Bản dịch
MIL 7.7.3 — CÂU HỎI VỀ TÍNH CHẤT CỦA LOÀI RÙA
3. Cittakadharakummaṅgapañha
“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Một tính chất của loài rùa có đốm nên được hành trì,’ một tính chất nên được hành trì ấy là điều nào?”
“Tâu đại vương, giống như loài rùa có đốm di chuyển, tránh xa nước vì sợ nước, tuy nhiên do việc tránh xa nước ấy, vẫn không bị giảm thiểu về tuổi thọ. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên có sự nhìn thấy nỗi sợ hãi ở việc xao lãng, nên có sự nhìn thấy nét đặc biệt của đức hạnh ở việc không xao lãng. Tuy nhiên, do trạng thái nhìn thấy nỗi sợ hãi ở việc xao lãng ấy, vẫn không bị suy giảm về bản thể Sa-môn, vị ấy tiến đến gần chỗ kề cận Niết Bàn. Tâu đại vương, điều này là một tính chất của loài rùa có đốm nên được hành trì. Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn, vị Trời vượt trội các vị Trời, nói đến ở Pháp Cú:
‘Vị tỳ khưu thích thú trong việc không xao lãng, hoặc có sự nhìn thấy nỗi sợ hãi ở việc xao lãng, không thể bị hư hỏng, và ở kề cận chính Niết Bàn.’”
Câu hỏi về tính chất của loài rùa là thứ ba.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
3. ‘‘Bhante nāgasena, ‘cittakadharakummassa † ekaṃ aṅgaṃ gahetabba’nti yaṃ vadesi, katamaṃ taṃ ekaṃ aṅgaṃ gahetabba’’nti? ‘‘Yathā, mahārāja, cittakadharakummo udakabhayā udakaṃ parivajjetvā vicarati, tāya ca pana udakaṃ parivajjanāya āyunā na parihāyati, evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena pamāde bhayadassāvinā bhavitabbaṃ, appamāde guṇavisesadassāvinā. Tāya ca pana bhayadassāvitāya na parihāyati sāmaññā, nibbānassa santike upeti †. Idaṃ, mahārāja, cittakadharakummassa ekaṃ aṅgaṃ gahetabbaṃ. Bhāsitampetaṃ, mahārāja, bhagavatā devātidevena dhammapade –
3. "Venerable Nāgasena, you say that 'one quality of the spotted tortoise should be adopted.' What is that one quality to be adopted?" "Just as, great king, a spotted tortoise, fearing water, avoids water while roaming about, and by that avoidance of water its lifespan is not diminished, so too, great king, a yogi, one devoted to the practice, should be one who sees danger in negligence and sees the special advantage in diligence. And by seeing that danger, one does not fall away from the ascetic life but draws near to Nibbāna. This, great king, is the one quality of the spotted tortoise to be adopted. This was also spoken, great king, by the Blessed One, the god beyond gods, in the Dhammapada:"
3. “Bạch Đại đức Nāgasena, ngài đã nói rằng: ‘Nên thực hành theo một đặc tính của con rùa cạn có đốm.’ Đặc tính duy nhất ấy là gì?” “Tâu Đại vương, ví như con rùa cạn có đốm vì sợ nước nên tránh xa nước mà đi, và nhờ việc tránh xa nước ấy mà nó không bị tổn hại đến mạng sống. Cũng vậy, tâu Đại vương, vị hành giả tu tập thiền định nên thấy sự nguy hiểm trong dể duôi và thấy lợi ích đặc biệt trong sự không dể duôi. Và nhờ thấy được sự nguy hiểm ấy, vị ấy không bị suy thoái khỏi đời sống Sa-môn, và tiến đến gần Niết-bàn. Tâu Đại vương, đây là đặc tính duy nhất của con rùa cạn có đốm nên được thực hành theo. Tâu Đại vương, điều này đã được Thế Tôn, vị trời của các vị trời, nói đến trong Kinh Pháp Cú:
‘‘‘Appamādarato bhikkhu, pamāde bhayadassi vā;
Abhabbo parihānāya, nibbānasseva santike’’’ti.
"'A bhikkhu who delights in diligence, or who sees danger in negligence, is incapable of falling away; he is in the very presence of Nibbāna.'"
“‘Vị Tỳ khưu vui thích trong không dể duôi, hay thấy sự nguy hiểm trong dể duôi, thì không thể bị suy thoái, vị ấy ở gần bên Niết-bàn.’”
Cittakadharakummaṅgapañho catuttho.
The third question on the quality of the spotted tortoise.
Câu hỏi về đặc tính của con rùa cạn có đốm là câu hỏi thứ ba.