- Majjhima Nikāya 102
Pañcattayasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Pañcattayasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi, Jetavana (Kỳ-đà-lâm), tại tu viện ông Anāthapiṇḍika. Ở đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo” -” Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau
SC 2—Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn luận bàn về tương lai, thảo luận về tương lai, y cứ vào tương lai, tuyên bố nhiều quan điểm sai khác. Ở đây, một số tuyên bố: “Sau khi chết, tự ngã không bệnh, có tưởng”. Ở đây, một số tuyên bố: “Sau khi chết, tự ngã không bệnh, không tưởng”. Ở đây một số tuyên bố: “Sau khi chết, tự ngã không bệnh, phi tưởng và phi phi tưởng”. Hay họ chủ trương đoạn diệt hủy hoại, tiêu diệt của loài hữu tình hiện đang sanh tồn. Hay một số lại tuyên bố về hiện tại Niết-bàn.
SC 3Như vậy, họ chủ trương sau khi chết, tự ngã tồn tại không bệnh. Hay họ chủ trương đoạn diệt, hủy hoại, tiêu diệt của loài hữu tình hiện đang sanh tồn. Hay một số lại tuyên bố hiện tại Niết-bàn. Như vậy, những chủ thuyết này, sau khi thành năm trở lại thành ba, sau khi thành ba, trở lại thành năm. Ðây là sự tổng thuyết năm và ba.
SC 4Ở đây, này các Tỷ-kheo, những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương sau khi chết, tự ngã có tưởng, không bệnh, các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy hoặc chủ trương sau khi chết tự ngã có sắc, có tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã hoặc không có sắc, có tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã hoặc có sắc và không sắc, có tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã hoặc không sắc và không không sắc, có tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương tự ngã hoặc nhất tưởng, có tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã hoặc dị tưởng, có tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương tự ngã sau khi chết hoặc thiểu tưởng, có tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã hoặc vô lượng tưởng, có tưởng, không bệnh. Nhưng có một số tuyên bố thức biến này (vinnanakasina) khi vượt qua khỏi (upativattatam) trở thành vô lượng, bất động.
SC 5Về vấn đề này, này các Tỷ-kheo, Như Lai biết như sau: “Những Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương sau khi chết, tự ngã có tưởng, không bệnh, các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã hoặc có sắc, có tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã hoặc không có sắc, có tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết tự ngã hoặc có sắc và không sắc, có tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết tự ngã hoặc không sắc và không không sắc, có tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã hoặc nhứt tưởng, có tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã hoặc dị tưởng, có tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã hoặc thiểu tưởng, có tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã hoặc vô lượng tưởng, có tưởng, không bệnh. Hay Như Lai biết loại tưởng nào trong các loại tưởng ấy được xưng là thanh tịnh, tối thắng, đệ nhất, vô thượng, tức là sắc tưởng, tức là vô sắc tưởng, tức là nhứt tưởng, tức là dị tưởng. Nói rằng: “vô sở hữu”, một số tuyên bố Vô sở hữu xứ là vô lượng, bất động. Biết rằng cái này thuộc hữu vi, là thô pháp, nhưng có sự đoạn diệt các hành, biết được có sự đoạn diệt này, Như Lai thấy sự giải thoát khỏi pháp hữu vi và đã vượt khỏi pháp hữu vi”.
SC 6Ở đây, này các Tỷ-kheo, những vị Sa-môn, Bà—la-môn nào chủ trương sau khi chết, tự ngã không tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã hoặc có sắc không tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã hoặc không sắc, không tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã hoặc có sắc không sắc, không tưởng, không bệnh. Các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết tự ngã hoặc cũng không sắc, không không sắc, không tưởng, không bệnh.
SC 7Ở đây, này các Tỷ-kheo, các vị Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương sau khi chết, tự ngã có tưởng, vô bệnh, một số phỉ báng các vị ấy. Vì sao vậy? Họ nói rằng: “Tưởng là bệnh hoạn, tưởng là mụt nhọt, tưởng là mũi tên; đây là tịch tịnh, thù diệu tức là vô tưởng”.
SC 8Về vấn đề này, này các Tỷ-kheo, Như Lai biết như sau: “Những Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương sau khi chết, tự ngã là không tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã hoặc có sắc, không tưởng, không bệnh; Các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã hoặc không sắc, không tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã hoặc có sắc và không sắc, không tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã hoặc không có sắc, không không sắc, không tưởng, không bệnh”. Này các Tỷ-kheo, vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào nói như sau: “Ngoài sắc, ngoài thọ, ngoài tưởng, ngoài hành, ngoài thức, ta sẽ chủ trương sự lai, vãng, tử, sanh, tăng trưởng, tăng thịnh, hay tăng đại”; sự tình không có như vậy. Biết rằng cái này thuộc hữu vi là thô pháp, nhưng có sự đoạn diệt các hành, biết được có sự đoạn diệt này, Như Lai thấy sự giải thoát pháp hữu vi và đã vượt khỏi pháp hữu vi.
SC 9Ở đây, này các Tỷ-kheo, những Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương sau khi chết tự ngã là Phi tưởng phi phi tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã hoặc có sắc, phi tưởng phi phi tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã hoặc không sắc, phi tưởng phi phi tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã hoặc có sắc và không sắc, phi tưởng phi phi tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã hoặc không sắc, không không sắc, phi tưởng phi phi tưởng, không bệnh.
SC 10Ở đây này các Tỷ-kheo, các vị Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương sau khi chết, tự ngã có tưởng, không bệnh, một số phỉ báng các vị ấy; các Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương sau khi chết, tự ngã không tưởng, không bệnh, một số phỉ báng các vị ấy. Vì sao vậy? Họ nói rằng: “Tưởng là bệnh hoạn, tưởng là mụt nhọt, tưởng là mũi tên, không tưởng là si ám. Ðây là tịch tịnh, thù diệu, tức là phi tưởng phi phi tưởng”.
SC 11Về vấn đề này, này các Tỷ-kheo, Như Lai biết như sau: “Những Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương sau khi chết, tự ngã là phi tưởng phi phi tưởng, không bệnh, các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã hoặc có sắc, phi tưởng phi phi tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã hoặc không sắc, phi tưởng phi phi tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã hoặc có sắc và không sắc, phi tưởng phi phi tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã là không có sắc, không không sắc, phi tưởng phi phi tưởng, không bệnh”.
SC 12Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương sự thành tựu của xứ này (āyatana) chỉ nhờ những hành có thể thấy được, nghe được, tư duy được, ý thức được; đây được xưng, này các Tỷ-kheo, là tổn hại cho sự thành tựu xứ (āyatana) này. Vì rằng, này các Tỷ-kheo, xứ này không được xưng là có thể đạt thành nhờ sự thành tựu hữu hành (sasankhara), mà này các Tỷ-kheo, xứ này được xưng là có thể đạt thành nhờ sự thành tựu không có hành nào còn lại. Biết rằng cái này thuộc hữu vi là thô pháp, nhưng có sự đoạn diệt các hành, biết được có sự đoạn diệt này, Như Lai thấy sự giải thoát khỏi pháp hữu vi và đã vượt khỏi pháp hữu vi.
SC 13Ở đây, này các Tỷ-kheo, những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương đoạn diệt, hủy hoại, diệt tận của loại hữu tình hiện đang sinh tồn. Ở đây, này các Tỷ-kheo, những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương sau khi chết, tự ngã có tưởng, không bệnh, một số phỉ báng các vị ấy. Còn những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương sau khi chết, tự ngã không tưởng, không bệnh, một số phỉ báng các vị ấy. Còn những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương sau khi chết, tự ngã phi tưởng phi phi tưởng, không bệnh, một số phỉ báng các vị ấy. Vì sao vậy? Tất cả những Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn này hướng thượng tuyên bố có chấp trước: “Ðời sau chúng ta sẽ hiện hữu, đời sau chúng ta sẽ hiện hữu”. Ví như một người lái buôn đi buôn bán nghĩ rằng: “Từ đây ta sẽ có vật này, ta sẽ được vật này từ cái này”. Cũng vậy, những vị Sa-môn, Bà-la-môn này, chúng ta nghĩ rằng, cũng giống như những người lái buôn khi các vị này nói: “Ðời sau chúng ta sẽ hiện hữu, đời sau chúng ta sẽ hiện hữu”.
SC 14Về vấn đề này, này các Tỷ-kheo, Như Lai biết được: “Những Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn này chủ trương đoạn diệt, hủy hoại, diệt tận, loại hữu tình hiện đang sinh tồn, những vị ấy sợ hãi tự thân, yếm ly tự thân, chỉ chạy theo và chạy vòng quanh tự thân”. Ví như một con chó bị dây cột vào một cột trụ hay cây cột vững chắc, chạy theo và chạy vòng tròn cột trụ hay cây cột ấy. Cũng vậy, các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy sợ hãi tự thân, yếm ly tự thân, chỉ biết chạy theo và chạy vòng quanh tự thân. Biết rằng cái này thuộc hữu vi là thô pháp, nhưng có sự đoạn diệt các hành, biết được có sự đoạn diệt này, Như Lai thấy sự giải thoát khỏi pháp hữu vi, và đã vượt khỏi pháp hữu vi.
SC 15Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào luận bàn về tương lai, thảo luận về tương lai, y cứ vào tương lai tuyên bố nhiều quan điểm sai khác, tất cả đều tuyên bố năm xứ này hay một trong chúng.
SC 16Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn luận bàn về quá khứ, thảo luận về quá khứ, y cứ vào quá khứ, tuyên bố nhiều quan điểm sai khác: “Tự ngã và thế giới là thường còn; chỉ như vậy là chơn thật, ngoài ra là hư vọng”. Ở đây, một số tuyên bố như vậy. “Tự ngã và thế giới là vô thường; chỉ như vậy là chơn thật, ngoài ra là hư vọng”. Ở đây, một số tuyên bố như vậy: “Tự ngã và thế giới là thường còn, là vô thường; chỉ như vậy là chân thật, ngoài ra là hư vọng”. Ở đây, một số tuyên bố như vậy. “Tự ngã và thế giới là không phải thường còn, không phải vô thường; chỉ như vậy là chơn thật, ngoài ra là hư vọng”. Ở đây, một số tuyên bố như vậy. “Tự ngã và thế giới là hữu biên; chỉ như vậy là chơn thật, ngoài ra là hư vọng”. Ở đây, một số tuyên bố như vậy. “Tự ngã và thế giới là vô biên; chỉ như vậy là chơn thật, ngoài ra là hư vọng”. Ở đây, một số tuyên bố như vậy. “Tự ngã và thế giới là hữu biên và vô biên; chỉ như vậy là chơn thật, ngoài ra là hư vọng”. Ở đây, một số tuyên bố như vậy. “Tự ngã và thế giới không phải hữu biên, không phải vô biên; chỉ như vậy là chơn thật, ngoài ra là hư vọng”. Ở đây, một số tuyên bố như vậy. “Tự ngã và thế giới là nhứt tưởng; chỉ như vậy là chơn thật, ngoài ra là hư vọng”. Ở đây, một số tuyên bố như vậy. “Tự ngã và thế giới là dị tưởng; chỉ như vậy là chơn thật, ngoài ra là hư vọng”. Ở đây, một số tuyên bố như vậy. “Tự ngã và thế giới là thiểu tưởng; chỉ như vậy là chơn thật, ngoài ra là hư vọng”. Ở đây, một số tuyên bố như vậy. “Tự ngã và thế giới là vô lượng tưởng; chỉ như vậy là chơn thật, ngoài ra là hư vọng”. Ở đây, một số tuyên bố như vậy. “Tự ngã và thế giới là nhứt hướng lạc; chỉ như vậy là chơn thật, ngoài ra là hư vọng”. Ở đây, một số tuyên bố như vậy. “Tự ngã và thế giới là nhứt hướng khổ; chỉ như vậy là chơn thật, ngoài ra là hư vọng”. Ở đây, một số tuyên bố như vậy. “Tự ngã và thế giới là lạc và khổ; chỉ như vậy là chơn thật, ngoài ra là hư vọng”. Ở đây, một số tuyên bố như vậy. “Tự ngã và thế giới là không khổ, không lạc; chỉ như vậy là chơn thật, ngoài ra là hư vọng”. Ở đây, một số tuyên bố như vậy.
SC 17Ở đây, này các Tỷ-kheo, những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào có chủ thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Tự ngã và thế giới là thường còn, chỉ như vậy là chơn thật, ngoài ra là hư vọng”. Ngoài tín, ngoài hỷ, ngoài tùy văn, ngoài thẩm định lý do, ngoài kham nhẫn chấp thọ tà kiến, trí tự mình sẽ trở thành thanh tịnh, trong sạch; sự tình như vậy không xảy ra. Này các Tỷ-kheo, nếu trí tự mình không trở thành thanh tịnh, trong sạch, thời cho đến chỉ một phần nhỏ của trí mà những Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy làm cho trong sạch, chính như vậy cũng được xưng là chấp trước đối với những vị Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy. Biết rằng cái này thuộc hữu vi là thô pháp, không có sự đoạn diệt các hành, biết được có sự đoạn diệt này, Như Lai thấy sự giải thoát khỏi pháp hữu vi và đã vượt khỏi pháp hữu vi.
SC 18Ở đây, này các Tỷ-kheo, những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào có lý thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Tự ngã và thế giới là vô thường … tự ngã và thế giới là thường còn và vô thường … tự ngã và thế giới không thường còn và không vô thường … tự ngã và thế giới là vô biên … tự ngã và thế giới là hữu biên và vô biên … tự ngã và thế giới là không hữu biên và không vô biên … tự ngã và thế giới là nhứt tưởng … tự ngã và thế giới là dị tưởng … tự ngã và thế giới là thiểu tưởng … tự ngã và thế giới là vô lượng tưởng … tự ngã và thế giới là nhứt hướng lạc … tự ngã và thế giới là nhứt hướng khổ … tự ngã và thế giới là lạc và khổ … tự ngã và thế giới là không khổ, không lạc; chỉ như vậy là chơn thật, ngoài ra là hư vọng”. Ngoài lòng tin, ngoài hỷ, ngoài tùy văn, ngoài thẩm định lý do, ngoài sự kham nhẫn chấp thọ tà kiến, trí tự mình sẽ trở thành thanh tịnh, trong sạch, sự tình như vậy không xảy ra. Này các Tỷ-kheo, nếu trí tự mình không trở thành thanh tịnh, trong sạch, thời cho đến chỉ một phần nhỏ của trí mà những Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy làm cho trong sạch, chính như vậy cũng được xưng là chấp trước đối với những Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy. Biết rằng cái này thuộc hữu vi là thô pháp, nhưng có sự đoạn diệt các hành, biết được có sự đoạn diệt này, Như Lai thấy sự giải thoát khỏi pháp hữu vi, và đã vượt khỏi pháp hữu vi.
SC 19Ở đây, này các Tỷ-kheo, có vị Sa-môn hay Bà-la-môn do từ bỏ những quan điểm về quá khứ, và từ bỏ những quan điểm về tương lai, do không hoàn toàn chú tâm đến những dục kiết sử, đạt được viễn ly hỷ và an trú. Vị ấy nghĩ: “Ðây là sự thật, đây là thù diệu, tức là đạt được viễn ly hỷ, ta an trú”. Nhưng nếu viễn ly hỷ ấy của vị này bị đoạn diệt, do viễn ly hỷ bị đoạn diệt, ưu tư sanh khởi. Do ưu tư được đoạn diệt, viễn ly hỷ sanh khởi. Ví như, này các Tỷ-kheo, chỗ nào bóng mát từ bỏ, chỗ ấy sức nóng mặt trời lan rộng, chỗ nào sức nóng mặt trời từ bỏ, chỗ ấy bóng mát lan rộng; cũng vậy, này các Tỷ-kheo, do viễn ly hỷ bị đoạn diệt, ưu tư sanh khởi. Do ưu tư được đoạn diệt nên viễn ly hỷ sanh khởi.
SC 20Về vấn đề này, này các Tỷ-kheo, Như Lai biết như sau: Vị Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn này, do từ bỏ những quan điểm về quá khứ, và do từ bỏ những quan điểm về tương lai, do hoàn toàn không chú tâm đến các dục kiết sử, sau khi đạt được viễn ly hỷ, liền an trú: “Ðây là sự thật, đây là thù diệu, tức là đạt được viễn ly hỷ, ta an trú”. Viễn ly ấy của vị này bị đoạn diệt. Do viễn ly hỷ bị đoạn diệt, ưu tư sanh khởi; do ưu tư được đoạn diệt, viễn ly hỷ sanh khởi. Biết rằng cái này thuộc hữu vi pháp là thô pháp, nhưng có sự đoạn diệt các hành, biết được có sự đoạn diệt này, Như Lai thấy sự giải thoát khỏi pháp hữu vi và đã vượt khỏi pháp hữu vi.
SC 21Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có vị Sa-môn hay Bà-la-môn, do từ bỏ các quan điểm về quá khứ, do từ bỏ các quan điểm về tương lai, do hoàn toàn không chú tâm đến các dục kiết sử, do vượt qua viễn ly hỷ, sau khi đạt được phi vật chất lạc liền an trú: “Ðây là sự thật, đây là thù diệu tức là đạt được phi vật chất lạc, ta an trú”. Phi vật chất lạc của vị ấy bị đoạn diệt; do phi vật chất lạc bị đoạn diệt, viễn ly hỷ sanh khởi; do viễn ly hỷ bị đoạn diệt, phi vật chất lạc sanh khởi. Ví như, này các Tỷ-kheo, chỗ nào bóng mát từ bỏ, chỗ ấy sức nóng mặt trời lan rộng, chỗ nào sức nóng mặt trời từ bỏ, chỗ ấy bóng mát lan rộng; cũng vậy, này các Tỷ-kheo, do phi vật chất lạc bị đoạn diệt, viễn ly hỷ sanh khởi; do viễn ly hỷ bị đoạn diệt, phi vật chất lạc sanh khởi.
SC 22Về vấn đề này, này các Tỷ-kheo, Như Lai biết như sau: Vị Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn này, do từ bỏ các quan điểm về quá khứ, do từ bỏ các quan điểm về tương lai, do hoàn toàn không chú tâm đến các dục kiết sử, do vượt qua viễn ly hỷ, đạt được phi vật chất lạc và an trú: “Ðây là sự thật, đây là thù diệu, tức là đạt được phi vật chất lạc, ta an trú”. Phi vật chất lạc ấy của vị này bị đoạn diệt. Do phi vật chất lạc bị đoạn diệt, viễn ly hỷ sanh khởi; do viễn ly hỷ bị đoạn diệt, phi vật chất lạc sanh khởi. Biết rằng cái này thuộc hữu vi là thô pháp, nhưng có sự đoạn diệt các hành; biết được có sự đoạn diệt này, Như Lai thấy được sự giải thoát khỏi pháp hữu vi và đã vượt khỏi pháp hữu vi.
SC 23Ở đây, này các Tỷ-kheo, có Sa-môn hay Bà-la-môn, do từ bỏ các quan điểm về quá khứ, do từ bỏ các quan điểm về tương lai, do hoàn toàn không chú tâm đến các dục kiết sử, do vượt qua viễn ly hỷ, do vượt qua phi vật chất lạc, sau khi đạt được vô khổ vô lạc thọ, liền an trú: “Ðây là sự thật, đây là thù diệu, tức là đạt được vô khổ vô lạc thọ, ta an trú”. Vô khổ vô lạc thọ ấy của vị này bị đoạn diệt. Do vô khổ vô lạc thọ bị đoạn diệt, phi vật chất lạc sanh khởi; do phi vật chất lạc bị đoạn diệt, vô khổ vô lạc thọ sanh khởi. Ví như này các Tỷ-kheo, chỗ nào bóng mát từ bỏ, chỗ ấy sức nóng mặt trời lan rộng, chỗ nào sức nóng từ bỏ, chỗ ấy bóng mát lan rộng; cũng vậy, này các Tỷ-kheo, do vô khổ vô lạc thọ bị đoạn diệt, phi vật chất lạc sanh khởi; do phi vật chất lạc bị đoạn diệt, vô khổ vô lạc thọ sanh khởi.
SC 24Về vấn đề này, này các Tỷ-kheo, Như Lai biết như sau: vị Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn này, do từ bỏ các quan điểm về quá khứ, do từ bỏ các quan điểm về tương lai, do hoàn toàn không chú tâm đến các dục kiết sử, do vượt qua viễn ly hỷ, do vượt qua phi vật chất lạc, sau khi đạt được vô khổ vô lạc thọ, liền an trú: “Ðây là sự thật, đây là thù diệu, tức là đạt được vô khổ vô lạc thọ, ta an trú”. Vô khổ vô lạc thọ ấy của vị này bị đoạn diệt. Do vô khổ vô lạc thọ bị đoạn diệt, phi vật chất lạc sanh khởi; do phi vật chất lạc bị đoạn diệt, vô khổ vô lạc thọ sanh khởi. Biết rằng cái này thuộc hữu vi là thô pháp, nhưng có sự đoạn diệt các hành, sau khi biết được: “Ðây có sự đoạn diệt các hành này, Như Lai thấy được sự giải thoát khỏi hữu vi pháp” và đã vượt khỏi hữu vi pháp.
SC 25Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có vị Sa-môn hay Bà-la-môn, do từ bỏ các quan điểm về quá khứ, do từ bỏ các quan điểm về tương lai, do hoàn toàn không chú tâm đến các dục kiết sử, do vượt khỏi viễn ly hỷ, do vượt khỏi phi vật chất lạc, do vượt khỏi vô khổ vô lạc thọ, vị ấy quán: “Ta là tịch tịnh, ta là tịch diệt, ta là không chấp thủ”.
SC 26Ở đây, này các Tỷ-kheo, Như Lai biết như sau: Vị Tôn giả Sa-môn, Bà la môn này, do từ bỏ các quan điểm về quá khứ, do từ bỏ các quan điểm về tương lai, do hoàn toàn không chú tâm đến các dục kiết sử, do vượt khỏi viễn ly hỷ, do vượt khỏi phi vật chất lạc, do vượt khỏi vô khổ vô lạc thọ, vị ấy quán: “Ta là tịch tịnh, ta là tịch diệt, ta là không chấp thủ”. Chắc chắn vị Ðại đức này tuyên bố con đường thích hợp đưa đến Niết-bàn. Nhưng vị Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn này khởi lên chấp thủ, hoặc chấp thủ quan điểm về quá khứ, hoặc chấp thủ quan điểm về tương lai, hoặc chấp thủ dục kiết sử, hoặc chấp thủ viễn ly hỷ, hoặc chấp thủ phi vật chất lạc, hoặc chấp thủ vô khổ vô lạc thọ. Dầu cho vị Ðại đức này quán: “Ta là tịch tịnh, ta là tịch diệt, ta không có chấp trước”, nhưng vị này vẫn được xem là có chấp trước về điểm ấy. Biết rằng cái này thuộc hữu vi pháp là thô pháp, nhưng có đoạn diệt các hành, sau khi biết được có sự đoạn diệt các hành này, Như Lai thấy được sự giải thoát khỏi hữu vi pháp và đã vượt khỏi hữu vi pháp.
SC 27Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, vô thượng tịch tịnh, tối thắng đạo được Như Lai chánh đẳng giác, nghĩa là sau khi như thật biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt và sự nguy hiểm của sáu xúc xứ, có sự giải thoát không chấp thủ. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vô thượng tịch tịnh tối thắng đạo này được Như Lai chánh đẳng giác, nghĩa là sau khi như thật biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt và sự nguy hiểm của sáu xúc xứ, có sự giải thoát không chấp thủ.
SC 28Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). 12–07–2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
2. Kinh Pañcattaya
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“santi, bhikkhave, eke samaṇabrāhmaṇā aparantakappikā aparantānudiṭṭhino aparantaṁ ārabbha anekavihitāni adhivuttipadāni abhivadanti. ‘Saññī attā hoti arogo paraṁ maraṇā’ti—ittheke abhivadanti; ‘asaññī attā hoti arogo paraṁ maraṇā’ti—ittheke abhivadanti; ‘nevasaññīnāsaññī attā hoti arogo paraṁ maraṇā’ti—ittheke abhivadanti; sato vā pana sattassa ucchedaṁ vināsaṁ vibhavaṁ paññapenti, diṭṭhadhammanibbānaṁ vā paneke abhivadanti. Iti santaṁ vā attānaṁ paññapenti arogaṁ paraṁ maraṇā, sato vā pana sattassa ucchedaṁ vināsaṁ vibhavaṁ paññapenti, diṭṭhadhammanibbānaṁ vā paneke abhivadanti. Iti imāni pañca hutvā tīṇi honti, tīṇi hutvā pañca honti—ayamuddeso pañcattayassa.
“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
“Mendicants, there are some ascetics and brahmins who speculate and theorize about the final end, and propose various hypotheses concerning the final end. Some propose this: ‘The self is percipient and healthy after death.’ Some propose this: ‘The self is non-percipient and healthy after death.’ Some propose this: ‘The self is neither percipient nor non-percipient and healthy after death.’ But some assert the annihilation, eradication, and nonexistence of an existing being, while others propose extinguishment in this life. Thus they assert an existent self that is healthy after death; or they assert the annihilation of an existing being; while some propose extinguishment in this life. In this way five become three, and three become five. This is the summary recital of the five and three.
21. Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỳ khưu: ‘Này các Tỳ khưu’. ‘Bạch Thế Tôn’, các Tỳ khưu ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau: ‘Này các Tỳ khưu, có một số Sa-môn, Bà-la-môn suy tư về tương lai, có quan điểm về tương lai, dựa vào tương lai mà tuyên bố nhiều loại luận thuyết khác nhau. Có người tuyên bố rằng: ‘Tự ngã có tưởng, sau khi chết không bệnh hoạn’. Có người tuyên bố rằng: ‘Tự ngã không có tưởng, sau khi chết không bệnh hoạn’. Có người tuyên bố rằng: ‘Tự ngã không phải có tưởng cũng không phải không có tưởng, sau khi chết không bệnh hoạn’. Lại nữa, có người chủ trương sự đoạn diệt, sự hủy hoại, sự không tồn tại của một chúng sanh đang hiện hữu. Lại có người tuyên bố về Niết-bàn trong hiện tại. Như vậy, họ hoặc chủ trương một tự ngã hiện hữu là không bệnh hoạn sau khi chết, hoặc chủ trương sự đoạn diệt, sự hủy hoại, sự không tồn tại của một chúng sanh đang hiện hữu, hoặc có người tuyên bố về Niết-bàn trong hiện tại. Như vậy, năm (quan điểm) này trở thành ba, và ba (quan điểm) này trở thành năm. Đây là đề cương của thuyết Ngũ và Tam.
Tatra, bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā saññiṁ attānaṁ paññapenti arogaṁ paraṁ maraṇā, rūpiṁ vā te bhonto samaṇabrāhmaṇā saññiṁ attānaṁ paññapenti arogaṁ paraṁ maraṇā, arūpiṁ vā te bhonto samaṇabrāhmaṇā saññiṁ attānaṁ paññapenti arogaṁ paraṁ maraṇā, rūpiñca arūpiñca vā te bhonto samaṇabrāhmaṇā saññiṁ attānaṁ paññapenti arogaṁ paraṁ maraṇā, nevarūpiṁ nārūpiṁ vā te bhonto samaṇabrāhmaṇā saññiṁ attānaṁ paññapenti arogaṁ paraṁ maraṇā, ekattasaññiṁ vā te bhonto samaṇabrāhmaṇā saññiṁ attānaṁ paññapenti arogaṁ paraṁ maraṇā, nānattasaññiṁ vā te bhonto samaṇabrāhmaṇā saññiṁ attānaṁ paññapenti arogaṁ paraṁ maraṇā, parittasaññiṁ vā te bhonto samaṇabrāhmaṇā saññiṁ attānaṁ paññapenti arogaṁ paraṁ maraṇā, appamāṇasaññiṁ vā te bhonto samaṇabrāhmaṇā saññiṁ attānaṁ paññapenti arogaṁ paraṁ maraṇā, etaṁ vā panekesaṁ upātivattataṁ viññāṇakasiṇameke abhivadanti appamāṇaṁ āneñjaṁ.
Tayidaṁ, bhikkhave, tathāgato abhijānāti. Ye kho te bhonto samaṇabrāhmaṇā saññiṁ attānaṁ paññapenti arogaṁ paraṁ maraṇā, rūpiṁ vā te bhonto samaṇabrāhmaṇā saññiṁ attānaṁ paññapenti arogaṁ paraṁ maraṇā, arūpiṁ vā te bhonto samaṇabrāhmaṇā saññiṁ attānaṁ paññapenti arogaṁ paraṁ maraṇā, rūpiñca arūpiñca vā te bhonto samaṇabrāhmaṇā saññiṁ attānaṁ paññapenti arogaṁ paraṁ maraṇā, nevarūpiṁ nārūpiṁ vā te bhonto samaṇabrāhmaṇā saññiṁ attānaṁ paññapenti arogaṁ paraṁ maraṇā, ekattasaññiṁ vā te bhonto samaṇabrāhmaṇā saññiṁ attānaṁ paññapenti arogaṁ paraṁ maraṇā, nānattasaññiṁ vā te bhonto samaṇabrāhmaṇā saññiṁ attānaṁ paññapenti arogaṁ paraṁ maraṇā, parittasaññiṁ vā te bhonto samaṇabrāhmaṇā saññiṁ attānaṁ paññapenti arogaṁ paraṁ maraṇā, appamāṇasaññiṁ vā te bhonto samaṇabrāhmaṇā saññiṁ attānaṁ paññapenti arogaṁ paraṁ maraṇā, yā vā panetāsaṁ saññānaṁ parisuddhā paramā aggā anuttariyā akkhāyati—yadi rūpasaññānaṁ yadi arūpasaññānaṁ yadi ekattasaññānaṁ yadi nānattasaññānaṁ. ‘Natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanameke abhivadanti appamāṇaṁ āneñjaṁ. ‘Tayidaṁ saṅkhataṁ oḷārikaṁ atthi kho pana saṅkhārānaṁ nirodho atthetan’ti—iti viditvā tassa nissaraṇadassāvī tathāgato tadupātivatto.
Now, the ascetics and brahmins who propose a self that is percipient and healthy after death describe it as formed, or formless, or both formed and formless, or neither formed nor formless. Or they propose a self of unified perception, or of diverse perception, or of limited perception, or of limitless perception. Or some among those who go beyond this propose universal consciousness, limitless and imperturbable.
The Realized One understands this as follows. There are ascetics and brahmins who assert a self that is percipient and healthy after death, describing it as formed, or formless, or both formed and formless, or neither formed nor formless. Or they describe it as of unified perception, or of diverse perception, or of limited perception, or of limitless perception. Or some, aware that ‘there is nothing at all’, propose the dimension of nothingness, limitless and imperturbable. They declare that this is the purest, highest, best, and supreme of all those perceptions, whether of form or of formlessness or of unity or of diversity. ‘That much is conditioned and crude. But there is the cessation of conditions—<em>that</em> is real.’ Understanding this and seeing the escape from it, the Realized One has gone beyond all that.
22. “Này các Tỳ khưu, ở đây, những Sa môn, Bà la môn nào chủ trương tự ngã có tưởng, không bệnh, sau khi chết, thì các vị Sa môn, Bà la môn ấy chủ trương tự ngã có tưởng, có sắc, không bệnh, sau khi chết; hoặc các vị Sa môn, Bà la môn ấy chủ trương tự ngã có tưởng, không sắc, không bệnh, sau khi chết; hoặc các vị Sa môn, Bà la môn ấy chủ trương tự ngã có tưởng, vừa có sắc vừa không sắc, không bệnh, sau khi chết; hoặc các vị Sa môn, Bà la môn ấy chủ trương tự ngã có tưởng, không phải có sắc cũng không phải không sắc, không bệnh, sau khi chết; hoặc các vị Sa môn, Bà la môn ấy chủ trương tự ngã có tưởng, có tưởng đồng nhất, không bệnh, sau khi chết; hoặc các vị Sa môn, Bà la môn ấy chủ trương tự ngã có tưởng, có tưởng sai biệt, không bệnh, sau khi chết; hoặc các vị Sa môn, Bà la môn ấy chủ trương tự ngã có tưởng, có tưởng hữu hạn, không bệnh, sau khi chết; hoặc các vị Sa môn, Bà la môn ấy chủ trương tự ngã có tưởng, có tưởng vô lượng, không bệnh, sau khi chết. Hoặc một số vị, sau khi vượt qua những điều này, tuyên bố rằng biến xứ thức là vô lượng, là bất động. Này các Tỳ khưu, điều ấy Như Lai thắng tri. Những vị Sa môn, Bà la môn nào chủ trương tự ngã có tưởng, không bệnh, sau khi chết, … (như trên) … chủ trương tự ngã có tưởng, có tưởng vô lượng, không bệnh, sau khi chết. Và bất cứ tưởng nào trong các tưởng này được cho là thanh tịnh, tối thượng, cao tột, vô song – dù là tưởng về sắc, tưởng về vô sắc, tưởng đồng nhất, hay tưởng sai biệt. Một số vị tuyên bố rằng Vô sở hữu xứ là vô lượng, là bất động, (với ý niệm) ‘Không có gì cả’. (Như Lai biết rằng:) ‘Cái này là pháp hữu vi, là thô thiển. Nhưng có sự đoạn diệt của các hành. Có điều này.’ – do biết như vậy, do thấy được sự xuất ly khỏi pháp hữu vi ấy, Như Lai đã vượt qua nó.”
Tatra, bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā asaññiṁ attānaṁ paññapenti arogaṁ paraṁ maraṇā, rūpiṁ vā te bhonto samaṇabrāhmaṇā asaññiṁ attānaṁ paññapenti arogaṁ paraṁ maraṇā, arūpiṁ vā te bhonto samaṇabrāhmaṇā asaññiṁ attānaṁ paññapenti arogaṁ paraṁ maraṇā, rūpiñca arūpiñca vā te bhonto samaṇabrāhmaṇā asaññiṁ attānaṁ paññapenti arogaṁ paraṁ maraṇā, nevarūpiṁ nārūpiṁ vā te bhonto samaṇabrāhmaṇā asaññiṁ attānaṁ paññapenti arogaṁ paraṁ maraṇā.
Tatra, bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā saññiṁ attānaṁ paññapenti arogaṁ paraṁ maraṇā tesamete paṭikkosanti. Taṁ kissa hetu? Saññā rogo saññā gaṇḍo saññā sallaṁ, etaṁ santaṁ etaṁ paṇītaṁ yadidaṁ: ‘asaññan’ti.
Tayidaṁ, bhikkhave, tathāgato abhijānāti ye kho te bhonto samaṇabrāhmaṇā asaññiṁ attānaṁ paññapenti arogaṁ paraṁ maraṇā, rūpiṁ vā te bhonto samaṇabrāhmaṇā asaññiṁ attānaṁ paññapenti arogaṁ paraṁ maraṇā, arūpiṁ vā te bhonto samaṇabrāhmaṇā asaññiṁ attānaṁ paññapenti arogaṁ paraṁ maraṇā, rūpiñca arūpiñca vā te bhonto samaṇabrāhmaṇā asaññiṁ attānaṁ paññapenti arogaṁ paraṁ maraṇā, nevarūpiṁ nārūpiṁ vā te bhonto samaṇabrāhmaṇā asaññiṁ attānaṁ paññapenti arogaṁ paraṁ maraṇā. Yo hi koci, bhikkhave, samaṇo vā brāhmaṇo vā evaṁ vadeyya: ‘ahamaññatra rūpā, aññatra vedanāya, aññatra saññāya, aññatra saṅkhārehi, viññāṇassa āgatiṁ vā gatiṁ vā cutiṁ vā upapattiṁ vā vuddhiṁ vā virūḷhiṁ vā vepullaṁ vā paññapessāmī’ti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati. ‘Tayidaṁ saṅkhataṁ oḷārikaṁ atthi kho pana saṅkhārānaṁ nirodho atthetan’ti—iti viditvā tassa nissaraṇadassāvī tathāgato tadupātivatto.
Now, the ascetics and brahmins who assert a self that is non-percipient and healthy after death describe it as formed, or formless, or both formed and formless, or neither formed nor formless.
So they reject those who assert a self that is percipient and healthy after death. Why is that? Because they believe that perception is a disease, a boil, a dart, and that the state of non-perception is peaceful and sublime.
The Realized One understands this as follows. There are ascetics and brahmins who assert a self that is non-percipient and healthy after death, describing it as formed, or formless, or both formed and formless, or neither formed nor formless. But if any ascetic or brahmin should say this: ‘Apart from form, feeling, perception, and choices, I will describe the coming and going of consciousness, its passing away and reappearing, its growth, increase, and maturity.’ That is not possible. ‘All that is conditioned and crude. But there is the cessation of conditions—<em>that</em> is real.’ Understanding this and seeing the escape from it, the Realized One has gone beyond all that.
23. “Này các Tỳ khưu, ở đây, những Sa môn, Bà la môn nào chủ trương tự ngã không có tưởng, không bệnh, sau khi chết, thì các vị Sa môn, Bà la môn ấy chủ trương tự ngã không có tưởng, có sắc, không bệnh, sau khi chết; hoặc các vị Sa môn, Bà la môn ấy chủ trương tự ngã không có tưởng, không sắc, không bệnh, sau khi chết; hoặc các vị Sa môn, Bà la môn ấy chủ trương tự ngã không có tưởng, vừa có sắc vừa không sắc, không bệnh, sau khi chết; hoặc các vị Sa môn, Bà la môn ấy chủ trương tự ngã không có tưởng, không phải có sắc cũng không phải không sắc, không bệnh, sau khi chết. Này các Tỳ khưu, ở đây, những Sa môn, Bà la môn nào chủ trương tự ngã có tưởng, không bệnh, sau khi chết, thì bị những vị này (chủ trương vô tưởng) phản bác. Vì sao vậy? (Họ nói:) ‘Tưởng là bệnh, tưởng là ung nhọt, tưởng là mũi tên. Trạng thái này là an tịnh, trạng thái này là vi diệu, tức là vô tưởng.’ Này các Tỳ khưu, điều ấy Như Lai thắng tri. Những vị Sa môn, Bà la môn nào chủ trương tự ngã không có tưởng, không bệnh, sau khi chết, … (như trên) … chủ trương tự ngã không có tưởng, không phải có sắc cũng không phải không sắc, không bệnh, sau khi chết. Này các Tỳ khưu, nếu có bất kỳ Sa môn hay Bà la môn nào nói như sau: ‘Ngoài sắc, ngoài thọ, ngoài tưởng, ngoài các hành, tôi sẽ tuyên bố sự đến, sự đi, sự chết, sự tái sanh, sự tăng trưởng, sự phát triển, sự lớn mạnh của thức’ – trường hợp ấy không thể xảy ra. (Như Lai biết rằng:) ‘Cái này là pháp hữu vi, là thô thiển. Nhưng có sự đoạn diệt của các hành. Có điều này.’ – do biết như vậy, do thấy được sự xuất ly khỏi pháp hữu vi ấy, Như Lai đã vượt qua nó.”
Tatra, bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā nevasaññīnāsaññiṁ attānaṁ paññapenti arogaṁ paraṁ maraṇā, rūpiṁ vā te bhonto samaṇabrāhmaṇā nevasaññīnāsaññiṁ attānaṁ paññapenti arogaṁ paraṁ maraṇā, arūpiṁ vā te bhonto samaṇabrāhmaṇā nevasaññīnāsaññiṁ attānaṁ paññapenti arogaṁ paraṁ maraṇā, rūpiñca arūpiñca vā te bhonto samaṇabrāhmaṇā nevasaññīnāsaññiṁ attānaṁ paññapenti arogaṁ paraṁ maraṇā, nevarūpiṁ nārūpiṁ vā te bhonto samaṇabrāhmaṇā nevasaññīnāsaññiṁ attānaṁ paññapenti arogaṁ paraṁ maraṇā.
Tatra, bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā saññiṁ attānaṁ paññapenti arogaṁ paraṁ maraṇā tesamete paṭikkosanti, yepi te bhonto samaṇabrāhmaṇā asaññiṁ attānaṁ paññapenti arogaṁ paraṁ maraṇā tesamete paṭikkosanti. Taṁ kissa hetu? Saññā rogo saññā gaṇḍo saññā sallaṁ, asaññā sammoho, etaṁ santaṁ etaṁ paṇītaṁ yadidaṁ: ‘nevasaññānāsaññan’ti.
Tayidaṁ, bhikkhave, tathāgato abhijānāti. Ye kho te bhonto samaṇabrāhmaṇā nevasaññīnāsaññiṁ attānaṁ paññapenti arogaṁ paraṁ maraṇā, rūpiṁ vā te bhonto samaṇabrāhmaṇā nevasaññīnāsaññiṁ attānaṁ paññapenti arogaṁ paraṁ maraṇā, arūpiṁ vā te bhonto samaṇabrāhmaṇā nevasaññīnāsaññiṁ attānaṁ paññapenti arogaṁ paraṁ maraṇā, rūpiñca arūpiñca vā te bhonto samaṇabrāhmaṇā nevasaññīnāsaññiṁ attānaṁ paññapenti arogaṁ paraṁ maraṇā, nevarūpiṁ nārūpiṁ vā te bhonto samaṇabrāhmaṇā nevasaññīnāsaññiṁ attānaṁ paññapenti arogaṁ paraṁ maraṇā. Ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā diṭṭhasutamutaviññātabbasaṅkhāramattena etassa āyatanassa upasampadaṁ paññapenti, byasanañhetaṁ, bhikkhave, akkhāyati etassa āyatanassa upasampadāya. Na hetaṁ, bhikkhave, āyatanaṁ saṅkhārasamāpattipattabbamakkhāyati; saṅkhārāvasesasamāpattipattabbametaṁ, bhikkhave, āyatanamakkhāyati. ‘Tayidaṁ saṅkhataṁ oḷārikaṁ atthi kho pana saṅkhārānaṁ nirodho atthetan’ti—iti viditvā tassa nissaraṇadassāvī tathāgato tadupātivatto.
Now, the ascetics and brahmins who assert a self that is neither percipient nor non-percipient and healthy after death describe it as formed, or formless, or both formed and formless, or neither formed nor formless.
So they reject those who assert a self that is percipient and healthy after death, as well as those who assert a self that is non-percipient and healthy after death. Why is that? Because they believe that perception is a disease, a boil, a dart; that non-perception is a stupor; and that the state of neither perception nor non-perception is peaceful and sublime.
The Realized One understands this as follows. There are ascetics and brahmins who assert a self that is neither percipient nor non-percipient and healthy after death, describing it as formed, or formless, or both formed and formless, or neither formed nor formless. Some ascetics or brahmins assert the embracing of that dimension merely through the conditioned phenomena of what ought be seen, heard, thought, and known. But that is said to be a disastrous approach. For that dimension is said to be not attainable by means of conditioned phenomena, but only with a residue of conditioned phenomena. ‘All that is conditioned and crude. But there is the cessation of conditions—<em>that</em> is real.’ Understanding this and seeing the escape from it, the Realized One has gone beyond all that.
24. “Này các Tỳ khưu, trong đó, những Sa môn, Bà la môn nào chủ trương rằng sau khi chết, tự ngã là phi tưởng phi phi tưởng, không bệnh hoạn; hoặc những Sa môn, Bà la môn đáng kính ấy chủ trương rằng sau khi chết, tự ngã là phi tưởng phi phi tưởng, không bệnh hoạn, và có sắc; hoặc những Sa môn, Bà la môn đáng kính ấy chủ trương rằng sau khi chết, tự ngã là phi tưởng phi phi tưởng, không bệnh hoạn, và vô sắc; hoặc những Sa môn, Bà la môn đáng kính ấy chủ trương rằng sau khi chết, tự ngã là phi tưởng phi phi tưởng, không bệnh hoạn, và vừa có sắc vừa vô sắc; hoặc những Sa môn, Bà la môn đáng kính ấy chủ trương rằng sau khi chết, tự ngã là phi tưởng phi phi tưởng, không bệnh hoạn, và không phải có sắc cũng không phải vô sắc. Này các Tỳ khưu, trong đó, những Sa môn, Bà la môn nào chủ trương rằng sau khi chết, tự ngã là có tưởng, không bệnh hoạn, thì bị những vị này phản bác. Và những Sa môn, Bà la môn đáng kính nào chủ trương rằng sau khi chết, tự ngã là vô tưởng, không bệnh hoạn, cũng bị những vị này phản bác. Vì sao vậy? Vì tưởng là bệnh, tưởng là khối u, tưởng là mũi tên; còn vô tưởng là si mê. Chỉ có trạng thái này là an tịnh, là vi diệu, đó là ‘phi tưởng phi phi tưởng’. Này các Tỳ khưu, Như Lai thắng tri điều này. Những Sa môn, Bà la môn đáng kính nào chủ trương rằng sau khi chết, tự ngã là phi tưởng phi phi tưởng, không bệnh hoạn; hoặc những Sa môn, Bà la môn đáng kính ấy chủ trương rằng sau khi chết, tự ngã là phi tưởng phi phi tưởng, không bệnh hoạn, và có sắc; hoặc những Sa môn, Bà la môn đáng kính ấy chủ trương rằng sau khi chết, tự ngã là phi tưởng phi phi tưởng, không bệnh hoạn, và vô sắc; hoặc những Sa môn, Bà la môn đáng kính ấy chủ trương rằng sau khi chết, tự ngã là phi tưởng phi phi tưởng, không bệnh hoạn, và vừa có sắc vừa vô sắc; hoặc những Sa môn, Bà la môn đáng kính ấy chủ trương rằng sau khi chết, tự ngã là phi tưởng phi phi tưởng, không bệnh hoạn, và không phải có sắc cũng không phải vô sắc. Này các Tỳ khưu, bất kỳ Sa môn hay Bà la môn nào, chỉ bằng vào các hành được thấy, nghe, cảm nhận, nhận thức mà chủ trương sự thành tựu của xứ này, thì này các Tỳ khưu, điều đó được gọi là sự hoại diệt đối với sự thành tựu của xứ này. Này các Tỳ khưu, xứ này không được gọi là có thể đạt được bằng sự chứng đắc các hành; này các Tỳ khưu, xứ này được gọi là có thể đạt được bằng sự chứng đắc các hành còn sót lại. ‘Cái này là pháp hữu vi, thô thiển. Nhưng có sự đoạn diệt của các hành, có cái đó’. Do biết như vậy, Như Lai, người thấy được sự xuất ly khỏi cái đó, đã vượt qua nó.”
Tatra, bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā sato sattassa ucchedaṁ vināsaṁ vibhavaṁ paññapenti, tatra, bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā saññiṁ attānaṁ paññapenti arogaṁ paraṁ maraṇā tesamete paṭikkosanti, yepi te bhonto samaṇabrāhmaṇā asaññiṁ attānaṁ paññapenti arogaṁ paraṁ maraṇā tesamete paṭikkosanti, yepi te bhonto samaṇabrāhmaṇā nevasaññīnāsaññiṁ attānaṁ paññapenti arogaṁ paraṁ maraṇā tesamete paṭikkosanti. Taṁ kissa hetu? Sabbepime bhonto samaṇabrāhmaṇā uddhaṁ saraṁ āsattiṁyeva abhivadanti: ‘iti pecca bhavissāma, iti pecca bhavissāmā’ti.
Seyyathāpi nāma vāṇijassa vāṇijjāya gacchato evaṁ hoti: ‘ito me idaṁ bhavissati, iminā idaṁ lacchāmī’ti; evamevime bhonto samaṇabrāhmaṇā vāṇijūpamā maññe paṭibhanti: ‘iti pecca bhavissāma, iti pecca bhavissāmā’ti. Tayidaṁ, bhikkhave, tathāgato abhijānāti. Ye kho te bhonto samaṇabrāhmaṇā sato sattassa ucchedaṁ vināsaṁ vibhavaṁ paññapenti te sakkāyabhayā sakkāyaparijegucchā sakkāyaññeva anuparidhāvanti anuparivattanti. Seyyathāpi nāma sā gaddulabaddho daḷhe thambhe vā khile vā upanibaddho, tameva thambhaṁ vā khilaṁ vā anuparidhāvati anuparivattati; evamevime bhonto samaṇabrāhmaṇā sakkāyabhayā sakkāyaparijegucchā sakkāyaññeva anuparidhāvanti anuparivattanti. ‘Tayidaṁ saṅkhataṁ oḷārikaṁ atthi kho pana saṅkhārānaṁ nirodho atthetan’ti—iti viditvā tassa nissaraṇadassāvī tathāgato tadupātivatto.
Now, the ascetics and brahmins who assert the annihilation, eradication, and nonexistence of an existing being reject those who assert a self that is healthy after death, whether percipient or non-percipient or neither percipient nor non-percipient. Why is that? Because they think: ‘All of those ascetics and brahmins only propose their attachment to heading upstream: “After death we shall be like this! After death we shall be like that!”
Suppose a trader was going to market, thinking: “With this, that shall be mine! This way, I shall get that!” In the same way, those ascetics and brahmins seem to be like traders when they say: “After death we shall be like this! After death we shall be like that!”’ The Realized One understands this as follows. The ascetics and brahmins who assert the annihilation, eradication, and nonexistence of an existing being; from fear and disgust with substantial reality, they just keep running and circling around substantial reality. Suppose a mutt on a leash was tethered to a strong post or pillar. It would just keeping running and circling around that post or pillar. In the same way, those ascetics and brahmins, from fear and disgust with substantial reality, just keep running and circling around substantial reality. ‘All that is conditioned and crude. But there is the cessation of conditions—<em>that</em> is real.’ Understanding this and seeing the escape from it, the Realized One has gone beyond all that.
25. “Này các Tỳ khưu, trong đó, những Sa môn, Bà la môn nào chủ trương sự đoạn diệt, sự hủy hoại, sự phi hữu của một chúng sanh hiện hữu. Này các Tỳ khưu, trong đó, những Sa môn, Bà la môn nào chủ trương rằng sau khi chết, tự ngã là có tưởng, không bệnh hoạn, thì bị những vị này phản bác. Và những Sa môn, Bà la môn đáng kính nào chủ trương rằng sau khi chết, tự ngã là vô tưởng, không bệnh hoạn, cũng bị những vị này phản bác. Và những Sa môn, Bà la môn đáng kính nào chủ trương rằng sau khi chết, tự ngã là phi tưởng phi phi tưởng, không bệnh hoạn, cũng bị những vị này phản bác. Vì sao vậy? Vì tất cả các Sa môn, Bà la môn đáng kính này, trong khi nói, đều dính mắc vào sự trôi lăn trong tương lai: ‘Như vậy chúng ta sẽ là sau khi chết, như vậy chúng ta sẽ là sau khi chết’. Ví như một thương gia đi buôn bán, suy nghĩ rằng: ‘Từ đây ta sẽ được cái này, với cái này ta sẽ kiếm được cái kia’. Cũng vậy, các Sa môn, Bà la môn đáng kính này, Ta cho rằng, giống như những thương gia, hiện ra với ý nghĩ: ‘Như vậy chúng ta sẽ là sau khi chết, như vậy chúng ta sẽ là sau khi chết’. Này các Tỳ khưu, Như Lai thắng tri điều này. Những Sa môn, Bà la môn đáng kính nào chủ trương sự đoạn diệt, sự hủy hoại, sự phi hữu của một chúng sanh hiện hữu, họ do sợ hãi thân kiến, do ghê tởm thân kiến, nên chỉ chạy vòng quanh, xoay vòng quanh chính thân kiến ấy. Ví như con chó bị buộc bằng dây vào một cây cột hay cọc vững chắc, nó chỉ chạy vòng quanh, xoay vòng quanh chính cây cột hay cọc ấy. Cũng vậy, các Sa môn, Bà la môn đáng kính này, do sợ hãi thân kiến, do ghê tởm thân kiến, nên chỉ chạy vòng quanh, xoay vòng quanh chính thân kiến ấy. ‘Cái này là pháp hữu vi, thô thiển. Nhưng có sự đoạn diệt của các hành, có cái đó’. Do biết như vậy, Như Lai, người thấy được sự xuất ly khỏi cái đó, đã vượt qua nó.”
Ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā aparantakappikā aparantānudiṭṭhino aparantaṁ ārabbha anekavihitāni adhivuttipadāni abhivadanti, sabbe te imāneva pañcāyatanāni abhivadanti etesaṁ vā aññataraṁ.
Whatever ascetics and brahmins speculate and theorize about the final end, and propose various hypotheses concerning the final end, all of them propose one or other of these five topics.
26. “Này các Tỳ khưu, bất kỳ Sa môn hay Bà la môn nào là những người suy đoán về tương lai, có những quan điểm về tương lai, dựa vào tương lai mà tuyên bố nhiều loại luận điểm khác nhau, tất cả họ đều tuyên bố dựa trên năm nền tảng này, hoặc một trong số đó.”
Santi, bhikkhave, eke samaṇabrāhmaṇā pubbantakappikā pubbantānudiṭṭhino pubbantaṁ ārabbha anekavihitāni adhivuttipadāni abhivadanti. ‘Sassato attā ca loko ca, idameva saccaṁ moghamaññan’ti—ittheke abhivadanti, ‘asassato attā ca loko ca, idameva saccaṁ moghamaññan’ti—ittheke abhivadanti, ‘sassato ca asassato ca attā ca loko ca, idameva saccaṁ moghamaññan’ti—ittheke abhivadanti, ‘nevasassato nāsassato attā ca loko ca, idameva saccaṁ moghamaññan’ti—ittheke abhivadanti, ‘antavā attā ca loko ca, idameva saccaṁ moghamaññan’ti—ittheke abhivadanti, ‘anantavā attā ca loko ca, idameva saccaṁ moghamaññan’ti—ittheke abhivadanti, ‘antavā ca anantavā ca attā ca loko ca, idameva saccaṁ moghamaññan’ti—ittheke abhivadanti, ‘nevantavā nānantavā attā ca loko ca, idameva saccaṁ moghamaññan’ti—ittheke abhivadanti, ‘ekattasaññī attā ca loko ca, idameva saccaṁ moghamaññan’ti—ittheke abhivadanti, ‘nānattasaññī attā ca loko ca, idameva saccaṁ moghamaññan’ti—ittheke abhivadanti, ‘parittasaññī attā ca loko ca, idameva saccaṁ moghamaññan’ti—ittheke abhivadanti, ‘appamāṇasaññī attā ca loko ca, idameva saccaṁ moghamaññan’ti—ittheke abhivadanti, ‘ekantasukhī attā ca loko ca, idameva saccaṁ moghamaññan’ti—ittheke abhivadanti, ‘ekantadukkhī attā ca loko ca, idameva saccaṁ moghamaññan’ti—ittheke abhivadanti, ‘sukhadukkhī attā ca loko ca, idameva saccaṁ moghamaññan’ti—ittheke abhivadanti, ‘adukkhamasukhī attā ca loko ca, idameva saccaṁ moghamaññan’ti—ittheke abhivadanti.
There are some ascetics and brahmins who speculate and theorize about the first beginning, and propose various hypotheses concerning the first beginning. They propose the following, each insisting that theirs is the only truth and that everything else is wrong. ‘The self and the cosmos are eternal.’ ‘The self and the cosmos are not eternal.’ ‘The self and the cosmos are both eternal and not eternal.’ ‘The self and the cosmos are neither eternal nor not eternal.’ ‘The self and the cosmos are finite.’ ‘The self and the cosmos are infinite.’ ‘The self and the cosmos are both finite and infinite.’ ‘The self and the cosmos are neither finite nor infinite.’ ‘The self and the cosmos are unified in perception.’ ‘The self and the cosmos are diverse in perception.’ ‘The self and the cosmos have limited perception.’ ‘The self and the cosmos have limitless perception.’ ‘The self and the cosmos experience nothing but happiness.’ ‘The self and the cosmos experience absolute suffering.’ ‘The self and the cosmos experience both happiness and suffering.’ ‘The self and the cosmos experience neither happiness nor suffering.’
27. Này các Tỳ khưu, có một số Sa-môn, Bà-la-môn là những người suy luận về quá khứ, có tà kiến về quá khứ, dựa vào quá khứ mà tuyên thuyết nhiều loại luận điểm khác nhau. Một số vị tuyên thuyết rằng: ‘Tự ngã và thế gian là thường hằng, chỉ điều này là sự thật, điều khác là sai lầm.’ Một số vị tuyên thuyết rằng: ‘Tự ngã và thế gian là không thường hằng, chỉ điều này là sự thật, điều khác là sai lầm.’ Một số vị tuyên thuyết rằng: ‘Tự ngã và thế gian là vừa thường hằng vừa không thường hằng, chỉ điều này là sự thật, điều khác là sai lầm.’ Một số vị tuyên thuyết rằng: ‘Tự ngã và thế gian là không phải thường hằng cũng không phải không thường hằng, chỉ điều này là sự thật, điều khác là sai lầm.’ Một số vị tuyên thuyết rằng: ‘Tự ngã và thế gian là hữu biên, chỉ điều này là sự thật, điều khác là sai lầm.’ Một số vị tuyên thuyết rằng: ‘Tự ngã và thế gian là vô biên, chỉ điều này là sự thật, điều khác là sai lầm.’ Một số vị tuyên thuyết rằng: ‘Tự ngã và thế gian là vừa hữu biên vừa vô biên, chỉ điều này là sự thật, điều khác là sai lầm.’ Một số vị tuyên thuyết rằng: ‘Tự ngã và thế gian là không phải hữu biên cũng không phải vô biên, chỉ điều này là sự thật, điều khác là sai lầm.’ Một số vị tuyên thuyết rằng: ‘Tự ngã và thế gian là có tưởng đồng nhất, chỉ điều này là sự thật, điều khác là sai lầm.’ Một số vị tuyên thuyết rằng: ‘Tự ngã và thế gian là có tưởng đa dạng, chỉ điều này là sự thật, điều khác là sai lầm.’ Một số vị tuyên thuyết rằng: ‘Tự ngã và thế gian là có tưởng hữu hạn, chỉ điều này là sự thật, điều khác là sai lầm.’ Một số vị tuyên thuyết rằng: ‘Tự ngã và thế gian là có tưởng vô lượng, chỉ điều này là sự thật, điều khác là sai lầm.’ Một số vị tuyên thuyết rằng: ‘Tự ngã và thế gian là hoàn toàn an lạc, chỉ điều này là sự thật, điều khác là sai lầm.’ Một số vị tuyên thuyết rằng: ‘Tự ngã và thế gian là hoàn toàn đau khổ, chỉ điều này là sự thật, điều khác là sai lầm.’ Một số vị tuyên thuyết rằng: ‘Tự ngã và thế gian là vừa an lạc vừa đau khổ, chỉ điều này là sự thật, điều khác là sai lầm.’ Một số vị tuyên thuyết rằng: ‘Tự ngã và thế gian là không khổ không lạc, chỉ điều này là sự thật, điều khác là sai lầm.’
Tatra, bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘sassato attā ca loko ca, idameva saccaṁ moghamaññan’ti, tesaṁ vata aññatreva saddhāya aññatra ruciyā aññatra anussavā aññatra ākāraparivitakkā aññatra diṭṭhinijjhānakkhantiyā paccattaṁyeva ñāṇaṁ bhavissati parisuddhaṁ pariyodātanti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati. Paccattaṁ kho pana, bhikkhave, ñāṇe asati parisuddhe pariyodāte yadapi te bhonto samaṇabrāhmaṇā tattha ñāṇabhāgamattameva pariyodapenti tadapi tesaṁ bhavataṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ upādānamakkhāyati. ‘Tayidaṁ saṅkhataṁ oḷārikaṁ atthi kho pana saṅkhārānaṁ nirodho atthetan’ti—iti viditvā tassa nissaraṇadassāvī tathāgato tadupātivatto.
Now, consider the ascetics and brahmins whose view is as follows. ‘The self and the cosmos are eternal. This is the only truth, anything else is futile.’ It’s simply not possible for them to have personal knowledge of this that is pure and bright, apart from faith, endorsement, oral transmission, reasoned train of thought, or acceptance of a view after deliberation. But in the absence of personal knowledge that is pure and bright, even the portion of knowledge they illuminate is said to be grasping on their part. ‘All that is conditioned and crude. But there is the cessation of conditions—<em>that</em> is real.’ Understanding this and seeing the escape from it, the Realized One has gone beyond all that.
28. Này các Tỳ khưu, trong số ấy, những Sa-môn, Bà-la-môn nào có thuyết như vầy, có kiến như vầy: ‘Tự ngã và thế gian là thường hằng, chỉ điều này là sự thật, điều khác là sai lầm,’ đối với các vị ấy, quả thật, ngoài tín, ngoài ý thích, ngoài sự truyền tụng, ngoài sự suy xét về các khía cạnh, ngoài sự chấp nhận kiến giải sau khi thẩm sát, sẽ có được trí tuệ thanh tịnh, trong sạch cho riêng mình – trường hợp này không xảy ra. Này các Tỳ khưu, lại nữa, khi không có trí tuệ thanh tịnh, trong sạch cho riêng mình, dù cho các bậc Sa-môn, Bà-la-môn ấy có làm trong sạch được một phần nào đó của trí tuệ, thì điều ấy của các bậc Sa-môn, Bà-la-môn đáng kính ấy cũng được gọi là chấp thủ. Cái ấy là pháp hữu vi, thô thiển. Lại nữa, có sự đoạn diệt của các pháp hành. Biết rằng: ‘Điều này có’, Như Lai, người thấy được sự xuất ly khỏi pháp hữu vi ấy, đã vượt qua khỏi nó.
Tatra, bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘asassato attā ca loko ca, idameva saccaṁ moghamaññan’ti …pe… sassato ca asassato ca attā ca loko ca … nevasassato nāsassato attā ca loko ca … antavā attā ca loko ca … anantavā attā ca loko ca … antavā ca anantavā ca attā ca loko ca … nevantavā nānantavā attā ca loko ca … ekattasaññī attā ca loko ca … nānattasaññī attā ca loko ca … parittasaññī attā ca loko ca … appamāṇasaññī attā ca loko ca … ekantasukhī attā ca loko ca … ekantadukkhī attā ca loko ca … sukhadukkhī attā ca loko ca … adukkhamasukhī attā ca loko ca, idameva saccaṁ moghamaññanti, tesaṁ vata aññatreva saddhāya aññatra ruciyā aññatra anussavā aññatra ākāraparivitakkā aññatra diṭṭhinijjhānakkhantiyā paccattaṁyeva ñāṇaṁ bhavissati parisuddhaṁ pariyodātanti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati. Paccattaṁ kho pana, bhikkhave, ñāṇe asati parisuddhe pariyodāte yadapi te bhonto samaṇabrāhmaṇā tattha ñāṇabhāgamattameva pariyodapenti tadapi tesaṁ bhavataṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ upādānamakkhāyati. ‘Tayidaṁ saṅkhataṁ oḷārikaṁ atthi kho pana saṅkhārānaṁ nirodho atthetan’ti—iti viditvā tassa nissaraṇadassāvī tathāgato tadupātivatto.
Now, consider the ascetics and brahmins whose view is as follows. The self and the cosmos are not eternal, or both eternal and not eternal, or neither eternal nor not-eternal, or finite, or infinite, or both finite and infinite, or neither finite nor infinite, or of unified perception, or of diverse perception, or of limited perception, or of limitless perception, or experience nothing but happiness, or experience absolute suffering, or experience both happiness and suffering, or experience neither happiness nor suffering. It’s simply not possible for them to have personal knowledge of this that is pure and bright, apart from faith, endorsement, oral transmission, reasoned train of thought, or acceptance of a view after deliberation. But in the absence of personal knowledge that is pure and bright, even the portion of knowledge they illuminate is said to be grasping on their part. ‘All that is conditioned and crude. But there is the cessation of conditions—<em>that</em> is real.’ Understanding this and seeing the escape from it, the Realized One has gone beyond all that.
29. Này các Tỳ khưu, trong số ấy, những Sa-môn, Bà-la-môn nào có thuyết như vầy, có kiến như vầy: ‘Tự ngã và thế gian là không thường hằng, chỉ điều này là sự thật, điều khác là sai lầm’... ... ‘Tự ngã và thế gian là vừa thường hằng vừa không thường hằng’... ‘Tự ngã và thế gian là không phải thường hằng cũng không phải không thường hằng’... ‘Tự ngã và thế gian là hữu biên’... ‘Tự ngã và thế gian là vô biên’... ‘Tự ngã và thế gian là vừa hữu biên vừa vô biên’... ‘Tự ngã và thế gian là không phải hữu biên cũng không phải vô biên’... ‘Tự ngã và thế gian là có tưởng đồng nhất’... ‘Tự ngã và thế gian là có tưởng đa dạng’... ‘Tự ngã và thế gian là có tưởng hữu hạn’... ‘Tự ngã và thế gian là có tưởng vô lượng’... ‘Tự ngã và thế gian là hoàn toàn an lạc’... ‘Tự ngã và thế gian là hoàn toàn đau khổ’... ‘Tự ngã và thế gian là vừa an lạc vừa đau khổ’... ‘Tự ngã và thế gian là không khổ không lạc, chỉ điều này là sự thật, điều khác là sai lầm,’ đối với các vị ấy, quả thật, ngoài tín, ngoài ý thích, ngoài sự truyền tụng, ngoài sự suy xét về các khía cạnh, ngoài sự chấp nhận kiến giải sau khi thẩm sát, sẽ có được trí tuệ thanh tịnh, trong sạch cho riêng mình – trường hợp này không xảy ra. Này các Tỳ khưu, lại nữa, khi không có trí tuệ thanh tịnh, trong sạch cho riêng mình, dù cho các bậc Sa-môn, Bà-la-môn ấy có làm trong sạch được một phần nào đó của trí tuệ, thì điều ấy của các bậc Sa-môn, Bà-la-môn đáng kính ấy cũng được gọi là chấp thủ. Cái ấy là pháp hữu vi, thô thiển. Lại nữa, có sự đoạn diệt của các pháp hành. Biết rằng: ‘Điều này có’, Như Lai, người thấy được sự xuất ly khỏi pháp hữu vi ấy, đã vượt qua khỏi nó.
Idha, bhikkhave, ekacco samaṇo vā brāhmaṇo vā pubbantānudiṭṭhīnañca paṭinissaggā, aparantānudiṭṭhīnañca paṭinissaggā, sabbaso kāmasaṁyojanānaṁ anadhiṭṭhānā, pavivekaṁ pītiṁ upasampajja viharati: ‘etaṁ santaṁ etaṁ paṇītaṁ yadidaṁ pavivekaṁ pītiṁ upasampajja viharāmī’ti. Tassa sā pavivekā pīti nirujjhati. Pavivekāya pītiyā nirodhā uppajjati domanassaṁ, domanassassa nirodhā uppajjati pavivekā pīti.
Seyyathāpi, bhikkhave, yaṁ chāyā jahati taṁ ātapo pharati, yaṁ ātapo jahati taṁ chāyā pharati; evameva kho, bhikkhave, pavivekāya pītiyā nirodhā uppajjati domanassaṁ, domanassassa nirodhā uppajjati pavivekā pīti. Tayidaṁ, bhikkhave, tathāgato abhijānāti. Ayaṁ kho bhavaṁ samaṇo vā brāhmaṇo vā pubbantānudiṭṭhīnañca paṭinissaggā, aparantānudiṭṭhīnañca paṭinissaggā, sabbaso kāmasaṁyojanānaṁ anadhiṭṭhānā, pavivekaṁ pītiṁ upasampajja viharati: ‘etaṁ santaṁ etaṁ paṇītaṁ yadidaṁ pavivekaṁ pītiṁ upasampajja viharāmī’ti. Tassa sā pavivekā pīti nirujjhati. Pavivekāya pītiyā nirodhā uppajjati domanassaṁ, domanassassa nirodhā uppajjati pavivekā pīti. ‘Tayidaṁ saṅkhataṁ oḷārikaṁ atthi kho pana saṅkhārānaṁ nirodho atthetan’ti—iti viditvā tassa nissaraṇadassāvī tathāgato tadupātivatto.
Now, some ascetics and brahmins, letting go of theories about the first beginning and the final end, not fixating on the fetters of sensuality, enter and remain in the rapture of seclusion: ‘This is peaceful, this is sublime, that is, entering and remaining in the rapture of seclusion.’ But that rapture of seclusion of theirs ceases. When the rapture of seclusion ceases, sadness arises; and when sadness ceases, the rapture of seclusion arises.
It’s like how the sunlight fills the space when the shadow leaves, or the shadow fills the space when the sunshine leaves. In the same way, when the rapture of seclusion ceases, sadness arises; and when sadness ceases, the rapture of seclusion arises. The Realized One understands this as follows. This good ascetic or brahmin, letting go of theories about the first beginning and the final end, not fixating on the fetters of sensuality, enters and remains in the rapture of seclusion: ‘This is peaceful, this is sublime, that is, entering and remaining in the rapture of seclusion.’ But that rapture of seclusion of theirs ceases. When the rapture of seclusion ceases, sadness arises; and when sadness ceases, the rapture of seclusion arises. ‘All that is conditioned and crude. But there is the cessation of conditions—<em>that</em> is real.’ Understanding this and seeing the escape from it, the Realized One has gone beyond all that.
30. Này các Tỳ khưu, ở đây, có Sa-môn hay Bà-la-môn, do từ bỏ các tà kiến về quá khứ, do từ bỏ các tà kiến về tương lai, do không chấp thủ các dục kiết sử một cách hoàn toàn, vị ấy thành tựu và an trú trong hỷ do viễn ly sanh và nghĩ rằng: ‘Điều này là an tịnh, điều này là vi diệu, tức là việc ta thành tựu và an trú trong hỷ do viễn ly sanh.’ Vị ấy, hỷ do viễn ly sanh kia được đoạn diệt. Do hỷ do viễn ly sanh được đoạn diệt, ưu khởi sanh; do ưu được đoạn diệt, hỷ do viễn ly sanh khởi sanh. Này các Tỳ khưu, ví như nơi nào bóng râm rời khỏi, nơi ấy bị nắng nóng bao trùm; nơi nào nắng nóng rời khỏi, nơi ấy bị bóng râm bao trùm. Tương tự y như thế, này các Tỳ khưu, do hỷ do viễn ly sanh được đoạn diệt, ưu khởi sanh; do ưu được đoạn diệt, hỷ do viễn ly sanh khởi sanh. Này các Tỳ khưu, Như Lai thắng tri điều ấy. Vị Sa-môn hay Bà-la-môn đáng kính này, do từ bỏ các tà kiến về quá khứ, do từ bỏ các tà kiến về tương lai, do không chấp thủ các dục kiết sử một cách hoàn toàn, vị ấy thành tựu và an trú trong hỷ do viễn ly sanh và nghĩ rằng: ‘Điều này là an tịnh, điều này là vi diệu, tức là việc ta thành tựu và an trú trong hỷ do viễn ly sanh.’ Vị ấy, hỷ do viễn ly sanh kia được đoạn diệt. Do hỷ do viễn ly sanh được đoạn diệt, ưu khởi sanh; do ưu được đoạn diệt, hỷ do viễn ly sanh khởi sanh. ‘Điều này là pháp hữu vi, là thô thiển. Lại nữa, có sự đoạn diệt các hành.’ Biết như vậy, Như Lai là bậc thấy được sự xuất ly khỏi pháp hữu vi ấy, đã vượt qua khỏi pháp hữu vi ấy.
Idha pana, bhikkhave, ekacco samaṇo vā brāhmaṇo vā pubbantānudiṭṭhīnañca paṭinissaggā, aparantānudiṭṭhīnañca paṭinissaggā, sabbaso kāmasaṁyojanānaṁ anadhiṭṭhānā, pavivekāya pītiyā samatikkamā nirāmisaṁ sukhaṁ upasampajja viharati: ‘etaṁ santaṁ etaṁ paṇītaṁ yadidaṁ nirāmisaṁ sukhaṁ upasampajja viharāmī’ti. Tassa taṁ nirāmisaṁ sukhaṁ nirujjhati. Nirāmisassa sukhassa nirodhā uppajjati pavivekā pīti, pavivekāya pītiyā nirodhā uppajjati nirāmisaṁ sukhaṁ.
Seyyathāpi, bhikkhave, yaṁ chāyā jahati taṁ ātapo pharati, yaṁ ātapo jahati taṁ chāyā pharati; evameva kho, bhikkhave, nirāmisassa sukhassa nirodhā uppajjati pavivekā pīti, pavivekāya pītiyā nirodhā uppajjati nirāmisaṁ sukhaṁ. Tayidaṁ, bhikkhave, tathāgato abhijānāti. Ayaṁ kho bhavaṁ samaṇo vā brāhmaṇo vā pubbantānudiṭṭhīnañca paṭinissaggā, aparantānudiṭṭhīnañca paṭinissaggā, sabbaso kāmasaṁyojanānaṁ anadhiṭṭhānā, pavivekāya pītiyā samatikkamā, nirāmisaṁ sukhaṁ upasampajja viharati: ‘etaṁ santaṁ etaṁ paṇītaṁ yadidaṁ nirāmisaṁ sukhaṁ upasampajja viharāmī’ti. Tassa taṁ nirāmisaṁ sukhaṁ nirujjhati. Nirāmisassa sukhassa nirodhā uppajjati pavivekā pīti, pavivekāya pītiyā nirodhā uppajjati nirāmisaṁ sukhaṁ. ‘Tayidaṁ saṅkhataṁ oḷārikaṁ atthi kho pana saṅkhārānaṁ nirodho atthetan’ti—iti viditvā tassa nissaraṇadassāvī tathāgato tadupātivatto.
Now, some ascetics and brahmins, letting go of theories about the first beginning and the final end, not fixating on the fetters of sensuality, going beyond the rapture of seclusion, enter and remain in pleasure not of the flesh. ‘This is peaceful, this is sublime, that is, entering and remaining in pleasure not of the flesh.’ But that pleasure not of the flesh of theirs ceases. When pleasure not of the flesh ceases, the rapture of seclusion arises; and when the rapture of seclusion ceases, pleasure not of the flesh arises.
It’s like how the sunlight fills the space when the shadow leaves, or the shadow fills the space when the sunshine leaves. … The Realized One understands this as follows. This good ascetic or brahmin, letting go of theories about the first beginning and the final end, not fixating on the fetters of sensuality, going beyond the rapture of seclusion, enters and remains in pleasure not of the flesh. ‘This is peaceful, this is sublime, that is, entering and remaining in pleasure not of the flesh.’ But that pleasure not of the flesh of theirs ceases. When pleasure not of the flesh ceases, the rapture of seclusion arises; and when the rapture of seclusion ceases, pleasure not of the flesh arises. ‘All that is conditioned and crude. But there is the cessation of conditions—<em>that</em> is real.’ Understanding this and seeing the escape from it, the Realized One has gone beyond all that.
31. Lại nữa, này các Tỳ khưu, ở đây, có Sa-môn hay Bà-la-môn, do từ bỏ các tà kiến về quá khứ, do từ bỏ các tà kiến về tương lai, do không chấp thủ các dục kiết sử một cách hoàn toàn, do vượt qua hỷ do viễn ly sanh, vị ấy thành tựu và an trú trong lạc phi vật chất và nghĩ rằng: ‘Điều này là an tịnh, điều này là vi diệu, tức là việc ta thành tựu và an trú trong lạc phi vật chất.’ Vị ấy, lạc phi vật chất kia được đoạn diệt. Do lạc phi vật chất được đoạn diệt, hỷ do viễn ly sanh khởi sanh; do hỷ do viễn ly sanh được đoạn diệt, lạc phi vật chất khởi sanh. Này các Tỳ khưu, ví như nơi nào bóng râm rời khỏi, nơi ấy bị nắng nóng bao trùm; nơi nào nắng nóng rời khỏi, nơi ấy bị bóng râm bao trùm. Tương tự y như thế, này các Tỳ khưu, do lạc phi vật chất được đoạn diệt, hỷ do viễn ly sanh khởi sanh; do hỷ do viễn ly sanh được đoạn diệt, lạc phi vật chất khởi sanh. Này các Tỳ khưu, Như Lai thắng tri điều ấy. Vị Sa-môn hay Bà-la-môn đáng kính này, do từ bỏ các tà kiến về quá khứ, do từ bỏ các tà kiến về tương lai, do không chấp thủ các dục kiết sử một cách hoàn toàn, do vượt qua hỷ do viễn ly sanh, vị ấy thành tựu và an trú trong lạc phi vật chất và nghĩ rằng: ‘Điều này là an tịnh, điều này là vi diệu, tức là việc ta thành tựu và an trú trong lạc phi vật chất.’ Vị ấy, lạc phi vật chất kia được đoạn diệt. Do lạc phi vật chất được đoạn diệt, hỷ do viễn ly sanh khởi sanh; do hỷ do viễn ly sanh được đoạn diệt, lạc phi vật chất khởi sanh. ‘Điều này là pháp hữu vi, là thô thiển. Lại nữa, có sự đoạn diệt các hành.’ Biết như vậy, Như Lai là bậc thấy được sự xuất ly khỏi pháp hữu vi ấy, đã vượt qua khỏi pháp hữu vi ấy.
Idha pana, bhikkhave, ekacco samaṇo vā brāhmaṇo vā pubbantānudiṭṭhīnañca paṭinissaggā, aparantānudiṭṭhīnañca paṭinissaggā, sabbaso kāmasaṁyojanānaṁ anadhiṭṭhānā, pavivekāya pītiyā samatikkamā, nirāmisassa sukhassa samatikkamā, adukkhamasukhaṁ vedanaṁ upasampajja viharati: ‘etaṁ santaṁ etaṁ paṇītaṁ yadidaṁ adukkhamasukhaṁ vedanaṁ upasampajja viharāmī’ti. Tassa sā adukkhamasukhā vedanā nirujjhati. Adukkhamasukhāya vedanāya nirodhā uppajjati nirāmisaṁ sukhaṁ, nirāmisassa sukhassa nirodhā uppajjati adukkhamasukhā vedanā.
Seyyathāpi, bhikkhave, yaṁ chāyā jahati taṁ ātapo pharati, yaṁ ātapo jahati taṁ chāyā pharati; evameva kho, bhikkhave, adukkhamasukhāya vedanāya nirodhā uppajjati nirāmisaṁ sukhaṁ, nirāmisassa sukhassa nirodhā uppajjati adukkhamasukhā vedanā. Tayidaṁ, bhikkhave, tathāgato abhijānāti. Ayaṁ kho bhavaṁ samaṇo vā brāhmaṇo vā pubbantānudiṭṭhīnañca paṭinissaggā, aparantānudiṭṭhīnañca paṭinissaggā, sabbaso kāmasaṁyojanānaṁ anadhiṭṭhānā, pavivekāya pītiyā samatikkamā, nirāmisassa sukhassa samatikkamā, adukkhamasukhaṁ vedanaṁ upasampajja viharati: ‘etaṁ santaṁ etaṁ paṇītaṁ yadidaṁ adukkhamasukhaṁ vedanaṁ upasampajja viharāmī’ti. Tassa sā adukkhamasukhā vedanā nirujjhati. Adukkhamasukhāya vedanāya nirodhā uppajjati nirāmisaṁ sukhaṁ, nirāmisassa sukhassa nirodhā uppajjati adukkhamasukhā vedanā. ‘Tayidaṁ saṅkhataṁ oḷārikaṁ atthi kho pana saṅkhārānaṁ nirodho atthetan’ti—iti viditvā tassa nissaraṇadassāvī tathāgato tadupātivatto.
Now, some ascetics and brahmins, letting go of theories about the first beginning and the final end, not fixating on the fetters of sensuality, going beyond the rapture of seclusion and pleasure not of the flesh, enter and remain in neutral feeling. ‘This is peaceful, this is sublime, that is, entering and remaining in neutral feeling.’ Then that neutral feeling ceases. When neutral feeling ceases, pleasure not of the flesh arises; and when pleasure not of the flesh ceases, neutral feeling arises.
It’s like how the sunlight fills the space when the shadow leaves, or the shadow fills the space when the sunshine leaves. … The Realized One understands this as follows. This good ascetic or brahmin, letting go of theories about the first beginning and the final end, not fixating on the fetters of sensuality, going beyond the rapture of seclusion and pleasure not of the flesh, enters and remains in neutral feeling. ‘This is peaceful, this is sublime, that is, entering and remaining in neutral feeling.’ Then that neutral feeling ceases. When neutral feeling ceases, pleasure not of the flesh arises; and when pleasure not of the flesh ceases, neutral feeling arises. ‘All that is conditioned and crude. But there is the cessation of conditions—<em>that</em> is real.’ Understanding this and seeing the escape from it, the Realized One has gone beyond all that.
32. Lại nữa, này các Tỳ khưu, ở đây, có Sa-môn hay Bà-la-môn, do từ bỏ các tà kiến về quá khứ, do từ bỏ các tà kiến về tương lai, do không chấp thủ các dục kiết sử một cách hoàn toàn, do vượt qua hỷ do viễn ly sanh, do vượt qua lạc phi vật chất, vị ấy thành tựu và an trú trong cảm thọ không khổ không lạc và nghĩ rằng: ‘Điều này là an tịnh, điều này là vi diệu, tức là việc ta thành tựu và an trú trong cảm thọ không khổ không lạc.’ Vị ấy, cảm thọ không khổ không lạc kia được đoạn diệt. Do cảm thọ không khổ không lạc được đoạn diệt, lạc phi vật chất khởi sanh; do lạc phi vật chất được đoạn diệt, cảm thọ không khổ không lạc khởi sanh. Này các Tỳ khưu, ví như nơi nào bóng râm rời khỏi, nơi ấy bị nắng nóng bao trùm; nơi nào nắng nóng rời khỏi, nơi ấy bị bóng râm bao trùm. Tương tự y như thế, này các Tỳ khưu, do cảm thọ không khổ không lạc được đoạn diệt, lạc phi vật chất khởi sanh; do lạc phi vật chất được đoạn diệt, cảm thọ không khổ không lạc khởi sanh. Này các Tỳ khưu, Như Lai thắng tri điều ấy. Vị Sa-môn hay Bà-la-môn đáng kính này, do từ bỏ các tà kiến về quá khứ, do từ bỏ các tà kiến về tương lai, do không chấp thủ các dục kiết sử một cách hoàn toàn, do vượt qua hỷ do viễn ly sanh, do vượt qua lạc phi vật chất, vị ấy thành tựu và an trú trong cảm thọ không khổ không lạc và nghĩ rằng: ‘Điều này là an tịnh, điều này là vi diệu, tức là việc ta thành tựu và an trú trong cảm thọ không khổ không lạc.’ Vị ấy, cảm thọ không khổ không lạc kia được đoạn diệt. Do cảm thọ không khổ không lạc được đoạn diệt, lạc phi vật chất khởi sanh; do lạc phi vật chất được đoạn diệt, cảm thọ không khổ không lạc khởi sanh. ‘Điều này là pháp hữu vi, là thô thiển. Lại nữa, có sự đoạn diệt các hành.’ Biết như vậy, Như Lai là bậc thấy được sự xuất ly khỏi pháp hữu vi ấy, đã vượt qua khỏi pháp hữu vi ấy.
Idha pana, bhikkhave, ekacco samaṇo vā brāhmaṇo vā pubbantānudiṭṭhīnañca paṭinissaggā, aparantānudiṭṭhīnañca paṭinissaggā, sabbaso kāmasaṁyojanānaṁ anadhiṭṭhānā, pavivekāya pītiyā samatikkamā, nirāmisassa sukhassa samatikkamā, adukkhamasukhāya vedanāya samatikkamā: ‘santohamasmi, nibbutohamasmi, anupādānohamasmī’ti samanupassati.
Tayidaṁ, bhikkhave, tathāgato abhijānāti. Ayaṁ kho bhavaṁ samaṇo vā brāhmaṇo vā pubbantānudiṭṭhīnañca paṭinissaggā, aparantānudiṭṭhīnañca paṭinissaggā, sabbaso kāmasaṁyojanānaṁ anadhiṭṭhānā, pavivekāya pītiyā samatikkamā, nirāmisassa sukhassa samatikkamā, adukkhamasukhāya vedanāya samatikkamā: ‘santohamasmi, nibbutohamasmi, anupādānohamasmī’ti samanupassati; addhā ayamāyasmā nibbānasappāyaṁyeva paṭipadaṁ abhivadati. Atha ca panāyaṁ bhavaṁ samaṇo vā brāhmaṇo vā pubbantānudiṭṭhiṁ vā upādiyamāno upādiyati, aparantānudiṭṭhiṁ vā upādiyamāno upādiyati, kāmasaṁyojanaṁ vā upādiyamāno upādiyati, pavivekaṁ vā pītiṁ upādiyamāno upādiyati, nirāmisaṁ vā sukhaṁ upādiyamāno upādiyati, adukkhamasukhaṁ vā vedanaṁ upādiyamāno upādiyati. Yañca kho ayamāyasmā: ‘santohamasmi, nibbutohamasmi, anupādānohamasmī’ti samanupassati tadapi imassa bhoto samaṇassa brāhmaṇassa upādānamakkhāyati. ‘Tayidaṁ saṅkhataṁ oḷārikaṁ atthi kho pana saṅkhārānaṁ nirodho atthetan’ti—iti viditvā tassa nissaraṇadassāvī tathāgato tadupātivatto.
Now, some ascetics and brahmins, letting go of theories about the first beginning and the final end, not fixating on the fetters of sensuality, go beyond the rapture of seclusion, pleasure not of the flesh, and neutral feeling. They regard themselves like this: ‘I am at peace; I am quenched; I am free of grasping.’
The Realized One understands this as follows. This good ascetic or brahmin, letting go of theories about the first beginning and the final end, not fixating on the fetters of sensuality, goes beyond the rapture of seclusion, pleasure not of the flesh, and neutral feeling. They regard themselves like this: ‘I am at peace; I am quenched; I am free of grasping.’ Clearly this venerable speaks of a practice that’s conducive to extinguishment. Nevertheless, they still grasp at theories about the first beginning or the final end, or the fetters of sensuality, or the rapture of seclusion, or pleasure not of the flesh, or neutral feeling. And when they regard themselves like this: ‘I am at peace; I am quenched; I am free of grasping,’ that’s also said to be grasping on their part. ‘All that is conditioned and crude. But there is the cessation of conditions—<em>that</em> is real.’ Understanding this and seeing the escape from it, the Realized One has gone beyond all that.
33. “Này các Tỳ khưu, ở đây, có Sa môn hay Bà la môn nào đó, do từ bỏ các tà kiến về quá khứ, do từ bỏ các tà kiến về vị lai, do hoàn toàn không có nền tảng cho các kiết sử dục, do vượt qua hỷ do ly dục sanh, do vượt qua lạc không liên quan đến vật chất, do vượt qua thọ không khổ không lạc, vị ấy quán xét rằng: ‘Ta được tịch tịnh, ta được dập tắt, ta không còn chấp thủ’. Này các Tỳ khưu, Như Lai biết rõ điều này. Vị Sa môn hay Bà la môn đáng kính này, do từ bỏ các tà kiến về quá khứ, do từ bỏ các tà kiến về vị lai, do hoàn toàn không có nền tảng cho các kiết sử dục, do vượt qua hỷ do ly dục sanh, do vượt qua lạc không liên quan đến vật chất, do vượt qua thọ không khổ không lạc, vị ấy quán xét rằng: ‘Ta được tịch tịnh, ta được dập tắt, ta không còn chấp thủ’; chắc chắn vị tôn giả này đang tuyên bố về con đường thực hành phù hợp với Niết bàn. Tuy nhiên, vị Sa môn hay Bà la môn đáng kính này vẫn chấp thủ trong khi chấp thủ tà kiến về quá khứ, vẫn chấp thủ trong khi chấp thủ tà kiến về vị lai, vẫn chấp thủ trong khi chấp thủ kiết sử dục, vẫn chấp thủ trong khi chấp thủ hỷ do ly dục sanh, vẫn chấp thủ trong khi chấp thủ lạc không liên quan đến vật chất, vẫn chấp thủ trong khi chấp thủ thọ không khổ không lạc. Và việc vị tôn giả này quán xét rằng: ‘Ta được tịch tịnh, ta được dập tắt, ta không còn chấp thủ’, điều đó cũng được gọi là sự chấp thủ của vị Sa môn, Bà la môn đáng kính ấy. ‘Sự chấp thủ này là pháp hữu vi, thô thiển. Nhưng có sự đoạn diệt của các hành. Có điều đó’. Do biết như vậy, do thấy được sự thoát ly khỏi nó, Như Lai đã vượt qua điều đó.”
Idaṁ kho pana, bhikkhave, tathāgatena anuttaraṁ santivarapadaṁ abhisambuddhaṁ yadidaṁ—channaṁ phassāyatanānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ viditvā anupādāvimokkho”ti.
But the Realized One has awakened to the supreme state of sublime peace, that is, liberation by not grasping after truly understanding the six fields of contact’s origin, disappearance, gratification, drawback, and escape.”
“Này các Tỳ khưu, đây là trạng thái tịch tịnh tối thượng, cao quý đã được Như Lai chứng ngộ, đó là: sự giải thoát do không còn chấp thủ, sau khi đã biết rõ như thật về sự sanh khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hại, và sự thoát ly của sáu xứ xúc.”
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
Thế Tôn đã thuyết như vậy. Các Tỳ khưu ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Pañcattayasuttaṁ niṭṭhitaṁ dutiyaṁ.
Kinh Năm và Ba (thứ hai) chấm dứt.