Bản dịch
MIL 7.6.5 — CÂU HỎI VỀ TÍNH CHẤT CỦA LOÀI CHIM CÚ
5. Ulūkaṅgapañha
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Hai tính chất của loài chim cú nên được hành trì,’ hai tính chất nên được hành trì ấy là các điều nào?”
“Tâu đại vương, giống như loài chim cú chống đối lại các con quạ, ban đêm đi đến bầy quạ, rồi còn giết chết nhiều con quạ. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên thể hiện sự chống đối lại sự thiếu trí, nên ngồi xuống một mình ở nơi vắng vẻ rồi nên nghiền nát hoàn toàn sự thiếu trí, nên cắt đứt tận gốc rễ. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ nhất của loài chim cú nên được hành trì.
BJT 2Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, loài chim cú là vô cùng cô tịch. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên có sự ưa thích thiền tịnh, được thích thú thiền tịnh. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ nhì của loài chim cú nên được hành trì. Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn, vị Trời vượt trội các vị Trời, nói đến ở Tương Ưng Bộ cao quý:
‘Này các tỳ khưu, ở đây vị tỳ khưu có sự ưa thích thiền tịnh, được thích thú thiền tịnh, nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là Khổ,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là nhân sanh Khổ,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là sự diệt tận Khổ,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là sự thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ.’”
Câu hỏi về tính chất của loài chim cú là thứ năm.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
5. ‘‘Bhante nāgasena, ‘ulūkassa dve aṅgāni gahetabbānī’ti yaṃ vadesi, katamāni tāni dve aṅgāni gahetabbānī’’ti? ‘‘Yathā, mahārāja, ulūko kākehi paṭiviruddho, rattiṃ kākasaṅghaṃ gantvā bahūpi kāke hanati, evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena aññāṇena paṭiviruddho kātabbo, ekena raho nisīditvā aññāṇaṃ sampamadditabbaṃ, mūlato chinditabbaṃ. Idaṃ, mahārāja, ulūkassa paṭhamaṃ gahetabbaṃ.
5. “Venerable Nāgasena, you said, ‘Two qualities of the owl are to be adopted.’ What are those two qualities to be adopted?” “Just as, great king, the owl is hostile to crows and, going into a flock of crows at night, kills many of them, so too, great king, a yogi devoted to spiritual practice should be opposed to ignorance. Sitting alone in seclusion, he should crush ignorance, cutting it off at the root. This, great king, is the first quality of the owl to be adopted.
5. “Bạch đại đức Nāgasena, ngài đã nói rằng: ‘Nên tiếp thu hai đặc điểm của chim cú.’ Hai đặc điểm nào cần được tiếp thu?” “Tâu đại vương, giống như chim cú có sự thù nghịch với loài quạ, vào ban đêm nó đi đến đàn quạ và giết hại nhiều con quạ, cũng giống như thế ấy, tâu đại vương, vị hành giả tu tập thiền định cần phải có sự thù nghịch với vô minh. Sau khi ngồi một mình ở nơi thanh vắng, vị ấy cần phải nhiếp phục vô minh, cần phải đoạn trừ nó từ gốc rễ. Tâu đại vương, đây là đặc điểm thứ nhất của chim cú cần được tiếp thu.”
‘‘Puna caparaṃ, mahārāja, ulūko suppaṭisallīno hoti, evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena paṭisallānārāmena bhavitabbaṃ paṭisallānaratena. Idaṃ, mahārāja, ulūkassa dutiyaṃ aṅgaṃ gahetabbaṃ. Bhāsitampetaṃ, mahārāja, bhagavatā devātidevena saṃyuttanikāyavare –
Furthermore, great king, the owl is fond of solitude. So too, great king, a yogi devoted to spiritual practice should delight in solitude and be fond of solitude. This, great king, is the second quality of the owl to be adopted. And this, great king, was spoken by the Blessed One, the god beyond gods, in the excellent Saṃyutta Nikāya:
“Lại nữa, tâu đại vương, giống như chim cú sống hoàn toàn ẩn dật, cũng giống như thế ấy, tâu đại vương, vị hành giả tu tập thiền định cần phải là người thích thú đời sống ẩn dật, ưa thích đời sống ẩn dật. Tâu đại vương, đây là đặc điểm thứ hai của chim cú cần được tiếp thu. Tâu đại vương, điều này đã được đức Thế Tôn, bậc Thiên Nhân Sư, nói đến ở trong bộ Tương Ưng Kinh quý báu –”
‘‘‘Idha, bhikkhave, bhikkhu paṭisallānārāmo paṭisallānarato ‘‘idaṃ dukkha’’nti yathābhūtaṃ pajānāti, ‘‘ayaṃ dukkhasamudayo’’ti yathā bhūthaṃ pajānāti, ‘‘ayaṃ dukkhanirodho’’ti yathābhūtaṃ pajānāti, ‘‘ayaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’’ti yathābhūtaṃ pajānātī’’’ti.
‘Here, monks, a monk who delights in solitude, who is fond of solitude, understands as it really is: “This is suffering”; he understands as it really is: “This is the origin of suffering”; he understands as it really is: “This is the cessation of suffering”; he understands as it really is: “This is the path leading to the cessation of suffering.”’
“‘Này các tỳ khưu, ở đây vị tỳ khưu thích thú đời sống ẩn dật, ưa thích đời sống ẩn dật, vị ấy tuệ tri đúng theo thực tính rằng: ‘Đây là sự khổ,’ vị ấy tuệ tri đúng theo thực tính rằng: ‘Đây là sự tập khởi của khổ,’ vị ấy tuệ tri đúng theo thực tính rằng: ‘Đây là sự diệt khổ,’ vị ấy tuệ tri đúng theo thực tính rằng: ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt khổ.’”
Ulūkaṅgapañho pañcamo.
Here ends the Fifth Question on the Qualities of the Owl.
Câu hỏi về các đặc điểm của chim cú thứ năm.