diệt các nghiệp cũ bằng khổ hạnh, nhờ không tạo nghiệp mới, sẽ không có sự tích lũy trong tương lai; do không tích lũy trong tương lai, nghiệp được đoạn tận; do nghiệp đoạn tận, khổ được đoạn tận; do khổ đoạn tận, thọ được đoạn tận; do thọ đoạn tận, tất cả khổ sẽ được tiêu trừ.’ Này các Tỳ-khưu, đối với những Nigaṇṭha có thuyết như vậy, Ta không thấy có một lý lẽ hợp đạo nào có thể phản bác được.”
Puna caparāhaṁ, bhikkhave, te nigaṇṭhe evaṁ vadāmi: ‘taṁ kiṁ maññathāvuso nigaṇṭhā, yamidaṁ kammaṁ diṭṭhadhammavedanīyaṁ taṁ upakkamena vā padhānena vā samparāyavedanīyaṁ hotūti labbhametan’ti?
‘No hidaṁ, āvuso’.
‘Yaṁ panidaṁ kammaṁ samparāyavedanīyaṁ taṁ upakkamena vā padhānena vā diṭṭhadhammavedanīyaṁ hotūti labbhametan’ti?
‘No hidaṁ, āvuso’.
‘Taṁ kiṁ maññathāvuso nigaṇṭhā, yamidaṁ kammaṁ sukhavedanīyaṁ taṁ upakkamena vā padhānena vā dukkhavedanīyaṁ hotūti labbhametan’ti?
‘No hidaṁ, āvuso’.
‘Yaṁ panidaṁ kammaṁ dukkhavedanīyaṁ taṁ upakkamena vā padhānena vā sukhavedanīyaṁ hotūti labbhametan’ti?
‘No hidaṁ, āvuso’.
‘Taṁ kiṁ maññathāvuso nigaṇṭhā, yamidaṁ kammaṁ paripakkavedanīyaṁ taṁ upakkamena vā padhānena vā aparipakkavedanīyaṁ hotūti labbhametan’ti?
‘No hidaṁ, āvuso’.
‘Yaṁ panidaṁ kammaṁ aparipakkavedanīyaṁ taṁ upakkamena vā padhānena vā paripakkavedanīyaṁ hotūti labbhametan’ti?
‘No hidaṁ, āvuso’.
‘Taṁ kiṁ maññathāvuso nigaṇṭhā, yamidaṁ kammaṁ bahuvedanīyaṁ taṁ upakkamena vā padhānena vā appavedanīyaṁ hotūti labbhametan’ti?
‘No hidaṁ, āvuso’.
‘Yaṁ panidaṁ kammaṁ appavedanīyaṁ taṁ upakkamena vā padhānena vā bahuvedanīyaṁ hotūti labbhametan’ti?
‘No hidaṁ, āvuso’.
‘Taṁ kiṁ maññathāvuso nigaṇṭhā, yamidaṁ kammaṁ savedanīyaṁ taṁ upakkamena vā padhānena vā avedanīyaṁ hotūti labbhametan’ti?
‘No hidaṁ, āvuso’.
‘Yaṁ panidaṁ kammaṁ avedanīyaṁ taṁ upakkamena vā padhānena vā savedanīyaṁ hotūti labbhametan’ti?
‘No hidaṁ, āvuso’.
Furthermore, I said to those Jain ascetics, ‘What do you think, reverends? If a deed is to be experienced in this life, can exertion make it be experienced in lives to come?’
‘No, reverend.’
‘But if a deed is to be experienced in lives to come, can exertion make it be experienced in this life?’
‘No, reverend.’
‘What do you think, reverends? If a deed is to be experienced as pleasant, can exertion make it be experienced as painful?’
‘No, reverend.’
‘But if a deed is to be experienced as painful, can exertion make it be experienced as pleasant?’
‘No, reverend.’
‘What do you think, reverends? If a deed is to be experienced when ripe, can exertion make it be experienced when unripe?’
‘No, reverend.’
‘But if a deed is to be experienced when unripe, can exertion make it be experienced when ripe?’
‘No, reverend.’
‘What do you think, reverends? If a deed is to be experienced a lot, can exertion make it be experienced a little?’
‘No, reverend.’
‘But if a deed is to be experienced a little, can exertion make it be experienced a lot?’
‘No, reverend.’
‘What do you think, reverends? If a deed is to be experienced, can exertion make it not be experienced?’
‘No, reverend.’
‘But if a deed is not to be experienced, can exertion make it be experienced?’
‘No, reverend.’
7. “Này các Tỳ khưu, lại nữa, Ta nói với các Nigantha ấy như sau: ‘Này chư hiền Nigantha, các vị nghĩ thế nào về điều này: nghiệp này, là nghiệp phải được cảm thọ trong hiện tại, có thể nào do nỗ lực hay tinh tấn mà trở thành nghiệp phải được cảm thọ trong tương lai không?’ ‘Thưa hiền giả, không thể được.’ ‘Còn nghiệp này, là nghiệp phải được cảm thọ trong tương lai, có thể nào do nỗ lực hay tinh tấn mà trở thành nghiệp phải được cảm thọ trong hiện tại không?’ ‘Thưa hiền giả, không thể được.’ ‘Này chư hiền Nigantha, các vị nghĩ thế nào về điều này: nghiệp này, là nghiệp phải được cảm thọ như lạc, có thể nào do nỗ lực hay tinh tấn mà trở thành nghiệp phải được cảm thọ như khổ không?’ ‘Thưa hiền giả, không thể được.’ ‘Còn nghiệp này, là nghiệp phải được cảm thọ như khổ, có thể nào do nỗ lực hay tinh tấn mà trở thành nghiệp phải được cảm thọ như lạc không?’ ‘Thưa hiền giả, không thể được.’ ‘Này chư hiền Nigantha, các vị nghĩ thế nào về điều này: nghiệp này, là nghiệp đã chín muồi để cảm thọ, có thể nào do nỗ lực hay tinh tấn mà trở thành nghiệp chưa chín muồi để cảm thọ không?’ ‘Thưa hiền giả, không thể được.’ ‘Còn nghiệp này, là nghiệp chưa chín muồi để cảm thọ, có thể nào do nỗ lực hay tinh tấn mà trở thành nghiệp đã chín muồi để cảm thọ không?’ ‘Thưa hiền giả, không thể được.’ ‘Này chư hiền Nigantha, các vị nghĩ thế nào về điều này: nghiệp này, là nghiệp phải được cảm thọ nhiều, có thể nào do nỗ lực hay tinh tấn mà trở thành nghiệp phải được cảm thọ ít không?’ ‘Thưa hiền giả, không thể được.’ ‘Còn nghiệp này, là nghiệp phải được cảm thọ ít, có thể nào do nỗ lực hay tinh tấn mà trở thành nghiệp phải được cảm thọ nhiều không?’ ‘Thưa hiền giả, không thể được.’ ‘Này chư hiền Nigantha, các vị nghĩ thế nào về điều này: nghiệp này, là nghiệp có thể cảm thọ, có thể nào do nỗ lực hay tinh tấn mà trở thành nghiệp không thể cảm thọ không?’ ‘Thưa hiền giả, không thể được.’ ‘Còn nghiệp này, là nghiệp không thể cảm thọ, có thể nào do nỗ lực hay tinh tấn mà trở thành nghiệp có thể cảm thọ không?’ ‘Thưa hiền giả, không thể được.’”
‘Iti kira, āvuso nigaṇṭhā, yamidaṁ kammaṁ diṭṭhadhammavedanīyaṁ taṁ upakkamena vā padhānena vā samparāyavedanīyaṁ hotūti alabbhametaṁ, yaṁ panidaṁ kammaṁ samparāyavedanīyaṁ taṁ upakkamena vā padhānena vā diṭṭhadhammavedanīyaṁ hotūti alabbhametaṁ, yamidaṁ kammaṁ sukhavedanīyaṁ taṁ upakkamena vā padhānena vā dukkhavedanīyaṁ hotūti alabbhametaṁ, yamidaṁ kammaṁ dukkhavedanīyaṁ taṁ upakkamena vā padhānena vā sukhavedanīyaṁ hotūti alabbhametaṁ, yamidaṁ kammaṁ paripakkavedanīyaṁ taṁ upakkamena vā padhānena vā aparipakkavedanīyaṁ hotūti alabbhametaṁ, yamidaṁ kammaṁ aparipakkavedanīyaṁ taṁ upakkamena vā padhānena vā paripakkavedanīyaṁ hotūti alabbhametaṁ, yamidaṁ kammaṁ bahuvedanīyaṁ taṁ upakkamena vā padhānena vā appavedanīyaṁ hotūti alabbhametaṁ, yamidaṁ kammaṁ appavedanīyaṁ taṁ upakkamena vā padhānena vā bahuvedanīyaṁ hotūti alabbhametaṁ, yamidaṁ kammaṁ savedanīyaṁ taṁ upakkamena vā padhānena vā avedanīyaṁ hotūti alabbhametaṁ, yamidaṁ kammaṁ avedanīyaṁ taṁ upakkamena vā padhānena vā savedanīyaṁ hotūti alabbhametaṁ; evaṁ sante āyasmantānaṁ nigaṇṭhānaṁ aphalo upakkamo hoti, aphalaṁ padhānaṁ’.
‘So it seems that exertion cannot change the way deeds are experienced in any of these ways. This being so, your exertion and striving are fruitless.’
8. “Này chư hiền Nigantha, như vậy, nghiệp này, là nghiệp phải được cảm thọ trong hiện tại, do nỗ lực hay tinh tấn mà trở thành nghiệp phải được cảm thọ trong tương lai, điều này là không thể được; còn nghiệp này, là nghiệp phải được cảm thọ trong tương lai, do nỗ lực hay tinh tấn mà trở thành nghiệp phải được cảm thọ trong hiện tại, điều này là không thể được; nghiệp này, là nghiệp phải được cảm thọ như lạc, do nỗ lực hay tinh tấn mà trở thành nghiệp phải được cảm thọ như khổ, điều này là không thể được; nghiệp này, là nghiệp phải được cảm thọ như khổ, do nỗ lực hay tinh tấn mà trở thành nghiệp phải được cảm thọ như lạc, điều này là không thể được; nghiệp này, là nghiệp đã chín muồi để cảm thọ, do nỗ lực hay tinh tấn mà trở thành nghiệp chưa chín muồi để cảm thọ, điều này là không thể được; nghiệp này, là nghiệp chưa chín muồi để cảm thọ, do nỗ lực hay tinh tấn mà trở thành nghiệp đã chín muồi để cảm thọ, điều này là không thể được; nghiệp này, là nghiệp phải được cảm thọ nhiều, do nỗ lực hay tinh tấn mà trở thành nghiệp phải được cảm thọ ít, điều này là không thể được; nghiệp này, là nghiệp phải được cảm thọ ít, do nỗ lực hay tinh tấn mà trở thành nghiệp phải được cảm thọ nhiều, điều này là không thể được; nghiệp này, là nghiệp có thể cảm thọ, do nỗ lực hay tinh tấn mà trở thành nghiệp không thể cảm thọ, điều này là không thể được; nghiệp này, là nghiệp không thể cảm thọ, do nỗ lực hay tinh tấn mà trở thành nghiệp có thể cảm thọ, điều này là không thể được. Khi sự việc là như vậy, sự nỗ lực của quý vị Nigantha là vô ích, sự tinh tấn là vô ích.”
Evaṁvādī, bhikkhave, nigaṇṭhā. Evaṁvādīnaṁ, bhikkhave, nigaṇṭhānaṁ dasa sahadhammikā vādānuvādā gārayhaṁ ṭhānaṁ āgacchanti.
Such is the doctrine of the Jain ascetics. Saying this, the Jain ascetics deserve rebuttal and criticism on ten legitimate grounds.
“Này các Tỳ khưu, các Nigantha có thuyết như vậy. Này các Tỳ khưu, đối với các Nigantha có thuyết như vậy, có mười luận điểm và tùy luận điểm hợp pháp đi đến chỗ đáng bị khiển trách.”
Sace, bhikkhave, sattā pubbekatahetu sukhadukkhaṁ paṭisaṁvedenti; addhā, bhikkhave, nigaṇṭhā pubbe dukkaṭakammakārino yaṁ etarahi evarūpā dukkhā tibbā kaṭukā vedanā vediyanti. Sace, bhikkhave, sattā issaranimmānahetu sukhadukkhaṁ paṭisaṁvedenti; addhā, bhikkhave, nigaṇṭhā pāpakena issarena nimmitā yaṁ etarahi evarūpā dukkhā tibbā kaṭukā vedanā vediyanti. Sace, bhikkhave, sattā saṅgatibhāvahetu sukhadukkhaṁ paṭisaṁvedenti; addhā, bhikkhave, nigaṇṭhā pāpasaṅgatikā yaṁ etarahi evarūpā dukkhā tibbā kaṭukā vedanā vediyanti. Sace, bhikkhave, sattā abhijātihetu sukhadukkhaṁ paṭisaṁvedenti; addhā, bhikkhave, nigaṇṭhā pāpābhijātikā yaṁ etarahi evarūpā dukkhā tibbā kaṭukā vedanā vediyanti. Sace, bhikkhave, sattā diṭṭhadhammūpakkamahetu sukhadukkhaṁ paṭisaṁvedenti; addhā, bhikkhave, nigaṇṭhā evarūpā diṭṭhadhammūpakkamā yaṁ etarahi evarūpā dukkhā tibbā kaṭukā vedanā vediyanti.
If sentient beings experience pleasure and pain because of past deeds, clearly the Jains have done bad deeds in the past, since they now experience such intense pain. If sentient beings experience pleasure and pain because of God Almighty’s creation, clearly the Jains were created by a bad God, since they now experience such intense pain. If sentient beings experience pleasure and pain because of circumstance and nature, clearly the Jains arise from bad circumstances, since they now experience such intense pain. If sentient beings experience pleasure and pain because of the class of rebirth, clearly the Jains have been reborn in a bad class, since they now experience such intense pain. If sentient beings experience pleasure and pain because of exertion in this life, clearly the Jains exert themselves badly in this life, since they now experience such intense pain.
9. Này các Tỳ khưu, nếu chúng sanh cảm thọ lạc và khổ do nhân đã được làm trong quá khứ; chắc chắn rằng, này các Tỳ khưu, các Ni-kiền-tử trong quá khứ đã là những người làm các hành vi xấu ác, vì rằng hiện tại họ cảm nhận những cảm thọ khổ đau, mãnh liệt, cay đắng như thế này. Này các Tỳ khưu, nếu chúng sanh cảm thọ lạc và khổ do nhân là sự sáng tạo của một vị chúa tể; chắc chắn rằng, này các Tỳ khưu, các Ni-kiền-tử đã được tạo ra bởi một vị chúa tể độc ác, vì rằng hiện tại họ cảm nhận những cảm thọ khổ đau, mãnh liệt, cay đắng như thế này. Này các Tỳ khưu, nếu chúng sanh cảm thọ lạc và khổ do nhân là bản chất của sự kết giao; chắc chắn rằng, này các Tỳ khưu, các Ni-kiền-tử đã có sự kết giao xấu ác, vì rằng hiện tại họ cảm nhận những cảm thọ khổ đau, mãnh liệt, cay đắng như thế này. Này các Tỳ khưu, nếu chúng sanh cảm thọ lạc và khổ do nhân là dòng dõi; chắc chắn rằng, này các Tỳ khưu, các Ni-kiền-tử thuộc dòng dõi xấu ác, vì rằng hiện tại họ cảm nhận những cảm thọ khổ đau, mãnh liệt, cay đắng như thế này. Này các Tỳ khưu, nếu chúng sanh cảm thọ lạc và khổ do nhân là sự nỗ lực trong hiện tại; chắc chắn rằng, này các Tỳ khưu, các Ni-kiền-tử có sự nỗ lực trong hiện tại như thế này, vì rằng hiện tại họ cảm nhận những cảm thọ khổ đau, mãnh liệt, cay đắng như thế này.
Sace, bhikkhave, sattā pubbekatahetu sukhadukkhaṁ paṭisaṁvedenti, gārayhā nigaṇṭhā; no ce sattā pubbekatahetu sukhadukkhaṁ paṭisaṁvedenti, gārayhā nigaṇṭhā. Sace, bhikkhave, sattā issaranimmānahetu sukhadukkhaṁ paṭisaṁvedenti, gārayhā nigaṇṭhā; no ce sattā issaranimmānahetu sukhadukkhaṁ paṭisaṁvedenti, gārayhā nigaṇṭhā. Sace, bhikkhave, sattā saṅgatibhāvahetu sukhadukkhaṁ paṭisaṁvedenti, gārayhā nigaṇṭhā; no ce sattā saṅgatibhāvahetu sukhadukkhaṁ paṭisaṁvedenti, gārayhā nigaṇṭhā. Sace, bhikkhave, sattā abhijātihetu sukhadukkhaṁ paṭisaṁvedenti, gārayhā nigaṇṭhā; no ce sattā abhijātihetu sukhadukkhaṁ paṭisaṁvedenti, gārayhā nigaṇṭhā. Sace, bhikkhave, sattā diṭṭhadhammūpakkamahetu sukhadukkhaṁ paṭisaṁvedenti, gārayhā nigaṇṭhā; no ce sattā diṭṭhadhammūpakkamahetu sukhadukkhaṁ paṭisaṁvedenti, gārayhā nigaṇṭhā. Evaṁvādī, bhikkhave, nigaṇṭhā. Evaṁvādīnaṁ, bhikkhave, nigaṇṭhānaṁ ime dasa sahadhammikā vādānuvādā gārayhaṁ ṭhānaṁ āgacchanti. Evaṁ kho, bhikkhave, aphalo upakkamo hoti, aphalaṁ padhānaṁ.
The Jains deserve criticism whether or not sentient beings experience pleasure and pain because of past deeds, or God Almighty’s creation, or circumstance and nature, or class of rebirth, or exertion in this life. Such is the doctrine of the Jain ascetics. The Jain ascetics who say this deserve rebuttal and criticism on these ten legitimate grounds. That’s how exertion and striving is fruitless.
Này các Tỳ khưu, nếu chúng sanh cảm thọ lạc và khổ do nhân đã được làm trong quá khứ, các Ni-kiền-tử đáng bị khiển trách; và nếu chúng sanh không cảm thọ lạc và khổ do nhân đã được làm trong quá khứ, các Ni-kiền-tử cũng đáng bị khiển trách. Này các Tỳ khưu, nếu chúng sanh cảm thọ lạc và khổ do nhân là sự sáng tạo của một vị chúa tể, các Ni-kiền-tử đáng bị khiển trách; và nếu chúng sanh không cảm thọ lạc và khổ do nhân là sự sáng tạo của một vị chúa tể, các Ni-kiền-tử cũng đáng bị khiển trách. Này các Tỳ khưu, nếu chúng sanh cảm thọ lạc và khổ do nhân là bản chất của sự kết giao, các Ni-kiền-tử đáng bị khiển trách; và nếu chúng sanh không cảm thọ lạc và khổ do nhân là bản chất của sự kết giao, các Ni-kiền-tử cũng đáng bị khiển trách. Này các Tỳ khưu, nếu chúng sanh cảm thọ lạc và khổ do nhân là dòng dõi, các Ni-kiền-tử đáng bị khiển trách; và nếu chúng sanh không cảm thọ lạc và khổ do nhân là dòng dõi, các Ni-kiền-tử cũng đáng bị khiển trách. Này các Tỳ khưu, nếu chúng sanh cảm thọ lạc và khổ do nhân là sự nỗ lực trong hiện tại, các Ni-kiền-tử đáng bị khiển trách; và nếu chúng sanh không cảm thọ lạc và khổ do nhân là sự nỗ lực trong hiện tại, các Ni-kiền-tử cũng đáng bị khiển trách. Này các Tỳ khưu, các Ni-kiền-tử là những người có thuyết như vậy. Này các Tỳ khưu, đối với các Ni-kiền-tử có thuyết như vậy, mười luận điểm và hệ luận hợp lý này dẫn đến chỗ đáng bị khiển trách. Như vậy, này các Tỳ khưu, sự nỗ lực trở thành vô quả, sự tinh tấn trở thành vô quả.
Kathañca, bhikkhave, saphalo upakkamo hoti, saphalaṁ padhānaṁ? Idha, bhikkhave, bhikkhu na heva anaddhabhūtaṁ attānaṁ dukkhena addhabhāveti, dhammikañca sukhaṁ na pariccajati, tasmiñca sukhe anadhimucchito hoti. So evaṁ pajānāti: ‘imassa kho me dukkhanidānassa saṅkhāraṁ padahato saṅkhārappadhānā virāgo hoti, imassa pana me dukkhanidānassa ajjhupekkhato upekkhaṁ bhāvayato virāgo hotī’ti. So yassa hi khvāssa dukkhanidānassa saṅkhāraṁ padahato saṅkhārappadhānā virāgo hoti, saṅkhāraṁ tattha padahati. Yassa panassa dukkhanidānassa ajjhupekkhato upekkhaṁ bhāvayato virāgo hoti, upekkhaṁ tattha bhāveti. Tassa tassa dukkhanidānassa saṅkhāraṁ padahato saṅkhārappadhānā virāgo hoti—evampissa taṁ dukkhaṁ nijjiṇṇaṁ hoti. Tassa tassa dukkhanidānassa ajjhupekkhato upekkhaṁ bhāvayato virāgo hoti—evampissa taṁ dukkhaṁ nijjiṇṇaṁ hoti.
And how is exertion and striving fruitful? It’s when a mendicant does not bring suffering upon themselves; and they don’t forsake legitimate pleasure, but they’re not besotted with that pleasure. They understand: ‘When I actively strive I become dispassionate toward this source of suffering. But when I develop equanimity I become dispassionate toward this other source of suffering.’ So they either actively strive or develop equanimity as appropriate. Through active striving they become dispassionate toward that specific source of suffering, and so that suffering is worn away. Through developing equanimity they become dispassionate toward that other source of suffering, and so that suffering is worn away.
10. Này các Tỳ khưu, thế nào là sự nỗ lực có kết quả, sự tinh tấn có kết quả? Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu không hành hạ tự thân vốn không bị hành hạ bằng sự khổ đau, không từ bỏ niềm vui hợp pháp, và không bị say đắm trong niềm vui ấy. Vị ấy biết như sau: ‘Khi ta nỗ lực tạo tác đối với nguồn gốc của sự khổ này, nhờ vào sự tinh tấn tạo tác mà sự ly tham khởi lên; hoặc khi ta buông xả và tu tập tâm xả đối với nguồn gốc của sự khổ này, sự ly tham khởi lên’. Vị ấy, đối với nguồn gốc của sự khổ nào mà khi nỗ lực tạo tác, nhờ vào sự tinh tấn tạo tác mà sự ly tham khởi lên, vị ấy nỗ lực tạo tác ở đó. Và đối với nguồn gốc của sự khổ nào mà khi buông xả và tu tập tâm xả, sự ly tham khởi lên, vị ấy tu tập tâm xả ở đó. Khi vị ấy nỗ lực tạo tác đối với nguồn gốc của sự khổ đó, nhờ vào sự tinh tấn tạo tác mà sự ly tham khởi lên – như vậy sự khổ đó của vị ấy được tiêu trừ. Khi vị ấy buông xả và tu tập tâm xả đối với nguồn gốc của sự khổ đó, sự ly tham khởi lên – như vậy sự khổ đó của vị ấy được tiêu trừ.
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso itthiyā sāratto paṭibaddhacitto tibbacchando tibbāpekkho. So taṁ itthiṁ passeyya aññena purisena saddhiṁ santiṭṭhantiṁ sallapantiṁ sañjagghantiṁ saṁhasantiṁ.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, api nu tassa purisassa amuṁ itthiṁ disvā aññena purisena saddhiṁ santiṭṭhantiṁ sallapantiṁ sañjagghantiṁ saṁhasantiṁ uppajjeyyuṁ sokaparidevadukkhadomanassūpāyāsā”ti?
“Evaṁ, bhante”. “Taṁ kissa hetu”? “Amu hi, bhante, puriso amussā itthiyā sāratto paṭibaddhacitto tibbacchando tibbāpekkho. Tasmā taṁ itthiṁ disvā aññena purisena saddhiṁ santiṭṭhantiṁ sallapantiṁ sañjagghantiṁ saṁhasantiṁ uppajjeyyuṁ sokaparidevadukkhadomanassūpāyāsā”ti.
“Atha kho, bhikkhave, tassa purisassa evamassa: ‘ahaṁ kho amussā itthiyā sāratto paṭibaddhacitto tibbacchando tibbāpekkho. Tassa me amuṁ itthiṁ disvā aññena purisena saddhiṁ santiṭṭhantiṁ sallapantiṁ sañjagghantiṁ saṁhasantiṁ uppajjanti sokaparidevadukkhadomanassūpāyāsā. Yannūnāhaṁ yo me amussā itthiyā chandarāgo taṁ pajaheyyan’ti. So yo amussā itthiyā chandarāgo taṁ pajaheyya. So taṁ itthiṁ passeyya aparena samayena aññena purisena saddhiṁ santiṭṭhantiṁ sallapantiṁ sañjagghantiṁ saṁhasantiṁ.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, api nu tassa purisassa amuṁ itthiṁ disvā aññena purisena saddhiṁ santiṭṭhantiṁ sallapantiṁ sañjagghantiṁ saṁhasantiṁ uppajjeyyuṁ sokaparidevadukkhadomanassūpāyāsā”ti?
“No hetaṁ, bhante”. “Taṁ kissa hetu”? “Amu hi, bhante, puriso amussā itthiyā virāgo. Tasmā taṁ itthiṁ disvā aññena purisena saddhiṁ santiṭṭhantiṁ sallapantiṁ sañjagghantiṁ saṁhasantiṁ na uppajjeyyuṁ sokaparidevadukkhadomanassūpāyāsā”ti.
Suppose a man is in love with a woman, full of intense desire and lust. Then he sees her standing together with another man, chatting, giggling, and laughing.
What do you think, mendicants? Would that give rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress for him?”
“Yes, sir. Why is that? Because that man is in love with that woman, full of intense desire and lust.”
“Then that man might think: ‘I’m in love with that woman, full of intense desire and lust. When I saw her standing together with another man, chatting, giggling, and laughing, it gave rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress for me. Why don’t I give up that desire and lust for that woman?’ So that’s what he did. Some time later he sees her again standing together with another man, chatting, giggling, and laughing.
What do you think, mendicants? Would that give rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress for him?”
“No, sir. Why is that? Because he no longer desires that woman.”
11. “Này các Tỳ khưu, ví như có người đàn ông say đắm một người phụ nữ, tâm bị trói buộc, có ước muốn mãnh liệt, có khát khao mãnh liệt. Người ấy có thể nhìn thấy người phụ nữ ấy đang đứng, đang trò chuyện, đang cười đùa, đang mỉm cười cùng với một người đàn ông khác. Này các Tỳ khưu, các ông nghĩ thế nào? Có phải rằng khi người đàn ông ấy nhìn thấy người phụ nữ nọ đang đứng, đang trò chuyện, đang cười đùa, đang mỉm cười cùng với một người đàn ông khác, sầu, bi, khổ, ưu, não sẽ khởi lên nơi người ấy không?” “Thưa vâng, bạch Thế Tôn.” “Vì sao vậy?” “Bạch Thế Tôn, vì người đàn ông nọ say đắm người phụ nữ kia, tâm bị trói buộc, có ước muốn mãnh liệt, có khát khao mãnh liệt. Do đó, khi nhìn thấy người phụ nữ ấy đang đứng, đang trò chuyện, đang cười đùa, đang mỉm cười cùng với một người đàn ông khác, sầu, bi, khổ, ưu, não sẽ khởi lên nơi người ấy.” “Rồi này các Tỳ khưu, người đàn ông ấy có thể suy nghĩ như sau: ‘Ta say đắm người phụ nữ kia, tâm bị trói buộc, có ước muốn mãnh liệt, có khát khao mãnh liệt. Vì ta nhìn thấy người phụ nữ nọ đang đứng, đang trò chuyện, đang cười đùa, đang mỉm cười cùng với một người đàn ông khác, nên sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên nơi ta. Vậy ta nên từ bỏ dục tham đối với người phụ nữ kia.’ Người ấy bèn từ bỏ dục tham đối với người phụ nữ kia. Vào một lúc khác, người ấy có thể nhìn thấy người phụ nữ ấy đang đứng, đang trò chuyện, đang cười đùa, đang mỉm cười cùng với một người đàn ông khác. Này các Tỳ khưu, các ông nghĩ thế nào? Có phải rằng khi người đàn ông ấy nhìn thấy người phụ nữ nọ đang đứng, đang trò chuyện, đang cười đùa, đang mỉm cười cùng với một người đàn ông khác, sầu, bi, khổ, ưu, não sẽ khởi lên nơi người ấy không?” “Thưa không, bạch Thế Tôn.” “Vì sao vậy?” “Bạch Thế Tôn, vì người đàn ông nọ đã ly tham đối với người phụ nữ kia. Do đó, khi nhìn thấy người phụ nữ ấy đang đứng, đang trò chuyện, đang cười đùa, đang mỉm cười cùng với một người đàn ông khác, sầu, bi, khổ, ưu, não sẽ không khởi lên nơi người ấy.”
“Evameva kho, bhikkhave, bhikkhu na heva anaddhabhūtaṁ attānaṁ dukkhena addhabhāveti, dhammikañca sukhaṁ na pariccajati, tasmiñca sukhe anadhimucchito hoti. So evaṁ pajānāti: ‘imassa kho me dukkhanidānassa saṅkhāraṁ padahato saṅkhārappadhānā virāgo hoti, imassa pana me dukkhanidānassa ajjhupekkhato upekkhaṁ bhāvayato virāgo hotī’ti. So yassa hi khvāssa dukkhanidānassa saṅkhāraṁ padahato saṅkhārappadhānā virāgo hoti, saṅkhāraṁ tattha padahati; yassa panassa dukkhanidānassa ajjhupekkhato upekkhaṁ bhāvayato virāgo hoti, upekkhaṁ tattha bhāveti. Tassa tassa dukkhanidānassa saṅkhāraṁ padahato saṅkhārappadhānā virāgo hoti—evampissa taṁ dukkhaṁ nijjiṇṇaṁ hoti. Tassa tassa dukkhanidānassa ajjhupekkhato upekkhaṁ bhāvayato virāgo hoti—evampissa taṁ dukkhaṁ nijjiṇṇaṁ hoti. Evampi, bhikkhave, saphalo upakkamo hoti, saphalaṁ padhānaṁ.
“In the same way, a mendicant does not bring suffering upon themselves; and they don’t forsake legitimate pleasure, but they’re not besotted with that pleasure. They understand: ‘When I actively strive I become dispassionate toward this source of suffering. But when I develop equanimity I become dispassionate toward this other source of suffering.’ So they either actively strive or develop equanimity as appropriate. Through active striving they become dispassionate toward that specific source of suffering, and so that suffering is worn away. Through developing equanimity they become dispassionate toward that other source of suffering, and so that suffering is worn away. That’s how exertion and striving is fruitful.
“Cũng vậy, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu không hành hạ tự thân vốn không bị hành hạ bằng khổ đau, không từ bỏ lạc thú đúng pháp, và không bị say đắm trong lạc thú ấy. Vị ấy biết rõ như sau: ‘Khi ta nỗ lực tinh tấn đối với nhân sanh khổ này, sự ly tham sanh khởi do sự tinh tấn nỗ lực. Hoặc khi ta xả ly và tu tập tâm xả đối với nhân sanh khổ này, sự ly tham sanh khởi.’ Do đó, đối với nhân sanh khổ nào mà sự ly tham sanh khởi nhờ nỗ lực tinh tấn, vị ấy nỗ lực tinh tấn ở đó; còn đối với nhân sanh khổ nào mà sự ly tham sanh khởi nhờ xả ly và tu tập tâm xả, vị ấy tu tập tâm xả ở đó. Khi vị ấy nỗ lực tinh tấn đối với nhân sanh khổ ấy, sự ly tham sanh khởi do sự tinh tấn nỗ lực – như vậy, khổ đau ấy của vị ấy được đoạn trừ. Khi vị ấy xả ly và tu tập tâm xả đối với nhân sanh khổ ấy, sự ly tham sanh khởi – như vậy, khổ đau ấy của vị ấy được đoạn trừ. Này các Tỳ khưu, như vậy, sự nỗ lực có kết quả, sự tinh tấn có kết quả.”
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu iti paṭisañcikkhati: ‘yathāsukhaṁ kho me viharato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti; dukkhāya pana me attānaṁ padahato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti. Yannūnāhaṁ dukkhāya attānaṁ padaheyyan’ti. So dukkhāya attānaṁ padahati. Tassa dukkhāya attānaṁ padahato akusalā dhammā parihāyanti kusalā dhammā abhivaḍḍhanti. So na aparena samayena dukkhāya attānaṁ padahati. Taṁ kissa hetu? Yassa hi so, bhikkhave, bhikkhu atthāya dukkhāya attānaṁ padaheyya svāssa attho abhinipphanno hoti. Tasmā na aparena samayena dukkhāya attānaṁ padahati.
Seyyathāpi, bhikkhave, usukāro tejanaṁ dvīsu alātesu ātāpeti paritāpeti ujuṁ karoti kammaniyaṁ. Yato kho, bhikkhave, usukārassa tejanaṁ dvīsu alātesu ātāpitaṁ hoti paritāpitaṁ ujuṁ kataṁ kammaniyaṁ, na so taṁ aparena samayena usukāro tejanaṁ dvīsu alātesu ātāpeti paritāpeti ujuṁ karoti kammaniyaṁ. Taṁ kissa hetu? Yassa hi so, bhikkhave, atthāya usukāro tejanaṁ dvīsu alātesu ātāpeyya paritāpeyya ujuṁ kareyya kammaniyaṁ svāssa attho abhinipphanno hoti. Tasmā na aparena samayena usukāro tejanaṁ dvīsu alātesu ātāpeti paritāpeti ujuṁ karoti kammaniyaṁ.
Evameva kho, bhikkhave, bhikkhu iti paṭisañcikkhati: ‘yathāsukhaṁ kho me viharato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti; dukkhāya pana me attānaṁ padahato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti. Yannūnāhaṁ dukkhāya attānaṁ padaheyyan’ti. So dukkhāya attānaṁ padahati. Tassa dukkhāya attānaṁ padahato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti. So na aparena samayena dukkhāya attānaṁ padahati. Taṁ kissa hetu? Yassa hi so, bhikkhave, bhikkhu atthāya dukkhāya attānaṁ padaheyya svāssa attho abhinipphanno hoti. Tasmā na aparena samayena dukkhāya attānaṁ padahati. Evampi, bhikkhave, saphalo upakkamo hoti, saphalaṁ padhānaṁ.
Furthermore, a mendicant reflects: ‘When I live as I please, unskillful qualities grow and skillful qualities decline. But when I strive painfully, unskillful qualities decline and skillful qualities grow. Why don’t I strive painfully?’ So that’s what they do, and as they do so unskillful qualities decline and skillful qualities grow. After some time, they no longer strive painfully. Why is that? Because they have accomplished the goal for which they strived painfully.
Suppose a fletcher was heating an arrow shaft between two firebrands, making it straight and fit for use. After it’s been made straight and fit for use, they’d no longer heat it to make it straight and fit for use. Why is that? Because they have accomplished the goal for which they heated it.
In the same way, a mendicant reflects: ‘When I live as I please, unskillful qualities grow and skillful qualities decline. But when I strive painfully, unskillful qualities decline and skillful qualities grow. Why don’t I strive painfully?’ … After some time, they no longer strive painfully. That too is how exertion and striving is fruitful.
12. Này các Tỳ khưu, lại nữa, vị Tỳ khưu suy xét như sau: ‘Khi ta sống an lạc, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện suy giảm; nhưng khi ta nỗ lực trong khổ đau, các pháp bất thiện suy giảm, các pháp thiện tăng trưởng. Vậy ta hãy nỗ lực trong khổ đau.’ Vị ấy nỗ lực trong khổ đau. Khi vị ấy nỗ lực trong khổ đau, các pháp bất thiện suy giảm, các pháp thiện tăng trưởng. Vào một thời gian sau, vị ấy không còn nỗ lực trong khổ đau nữa. Vì sao vậy? Này các Tỳ khưu, vì mục đích mà vị Tỳ khưu ấy đã nỗ lực trong khổ đau, mục đích ấy đã được thành tựu. Do đó, vào một thời gian sau, vị ấy không còn nỗ lực trong khổ đau nữa. Này các Tỳ khưu, ví như người thợ làm tên hơ nóng mũi tên trên hai ngọn lửa, hơ xung quanh, làm cho nó ngay thẳng và dễ sử dụng. Này các Tỳ khưu, khi mũi tên của người thợ làm tên đã được hơ nóng trên hai ngọn lửa, hơ xung quanh, làm cho ngay thẳng và dễ sử dụng, thì vào một thời gian sau, người thợ làm tên ấy không còn hơ nóng mũi tên đó trên hai ngọn lửa, hơ xung quanh, làm cho nó ngay thẳng và dễ sử dụng nữa. Vì sao vậy? Này các Tỳ khưu, vì mục đích mà người thợ làm tên đã hơ nóng mũi tên trên hai ngọn lửa, hơ xung quanh, làm cho nó ngay thẳng và dễ sử dụng, mục đích ấy đã được thành tựu. Do đó, vào một thời gian sau, người thợ làm tên không còn hơ nóng mũi tên trên hai ngọn lửa, hơ xung quanh, làm cho nó ngay thẳng và dễ sử dụng nữa. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu suy xét như sau: ‘Khi ta sống an lạc, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện suy giảm; nhưng khi ta nỗ lực trong khổ đau, các pháp bất thiện suy giảm, các pháp thiện tăng trưởng. Vậy ta hãy nỗ lực trong khổ đau.’ Vị ấy nỗ lực trong khổ đau. Khi vị ấy nỗ lực trong khổ đau, các pháp bất thiện suy giảm, các pháp thiện tăng trưởng. Vào một thời gian sau, vị ấy không còn nỗ lực trong khổ đau nữa. Vì sao vậy? Này các Tỳ khưu, vì mục đích mà vị Tỳ khưu ấy đã nỗ lực trong khổ đau, mục đích ấy đã được thành tựu. Do đó, vào một thời gian sau, vị ấy không còn nỗ lực trong khổ đau nữa. Này các Tỳ khưu, như vậy, sự nỗ lực có kết quả, sự tinh tấn có kết quả.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idha tathāgato loke uppajjati arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā. So imaṁ lokaṁ sadevakaṁ samārakaṁ sabrahmakaṁ sassamaṇabrāhmaṇiṁ pajaṁ sadevamanussaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedeti. So dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāseti.
Taṁ dhammaṁ suṇāti gahapati vā gahapatiputto vā aññatarasmiṁ vā kule paccājāto. So taṁ dhammaṁ sutvā tathāgate saddhaṁ paṭilabhati. So tena saddhāpaṭilābhena samannāgato iti paṭisañcikkhati: ‘sambādho gharāvāso rajāpatho, abbhokāso pabbajjā. Nayidaṁ sukaraṁ agāraṁ ajjhāvasatā ekantaparipuṇṇaṁ ekantaparisuddhaṁ saṅkhalikhitaṁ brahmacariyaṁ carituṁ. Yannūnāhaṁ kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajeyyan’ti. So aparena samayena appaṁ vā bhogakkhandhaṁ pahāya mahantaṁ vā bhogakkhandhaṁ pahāya, appaṁ vā ñātiparivaṭṭaṁ pahāya mahantaṁ vā ñātiparivaṭṭaṁ pahāya kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajati.
Furthermore, a Realized One arises in the world, perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed. He has realized with his own insight this world—with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, gods and humans—and he makes it known to others. He teaches Dhamma that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And he reveals a spiritual practice that’s entirely full and pure.
A householder hears that teaching, or a householder’s child, or someone reborn in a good family. They gain faith in the Realized One, and reflect: ‘Life at home is cramped and dirty, life gone forth is wide open. It’s not easy for someone living at home to lead the spiritual life utterly full and pure, like a polished shell. Why don’t I shave off my hair and beard, dress in ocher robes, and go forth from the lay life to homelessness?’ After some time they give up a large or small fortune, and a large or small family circle. They shave off hair and beard, dress in ocher robes, and go forth from the lay life to homelessness.
13. Này các Tỳ khưu, lại nữa, ở đời này, một vị Như Lai xuất hiện, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Vị ấy, sau khi tự mình chứng ngộ với thắng trí, đã tuyên thuyết thế giới này cùng với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài người. Vị ấy thuyết giảng giáo pháp toàn thiện ở phần đầu, toàn thiện ở phần giữa, toàn thiện ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn cú; trình bày đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch. Một người gia chủ, hoặc con của gia chủ, hoặc một người sinh trong một gia đình nào khác, được nghe giáo pháp ấy. Sau khi nghe giáo pháp ấy, người ấy có được niềm tin nơi Như Lai. Với niềm tin đã có được, người ấy suy xét như sau: ‘Đời sống tại gia thì chật hẹp, là con đường của bụi bặm; đời sống xuất gia thì như hư không. Thật không dễ dàng cho người sống tại gia có thể thực hành đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn trong sạch, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp y ca-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.’ Vào một thời gian sau, người ấy từ bỏ tài sản, dù ít hay nhiều; từ bỏ quyến thuộc, dù ít hay nhiều; cạo bỏ râu tóc, đắp y ca-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
So evaṁ pabbajito samāno bhikkhūnaṁ sikkhāsājīvasamāpanno pāṇātipātaṁ pahāya pāṇātipātā paṭivirato hoti nihitadaṇḍo nihitasattho, lajjī dayāpanno sabbapāṇabhūtahitānukampī viharati. Adinnādānaṁ pahāya adinnādānā paṭivirato hoti dinnādāyī dinnapāṭikaṅkhī, athenena sucibhūtena attanā viharati. Abrahmacariyaṁ pahāya brahmacārī hoti ārācārī virato methunā gāmadhammā. Musāvādaṁ pahāya musāvādā paṭivirato hoti saccavādī saccasandho theto paccayiko avisaṁvādako lokassa. Pisuṇaṁ vācaṁ pahāya pisuṇāya vācāya paṭivirato hoti; ito sutvā na amutra akkhātā imesaṁ bhedāya, amutra vā sutvā na imesaṁ akkhātā amūsaṁ bhedāya—iti bhinnānaṁ vā sandhātā sahitānaṁ vā anuppadātā samaggārāmo samaggarato samagganandī samaggakaraṇiṁ vācaṁ bhāsitā hoti. Pharusaṁ vācaṁ pahāya pharusāya vācāya paṭivirato hoti; yā sā vācā nelā kaṇṇasukhā pemanīyā hadayaṅgamā porī bahujanakantā bahujanamanāpā tathārūpiṁ vācaṁ bhāsitā hoti. Samphappalāpaṁ pahāya samphappalāpā paṭivirato hoti kālavādī bhūtavādī atthavādī dhammavādī vinayavādī, nidhānavatiṁ vācaṁ bhāsitā kālena sāpadesaṁ pariyantavatiṁ atthasaṁhitaṁ. So bījagāmabhūtagāmasamārambhā paṭivirato hoti. Ekabhattiko hoti rattūparato virato vikālabhojanā. Naccagītavāditavisūkadassanā paṭivirato hoti. Mālāgandhavilepanadhāraṇamaṇḍanavibhūsanaṭṭhānā paṭivirato hoti. Uccāsayanamahāsayanā paṭivirato hoti. Jātarūparajatapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti. Āmakadhaññapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti. Āmakamaṁsapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti. Itthikumārikapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti. Dāsidāsapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti. Ajeḷakapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti. Kukkuṭasūkarapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti. Hatthigavassavaḷavapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti. Khettavatthupaṭiggahaṇā paṭivirato hoti. Dūteyyapahiṇagamanānuyogā paṭivirato hoti. Kayavikkayā paṭivirato hoti. Tulākūṭakaṁsakūṭamānakūṭā paṭivirato hoti. Ukkoṭanavañcananikatisāciyogā paṭivirato hoti. Chedanavadhabandhanaviparāmosaālopasahasākārā paṭivirato hoti.
Once they’ve gone forth, they take up the training and livelihood of the mendicants. They give up killing living creatures, renouncing the rod and the sword. They’re scrupulous and kind, living full of sympathy for all living beings. They give up stealing. They take only what’s given, and expect only what’s given. They keep themselves clean by not thieving. They give up unchastity. They are chaste, set apart, refraining from the vulgar act of sex. They give up lying. They speak the truth and stick to the truth. They’re honest and dependable, and don’t trick the world with their words. They give up backbiting. They don’t repeat in one place what they heard in another so as to divide people against each other. Instead, they reconcile those who are divided and support those who are united, delighting in harmony, loving harmony, speaking words that promote harmony. They give up harsh speech. They speak in a way that’s mellow, pleasing to the ear, endearing, going to the heart, polite, and likable and agreeable to the people. They give up talking nonsense. Their words are timely, true, and meaningful, in line with the teaching and training. They say things at the right time which are valuable, reasonable, succinct, and beneficial. They refrain from injuring plants and seeds. They eat in one part of the day, abstaining from eating at night and food at the wrong time. They refrain from seeing shows of dancing, singing, and music. They refrain from attiring and adorning themselves with garlands, fragrance, and makeup. They refrain from high and luxurious beds. They refrain from receiving gold and currency, raw grains, raw meat, women and girls, male and female bondservants, goats and sheep, chickens and pigs, elephants, cows, horses, and mares, and fields and land. They refrain from running errands and messages; buying and selling; falsifying weights, metals, or measures; bribery, fraud, cheating, and duplicity; mutilation, murder, abduction, banditry, plunder, and violence.
14. Vị ấy, sau khi xuất gia như vậy, đã thành tựu học giới và đời sống của các Tỳ khưu, từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, đã bỏ trượng, bỏ đao, có lòng tàm, có lòng bi, sống với lòng thương xót đến lợi ích của tất cả chúng sanh hữu tình. Vị ấy từ bỏ việc lấy của không cho, tránh xa việc lấy của không cho, chỉ nhận vật đã được cho, chỉ mong đợi vật đã được cho, sống với tự thân trong sạch, không trộm cắp. Vị ấy từ bỏ hành vi không phạm hạnh, sống đời phạm hạnh, sống xa lìa, từ bỏ hành vi dâm dục, là pháp của thế gian. Vị ấy từ bỏ lời nói dối, tránh xa lời nói dối, là người nói lời chân thật, kết hợp lời chân thật, nói lời chắc chắn, đáng tin cậy, không lừa dối thế gian. Vị ấy từ bỏ lời nói đâm thọc, tránh xa lời nói đâm thọc; nghe điều gì ở đây, không đi nói ở nơi kia để gây chia rẽ những người này; hoặc nghe điều gì ở nơi kia, không đi nói lại với những người này để gây chia rẽ những người kia – như vậy, vị ấy là người hàn gắn những ai đã chia rẽ, hoặc củng cố những ai đã hòa hợp, vui thích trong sự hòa hợp, hoan hỷ trong sự hòa hợp, phấn khởi trong sự hòa hợp, chỉ nói những lời tạo ra sự hòa hợp. Vị ấy từ bỏ lời nói thô ác, tránh xa lời nói thô ác; vị ấy chỉ nói những lời không lỗi lầm, êm tai, dễ thương, đi vào lòng người, lịch sự, được nhiều người ưa thích, được nhiều người hài lòng. Vị ấy từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù phiếm, là người nói đúng lúc, nói đúng sự thật, nói lời có ích, nói lời đúng Pháp, nói lời đúng Luật; vị ấy nói những lời đáng được ghi nhớ, có dẫn chứng, có giới hạn, và hợp với lợi ích vào đúng thời điểm. Vị ấy tránh xa việc phá hoại các loại hạt giống và cây cối. Vị ấy dùng bữa một lần, không ăn ban đêm, từ bỏ việc ăn sai thời. Vị ấy tránh xa việc xem múa, hát, nhạc, và các buổi trình diễn. Vị ấy tránh xa việc trang điểm, trang sức bằng cách đeo vòng hoa, thoa hương liệu và dầu thơm. Vị ấy tránh xa các loại giường ghế cao và lớn. Vị ấy tránh xa việc nhận vàng và bạc. Vị ấy tránh xa việc nhận ngũ cốc tươi. Vị ấy tránh xa việc nhận thịt tươi. Vị ấy tránh xa việc nhận phụ nữ và thiếu nữ. Vị ấy tránh xa việc nhận nô tỳ nam và nữ. Vị ấy tránh xa việc nhận dê và cừu. Vị ấy tránh xa việc nhận gà và heo. Vị ấy tránh xa việc nhận voi, bò, ngựa, và lừa. Vị ấy tránh xa việc nhận ruộng nương và đất đai. Vị ấy tránh xa việc làm người đưa tin và sứ giả. Vị ấy tránh xa việc mua và bán. Vị ấy tránh xa việc gian lận bằng cân, tiền, và thước đo. Vị ấy tránh xa các hành vi quanh co như nhận hối lộ, lừa đảo, và gian trá. Vị ấy tránh xa việc chặt, giết, trói, cướp bóc, cướp phá làng mạc, và các hành vi bạo lực.
So santuṭṭho hoti kāyaparihārikena cīvarena, kucchiparihārikena piṇḍapātena. So yena yeneva pakkamati samādāyeva pakkamati. Seyyathāpi nāma pakkhī sakuṇo yena yeneva ḍeti sapattabhārova ḍeti; evameva bhikkhu santuṭṭho hoti kāyaparihārikena cīvarena, kucchiparihārikena piṇḍapātena; so yena yeneva pakkamati samādāyeva pakkamati. So iminā ariyena sīlakkhandhena samannāgato ajjhattaṁ anavajjasukhaṁ paṭisaṁvedeti.
They’re content with robes to look after the body and almsfood to look after the belly. Wherever they go, they set out taking only these things. They’re like a bird: wherever it flies, wings are its only burden. In the same way, a mendicant is content with robes to look after the body and almsfood to look after the belly. Wherever they go, they set out taking only these things. When they have this spectrum of noble ethics, they experience a blameless happiness inside themselves.
Vị ấy biết đủ với y phục để che thân, với vật thực để nuôi bụng. Vị ấy đi bất cứ nơi đâu, cũng chỉ mang theo (y bát) của mình. Ví như con chim bay đi bất cứ nơi đâu, nó chỉ mang theo đôi cánh của mình làm hành trang; cũng vậy, Tỳ khưu biết đủ với y phục để che thân, với vật thực để nuôi bụng; vị ấy đi bất cứ nơi đâu, cũng chỉ mang theo (y bát) của mình. Vị ấy, sau khi đã thành tựu uẩn giới cao thượng này, cảm nhận được niềm hạnh phúc không thể chê trách ở nội tâm.
So cakkhunā rūpaṁ disvā na nimittaggāhī hoti nānubyañjanaggāhī. Yatvādhikaraṇamenaṁ cakkhundriyaṁ asaṁvutaṁ viharantaṁ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṁ tassa saṁvarāya paṭipajjati, rakkhati cakkhundriyaṁ, cakkhundriye saṁvaraṁ āpajjati. Sotena saddaṁ sutvā …pe… ghānena gandhaṁ ghāyitvā …pe… jivhāya rasaṁ sāyitvā …pe… kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā …pe… manasā dhammaṁ viññāya na nimittaggāhī hoti nānubyañjanaggāhī. Yatvādhikaraṇamenaṁ manindriyaṁ asaṁvutaṁ viharantaṁ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṁ tassa saṁvarāya paṭipajjati, rakkhati manindriyaṁ, manindriye saṁvaraṁ āpajjati. So iminā ariyena indriyasaṁvarena samannāgato ajjhattaṁ abyāsekasukhaṁ paṭisaṁvedeti.
When they see a sight with their eyes, they don’t get caught up in the features and details. If the faculty of sight were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, they practice restraint, protecting the faculty of sight, and achieving its restraint. When they hear a sound with their ears … When they smell an odor with their nose … When they taste a flavor with their tongue … When they feel a touch with their body … When they know an idea with their mind, they don’t get caught up in the features and details. If the faculty of mind were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, they practice restraint, protecting the faculty of mind, and achieving its restraint. When they have this noble sense restraint, they experience an unsullied bliss inside themselves.
15. Vị ấy, sau khi thấy một sắc pháp bằng mắt, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Bởi vì, nếu vị ấy sống không chế ngự nhãn căn, các pháp ác, bất thiện như tham ái và ưu phiền sẽ xâm chiếm, nên vị ấy thực hành để chế ngự nó, bảo vệ nhãn căn, đạt đến sự chế ngự trong nhãn căn. Sau khi nghe một âm thanh bằng tai... Sau khi ngửi một mùi hương bằng mũi... Sau khi nếm một vị bằng lưỡi... Sau khi cảm nhận một xúc chạm bằng thân... Sau khi nhận biết một pháp bằng ý, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Bởi vì, nếu vị ấy sống không chế ngự ý căn, các pháp ác, bất thiện như tham ái và ưu phiền sẽ xâm chiếm, nên vị ấy thực hành để chế ngự nó, bảo vệ ý căn, đạt đến sự chế ngự trong ý căn. Vị ấy, sau khi đã thành tựu sự chế ngự các căn cao thượng này, cảm nhận được niềm hạnh phúc không bị phiền não quấy nhiễu ở nội tâm.
So abhikkante paṭikkante sampajānakārī hoti, ālokite vilokite sampajānakārī hoti, samiñjite pasārite sampajānakārī hoti, saṅghāṭipattacīvaradhāraṇe sampajānakārī hoti, asite pīte khāyite sāyite sampajānakārī hoti, uccārapassāvakamme sampajānakārī hoti, gate ṭhite nisinne sutte jāgarite bhāsite tuṇhībhāve sampajānakārī hoti.
They act with situational awareness when going out and coming back; when looking ahead and aside; when bending and extending the limbs; when bearing the outer robe, bowl and robes; when eating, drinking, chewing, and tasting; when urinating and defecating; when walking, standing, sitting, sleeping, waking, speaking, and keeping silent.
Vị ấy hành động với sự tỉnh giác khi đi tới, khi đi lui; hành động với sự tỉnh giác khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh; hành động với sự tỉnh giác khi co tay, khi duỗi tay; hành động với sự tỉnh giác khi mang y tăng-già-lê, bát và y; hành động với sự tỉnh giác khi ăn, uống, nhai, nếm; hành động với sự tỉnh giác khi đại tiện, tiểu tiện; hành động với sự tỉnh giác khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, im lặng.
So iminā ca ariyena sīlakkhandhena samannāgato, imāya ca ariyāya santuṭṭhiyā samannāgato, iminā ca ariyena indriyasaṁvarena samannāgato, iminā ca ariyena satisampajaññena samannāgato vivittaṁ senāsanaṁ bhajati araññaṁ rukkhamūlaṁ pabbataṁ kandaraṁ giriguhaṁ susānaṁ vanapatthaṁ abbhokāsaṁ palālapuñjaṁ. So pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto nisīdati pallaṅkaṁ ābhujitvā, ujuṁ kāyaṁ paṇidhāya, parimukhaṁ satiṁ upaṭṭhapetvā.
So abhijjhaṁ loke pahāya vigatābhijjhena cetasā viharati, abhijjhāya cittaṁ parisodheti. Byāpādapadosaṁ pahāya abyāpannacitto viharati sabbapāṇabhūtahitānukampī, byāpādapadosā cittaṁ parisodheti. Thinamiddhaṁ pahāya vigatathinamiddho viharati ālokasaññī sato sampajāno, thinamiddhā cittaṁ parisodheti. Uddhaccakukkuccaṁ pahāya anuddhato viharati ajjhattaṁ vūpasantacitto, uddhaccakukkuccā cittaṁ parisodheti. Vicikicchaṁ pahāya tiṇṇavicikiccho viharati akathaṅkathī kusalesu dhammesu, vicikicchāya cittaṁ parisodheti.
When they have this spectrum of noble ethics, this noble contentment, this noble sense restraint, and this noble mindfulness and situational awareness, they frequent a secluded lodging—a wilderness, the root of a tree, a hill, a ravine, a mountain cave, a charnel ground, a forest, the open air, a heap of straw. After the meal, they return from almsround, sit down cross-legged, set their body straight, and bring mindfulness to the present.
Giving up covetousness for the world, they meditate with a heart rid of covetousness, cleansing the mind of covetousness. Giving up ill will and malevolence, they meditate with a mind rid of ill will, full of sympathy for all living beings, cleansing the mind of ill will. Giving up dullness and drowsiness, they meditate with a mind rid of dullness and drowsiness, perceiving light, mindful and aware, cleansing the mind of dullness and drowsiness. Giving up restlessness and remorse, they meditate without restlessness, their mind settled internally, cleansing the mind of restlessness and remorse. Giving up doubt, they meditate having gone beyond doubt, not undecided about skillful qualities, cleansing the mind of doubt.
16. Vị ấy, sau khi đã thành tựu uẩn giới cao thượng này, thành tựu sự thu thúc các căn cao thượng này, thành tựu chánh niệm và tỉnh giác cao thượng này, tìm đến một trú xứ vắng vẻ: khu rừng, gốc cây, ngọn núi, hang động, khe núi, nghĩa địa, lùm cây rậm, ngoài trời, đống rơm. Vị ấy, sau bữa ăn, sau khi đi khất thực về, ngồi xuống, xếp bằng kiết-già, giữ thân ngay thẳng, an lập chánh niệm hướng về phía trước. Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát khỏi tham ái, gột sạch tâm khỏi tham ái. Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, có lòng thương xót đến lợi ích của tất cả chúng sanh hữu tình, gột sạch tâm khỏi sân hận. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát khỏi hôn trầm thụy miên, với tưởng về ánh sáng, chánh niệm, tỉnh giác, gột sạch tâm khỏi hôn trầm thụy miên. Từ bỏ trạo cử hối quá, vị ấy sống không trạo cử, với tâm nội tĩnh, gột sạch tâm khỏi trạo cử hối quá. Từ bỏ hoài nghi, vị ấy sống vượt qua hoài nghi, không còn phân vân đối với các pháp thiện, gột sạch tâm khỏi hoài nghi.
So ime pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Evampi, bhikkhave, saphalo upakkamo hoti, saphalaṁ padhānaṁ.
They give up these five hindrances, corruptions of the heart that weaken wisdom. Then, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, they enter and remain in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected. That too is how exertion and striving is fruitful.
Vị ấy, sau khi từ bỏ năm triền cái này là những cấu uế của tâm, làm trí tuệ suy yếu, đã ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái có tầm có tứ, với hỷ và lạc do ly dục sanh. Này các Tỳ khưu, như vậy, sự nỗ lực có kết quả, sự tinh tấn có kết quả.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Evampi, bhikkhave, saphalo upakkamo hoti, saphalaṁ padhānaṁ.
Furthermore, as the placing of the mind and keeping it connected are stilled, they enter and remain in the second absorption, which has the rapture and bliss born of immersion, with internal clarity and mind at one, without placing the mind and keeping it connected. That too is how exertion and striving is fruitful.
Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu sau khi làm lắng dịu tầm và tứ, chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái nội tĩnh nhất tâm, không tầm không tứ, với hỷ và lạc do định sanh. Này các Tỳ khưu, như vậy, sự nỗ lực có kết quả, sự tinh tấn có kết quả.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharati sato ca sampajāno, sukhañca kāyena paṭisaṁvedeti. Yaṁ taṁ ariyā ācikkhanti: ‘upekkhako satimā sukhavihārī’ti tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Evampi, bhikkhave, saphalo upakkamo hoti, saphalaṁ padhānaṁ.
Furthermore, with the fading away of rapture, a mendicant enters and remains in the third absorption, where they meditate with equanimity, mindful and aware, experiencing for themselves the bliss of which the noble ones declare, ‘Equanimous and mindful, one meditates in bliss.’ That too is how exertion and striving is fruitful.
Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu do ly hỷ, trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, và thân cảm giác lạc thọ. Vị ấy chứng và trú thiền thứ ba, trạng thái mà các bậc Thánh gọi là ‘xả niệm lạc trú’. Này các Tỳ khưu, như vậy, sự nỗ lực có kết quả, sự tinh tấn có kết quả.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā, pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā, adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Evampi, bhikkhave, saphalo upakkamo hoti, saphalaṁ padhānaṁ.
Furthermore, with the giving up of pleasure and pain and the disappearance of former happiness and sadness, they enter and remain in the fourth absorption, without pleasure or pain, with pure equanimity and mindfulness. That too is how exertion and striving is fruitful.
Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu do xả lạc và xả khổ, và do hỷ và ưu đã diệt từ trước, chứng và trú thiền thứ tư, một trạng thái không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này các Tỳ khưu, như vậy, sự nỗ lực có kết quả, sự tinh tấn có kết quả.
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte pubbenivāsānussatiñāṇāya cittaṁ abhininnāmeti. So anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati, seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ dvepi jātiyo tissopi jātiyo catassopi jātiyo pañcapi jātiyo dasapi jātiyo vīsampi jātiyo tiṁsampi jātiyo cattālīsampi jātiyo paññāsampi jātiyo jātisatampi jātisahassampi jātisatasahassampi anekepi saṁvaṭṭakappe anekepi vivaṭṭakappe anekepi saṁvaṭṭavivaṭṭakappe: ‘amutrāsiṁ evaṁnāmo evaṅgotto evaṁvaṇṇo evamāhāro evaṁsukhadukkhappaṭisaṁvedī evamāyupariyanto, so tato cuto amutra udapādiṁ; tatrāpāsiṁ evaṁnāmo evaṅgotto evaṁvaṇṇo evamāhāro evaṁsukhadukkhappaṭisaṁvedī evamāyupariyanto, so tato cuto idhūpapanno’ti. Iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati. Evampi, bhikkhave, saphalo upakkamo hoti, saphalaṁ padhānaṁ.
When their mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—they extend it toward recollection of past lives. They recollect many kinds of past lives, that is, one, two, three, four, five, ten, twenty, thirty, forty, fifty, a hundred, a thousand, a hundred thousand rebirths; many eons of the world contracting, many eons of the world expanding, many eons of the world contracting and expanding. They remember: ‘There, I was named this, my clan was that, I looked like this, and that was my food. This was how I felt pleasure and pain, and that was how my life ended. When I passed away from that place I was reborn somewhere else. There, too, I was named this, my clan was that, I looked like this, and that was my food. This was how I felt pleasure and pain, and that was how my life ended. When I passed away from that place I was reborn here.’ And so they recollect their many kinds of past lives, with features and details. That too is how exertion and striving is fruitful.
17. Khi tâm đã định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu uế, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm, dẫn tâm đến túc mạng minh. Vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ, như là: một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều kiếp hoại, nhiều kiếp thành, nhiều kiếp thành hoại – ‘Ở nơi kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, dung sắc như thế này, ăn uống như thế này, trải nghiệm khổ lạc như thế này, tuổi thọ như thế này. Sau khi chết ở đó, ta sanh vào nơi kia. Ở đó, ta cũng có tên như thế này, dòng họ như thế này, dung sắc như thế này, ăn uống như thế này, trải nghiệm khổ lạc như thế này, tuổi thọ như thế này. Sau khi chết ở đó, ta sanh vào đây.’ Như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ với các hình thức và chi tiết của chúng. Này các Tỳ khưu, như vậy, sự nỗ lực có kết quả, sự tinh tấn có kết quả.
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte sattānaṁ cutūpapātañāṇāya cittaṁ abhininnāmeti. So dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe, sugate duggate yathākammūpage satte pajānāti: ‘ime vata bhonto sattā kāyaduccaritena samannāgatā vacīduccaritena samannāgatā manoduccaritena samannāgatā ariyānaṁ upavādakā micchādiṭṭhikā micchādiṭṭhikammasamādānā, te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapannā. Ime vā pana bhonto sattā kāyasucaritena samannāgatā vacīsucaritena samannāgatā manosucaritena samannāgatā ariyānaṁ anupavādakā sammādiṭṭhikā sammādiṭṭhikammasamādānā, te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapannā’ti. Iti dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe, sugate duggate yathākammūpage satte pajānāti. Evampi, bhikkhave, saphalo upakkamo hoti, saphalaṁ padhānaṁ.
When their mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—they extend it toward knowledge of the death and rebirth of sentient beings. With clairvoyance that is purified and superhuman, they see sentient beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in a good place or a bad place. They understood how sentient beings pass on according to their deeds: ‘These dear beings did bad things by way of body, speech, and mind. They denounced the noble ones; they had wrong view; and they chose to act out of that wrong view. When their body broke up, after death, they were reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. These dear beings, however, did good things by way of body, speech, and mind. They never denounced the noble ones; they had right view; and they chose to act out of that right view. When their body broke up, after death, they were reborn in a good place, a heavenly realm.’ And so, with clairvoyance that is purified and superhuman, they see sentient beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in a good place or a bad place. They understand how sentient beings pass on according to their deeds. That too is how exertion and striving is fruitful.
18. Khi tâm đã định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu uế, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm, dẫn tâm đến thiên nhãn minh. Với thiên nhãn thanh tịnh, siêu phàm, vị ấy thấy các chúng sanh đang chết, đang sanh, hèn hạ, cao sang, xinh đẹp, xấu xí, may mắn, bất hạnh; vị ấy hiểu rõ chúng sanh tùy theo nghiệp của họ – ‘Thật vậy, những chúng sanh này, do thành tựu thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, phỉ báng các bậc Thánh, có tà kiến, chấp thủ các nghiệp theo tà kiến, sau khi thân hoại mạng chung, đã sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sanh này, do thành tựu thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, không phỉ báng các bậc Thánh, có chánh kiến, chấp thủ các nghiệp theo chánh kiến, sau khi thân hoại mạng chung, đã sanh vào cõi lành, thiên giới.’ Như vậy, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu phàm, vị ấy thấy các chúng sanh đang chết, đang sanh, hèn hạ, cao sang, xinh đẹp, xấu xí, may mắn, bất hạnh; vị ấy hiểu rõ chúng sanh tùy theo nghiệp của họ. Này các Tỳ khưu, như vậy, sự nỗ lực có kết quả, sự tinh tấn có kết quả.
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte āsavānaṁ khayañāṇāya cittaṁ abhininnāmeti. So ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhasamudayo’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti; ‘ime āsavā’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ āsavasamudayo’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ āsavanirodho’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ āsavanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
Tassa evaṁ jānato evaṁ passato kāmāsavāpi cittaṁ vimuccati, bhavāsavāpi cittaṁ vimuccati, avijjāsavāpi cittaṁ vimuccati. Vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti. Evampi kho, bhikkhave, saphalo upakkamo hoti, saphalaṁ padhānaṁ. Evaṁvādī, bhikkhave, tathāgatā. Evaṁvādīnaṁ, bhikkhave, tathāgatānaṁ dasa sahadhammikā pāsaṁsaṭṭhānā āgacchanti.
When their mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—they extend it toward knowledge of the ending of defilements. They truly understand: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering.’ They truly understand: ‘These are defilements’ … ‘This is the origin of defilements’ … ‘This is the cessation of defilements’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of defilements’.
Knowing and seeing like this, their mind is freed from the defilements of sensuality, desire to be reborn, and ignorance. When they’re freed, they know they’re freed.
They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’ That too is how exertion and striving is fruitful. Such is the doctrine of the Realized One. Saying this, the Realized One deserves praise on ten legitimate grounds.
19. Vị ấy, với tâm định tĩnh, trong sạch, sáng chói, không tỳ vết, không cấu uế, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, hướng tâm đến Lậu tận trí. Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Đây là Khổ’. Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Đây là Khổ tập’. Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Đây là Khổ diệt’. Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Đây là con đường đưa đến Khổ diệt’. Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Đây là các lậu hoặc’. Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Đây là nguyên nhân của các lậu hoặc’. Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Đây là sự đoạn diệt các lậu hoặc’. Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Đây là con đường đưa đến sự đoạn diệt các lậu hoặc’. Đối với vị ấy, khi biết như vậy, thấy như vậy, tâm được giải thoát khỏi dục lậu, tâm được giải thoát khỏi hữu lậu, tâm được giải thoát khỏi vô minh lậu. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: ‘Ta đã được giải thoát’. Vị ấy biết rõ: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa’. Này các Tỳ khưu, như vậy sự nỗ lực có kết quả, sự tinh tấn có kết quả. Này các Tỳ khưu, các đấng Như Lai là những vị có thuyết như vậy. Này các Tỳ khưu, đối với các đấng Như Lai có thuyết như vậy, mười cơ sở tán thán hợp với chánh pháp này sẽ đến.
Sace, bhikkhave, sattā pubbekatahetu sukhadukkhaṁ paṭisaṁvedenti; addhā, bhikkhave, tathāgato pubbe sukatakammakārī yaṁ etarahi evarūpā anāsavā sukhā vedanā vedeti. Sace, bhikkhave, sattā issaranimmānahetu sukhadukkhaṁ paṭisaṁvedenti; addhā, bhikkhave, tathāgato bhaddakena issarena nimmito yaṁ etarahi evarūpā anāsavā sukhā vedanā vedeti. Sace, bhikkhave, sattā saṅgatibhāvahetu sukhadukkhaṁ paṭisaṁvedenti; addhā, bhikkhave, tathāgato kalyāṇasaṅgatiko yaṁ etarahi evarūpā anāsavā sukhā vedanā vedeti. Sace, bhikkhave, sattā abhijātihetu sukhadukkhaṁ paṭisaṁvedenti; addhā, bhikkhave, tathāgato kalyāṇābhijātiko yaṁ etarahi evarūpā anāsavā sukhā vedanā vedeti. Sace, bhikkhave, sattā diṭṭhadhammūpakkamahetu sukhadukkhaṁ paṭisaṁvedenti; addhā, bhikkhave, tathāgato kalyāṇadiṭṭhadhammūpakkamo yaṁ etarahi evarūpā anāsavā sukhā vedanā vedeti.
If sentient beings experience pleasure and pain because of past deeds, clearly the Realized One has done good deeds in the past, since he now experiences such undefiled pleasure. If sentient beings experience pleasure and pain because of God Almighty’s creation, clearly the Realized One was created by a good God, since he now experiences such undefiled pleasure. If sentient beings experience pleasure and pain because of circumstance and nature, clearly the Realized One arises from good circumstances, since he now experiences such undefiled pleasure. If sentient beings experience pleasure and pain because of the class of rebirth, clearly the Realized One was reborn in a good class, since he now experiences such undefiled pleasure. If sentient beings experience pleasure and pain because of exertion in this life, clearly the Realized One exerts himself well in this life, since he now experiences such undefiled pleasure.
20. Này các Tỳ khưu, nếu chúng sanh cảm thọ lạc khổ do nhân nghiệp quá khứ, thì chắc chắn, này các Tỳ khưu, Như Lai trong quá khứ đã làm các thiện nghiệp, vì hiện tại Ngài cảm thọ các lạc thọ không lậu hoặc như vậy. Này các Tỳ khưu, nếu chúng sanh cảm thọ lạc khổ do nhân đấng sáng tạo tạo ra, thì chắc chắn, này các Tỳ khưu, Như Lai đã được một đấng sáng tạo hiền thiện tạo ra, vì hiện tại Ngài cảm thọ các lạc thọ không lậu hoặc như vậy. Này các Tỳ khưu, nếu chúng sanh cảm thọ lạc khổ do nhân duyên hội ngộ, thì chắc chắn, này các Tỳ khưu, Như Lai là người có sự hội ngộ tốt lành, vì hiện tại Ngài cảm thọ các lạc thọ không lậu hoặc như vậy. Này các Tỳ khưu, nếu chúng sanh cảm thọ lạc khổ do nhân dòng dõi, thì chắc chắn, này các Tỳ khưu, Như Lai là người có dòng dõi tốt lành, vì hiện tại Ngài cảm thọ các lạc thọ không lậu hoặc như vậy. Này các Tỳ khưu, nếu chúng sanh cảm thọ lạc khổ do nhân nỗ lực trong hiện tại, thì chắc chắn, này các Tỳ khưu, Như Lai là người có sự nỗ lực tốt lành trong hiện tại, vì hiện tại Ngài cảm thọ các lạc thọ không lậu hoặc như vậy.
Sace, bhikkhave, sattā pubbekatahetu sukhadukkhaṁ paṭisaṁvedenti, pāsaṁso tathāgato; no ce sattā pubbekatahetu sukhadukkhaṁ paṭisaṁvedenti, pāsaṁso tathāgato. Sace, bhikkhave, sattā issaranimmānahetu sukhadukkhaṁ paṭisaṁvedenti, pāsaṁso tathāgato; no ce sattā issaranimmānahetu sukhadukkhaṁ paṭisaṁvedenti, pāsaṁso tathāgato. Sace, bhikkhave, sattā saṅgatibhāvahetu sukhadukkhaṁ paṭisaṁvedenti, pāsaṁso tathāgato; no ce sattā saṅgatibhāvahetu sukhadukkhaṁ paṭisaṁvedenti, pāsaṁso tathāgato. Sace, bhikkhave, sattā abhijātihetu sukhadukkhaṁ paṭisaṁvedenti, pāsaṁso tathāgato; no ce sattā abhijātihetu sukhadukkhaṁ paṭisaṁvedenti, pāsaṁso tathāgato. Sace, bhikkhave, sattā diṭṭhadhammūpakkamahetu sukhadukkhaṁ paṭisaṁvedenti, pāsaṁso tathāgato; no ce sattā diṭṭhadhammūpakkamahetu sukhadukkhaṁ paṭisaṁvedenti, pāsaṁso tathāgato. Evaṁvādī, bhikkhave, tathāgatā. Evaṁvādīnaṁ, bhikkhave, tathāgatānaṁ ime dasa sahadhammikā pāsaṁsaṭṭhānā āgacchantī”ti.
The Realized One deserves praise whether or not sentient beings experience pleasure and pain because of past deeds, or God Almighty’s creation, or circumstance and nature, or class of rebirth, or exertion in this life. Such is the doctrine of the Realized One. Saying this, the Realized One deserves praise on these ten legitimate grounds.”
Này các Tỳ khưu, nếu chúng sanh cảm thọ lạc khổ do nhân nghiệp quá khứ, Như Lai đáng được tán thán. Nếu chúng sanh không cảm thọ lạc khổ do nhân nghiệp quá khứ, Như Lai vẫn đáng được tán thán. Này các Tỳ khưu, nếu chúng sanh cảm thọ lạc khổ do nhân đấng sáng tạo tạo ra, Như Lai đáng được tán thán. Nếu chúng sanh không cảm thọ lạc khổ do nhân đấng sáng tạo tạo ra, Như Lai vẫn đáng được tán thán. Này các Tỳ khưu, nếu chúng sanh cảm thọ lạc khổ do nhân duyên hội ngộ, Như Lai đáng được tán thán. Nếu chúng sanh không cảm thọ lạc khổ do nhân duyên hội ngộ, Như Lai vẫn đáng được tán thán. Này các Tỳ khưu, nếu chúng sanh cảm thọ lạc khổ do nhân dòng dõi, Như Lai đáng được tán thán. Nếu chúng sanh không cảm thọ lạc khổ do nhân dòng dõi, Như Lai vẫn đáng được tán thán. Này các Tỳ khưu, nếu chúng sanh cảm thọ lạc khổ do nhân nỗ lực trong hiện tại, Như Lai đáng được tán thán. Nếu chúng sanh không cảm thọ lạc khổ do nhân nỗ lực trong hiện tại, Như Lai vẫn đáng được tán thán. Này các Tỳ khưu, các đấng Như Lai là những vị có thuyết như vậy. Này các Tỳ khưu, đối với các đấng Như Lai có thuyết như vậy, mười cơ sở tán thán hợp với chánh pháp này sẽ đến.
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
Thế Tôn đã thuyết như vậy. Các Tỳ khưu ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Devadahasuttaṁ niṭṭhitaṁ paṭhamaṁ.
Kinh Devadaha, phẩm thứ nhất, dứt.